HÒA
THƯỢNG
TẾ
XUYÊN-THÍCH DOÃN HÀI
(1874
- 1958)
Hòa
thượng thế danh là Dương Văn Hiển, pháp danh Thông Hiển,
hiệu Doãn Hài, sinh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Mai Xá, xã
Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Hà. Thân phụ là cụ Dương
Văn Học, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Nữ. Ngài sinh trưởng
trong một gia đình nhà Nho thanh bạch nơi thôn quê. Từ nhỏ
Ngài đã được theo đòi bút nghiên nơi cửa Khổng sân Trình.
Năm
lên 15 tuổi (1889), sau một buổi học, thầy trò quây quần
đàm đạo nhân tình thế sự, nhân đề cập, tán thán công
đức và đạo hạnh Sư Tổ chùa Bảo Khám ở làng Tế Xuyên
trong hạt, Bồ Đề tâm của Ngài bỗng nhiên nẩy nở, tựa
như túc duyên tự xa xưa nay hội đủ nhân duyên khởi phát.
Ngài bèn xin song thân cho xuất gia đầu Phật, tìm đến Sư
Tổ đệ nhị xin quy y thọ giới. Được Sư Tổ hứa khả,
Ngài chí tâm tu học, sớm tối ra vào hầu hạ Bổn sư, siêng
năng cần mẫn. Do đó, Ngài được nghiệp sự và huynh đệ
quý mến.
Năm
16 tuổi Ngài thọ giới Sa Di. Những tưởng con đường tu học
của mình có cơ thăng tiến dưới sự hướng dẫn của Tổ
Sư. Không ngờ ngày rằm tháng 2 năm Canh Dần (1891) nghiệp
sư viên tịch, Ngài bơ vơ ở tuổi 17 đạo lực còn non yếu.
May sao huynh trưởng của Ngài là Hòa thượng Phổ Tụ đã
là vị Thượng tọa trong sơn môn, được kế vị là Tế Xuyên
đệ tam Tổ, hết lòng dìu dắt Ngài trên con đường tu học.
Năm
Quý Tỵ (1893) Ngài 20 tuổi được thọ Cụ Túc giới tại
Đại giới đàn tổ chức ở bản tự, với pháp danh Thông
Hiển. Một thời gian sau, Ngài được sư huynh gửi lên chùa
Bồ Đề ở Gia Lâm làm thị giả Sư Tổ trú trì là Hòa thượng
Nguyên Biểu để sớm tối tiện bề tu học.
Năm
Bính Ngọ (1906) Sư Tổ Bồ Đề viên tịch, Ngài lại lên Tổ
đình Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang tiếp tục tham học với Hòa
thượng Thanh Hanh. Sau đó Ngài trở về quê nhà trú trì chùa
Tế Cát tiếp độ chúng sinh, giáo hóa thiện tín thập phương,
đồng thời trợ giáo Tổ Phổ Tụ truyền pháp, giữ kỷ cương
Tổ đình Tế Xuyên.
Năm
Bính Dần (1926) Hòa thượng Phổ Tụ viên tịch, Ngài được
sơn môn suy tôn làm đệ tứ Tổ Tế Xuyên Bảo Khám Tự, tiếp
tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, san khắc kinh điển,
luật tạng như bản Thiền Lâm Bảo Huấn, Tăng Hộ, Tâm Tạng,
Địa Tạng mà Tổ đệ tam đang làm dở. Từ đó Ngài là thạch
trụ đống lương của sơn môn. Ngài thường được chư Tăng
tôn vinh ngôi chủ Hạ trong các khóa an cư tại Tổ đình, hoặc
có năm tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Ngài kiêm luôn chức Chánh
chủ giảng. Trong các trai hội lớn, Ngài được cung thỉnh
thượng tòa Chứng minh.
Năm
1934 tại Bắc kỳ, phong trào chấn hưng Phật giáo được phát
động. Ngài không quản tuổi cao sức yếu, chẳng những bản
thân nhiệt thành hưởng ứng tham gia, mà còn vận động Tăng
Ni, Phật tử trong sơn môn. Ngài còn đi tới các chùa, các
Tổ đình khác vận động các bậc trưởng lão kỳ túc trong
các sơn môn tham gia. Sau khi Hội Bắc Kỳ Phật Giáo ra đời
và xuất bản báo Đuốc Tuệ để làm cơ quan phổ biến Phật
pháp, Ngài được Hội mời làm Phó Chủ bút, phụ tá cho Hòa
thượng Trung Thứ đương nhiệm Chủ bút. Năm 1936, Hòa thượng
Chủ bút viên tịch, Ngài tiếp nối duy trì tờ báo, lãnh trách
nhiệm Chủ bút, quy tụ được rất đông chư Tôn đức Tăng
Ni và cư sĩ, nhà văn viết bài cho tờ báo, góp nhiều công
sức cho việc hoằng dương chánh pháp, xây dựng nền văn hóa
dân tộc. Tờ Đuốc Tuệ dưới quyền Chủ bút của Ngài xuất
bản liên tục cho đến ngày Cách Mạng Tháng Tám thành công.
Trong
thời gian làm chủ bút báo Đuốc Tuệ, Ngài được Hội Bắc
Kỳ Phật Giáo cung thỉnh giữ luôn chức Chánh trú trì chùa
Quán Sứ, nơi đặt trụ sở của Hội.
Năm
1951, các phái đoàn Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam họp đại
hội tại chùa Từ Đàm - Huế thực hiện nguyện vọng chung
của Tăng Ni và Phật tử toàn quốc là thống nhất Phật giáo
dưới danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ngài được
đại hội cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư.
Năm
1952, Ngài lãnh đạo sơn môn trùng tu Tổ đình Tế Xuyên thành
một tòng lâm khang trang, qui mô như ngày nay vẫn còn. Tiếp
đó Ngài cho trùng tu các chùa ở Tế Cát, Văn Xá, Nam Xá...
là những ngôi Tam Bảo mà Ngài đã có thời làm trú trì.
Ngày
17 tháng 11 năm Mậu Tuất (1958) pháp thể khương an, tinh thần
minh mẫn, Ngài vẫn cùng đệ tử và tín đồ mừng lễ vía
Đức Phật A Di Đà. Qua sáng hôm sau, Ngài ra trai đường niệm
thực, chứng cháo sáng, thụ trai xong, Ngài an nhiên tĩnh tọa
vãng sanh Tây phương, hưởng thọ 85 tuổi đời, 64 hạ lạp.
Trong
suốt cuộc đời, Hòa thượng luôn hoan hỷ dìu dắt Tăng Ni
và Phật tử trên con đường tu học. Ngài luôn thực hiện
hạnh từ bi hỉ xả, tận tụy vì đạo pháp và làm rạng
rỡ tông phong lịch đại Tổ sư Tế Xuyên nói riêng, Phật
giáo nước nhà nói chung.