HÒA
THƯỢNG
THÍCH
KHÁNH ANH
(1895
- 1961)
Hòa
thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu
Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng
Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài
theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
Năm
21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là
vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh
Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở
chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn
có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng
rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu
Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp
hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng
sư Phật học nổi tiếng.
Năm
1927, Ngài được mời vào Nam làm Pháp sư dạy tại trường
gia giáo chùa Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu. Năm 1928, Ngài lại về
dạy Phật pháp tại chùa Hiền Long tỉnh Vĩnh Long. Qua năm
1931, Ngài nhận lời mời làm trú trì chùa Long An, xứ Đồng
Đế, tỉnh Cần Thơ. Ở đây Ngài có rất nhiều Tăng tín
đồ đến cầu học.
Năm
1935, Ngài hợp tác với các Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang,
Pháp Hải v.v... lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật Học đặt
trụ sở tại chùa Long Phước tỉnh Trà Vinh, và mở Phật
Học Đường tại đây để đào tạo Tăng tài, truyền trì
đạo pháp tại miền Nam. Ngài tham gia giảng dạy tại Phật
Học Đường và cộng tác với tạp chí Duy Tâm, cơ quan truyền
bá đạo Phật của Hội. Ngài viết nhiều bài báo cổ xúy
phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà, mong sao theo kịp
đà tiến triển các nước Phật giáo bạn như Trung Hoa, Nhật
Bản v.v...
Năm
1940, Ngài được mời làm Pháp sư dạy ba tháng tại chùa Thiên
Phước ở Tân Hương, tỉnh Tân An. Qua năm sau, Ngài lại đến
dạy Phật học trong ba tháng cho Đại giới đàn chùa Linh Phong
ở Tân Hiệp. Năm 1942 Phật Học Đường Lưỡng Xuyên tạm
nghỉ mấy tháng vì thiếu tài chánh. Ngài về trú trì chùa
Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, mở các lớp giáo lý
cho Tăng Ni và tín đồ ở đây. Năm 1945, Ngài được Hòa thượng
Huệ Quang mời về dạy trường gia giáo tại chùa Long Hòa,
quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Sau
Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, Ngài về nhập thất tại chùa
Phước Hậu để tâm nghiên cứu Tam Tạng kinh điển. Từ đó
đến năm 1955, Ngài đã soạn thảo và phiên dịch rất nhiều
tác phẩm. Ngài có cho xuất bản ba tập Khánh Anh Văn Sao. Một
trong ba tập này in những bài Ngài viết về giáo lý, những
bài sớ giảng và thi bút do Ngài sáng tác.
Năm
1955 Hội Phật Học Nam Việt thành lập, cung thỉnh Ngài vào
ban Chứng minh Đạo sư của hội. Năm 1957, ngày mồng một
tháng ba năm Đinh Dậu (31-3-1957) Đại Hội Giáo Hội Tăng Già
Nam Việt Kỳ III họp tại chùa Ấn Quang, đã suy tôn Ngài lên
ngôi Pháp Chủ để lãnh đạo Phật giáo miền Nam, kế nối
Hòa thượng Huệ Quang viên tịch tại Tân Đề Li Ấn Độ,
khi Hòa thượng lãnh đạo phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi
dự Hội nghị lần thứ 4 của Hội Thế Giới Phật Giáo Liên
Hữu.
Cũng
tại chùa Ấn Quang, ngày 10-9-1959, Đại Hội Giáo Hội Tăng
Già Toàn Quốc Kỳ II đã long trọng suy tôn Ngài lên ngôi vị
Thượng Thủ để cầm cương lĩnh vận mệnh Phật Giáo Việt
Nam. Từ đó Ngài thường xuyên lưu trú tại chùa Ấn Quang
để đôn đốc Phật sự và tiếp tục phiên dịch, trước
tác. Ngài vẫn luôn tinh tấn tu hành, không giờ phút nào quên
câu niệm Phật để cầu sanh Tây phương Lạc quốc.
Xuân
Tân Sửu (1961), nhân dịp hành hương đầu năm, Ngài rời chùa
Ấn Quang về thăm chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ.
Sau đó Ngài trở về chùa Long An xứ Đồng Đế, nơi Ngài
đã từng trú trì từ năm 1931. Thấy trong người thay đổi,
biết cơ duyên đến gần, Ngài cho gọi các đệ tử đến
dặn dò khuyên bảo tu học và hành đạo, rồi niệm Phật,
an nhiên thị tịch. Hôm đó là ngày 30 tháng giêng năm Tân
Sửu (16-4-1961), lúc 16 giờ. Ngài hưởng thọ 66 tuổi đời
với 45 năm sống với đạo.
Giáo
Hội Tăng Già Toàn Quốc rước kim quan Ngài về chùa Ấn Quang
cử hành trọng thể lễ mai táng tại An Dưỡng Địa Bình
Chánh. Đến ngày 15 tháng 2 Đinh Mùi (25-3-1967) Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất long trọng cử hành lễ trà tỳ,
rồi rước linh cốt Ngài về chùa Ấn Quang và chia thờ các
nơi sau đây:
- Chùa
Ấn Quang, trụ sở Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc.
-
Chùa Long Phước (Trà Vinh), trụ sở Hội Lưỡng Xuyên Phật
Học.
-
Tháp Đa Bảo ở chùa Phước Hậu, Trà Ôn, Cần Thơ.
-
Chùa Từ Nghiêm, trụ sở Ni bộ Bắc tông.
-
Chùa Long Phước, trụ sở Giáo Hội tỉnh Vĩnh Long.
Sự
nghiệp trước tác và dịch phẩm của Ngài để lại gồm
có:
- Hoa
Nghiêm nguyên nhân luận.
-
Nhị khóa hiệp giải.
-
25 Bài thuyết Pháp của Thái Hư Đại Sư.
-
Tại gia cư sĩ luật.
-
Duy thức triết học.
-
Qui nguyên trực chỉ.
-
Và Khánh Anh Văn Sao (3 tập).
Hòa
thượng Thích Khánh Anh là một vị cao Tăng bác học. Sự nghiệp
hoằng dương chánh pháp, giáo hóa lợi sanh của Ngài rất lớn
lao. Ngài xứng đáng là viên đá lớn trong lâu đài Phật Giáo
Việt Nam. Ngài đã dày công đào tạo nhiều thế hệ Tăng
Ni mà ngày nay, nhiều người trong số đó đủ khả năng và
đức hạnh tiếp nối, vun đắp cho cây đại thụ Phật Giáo
Việt Nam ngày một vững bền, xanh tươi.