HÒA
THƯỢNG
HẢI
ĐỨC-THÍCH PHƯỚC HUỆ
(1875
- 1963)
Hòa
thượng thế danh Nguyễn Văn Cự, pháp danh Ngộ Tánh, tự Hưng
Long, hiệu Phước Huệ. Sanh ngày mồng 8 tháng 4 năm Ất Hợi
(1875) triều Tự Đức thứ 28. Tại làng Trung Kiên, huyện Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị.
Gia
đình họ Nguyễn của Ngài từng có truyền thống khoa bảng
và chịu ảnh hưởng nếp sống Phật giáo qua nhiều đời,
trong năm đời có đến sáu vị xuất gia và đã trở thành
những danh Tăng có nhiều công hạnh. Nội tổ của Ngài là
cụ Nguyễn Văn Bình, đỗ tam khoa Tú tài, từng có công mở
mang hương lý, được dân làng tôn vinh và liệt vào hạng
“Hậu hiền khai khẩn”.
Thân
phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Khanh, từng được triều đình
bổ làm quan tỉnh Bình Thuận. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị
Từ, người làng Diên Khánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng
Trị.
Năm
Canh Dần (1890), Ngài 16 tuổi thì mẹ mất, sau đó Ngài theo
thân phụ vào Bình Thuận nhậm chức. Khi đi ngang địa phận
Nha Trang, thân phụ bỗng dưng phát bạo bệnh, phải xin tá
túc nơi ngôi chùa nhỏ mang tên Hải Đức. Sau đó người cha
qua đời, Ngài phải nhờ đến nhà chùa lo liệu việc mai táng.
Sau
khi lo chôn cất phụ thân xong, là thiếu niên tứ cố vô thân
nơi đất khách, Ngài phải tự kiếm sống bằng cách vào rừng
đốn củi nuôi thân và hương khói cho cha. Phụ giúp việc
chùa, mỗi tối Ngài cùng chư Tăng đọc kinh, từ đó cơ duyên
Phật pháp đã bắt đầu đi sâu vào tâm thức Ngài giữa lứa
tuổi thiếu niên nhiều mơ ước.
Không
lâu sau, nhận thấy con đường giải thoát với nếp sống
và phẩm hạnh của người xuất gia mới là cứu cánh và có
thể báo hiếu tròn vẹn mang nhiều ý nghĩa nhất. Ngài quyết
định đảnh lễ cầu xin xuất gia với Tổ Viên Giác (trụ
trì chùa Hải Đức), được Tổ ban pháp danh là Ngộ Tánh.
Vốn có căn bản Nho học từ thuở nhỏ và được gia đình
hướng dẫn cách tiếp cận những tinh hoa Phật Đà, trong thời
gian hành Điệu, chấp tác Ngài đã vượt trội các bạn đồng
sư nên sớm được Bổn sư ban cho pháp tự là Hưng Long.
Năm
Giáp Ngọ (1894), 20 tuổi, Ngài xin Tổ Viên Giác cho dời hài
cốt phụ thân về kinh và cải táng tại núi Thiên Thai, bên
cạnh Tổ đình Thuyền Tôn. Sau đó Ngài tiếp tục đến cầu
học với Tổ Từ Hiếu. Cùng năm này, Ngài được thọ giới
tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc, do Tổ Hải Thuận, Tăng
Cang chùa Diệu Đế làm Đường đầu Hòa thượng.
Năm
Kỷ Hợi (1899), lúc 25 tuổi, Ngài xin phép được lập thảo
am nhỏ để tu trì đồng thời có nơi phụng thờ song thân,
tại làng Bình An cách chùa Từ Đàm về phía Đông gần một
cây số. Lấy hiệu là Hải Đức Am ( sau này là chùa Hải
Đức, đường Nam Giao - Huế).
Năm
Giáp Thìn (1904), Ngài đắc pháp với Hòa thượng Tâm Truyền
(trụ trì Tổ đình Báo Quốc - Huế), pháp hiệu là Phước
Huệ với bài phú kệ như sau:
Thượng
thừa Phật Tổ chấn tôn phong
Phó
kệ truyền đăng pháp pháp đồng
Thiện
quả viên thành tăng Phước Huệ
Tương
kỳ đạo đức vĩnh Hưng Long.
Cũng
năm này, Ngài nhận chức trụ trì chùa Kim Quang (làng An Cựu
- Huế) do bà Từ Minh, Hoàng Thái Hậu đời vua Thành Thái kiến
lập. Do đó vua Thành Thái có cơ duyên được gần gũi và
nghe pháp nơi này, từ đó cảm mến và rất quý trọng Ngài.
Năm
Giáp Dần (1914), Ngài trở lại Nha Trang để thăm Bổn sư,
nhưng khi đến nơi thì Tổ Viên Giác đã viên tịch lâu rồi
! Trong khi đó chùa Tổ lại xiêu vẹo, hoang tàn, không một
bóng Tăng chúng. Ngài liền ra sức vận động trùng tu lại
ngôi chùa và không lâu sau chùa Hải Đức đã thực sự trở
thành một đạo tràng thanh lịch giữa Thành phố Nha Trang.
Năm
Giáp Tý (1924), đã 50 tuổi, Ngài được Chư sơn tỉnh Khánh
Hòa suy tôn làm Đường đầu Hòa thượng tại Đại giới
đàn Nha Trang.
Sau
đó Ngài trở lại Huế, biến am Hải Đức thành ngôi chùa
nguy nga tráng lệ ở đất Thần kinh như ngày nay.
Năm
Giáp Tuất (1934) Ngài về nơi sinh quán tỉnh Quảng Trị vận
động trùng tu ngôi Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang ở làng Ái
Tử, công việc trùng tu mất hơn bốn năm mới hoàn thành.
Đó là năm Canh Thìn (1940), sau khi khánh thành Tổ đình Tịnh
Quang, Ngài được Giáo Hội tỉnh Quảng Trị thỉnh làm Đường
đầu Hòa thượng trong Đại giới đàn của tỉnh. Cũng trong
năm đó, vua Bảo Đại ban chiếu chỉ cử Ngài làm Tăng Cang
Tổ đình Báo Quốc.
Thời
gian từ năm 1941 đến 1945, Ngài liên tục đảm nhận chức
Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Thừa Thiên.
Trong
xu thế chung của Phật giáo nước nhà, công việc chấn hưng
cũng là mối bận tâm không nhỏ nơi Ngài. Vì thế, Ngài chọn
Thượng tọa Bích Không, là một người am tường nhiều sở
học, hỗ trợ Ngài thực hiện các Phật sự quan trọng. Đầu
tiên là dời chùa Hải Đức từ thành phố Nha Trang lên núi
Trị Thủy nằm ở ngoại ô thành phố, thuộc làng Phước
Hải, cách cửa biển Nha Trang một cây số để tiện việc
quy tụ Tăng Ni tu học và mở rộng khi cần. Công việc dời
chùa ấy được tiến hành trong năm Quý Mùi (1943) và ngôi
chùa đã trở thành một cơ sở đào tạo quan trọng rất lừng
danh là Phật Học Viện Hải Đức - Nha Trang sau này.
Năm
Tân Mẹo (1951), Ngài đến thăm bạn đồng môn là Ngài Phổ
Nhãn, đang trụ trì Tổ đình Thiên Bửu. Ngài đã vận động
Ngài Phổ Nhãn tiến cúng ngôi Tổ đình cho Giáo Hội Ninh Hòa,
làm trung tâm hoằng dương chánh pháp nơi địa phương. Sau
đó hai Ngài cùng vận động trùng tu lại Tổ đình. Năm Giáp
Ngọ (1954) khi khánh thành Tổ đình Thiên Bửu, Giáo Hội Ninh
Hòa khai mở Đại giới đàn tại đây và cung thỉnh Ngài làm
Đường đầu Hòa thượng,.
Năm
Bính Thân (1956) Ngài đã ký văn bản tiến cúng chùa Hải Đức
Nha Trang cho Giáo Hội Trung Phần làm nơi đào tạo Tăng Ni.
Văn bản đề ngày 27.7 và ngày 29.9 là lễ bàn giao. Do yêu
cầu thiết yếu của công việc đào tạo, hướng về tương
lai phồn thịnh mọi mặt, nên Ngài đã không ngần ngại quyết
định một cách nhanh chóng như thế.
Năm
Nhâm Dần (1962), Ngài trở ra Quảng Trị kiến thiết tượng
đài Quan Thế Âm tại Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang.
Trong
cuộc đời hoằng hóa của Ngài, 70 năm trải đều trên con
đường xuyên Việt, từ Trị Thiên đến Khánh Thuận. Ngoài
những việc làm tích cực mang ý nghĩa đạo pháp to lớn, Ngài
còn để tâm đến những việc nhỏ khác. Tiêu biểu cho những
vịệc làm ấy như sau:
- Để
bầu ra được Ban Quản Trị Tổ đình Báo Quốc, Ngài phải
đứng đầu phiên họp của Hội đồng Sơn môn Tăng già Thừa
Thiên ngày 4 tháng 4 năm Mậu Tý (1948).
- Ngài
đã vận động các vị Tỳ Kheo còn nặng nợ trần, nhanh chóng
giao trả Tổ đình Từ Đàm lại cho Giáo hội.
- Đại
trùng tu chùa Kim Quang ở An Cựu - Huế.
- Chứng
minh và cổ động cho việc trùng hưng chùa Phổ Đà, Đà Nẵng.
- Chùa
Phật Quang - Thị xã Phan Thiết cũng được Ngài tận tình
chiếu cố.
Ngoài
ra, có một thời gian Ngài tranh thủ ra Bắc học thêm Pháp
môn Mật Tông, do đó, Ngài đã từng chữa lành bệnh cho không
ít người tìm đến, nhất là bệnh tâm thần.
Trong
sự nghiệp nhiếp hóa đồ chúng, tiếp dẫn hậu lai, Ngài
đã đào tạo được một tầng lớp đệ tử tiêu biểu sau:
Hòa
thượng Bích Phong (1900-1968), trụ trì chùa Quy Thiện và kế
thừa Tổ đình Báo Quốc.
Hòa
thượng Bích Không (1894-1954), nguyên trụ trì chùa Hải Đức
(1943).
Ngoài
ra, còn có không ít các vị đệ tử của Ngài là người nước
ngoài, đủ thành phần quốc tịch, đặc biệt trong đó, có
một người Mỹ (làm Kỹ sư) tên Frank M. Bazl, ngày 27-4-1958
đã đến xin nhận Ngài làm cha đỡ đầu trên bước đường
tu học.
Ngài
thường hay nói trong những ngày trước khi viên tịch:
“Ta
ra đời nhằm ngày Đản Sinh của đức Từ Phụ thì sau ta
cũng chọn ngày ấy mà viên tịch”. Ngày mồng 8 năm Quý Mão
(1963), Ngài không thấy trang hoàng cờ phướn để đón mừng
Phật Đản như mọi khi và khi biết Giáo Hội chủ trương
dời ngày lễ Phật Đản vào đúng ngày rằm, Ngài nói: “Rứa
thì ta cũng đợi đến ngày rằm...”.
Và
quả đúng như lời của bậc thánh giả, lúc 11 giờ 30 ngày
rằm tháng 4 năm Quý Mão ( 1963 ). Ngài thị tịch, thọ 89 tuổi,
với 68 hạ lạp. Bảo tháp của Ngài được tôn trí trong khuôn
viên chùa Hải Đức - Huế.