HÒA
THƯỢNG
THÍCH
KHÁNH THÔNG
(1870-1953)
Hòa
thượng thế danh là Hoàng Hữu Đạo, pháp danh Như Tín, pháp
hiệu Khánh Thông, sinh năm Canh Ngọ (1870) tại làng An Thủy,
tổng Bảo Trị, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình
thuộc hàng Nho gia khá giả. Thân phụ là ông Hoàng Hữu Nghĩa.
Thân mẫu là bà Đặng Thị Sa. Lúc nhỏ Ngài được theo học
chữ Nho với cụ Đồ Chiểu tại làng An Đức (Khi cụ từ
Cần Giuộc - Long An lánh nạn về đây mở trường dạy học).
Là học trò cụ Đồ Chiểu, nên Ngài có tài về dịch học
và giỏi về Đông y.
Trước
khi xuất gia, Ngài sinh hoạt theo đạo lý luân thường của
Khổng Mạnh, chí hiếu với cha mẹ, hòa nhã thân thiết với
hương thôn tổng huyện. Quan, dân trong vùng coi Ngài như bậc
thiện trí thức gương mẫu uy tín của tỉnh Bến Tre. Ngài
có biệt tài về thơ phú, xuất khẩu thành chương, ứng đối
mau lẹ và viết chữ rất đẹp. Hàng năm cứ vào dịp gần
tết, người trong làng thường nhờ Ngài viết giúp các câu
đối, câu liễn để treo trên bàn thờ gia tiên. Ngài còn có
trí nhớ tốt, thuộc rất nhiều kinh sử trong Tam giáo Cửu
lưu. Tài hùng biện lưu loát của Ngài dễ lôi cuốn người
nghe trong các cuộc đàm đạo giao lưu.
Một
hôm, tự thân suy gẫm về thế cuộc nhân sinh, Ngài bỗng nhớ
đến câu:
Nhơn
tình tợ chỉ, trương trương bạc
Thế
sự như kỳ, cuộc cuộc tân.
Nghĩa
là:
Tình
người giống như tờ giấy mỏng
Cuộc
đời chẳng khác nào bàn cờ, thắng bại đổi thay luôn.
Và
thấy thấm thía lẽ vô thường. Hạt giống xuất gia nẩy
mầm trong Ngài. Năm 1897 (27 tuổi), Ngài đến chùa Long Khánh
xã Bình Tây xin quy y thế độ với Hòa thượng Chấn Bửu,
được ban pháp danh Nguyên Nhơn. Sau Ngài lại đến cầu chánh
pháp nhãn tạng với Tổ Minh Lương tức Thiền sư Chánh Tâm
ở chùa Kim Cang tỉnh Tân An, được ban pháp danh Như Tín, pháp
hiệu Khánh Thông. Ngài là đồng môn huynh đệ với Hòa thượng
Thích Khánh Hòa.
Năm
1907 (Đinh Mùi), Ngài trở về làng An Thủy phát tâm khuyến
giáo kiến tạo ngôi Tam bảo đặt tên là Bửu Sơn Tự. Khi
làm lễ khánh thành chùa và an vị Phật, Ngài kết hợp mở
Đại giới đàn cung thỉnh Hòa thượng Bổn sư Minh Lương
chùa Kim Cang giữ ngôi vị Đàn đầu Hòa thượng truyền giới.
Còn Ngài được chư sơn cùng giới tử mời giữ chức Yết
Ma A Xà Lê. Qua giới đàn này, danh tiếng của Ngài bắt đầu
vang khắp các sơn môn. Thiện nam, tín nữ quy ngưỡng về Ngài
cầu mong được thọ ân pháp nhũ. Đương thời có bà Lê Thị
Ngỡi, pháp danh Như Ngỡi ở làng Tân Hào, chợ Hương Điểm
là một nhà đại thí chủ, tôn kính Ngài như Bổn sư. Phàm
những Phật sự phước đức nào bà phát tâm cúng dường
cũng phải có Ngài chứng minh mới được.
Ngày
rằm tháng 2 năm Quý Hợi (1923), Ngài được cung thỉnh lên
ngôi vị Đàn đầu Hòa thượng ở Đại giới đàn chùa Thắng
Quang. Đến năm Tân Mùi (1931), Ngài lại được cung thỉnh
giữ chức Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn ở chùa
Long Nhiêu (Bến Tre).
Ngài
là người có vốn Nho học, lại thêm đức độ và uy tín
thiền gia nên đồ chúng về đảnh lễ tu học rất đông.
Trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài đã góp phần đào
tạo thế hệ Tăng tài đáp ứng cho cuộc chuyển mình của
Phật giáo. Lớp Tăng sĩ trẻ này đã làm nền tảng cho Hòa
thượng Khánh Hòa trong mọi công tác Phật sự. Để phân biệt
đệ tử của Hòa thượng Khánh Thông và đệ tử của Hòa
thượng Khánh Hòa: Đệ tử Ngài Khánh Thông mang pháp danh chữ
Vĩnh, như Vĩnh Huệ, Vĩnh Đạo, Vĩnh Tấn... Đệ tử Ngài
Khánh Hòa thì mang pháp danh chữ Thành, như Thành Đạo, Thành
Lệ...
Năm
Giáp Ngọ (1933) vào ngày mùng 3 tháng 8 sau khi tụng xong một
thời kinh, thấy người hơi mệt, biết trần duyên đã mãn,
sắp buông xả thân tứ đại, Ngài bèn cho gọi các đệ tử
tới bên cạnh, kể lại quảng đời hành đạo của mình,
để tỏ lòng tri ân với Tổ đình Long Khánh, Tổ đình Kim
Cang, cùng với huynh đệ đồng môn xuất gia tu học từ hồi
niên thiếu. Ngài lại khuyên bảo chúng đệ tử xuất gia,
tại gia kiên tâm bền chí lo việc tu hành, chớ nên buồn rầu.
Nói rồi Ngài vui vẻ thâu thần về cõi Phật, hưởng thọ
83 tuổi đời, 55 giới lạp.