HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ QUANG
(1888
- 1956)
Hòa
thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sinh năm 1888 tại
Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902, Ngài
xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng
Thiện Trí mến thương đặt pháp danh là Thiện Hải. Ngoài
giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học
thêm y học.
Thấy
chùa Long Hòa ở quận Tiểu Cần - Trà Vinh, hư hại và hoang
phế, Ngài liền phát tâm trùng tu. Dân chúng và tín đồ Phật
tử ở Tiểu Cần vì thế mến đức Ngài, cử đại diện
đến bạch Hòa thượng ở Trà Cú xin cho Ngài được về trụ
trì chùa Long Hòa. Hòa thượng nhận lời, thế là Ngài về
Tiểu Cần. Với đức độ sẵn có, và với vốn y học, Ngài
đã nhiếp hóa được một số đông đồ chúng. Giới trí
thức ở địa phương rất mến phục Ngài, thường đến chùa
để được cùng Ngài đàm luận.
Năm
1919, Ngài đắc pháp với Hòa thượng Từ Vân, được pháp
hiệu là Huệ Quang.
Ngài
đọc tân thư, báo chí và được biết phong trào Phật giáo
các nước đang lên mạnh. Ở Trung Hoa, Thái Hư Đại Sư xây
dựng Phật học viện, xuất bản Hải Triều Âm. Bên Nhật,
Tommatsu tiên sinh cùng các nhà nghiên cứu Phật học phát huy
nền văn học Phật giáo, chủ trương biên tập lại Đại
Tạng Kinh. Ở Thái Lan, Phật giáo được xem là quốc giáo
làm nền tảng đức dục cho quốc dân. Ở Miên, một viện
khảo cứu Phật giáo được thành lập. Trước sắc thái mới
của nền Phật giáo thế giới phục hưng, Hòa thượng Huệ
Quang đã cùng các Hòa thượng khác ở Nam kỳ thành lập Hội
Lục Hòa, ý muốn mở Phật học viện và thư xã. Năm 1928,
cùng với các Hòa thượng Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh, Liên
Trì, các Thượng tọa Từ Nhân, Chơn Huệ, Thiện Niệm, Ngài
cổ động tạo lập thư xã. Tháng 8 năm 1929, các đàn việt
thiện tín Trà Vinh chung sức hiến cúng bộ Đại Tạng toàn
bản, gồm có 750 quyển lớn, chưng bày trong thư xã để làm
tài liệu cơ bản cho việc nghiên cứu.
Năm
1931, Ngài cùng Hòa thượng Khánh Hòa và các vị cao Tăng khác
hợp sức với một số cư sĩ hữu tâm, thành lập Hội Nam
Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn,
đường Douaumont Sài gòn (nay là đường Cô Giang). Hội xuất
bản tạp chí Từ Bi Âm.
Năm
1934, Ngài bàn với các Hòa thượng Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên
Giác về Trà Vinh lập Liên Đoàn Phật Học Xã, để đào tạo
Tăng tài, làm nền tảng cho việc trùng hưng Phật pháp sau
này. Học Tăng gia nhập Liên Đoàn tuần tự tu học từng tam
cá nguyệt tại các chùa Long Hòa (Trà Vinh), Thiên Phước (Trà
Ôn) và Viên Giác (Bến Tre). Sau thấy sự di chuyển bất tiện,
các vị Hòa thượng quyết định lập trường Phật học tại
Trà Vinh.
Tháng
8 năm 1934, hội Lưỡng Xuyên Phật Học được phép thành lập.
Chánh hội trưởng là Ông Huỳnh Thái Cửu, Hòa thượng Khánh
Hòa làm Pháp sư. Ngài lúc này đã 46 tuổi, làm giảng sư kiêm
Tổng lý của hội.
Trong
những lần thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự
cần thiết phải thành lập Giáo hội, xuất bản tạp chí
và kiến tạo Phật học đường, Ngài đã tiên liệu, đã
lo lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật giáo Thống
nhất.
Tháng
7 năm 1935, nguyệt san của hội, tạp chí Duy Tâm được phép
xuất bản, do Ngài làm chủ nhiệm.
Lưỡng
Xuyên Phật Học Đường đã làm được sứ mạng tuyên dương
chánh pháp và đào tạo Tăng tài một cách vẻ vang. Vừa làm
chủ nhiệm tờ báo, Ngài vừa hợp lực với các Ngài Khánh
Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh trong việc quản trị và giáo dục
của Phật Học Đường.
Năm
1945, chiến tranh xảy ra, Lưỡng Xuyên Phật Học Hội và Phật
Học Đường phải ngưng hoạt động. Đại chúng ly tán, quân
đội Pháp chiếm đóng cơ sở Phật Học Hội. Ngài lui về
chùa Long Sơn ở Tiểu Cần tĩnh tu.
Năm
1951 Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập. Đại
hội đại biểu nhóm họp tại Huế. Bản tuyên ngôn thành
lập Tổng Hội được chuyển đi khắp nơi. Theo sự thỉnh
cầu của Giáo hội Tăng già Nam Việt, ngày 8 tháng 3 năm 1953,
Ngài được Giáo hội Tăng già Nam Việt suy tôn lên ngôi Pháp
chủ.
Năm
1954, mười ngày sau khi hiệp định Genève được ký kết,
một phong trào Hòa Bình ở Sài gòn-Chợ Lớn ra đời, đấu
tranh đòi hòa bình và thống nhất đất nước, do những nhân
sĩ yêu nước Bắc, Nam khởi xướng. Ngài với cương vị Pháp
chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt, cùng đông đảo các nhà
trí thức Phật tử, tích cực vận động Tăng Ni và tín đồ
Phật giáo hưởng ứng phong trào này, vì thế Ngài bị câu
lưu tại bót Catinat, sau được đưa về quản thúc tại chùa
Phật Quang ở Chợ Lớn.
Năm
1956 kỳ Đại hội Phật giáo lần thứ 2 tại Sài gòn, Ngài
được suy cử Phó Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Tập san Phật giáo Việt Nam được phép xuất bản vào tháng
8 dương lịch và Ngài được mời làm Chủ nhiệm.
Ngày
10 tháng 11 năm 1956, Ngài cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam
dự Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ 4 tại Népal.
Phái đoàn dự Đại hội Phật giáo Thế giới xong liền trở
về New Delhi. Sau khi quan sát Đại hội Văn hóa Quốc tế, và
cuộc triển lãm Nghệ thuật Phật giáo, Ngài cùng với Hòa
thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết đến dự cuộc mít tinh
tổ chức tại công trường Ramila, và viếng các Phật tích.
Sau
khi chiêm bái Phật tích về, Ngài đã lâm chứng bệnh cũ và
đột ngột từ trần vì tai biến mạch máu não, hưởng thọ
68 tuổi với 37 năm hoằng hóa. Nhục thân Ngài được hỏa
táng tại Ấ n Độ.
Ngày
10-12-1956, Linh vị và xá lợi của Hòa thượng được đón
rước long trọng về Việt Nam, và được đặt tại trụ sở
của Tổng Hội Phật Giáo chùa Ấn Quang, để thập phương
Tăng Ni Tín đồ đảnh lễ tưởng niệm.
Đã
qua rồi cuộc đời và sự nghiệp của một vị cao Tăng thạc
đức đã cống hiến đến phút cuối cùng cho công cuộc chấn
hưng Phật giáo nước nhà đến hồi vinh quang. Mãi mãi bao
thế hệ Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ghi tạc công hạnh Ngài
vào lòng trên bước đường tu học và phụng sự Đạo pháp
- Dân tộc.