HÒA
THƯỢNG
BÍCH
KHÔNG-THÍCH GIÁC PHONG
(1894
- 1954)
Hòa
thượng Thích Giác Phong sinh trưởng trong một gia đình khoa
bảng,(1) quán làng Bích Khê, tổng Bích La, huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ Ngài theo học chữ Nho và chữ
Pháp, đậu Tú tài Hán học năm 22 tuổi ở trường thi Hương
Thừa Thiên, khoa Mậu Ngọ (1918) niên hiệu Khải Định thứ
3, khoa thi cuối cùng của Nam triều. Đồng khoa ấy, anh của
Ngài đậu Hoàng giáp.(2) Ngài có biệt tài viết liễn đối
và hoành phi nét chữ rất đẹp, khiến những người Hoa kiều
có học thức lúc bấy giờ rất khâm phục.
Vì
là con nhà khoa bảng và trọng thần của triều đình, sau khi
thi đậu Ngài được chiếu chỉ của vua Khải Định triệu
vào triều làm thư ký riêng trong văn phòng của nhà vua.
Thuở
thiếu thời, lúc đi học ở Huế, Ngài được ở trong chùa
Báo Quốc, hấp thụ được không khí mùi thiền và đã qui
y với Hòa thượng Tâm Khoan tại đây. Cho nên khi làm quan,
Ngài càng nhận thấy cuộc đời là trường danh lợi, mạnh
hiếp yếu, thiếu tình thương, đầy khổ não. Ngài tự nghĩ:
phải chăng chỉ có ánh đạo Từ Bi mới cứu vớt được
nhân loại thoát ra ngoài bể khổ, đem lại hạnh phúc cho chúng
sinh.
Thêm
vào đó, thân phụ Ngài là một nhà Nho thâm đạt Phật lý,
chánh tín tu hành, sống đời từ bi bác ái. Khi sắp sửa từ
trần, cụ ngồi xếp bằng niệm Phật, rồi thoát thần một
cách tự nhiên. Bấy giờ được chứng kiến cảnh vãng sanh
Tây phương đầy nhiệm mầu của thân phụ, tâm ý Ngài càng
hướng mạnh về con đường giác ngộ của đức Phật. Ngài
bèn trao ấn từ quan, xuất gia hành đạo.
Trước
hết muốn có nhiều kinh nghiệm, Ngài vân du sang Nhật, sang
Trung Hoa v.v... để tham khảo giáo lý, văn hóa ngoại bang, quan
sát tình hình Phật giáo tại những nước có phong trào phục
hưng cao. Sau đó Ngài trở về Huế, đem nhận xét, hiểu biết
của mình áp dụng trong bước đường tu hành và đóng góp
cho công cuộc hoằng dương chánh pháp trong nước.
Đầu
tiên, Ngài khai sơn chùa Giác Phong ở Quảng Trị. Do đó Ngài
mới có biệt hiệu là Giác Phong. Mãi tới năm Bảo Đại thứ
10 (1935), Ngài mới thọ đại giới ở trường Kỳ chùa Sắc
Tứ Tịnh Quang ở Quảng Trị và đắc pháp với Hòa thượng
Hải Đức - Thích Phước Huệ, nên có pháp hiệu Bích Không.
Nhờ
uyên thâm Nho học, Ngài nghiên cứu sâu vào huyền nghĩa của
tam tạng kinh điển. Học hỏi các vị cao Tăng thạc đức
ở Huế xong, Ngài lại vào Bình Định tham học với Hòa thượng
Thập Tháp - Quốc sư Phước Huệ. Nhân trong buổi học kinh
Lăng Già, Hòa thượng chỉ nói một câu “Bán cú phi bất
đa” mà Ngài được tỏ ngộ. Từ đó Ngài bắt đầu thực
hành sự nghiệp lợi tha, hoằng dương chánh pháp.
Vào
những năm 1935 - 1937, là lúc phong trào chấn hưng Phật giáo
đang lên cao tại miền Trung, Ngài đã có công đóng góp cho
các tỉnh từ Đà Nẵng trở ra Nghệ Tĩnh. Ngài đã cộng tác
với chư Tôn đức ở Đà Nẵng, thành lập hội “Đà Thành
Phật Học”, xuất bản một tạp chí lấy tên là Tam Bảo
và khai mở Phật học đường tại chùa Phổ Đà cho hai cấp
Tiểu học và Trung học do Ngài làm Giám đốc và Ngài Giác
Viên (trú trì chùa Hồng Khê) làm chủ giảng.
Chủ
trương của hội Đà Thành Phật Học qua tờ Tam Bảo thường
đề cập tới sự cần thiết thống nhất các đoàn thể Phật
giáo trong xứ thành một hội “Phật Giáo Liên Hiệp” với
tôn chỉ là:
1)
Phò khởi Tăng giới, nguyện cùng chư sơn Nam - Bắc liên đoàn
để bảo tồn Tăng Bảo.
2)
Nguyện cùng chư sơn chấn chỉnh tôn phong, chung một điều
lệ thi hành, cần nhất là phải giữ cho được hoàn toàn
giới hạnh.
Thời
gian Ngài ở Đà Nẵng, bộ Lễ Nam triều cấp bằng sắc phong
Ngài làm trụ trì chùa Sắc Tứ Phổ Thiên. Tiếp đó Ngài
lại vào Nha Trang mở trường hoằng pháp cho Tăng chúng và
tín đồ tu học kiết hạ an cư rất đông tại chùa Sắc Tứ
Hải Đức. Tăng Ni ở các chùa Hải Ấn (Saigon), Bình Quang
(Phan Thiết) và chùa Thập Tháp (Bình Định), các chùa ở Huế,
Đà Nẵng v.v... đều qui tập về đây tu học.
Thời
gian ở Khánh Hòa, Ngài làm cố vấn tối cao cho Tỉnh hội
Phật học, tham gia rất nhiều trong việc xây dựng chi hội,
khuôn hội. Ngoài ra Ngài còn tham gia Phật sự ở Đà Lạt
và các Tỉnh hội ở miền cực Nam Trung kỳ. Tăng tục đều
được thấm nhuần pháp vũ của Ngài. Pháp tử của Ngài ở
khắp mọi nơi. Ngài còn ra các tỉnh miền Bắc Trung Kỳ tham
gia chấn hưng Phật giáo, gây được phong trào rất sôi nổi
ở Nghệ An. Khi Ngài ở chùa Linh Vân thường gọi chùa Diệc
ở thành phố Vinh, Ngài đã hóa duyên cho một cư sĩ tên là
Bạch Hưng Nghiêm. Ông này đã phát tâm ấn tống rất nhiều
kinh điển Đại thừa. Ngài cũng vân du hóa đạo ra Thanh Hóa
và một số nơi ở miền Bắc.
Năm
1942, Ngài lại trở vào Nha Trang làm Tuyên Luật sư tại trường
Kỳ chùa Kim Long ở huyện Ninh Hòa. Năm 1944, Ngài làm Tuyên
Luật sư tại giới đàn chùa Bình Quang ở Phan Thiết để
tiếp dẫn Ni chúng. Năm ấy Ngài còn chứng minh cuộc đại
trùng tu Tổ đình Phật Quang ở đây.
Bấy
giờ chùa Hải Đức ở Nha Trang nằm trong thành phố thuộc
quyền quản lý của Hòa thượng Phước Huệ thừa kế Tổ
khai sơn, đã bị hư hỏng nhiều, vì Hòa thượng già yếu,
lại bận nhiều Phật sự ở Huế, không thể trực tiếp trông
coi được, nên năm Bảo Đại thứ 14 (1939) Hòa thượng cho
mời sơn môn tỉnh Khánh Hòa lại, lập di chúc giao hẳn chùa
Hải Đức cho Ngài trọn quyền điều hành tái thiết, sử
dụng mọi động sản và bất động sản.
Được
giao trọn quyền, Ngài thấy chùa nằm trong thành phố với
một khuôn viên chật hẹp, không thể phát triển được, bèn
cùng sơn môn và bổn đạo quyết định dời chùa lên núi
Trại Thủy, chặt cây phá núi để có mặt bằng xây dựng.
Bấy giờ đang lúc thế chiến thứ hai vào hồi quyết liệt,
kinh tế suy sụp, dân chúng dưới hai tầng áp bức Pháp - Nhật.
Việc trùng tu di dời chùa gặp không ít khó khăn. Nhưng Ngài
đã vượt qua tất cả với một quyết tâm cao, nên mới có
được một đại tòng lâm uy nghi ngày nay (Trường Cao Đẳng
Phật Học Nha Trang) để cho chư Tăng tu học và Phật tử chiêm
bái.
Chẳng
những xây dựng ngôi phạm vũ trang nghiêm, Ngài lại ra làng
Hà Già thuộc huyện Ninh Hòa, cách Nha Trang 50 cây số về hướng
Bắc, xin đất lập nông thiền trên 50 mẫu để cung cấp lương
thực lâu dài cho chúng Tăng tu học ở đại tòng lâm. Chùa
làm xong, vật dụng thường dùng trong chùa thiếu thốn. Ngài
phải quay về Quảng Trị bán hết phần gia tài điền sản
của Ngài ở quê, lấy tiền mua sắm các thứ đem vào. Bấy
giờ xe lửa bị Nhật trưng dụng, đi lại rất khó khăn, nguy
hiểm, thường bị máy bay Đồng Minh ném bom. Chuyến đi ấy
Ngài mang theo các vật dụng trong chùa rất nhiều, bằng sành,
bằng sứ, bằng đồng thuộc loại cổ xưa, tàu đến ga Tam
Quan ở Bình Định, bị bom mất hết. Ngài còn đưa theo số
đông bà con, dân làng vào lập nghiệp tại nông thiền.
Sau
Cách mạng tháng 8 năm 1945, quân Pháp đổ bộ Nha Trang, Ngài
cùng đệ tử phải xa chùa theo dân chúng tản cư, lần hồi
ra đến Huế. Năm 1946 Ngài làm Giám đốc Phật học viện
Báo Quốc và cùng chư Tôn đức chủ trương xuất bản tạp
chí Giải Thoát để làm cơ quan ngôn luận cho Phật giáo đương
thời.
Năm
1947 mặt trận Huế vỡ, quân Pháp đánh tràn ra. Ngài lại
phải tản cư ra Quảng Trị rồi lần đến Nghệ An, tá túc
tại chùa Diệc, tiếp tục hoằng pháp. Nhưng bấy giờ tình
thế đã thay đổi. Với khẩu hiệu tất cả cho kháng chiến,
mọi hoạt động đều phải ngưng trệ, trong đó kể cả việc
hành đạo. Về cuối đời, Ngài an trú ở thành phố Vinh,
rồi mắc trọng bệnh. Ngày 15 tháng 9 năm Giáp Ngọ (1954) Ngài
đã trở về đất Phật, hưởng thọ 60 tuổi đời và 21 tuổi
đạo.
Công
cuộc chấn hưng Phật giáo ở suốt dải đất từ Thanh Nghệ
cho đến Phan Thiết đều có dấu tích hoằng dương Đạo pháp
của Ngài. Ban rải mầm Từ Bi và giống Bồ Đề không hề
ngơi nghỉ trong suốt chặng đường trần có mặt, Ngài Bích
Không vẫn sáng mãi như thế hệ của Ngài, thế hệ nở rộ
những bông hoa Ưu Đàm cho ngày sau hưởng quả.
Chú
thích :
1)
Viết theo tài liệu của Thượng Tọa Thích Viên Giác, tọa
chủ chùa Giác Hải ở ấp Xuân Tự, huyện Vạn Ninh tỉnh
Khánh Hòa, in trong quyển “Phẩm Phổ Môn” xuất bản ở
Sài gòn năm 1961.
2)
Tài liệu của Thượng tọa Viên Giác không cho biết thế danh
của Hòa thượng Giác Phong, nhưng căn cứ vào quê quán của
Ngài và người anh đậu Hoàng giáp, chúng ta có thể suy đoán
Ngài là con của Cử nhân Hoàng Hữu Xứng, và anh Ngài là Hoàng
giáp Hoàng Bính (còn tên là Hoàng Hữu Tiệp). Xét các nhà
khoa bảng tỉnh Quảng Trị chỉ có 3 người đậu Hoàng giáp
là các ông Nguyễn Văn Chương quán xã Vĩnh Hòa, huyện Đăng
Xương, đậu khoa Giáp Thìn (1844). Thiệu Trị thứ 4; Nguyễn
Văn Hiểu quê xã Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng, đậu khoa Đinh
Mùi (1847) Thiệu Trị thứ 7; Hoàng Bính quê xã Bích Khuê, huyện
Đăng Xương, đậu khoa Kỷ Sửu (1889) Thành Thái nguyên niên.