HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MẬT ỨNG
(1889-1957)
Hòa
thượng thế danh là Trần Văn Ứng, pháp danh Thích Mật Ứng,
sinh năm Kỷ Sửu (1889) tại xã Vị Xuyên, tổng Đông Mạc,
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, một nơi phát xuất nhiều
vị Nho học nổi tiếng, trong số đó có nhà thơ Tú Xương.
Năm
lên 7 tuổi, Ngài theo học chữ Hán với cụ Tú Nam Thành, tỏ
ra là người có tư chất thông minh xuất chúng, thường được
ban khen. Nhà ở gần chùa Cả, thường ngày, ngoài giờ học
ở trường, Ngài hay sang chùa công quả học hỏi, được sư
cụ đem giáo lý uyên thâm của đạo Phật giảng giải cho
nghe, Ngài phát tâm thành, sanh ý xuất gia từ đấy.
Năm
Ngài lên 11 tuổi (Canh Tý, 1900) cụ Tú Nam Thành được bổ
đi nhậm chức Huấn Đạo ở tỉnh xa, Ngài phải tự đi tìm
minh sư để thụ huấn. Nhân một ngày giỗ Tổ long trọng
tại chùa Cả, có chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Tăng
Ni qui tụ về đông đảo để hành lễ. Khi ấy Ngài cũng có
mặt tại trai đàn. Hòa thượng Tâm Nhân ở chùa Quảng Bá
thấy Ngài hình tướng thanh tú, nhã độ, liền đem lòng yêu
mến và cho theo hầu.
Gặp
được minh sư, lại ở chốn già lam danh tiếng, Ngài nhất
tâm tu học. Năm Ngài 16 tuổi (Ất Tỵ 1905) được Hòa thượng
Tâm Nhân truyền Sa Di giới, và năm 20 tuổi (Kỷ Dậu 1909)
thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn chùa Quảng Bá do Hòa
thượng Thông Toàn, chủ sự chùa Bà Đá (Linh Quang) giữ ngôi
Đàn Đầu Hòa thượng và Hòa thượng Bổn sư Tâm Nhân làm
Yết Ma A Xà Lê.
Sau
khi thọ giới, Ngài càng tinh tấn tu hành, nghiên cứu nhiều
về Tam Tạng kinh điển và suy ngộ đạo lý rất sâu xa. Ngài
vẫn nuôi chí tham học với các bậc cao minh thạc đức để
tìm hiểu đạo mầu. Nghe Tổ Giám Đào Xuyên, tự Thông Mệnh,
là bậc đạo học uyên thâm, giới hạnh gương mẫu, Ngài
tìm đến xin thụ huấn. Trải mười năm tinh tấn tu học,
Ngài được Sư Tổ rất yêu quí, đặt nhiều hy vọng ở tương
lai.
Ngoài
việc tìm hiểu giáo lý Phật Đà, Ngài còn tham cứu Nho học
nơi các bậc danh nho trong vùng, như cụ Tú Thọ Vực ở Nam
Định, nên Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách Gia Chư Tử thảy đều thông
suốt, các điển cố văn chương đều được suy cứu tận
gốc rễ. Ngài là bậc được tôn kính ngưỡng mộ trong giới
thiền gia.
Ngài
từng trú trì động Kính Chủ, một nơi danh thắng tại hạt
Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, sau về kế thừa trú trì chùa Quảng
Bá vào tuổi năm mươi (Kỷ Mão, 1939). Ngài đã đóng góp công
sức lớn lao vào phong trào chấn hưng Phật Giáo từ năm 1935
đến trước Cách Mạng Tháng Tám.
Năm
1949, Hội Việt Nam Phật Giáo được thành lập lại, đặt
trụ sở tại chùa Quán Sứ. Cùng năm đó, Hội Tăng Ni Chỉnh
Lý Bắc Việt cũng được Hòa thượng Tố Liên thành lập.
Đến ngày 09 tháng 9 năm 1950 thì đổi tên thành Hội Phật
Giáo Tăng Già Bắc Việt. Năm 1951 Hòa thượng Mật Ứng được
cung thỉnh lên ngôi Thiền gia Pháp chủ của hội.
Sau
khi Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu (World Fellowship of Buddhists)
được thành lập năm 1950, trụ sở đóng tại Colombo thủ
đô Tích Lan, mà Việt Nam là một hội viên sáng lập, thì
Đại Hội Phật Giáo Việt Nam gồm ba miền Bắc, Trung, Nam
được triệu tập tại chùa Từ Đàm, từ ngày 06 tháng 5 đến
ngày 09 tháng 5 năm 1951 để thực hiện việc thống nhất Phật
Giáo Tăng Già toàn quốc. Ngài nhân danh Thiền Gia Pháp Chủ
Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt, lãnh đạo phái đoàn Tăng
Ni tới dự Đại Hội. Đại Hội này đã khai sinh ra Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết chùa
Tường Vân làm Hội chủ.
Đến
năm 1955 Hòa thượng Thiền Gia Pháp Chủ và Hội Phật Giáo
Tăng Già Bắc Việt phải ngưng hoạt động để biến chuyển
sang một giai đoạn mới của Phật Giáo. Ngài lui về chùa
Quảng Bá an tĩnh tu niệm làm cội gốc phúc lành cho Tăng Ni
tín đồ quy ngưỡng và viên tịch tại đây vào ngày 19 tháng
5 năm Đinh Dậu (1957), thọ 68 tuổi đời, 52 tuổi hạ. Bảo
tháp Ngài được xây dựng tại đây như dấu tích ngàn đời
lưu bóng một bậc cao Tăng.