HÒA
THƯỢNG
SƠN
VỌNG
(1886
- 1963)
Hòa
thượng Sơn Vọng(1) Pháp danh Visuddhi Paĩĩo (Thanh Tịnh Tuệ).
Sinh ngày thứ hai, mồng 3 tháng 11 năm Bính Tuất (PL 2428), nhằm
cuối năm Dương lịch 1886, tại Phnô Phrem xã Hiệp Hòa, huyện
Vĩnh Lợi (huyện Cầu Ngang hiện nay), tỉnh Trà Vinh.
Ngài
sanh trưởng trong một gia đình người Việt gốc Khmer. Thân
phụ là ông Sơn Tân và thân mẫu là bà Sơn Thị Tích. Ông
bà cũng như các gia đình gốc Khmer khác rất sùng tín Phật
giáo, một lòng hộ trì và tuyệt đối vững tin Phật pháp.
Vì vậy ngay từ thuở ấu thơ Ngài đã sớm được làm quen
với sinh hoạt tín ngưỡng trong gia đình và các hình thức
lễ hội, kể cả học hành tại ngôi chùa Khmer truyền thống
trong vùng.
Năm
Kỷ Hợi (1899) 14 tuổi Ngài được đến học chữ Khmer tại
chùa Bodhinàgàràma Raja Malla (chùa cũ) do đích thân Sư Keo trụ
trì kèm dạy. Đây chính là thuận duyên tấn nhập đầu tiên
để Ngài gần gũi với nếp sống tu hành của những vị xuất
gia. Từ đó ngoài những buổi học chữ là các cuộc hội
nhập trong tình thầy trò mật thiết. Nhờ đó ý niệm xuất
gia cao đẹp đã hình thành nơi Ngài một cách vững chắc.
Cũng từ ấy khái niệm tình yêu quê hương đất nước đã
bắt đầu trổi dậy khi Ngài nhìn bầu trời mỗi chiều có
cánh diều tuổi thơ của Ngài đang rộng mây tắm gió.
Năm
Nhâm Dần (1902), lúc này Ngài lên 17 tuổi, đủ sức nhận
định mọi diễn biến chung quanh và bắt đầu ghi đậm vào
tâm trí những cảnh cơ cực của không riêng gì đồng bào
Khmer. Cuộc sống vẫn còn nhiều đói khổ, có khi phải giành
nhau từng miếng ăn để sinh tồn. Do đó khi Sư Keo là thầy
dạy chữ của mình vì Phật sự phải về chùa Jaya Satthàratana
(Chếc Chrum) trụ trì, Ngài liền xin phép song thân theo đến
đó để xin thọ giới xuất gia.
Liền
sau khi xuất gia thọ giới Sa di(2), Ngài được gởi đi tham
học giáo lý với Sư Prak tại chùa Phướng. Được một năm
Ngài trở lại chùa cũ.
Năm
Đinh Mùi (1907) lúc 22 tuổi Ngài được thọ Tỳ Kheo giới
tại chùa Bodhinàgàràma Ràja Malla (tức chùa cũ). Được Hòa
thượng Tăng Phô làm thầy tế độ, Hòa thượng Keo chùa Jaya
Satthàratana làm thầy tuyên ngôn, Hòa thượng Uôk chùa Bodhinàgà
làm Thầy Amsàvanàcarva (tức Yết Ma) và được ban Pháp danh
là Brahmasaro, có nghĩa là “Bờ Phạm Hạnh”.
Khi
đã trở thành vị Tỳ Kheo, nhiệm vụ càng thêm nặng nề
nhất là phải sách tấn, trau dồi thêm luận lý Phật pháp,
Do đó Ngài xin ở lại chùa Chếc-Chrum (chùa Dòng Chuối) để
tiếp tục tham học bốn năm.
Năm
Canh Tuất (1910), Ngài lại đến học tại chùa Prèi-Chas thuộc
tỉnh Battambang, Campuchia. Trong vòng một năm nơi đây Ngài chuyên
học về Thiền Chỉ (Samatha Kammatthàna) với Sư Chum.
Năm
Tân Hợi (1911), Ngài trở về Trà Vinh, lúc này Ngài đã 28
tuổi, được 7 hạ lạp, Ngài được Tăng đoàn Sư Sãi đề
cử trụ trì chùa Dòng Chuối (Jaya- Satthàratana). Trong trách
nhiệm trụ trì, Ngài đã cho trùng tu rất nhiều công trình
hầu giúp ngôi chùa này thêm vững bền với thời gian từ
chánh điện đến giảng đường, trai đường và liêu cốc,
kể cả giếng và hồ chứa nước... Đó là bước đầu trong
dự định biến nơi đây thành trường lớp đào tạo Sư Sãi
theo giáo trình biệt lập và có quy cũ. Ngài đã được sự
đồng tình của Sư Sãi và quần chúng Phật tử, khiến mọi
việc đều thành công sớm hơn dự tính. Cũng nhờ sự ủng
hộ đó, Ngài đã thực hiện được ước mơ thỉnh từ Campuchia
bộ Tam Tạng Kinh Luật bằng tiếng Pàli-Khmer về để phiên
dịch phục vụ công việc tu học của Tăng sĩ Phật giáo Khmer
Nam bộ. Tuy chỉ mới thỉnh được 35 quyển do điều kiện
đi lại nhằm giữa lúc chiến tranh ác liệt, nhưng cũng tạo
nên tiếng vang rất lớn thời bấy giờ, làm ích lợi lâu
dài cho cộng đồng tu Phật.
Năm
Ất Mẹo (1915), Ngài còn giúp xây giảng đường lớn trang
trí sửa sang lại Bồ Đoàn và tượng Phật lớn. tại chùa
Tổ Ràjamala (Trà Vinh). Ngoài ra Ngài còn giúp trùng tu, sửa
sang chùa Cakka ở xã Hiệp Hòa (huyện Cầu Ngang, Trà Vinh) và
chùa Bình Phú (huyện Càn Long, tỉnh Cửu Long).
Năm
Kỷ Mùi (1919), thời gian này Ngài tập trung nhiều cho công
tác từ thiện xã hội, góp phần nâng cao mức sống và tạo
niềm tin nơi cộng đồng Khmer Nam bộ. Ngoài việc xây dựng
đường sá, nhà cửa cho dân nghèo, Ngài còn cho xây nhiều
hội trường, trường học phục vụ công tác giáo dục trẻ
em. Đặc biệt tại chùa Dòng Chuối, (Jaya Satthàratana Chếc
Chrum), Ngài còn cho xây một lò hỏa táng phục vụ tang chế
theo truyền thống Phật giáo Nam Tông v.v... Đó là khoảng thời
gian dài Ngài đã tích cực góp phần vào cộng đồng xã hội,
vì nền giáo dục và sinh hoạt của đồng bào Khmer đều chỉ
dựa vào các ngôi chùa mà giáo viên không ai khác hơn là những
vị Sư Sãi.
Từ
những năm Canh Ngọ (1930) đến năm Canh Dần (1950), Ngài lại
tập trung vào công việc đào tạo Sư Sãi. Vì vậy các giảng
đường rộng lớn nơi các ngôi chùa quanh vùng đã được
Ngài đôn đốc xây dựng để dạy tiếng Pàli. Trong đó có
trường sơ cấp Pàli đặt tại chùa Dòng Chuối. Và một giảng
đường Pàli dành riêng cho chư Sư bổn tự cũng được xây
lên tại chùa này. Ngài cũng là một trong nhiều vị Lục Cả
trực tiếp đứng ra giảng dạy.
Do
những cống hiến mang nhiều ý nghĩa tốt Đạo đẹp Đời
đó, Ngài được Hội Phật Giáo tỉnh Sóc Trăng tặng huy hiệu
vinh quang. Đồng thời, Ngài được Hoàng Thân Sihanouk và đức
Tăng Hoàng Vương quốc Campuchia phong tặng huy hiệu và bằng
khen vào năm Mậu Tý (1938). Ngài còn được xem như vị Tăng
Hoàng của tỉnh Trà Vinh, danh xưng này tương đương vị đứng
đầu điều hành mọi hoạt động Phật giáo trong toàn tỉnh.
Vào
thời chính thể Ngô Đình Diệm, chủ trương xây dựng ấp
chiến lược được ban ra khiến công cuộc làm ăn sinh sống
của bà con nông thôn bị hạn chế trầm trọng. Chùa chiền
bị phong tỏa hoặc bị đập phá. Các Sư Sãi nếu không rời
khỏi nơi tu hành thì bị vu khống đủ điều v.v... Do đó,
bằng tất cả uy tín và đạo hạnh của mình Ngài đứng ra
kêu gọi mọi người chống lại. Ảnh hưởng lời kêu gọi
của Ngài đã lan rộng khắp miền Tây Nam bộ. Đặc biệt,
tại tỉnh Trà Vinh ngày 14-9-1960 Ngài đích thân chỉ đạo
cuộc biểu tình quy mô nhất, quy tụ hầu hết Sư Sãi và Phật
tử trong tỉnh, yêu sách tôn trọng chùa chiền, không được
bắt Sư Sãi đi quân dịch, không được gò ép nông dân rời
bỏ ruộng vườn, phương tiện sinh sống duy nhất v.v... và
yêu sách đó Ngài đã thành công. Tuy nhiên, sau đó một tuần,
ngày 20-9-1960 với hơn hai mươi ngàn người Kinh lẫn Khmer khắp
nơi kéo về hợp cùng năm ngàn người thị xã Trà Vinh biểu
tình đã bị đàn áp thẳng tay làm hơn mười người chết
và hàng trăm người khác bị thương.
Trong
quá trình đấu tranh chống độc tài áp bức, Ngài từng giữ
chức vụ Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương MTGPMN Việt Nam ngay
từ khi vừa thành lập, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Hòa
Bình Thế Giới của miền Nam Việt Nam và Cố vấn Ủy Ban
MTDTGP miền Tây Nam bộ.
Năm
Quý Mão (1963) mặc dù đang mang trọng bệnh, nhưng vì Phật
sự cấp bách Ngài phải đi vận động, kêu gọi Tăng tín
đồ bảo vệ chùa chiền và làng ấp. Nhưng giữa đường
kiệt sức và Ngài đã viên tịch khi chung quanh mọi biến cố
đang dồn dập. Hôm đó là ngày 5 tháng 3 năm 1963, Ngài hưởng
thọ 78 tuổi. Do hoàn cảnh chiến tranh Ngài được tạm chôn
cất ngay nơi viên tịch. Mãi đến năm Tân Dậu (1981) nhân
lễ Chôl Ch-năm Th-mây mới được môn đồ pháp quyến đưa
về hỏa táng theo đúng truyền thống Phật giáo Khmer Nam bộ
và được tôn thờ tại chùa Dòng Chuối.
Với
nhiều công trạng làm lợi đạo ích đời, khi nhục thể đã
trở về với tứ đại, Ngài Sơn Vọng vẫn còn sống mãi
trong tinh thần của đồng bào Khmer Nam bộ, mà hình bóng in
đậm ở trăng sao trên trời đêm đêm soi tỏa an lành cả
một vùng đất quê hương truyền thống đạo Phật.
Chú
thích :
1)
Còn gọi Đại Đức Sơn Vọng, theo truyền thống Phật Giáo
Theravada Nam Tông, danh từ Đại Đức thường gắn liền mãi
về sau cả cuộc đời vị sư.
2)
Cũng từ truyền thống đó, ngay sau khi xuất gia đã thọ Sa
Di giới.