TỔ
MINH
ĐĂNG QUANG
(1923-1954)
Tổ
Minh Đăng Quang thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn,
sinh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tổng
Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Gia đình thuộc thành
phần trung nông, hiền lương và trung hậu, kính tin Phật pháp
nhiều đời.
Thân
phụ là ông Nguyễn Tồn Hiếu, và thân mẫu là bà Phạm Thị
Nhàn. Ngài là con trai út trong gia đình có năm anh em. Theo truyền
khẩu, thân mẫu Ngài mang thai Ngài đến tháng thứ mười hai
mới sanh. Và mười tháng sau, bà đã an nhiên qua đời mà không
hề nhuốm một căn bệnh nào.
Lúc
thiếu niên, Ngài có phong cách sống khác biệt so với các
anh em trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Ngoài những buổi
học hành, lao động phụ giúp thân phụ, Ngài thường tìm
đọc sách, nghiên cứu và ngồi suy tưởng tại một nơi yên
tịnh. Do thiên tư tĩnh lặng ấy, Ngài được phụ thân cho
phép dựng một cái cốc nhỏ trong vườn nhà, để có nơi
học hành và suy nghiệm. Ngài vốn có tính tình điềm đạm
hay giúp đỡ mọi người nên rất được lòng người chung
quanh.
Năm
Đinh Sửu (1937) khi vừa 15 tuổi, Ngài xin phép phụ thân cho
xuất gia học đạo. Sau nhiều lần tra gạn lý do và Ngài đã
bộc bạch tận tường những ý định cũng như mục đích
chính đáng của mình, nhưng phụ thân đã dùng quyền làm cha
để ngăn cản với lý do Ngài hãy còn quá nhỏ, không thể
đi xa gia đình. Nhưng thầm kín sâu xa nhất nơi trái tim người
cha lúc này vẫn Ngài là con trai út, bao kỳ vọng đặt trọn
nơi người con mà từ tính tình cho đến tác phong được mọi
người quý mến.
Ngài
vẫn nung nấu chí xuất gia. Sau khi nhận thấy sự nguôi ngoai
nơi phụ thân, Ngài bằng mọi cách để cha mình thấy được
rằng tự thân sẽ chịu đựng được trước mọi gian nan
thử thách trên đường đời. Rồi một đêm, khi những lời
hứa cho xuất gia của một người cha nặng lòng yêu thương
đứa con út chưa dứt âm vang Ngài đã âm thầm ra đi. Nơi
đến đầu tiên là tận đất nước Campuchia, nơi có nhiều
chùa tháp hùng vĩ, thể hiện tinh thần Phật giáo vĩ đại,
với bóng dáng của rất nhiều Tăng sĩ trang nghiêm hành trì
Phật Pháp.
Ngay
từ ngày đầu đặt chân đến đất nước Campuchia, thiện
duyên đưa Ngài gặp được một nhà sư người Việt gốc
Khmer, nổi tiếng từ lâu về kiến thức Phật đà. Ngài không
ngần ngại quy ngưỡng và thọ giáo trong suốt thời gian tu
học tại đây.
Năm
Tân Tỵ (1941) sau bốn năm sống và học đạo nơi xứ người,
dốc lòng nghiên cứu tìm hiểu kinh tạng và đường lối y
bát chơn truyền của đức Phật, Ngài nhận thấy tương đối
đầy đủ, cùng với năng lực bản thân, có thể trở về
quê hương hành đạo. Do đó Ngài đã xin phép Thầy mình trở
về Việt Nam.
Khi
vừa về đến quê hương, chướng lực đầu tiên đã ập
đến, chút nợ trần còn vướng nên Ngài phải trả để tương
lai nhân quả được nhẹ nhàng. Đó là việc Ngài lập gia
đình với cô Kim Huê, người đã mang ơn cứu tử nơi Ngài.
Tuy nhiên chưa đầy một năm sau cô Kim Huê từ trần.
Đầu
năm Quí Mùi (1943) Ngài trở lại con đường tu học, mạnh
dạn đi sâu vào lãnh vực nghiên cứu để hiểu thêm về đường
lối của hai hệ phái Bắc Tông và Nam Tông. Ngài trở lại
vùng Thất Sơn tìm vào chốn u tịch, hợp với tâm cảnh, để
thực hành sở nguyện suy tầm đó. Sau khi rời Thất Sơn, Ngài
qua Hà Tiên dự định một chuyến ra tận Phú Quốc, nhưng
do trễ chuyến tàu nên Ngài ở lại ghềnh mũi Nai, ngồi tham
thiền an trú trong chánh pháp Bát Nhã. Năm ấy Ngài tròn 22
tuổi.
Năm
Giáp Thân (1944), Ngài đã ngộ chứng được lối đạo dung
hòa kết hợp truyền thống cao đẹp của hai hệ phái Bắc
Tông và Nam Tông để lập nên một phái Khất Sĩ mang riêng
bản sắc Việt Nam. Rằm tháng tư năm ấy, Ngài bắt đầu
truyền khai tư tưởng và lối đạo của mình tại chùa Linh
Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, và đã trở thành vị Tổ
đầu tiên của Giáo phái Khất sĩ Việt Nam.
Từ
đó, ảnh hưởng Giáo phái Khất sĩ Việt Nam mỗi ngày thêm
lan rộng theo chân vân du hành đạo của Ngài.
Tất
cả những thời pháp do Ngài diễn giảng trong suốt phần đầu
quá trình khai hóa ấy, đều được ghi lại đầy đủ trong
bộ Chơn Lý, gồm 69 tiểu luận. Trong đó Ngài đã dung hợp
được những tinh hoa Phật pháp của cả hai hệ phái Nam và
Bắc Tông theo yếu chỉ trung đạo của giáo lý Phật đà.
Theo đó, bản thân người Khất sĩ phải thực hiện đúng
mục đích của hệ phái là: trang bị tinh thần không mưu cầu
tích trữ vật dụng, tiền bạc... không gia đình; mỗi sáng
ôm bình bát đi khất thực, không ở nơi nào nhất định...
Buổi
ban đầu khai hóa đã thành công mỹ mãn, được sự đồng
tình ủng hộ và tu học theo con đường Ngài đã vạch. Chỉ
trong thời gian ngắn, đã có hơn 100 vị xuất gia hành trì,
trên chục ngàn Phật tử theo thọ giới quy y với Ngài và
từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ đã có trên 20 ngôi
tịnh xá của hệ phái, đủ nói lên sức ngưỡng mộ mạnh
mẽ nơi chơn lý.
Trong
hàng đệ tử ban đầu của Ngài, có nhiều vị đã lập được
những đoàn du Tăng hành đạo khắp miền Trung và miền Nam
từ năm 1955 đến 1975. Trong đó có các Ngài Giác Tánh, Giác
Chánh, Giác Nhu, Giác Tịnh, Giác An, Giác Nhiên, Giác Lý, Giác
Đức...
Bên
Ni giới có Ni trưởng Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim
Liên, Ngân Liên, Chơn Liên...
Trong
hàng giáo phẩm hiện nay, trực tiếp tham gia làm thành viên
GHPGVN có các Hòa Thượng Giác Nhu, Từ Huệ. Và trong Hội đồng
Trị sự có Thượng tọa Giác Toàn và Ni sư Ngoạt Liên.
Trong
suốt thời gian 10 năm, kể từ ngày hoằng khai mối đạo tại
chùa Linh Bửu, phương pháp hành trì và sự hướng dẫn trực
tiếp của Ngài đã đem lại nhiều lợi lạc cho cộng đồng
Phật giáo Nam bộ. Tuy vậy, do tác động và ảnh hưởng của
hệ phái Ngài khai mở quá lớn nên cũng không tránh khỏi những
hiềm khích từ phía những người ngoại đạo.
Ngày
mùng 1 tháng 2 năm 1954, sau khi căn dặn một số điều thiết
yếu cho các đệ tử của Ngài tiếp tục hoằng khai các du
xứ. Ngài định mở chuyến đi sâu xuống các tỉnh vùng Hậu
Giang để tiếp tục khai truyền. Nhưng khi đi từ Tịnh xá
Ngọc Quang (Sa Đéc) qua Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) sang Cần
Thơ Ngài đã bị những người ngoại đạo bắt đi biệt tích.
Hơn
40 năm vắng bóng Tổ Minh Đăng Quang, những người thừa kế
vẫn kiên trì chờ đợi, tiếp tục gìn giữ những thành quả
đã đạt được và không ngừng chăm lo phát triển, làm cho
hệ phái Khất sĩ ngày càng vững chắc trong lòng Phật giáo
Việt Nam.
Hiện
nay (1994) hệ phái Khất sĩ Việt Nam có hơn 250 ngôi Tịnh xá
đều khắp ở hai miền Nam, Trung Việt Nam, với hơn 1500 Tăng
Ni xuất gia và nhiều chục vạn tín đồ.
Hằng
năm, hàng môn đồ tứ chúng lấy ngày mùng 1 tháng 2 để kỷ
niệm ngày Tổ vắng bóng, cùng nhau vân tập tại Tịnh Xá
Trung Tâm (Sàigòn) ôn lại những lời dạy và ghi nhớ công
ơn khai sáng của Ngài. Để tỏ lòng thiết tha quí kính Ngài,
các thế hệ tiếp nối tưởng niệm Ngài bằng tấm lòng trân
trọng: Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang.
Các
tác phẩm Ngài đã viết trong quá trình hành đạo nay còn lưu
lại :
-
Bộ Chơn Lý
-
Bồ Tát giáo.