HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MẬT THỂ
(1912
- 1961)
Ngài
Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật
là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận
Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn,
Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của
Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật,
cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
Thuở
nhỏ, Ngài được gia đình cho học chữ Nho, Quốc ngữ, và
chữ Pháp đỗ bằng Tiểu học (Primaire). Năm 12 Tuổi (1924),
cụ thân sinh đem Ngài về chùa Diệu Hỷ (Huế) cho xuất gia
làm Tiểu (Điệu). Với bẩm chất thông minh và cần mẫn tu
học, Ngài tiếp thu nhanh chóng kinh luật căn bản dành cho chú
Tiểu.
Năm
lên 16 tuổi (1928), Ngài được nhập chúng tu học ở chùa
Từ Quang với Hòa thượng Giác Bổn. Nhận thấy khả năng
học tập xuất sắc của Ngài, nên Hòa Thượng Giác Bổn cho
Ngài vào tu học ở chùa Trúc Lâm với Hòa thượng Giác Tiên.
Khi vào học ở tòng lâm này, như cá gặp nước, như rồng
gặp mây, lại được gần thầy bên bạn học hỏi chuyên
cần, nên Ngài vượt xa bạn cùng lớp.
Năm
Canh Ngọ 1930, khi Ngài 18 tuổi, được Hòa thượng Giác Tiên,
trú trì chùa Trúc Lâm - Huế chính thức thế độ nhận làm
đệ tử và cho thọ Sa Di giới, ban pháp danh Tâm Nhất, pháp
tự Mật Thể.
Năm
1932, Hòa thượng Giác Tiên thỉnh Đại lão Hòa thượng Phước
Huệ - chùa Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định ra chủ giảng
Phật Học Đường ở chùa Trúc Lâm và Tây Thiên. Ngài được
đặc cách theo học lớp Cao Đẳng Phật Học này.
Năm
1933, Ngài được mời làm giảng sư Hội An Nam Phật Học và
giảng dạy tại trường Tiểu học Phật giáo của sơn môn
Thừa Thiên.
Năm
1935, Hòa thượng Bổn Sư viên tịch, đến năm 1937 Hòa thượng
Phước Huệ vì tuổi cao sức yếu trở về Bình Định an tĩnh.
Đây là bước ngoặc mới trong đời Ngài. Với hoài bão lớn
lao, Ngài quyết chọn con đường du học để bồi dưỡng thêm
kiến thức. Ngài xin phép các sư huynh Mật Khế, Mật Nguyện,
Mật Hiển sang Phật Học Viện Tiêu Sơn ở Trung Quốc để
nghiên cứu học hỏi thêm dưới sự chủ trì của Hòa Thượng
Tinh Nghiêm.
Năm
1938, chiến tranh Hoa - Nhật xảy ra không cho phép Ngài cư trú
lâu ở đất Trung Hoa. Ngài trở về Việt Nam tiếp tục làm
giảng sư cho hội An Nam Phật Học và bắt đầu sự nghiệp
trước tác, phiên dịch các tác phẩm Ngài mang từ Trung Hoa
về. Ngài còn viết các bài nghiên cứu về đạo Phật đăng
trong các tạp chí Phật giáo xuất bản trong nước thời bấy
giờ.
Năm
1941, Ngài được mời vào giảng dạy tại Phật Học Đường
Lưỡng Xuyên- Trà Vinh. Sau đó Ngài trở ra Huế và đi thu thập
tài liệu nơi các Tổ đình ở Bình Định, Phú Yên, Thừa
Thiên, Hà Nội..v.v. để viết về Sử Phật giáo.
Năm
1943, tác phẩm Phật Giáo Việt Nam Sử Lược của Ngài được
Nhà xuất bản Tân Việt ấn hành. Sách được Quốc sư Phước
Huệ tán ngữ và Trần văn Giáp đề tựa.
Mãi
đến năm 1944, lúc 32 tuổi Ngài mới thọ Cụ Túc giới tại
giới đàn chùa Thuyền Tôn do Hòa thượng Thích Giác Nhiên
làm Đàn đầu. Ngài đứng đầu các giới tử và được chọn
làm thủ Sa Di. Cũng vào năm này, Ngài được mời làm trú
trì chùa Phổ Quang-Huế.
Năm
1945, Cách Mạng Tháng Tám nổ ra, Ngài tham gia phong trào Phật
giáo Cứu quốc ở Thừa Thiên- Huế.
Tháng
giêng năm 1946, khi Chính Phủ Lâm Thời tổ chức Tổng tuyển
cử, Ngài ra ứng cử ở Thừa Thiên và đắc cử làm đại
biểu Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khóa đầu
tiên. Đây cũng là lần đầu tiên một Tăng sĩ Phật giáo
trực tiếp tham gia chính trường. Cũng năm 1946, Ngài được
mời làm Chủ tịch Ủy ban Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thừa
Thiên.
Là
người có chí nguyện lớn, Ngài chủ trương phải cải tổ
sơn môn và nóng lòng trước quá trình đổi mới chế độ
Tăng già còn diễn tiến chậm. Tuy có nhiều va chạm nhưng
Ngài không nản lòng, luôn ôm hoài bão cao xa đưa Phật giáo
phát triển hòa nhập thời đại và mở ra hướng đi mới
cho hàng Tăng sĩ trẻ. Chính vì thế Ngài đã viết và cho xuất
bản nhiều tác phẩm nhằm mục đích cách tân và mở rộng
tầm nhìn cho Tăng sĩ thời bấy giờ.
Với
một bút pháp tài hoa và tâm hồn khoáng đạt, Ngài đã thu
hút nhiều trí thức văn nhân ưu tú đến làm bạn tâm giao
như Trần Văn Giáp, Phạm Quỳnh, Khái Hưng. Chính trong những
lần tương ngộ này mà tư tưởng Phật giáo đã gắn liền
với họ, thể hiện qua các tác phẩm như cụ Trần Văn Giáp
với cuốn Phật Giáo Việt Nam ; cụ Phạm Quỳnh với các bài
nghiên cứu về đạo Phật đăng trong tạp chí Nam Phong ; Khái
Hưng với Hồn Bướm Mơ Tiên...
Năm
1947, khi mặt trận chống Pháp ở Huế bị tan vỡ, Ngài chia
tay từ biệt với anh em Phật tử và Tăng sĩ đồng chí hướng,
ra vùng kháng chiến, theo cách mạng xây dựng phong trào Phật
giáo tại miền Bắc.
Sau
hiệp định Genève, năm 1957, Ngài được về an trú ở Nghệ
An. Trong thời gian ở Nghệ An, Ngài đã phiên dịch và trước
tác khá nhiều kinh sách, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, những
tác phẩm này đã bị thất lạc, chỉ còn lại quyển “Thế
giới quan Phật giáo”. Tác phẩm này được in tại miền
Nam năm 1967 do tạp chí Vạn Hạnh xuất bản.
Năm
1961, Ngài mất tại Nghệ An vì bệnh, thọ 48 tuổi đời với
36 năm xuất gia làm Tăng sĩ. Các tác phẩm Ngài còn để lại
đến nay tiêu biểu cho sự nghiệp đời Ngài như:
- Việt
Nam Phật Giáo Sử Lược.
-
Phật Học Dị Giản.
-
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.
-
Phật Giáo Khái Luận.
-
Phật Giáo Yếu Lược.
-
Cải Tổ Sơn Môn Huế.
-
Xuân Đạo Lý.
-
Mật Thể Văn Sao (do Lệ Như sưu tập).