HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ ĐĂNG
(1873
- 1953)
Hòa
thượng húy Thanh Kế, hiệu Huệ Đăng, thế danh là Lê Quang
Hòa, sinh năm Quý Dậu (1873) nhằm triều Tự Đức năm thứ
26, tại xã An Đông, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn,
tỉnh Bình Định, trong một gia đình Nho học.
Thân
phụ Ngài là một nhà Nho, nên Ngài đã được thụ giáo từ
khi mới lên 5 tuổi. Đến 7 tuổi Ngài được vào học trường
huyện. Nhờ bẩm chất thông minh, Ngài luôn chiếm ưu hạng.
Sau một thời gian Ngài được chuyển lên học trường tỉnh.
Đây là nơi Ngài có thể sôi kinh nấu sử để mai sau danh
chiếm bảng vàng, làm rạng rỡ tông đường. Ngờ đâu ngày
22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) kinh đô Huế thất thủ. Vua Hàm
Nghi phải xuất bôn, và xuống chiếu Cần Vương. Vừa lúc
đó có kỳ thi Hương tại trường thi Bình Định, các sĩ tử
cùng nhau bãi thi, phá trường, hô hào tham gia phong trào Cần
Vương, chống Pháp cứu nước. Ngài cũng xếp bút nghiên, gia
nhập hàng ngũ nghĩa quân Bình Định của các Ông Mai Xuân
Thưởng, Bùi Điều.
Năm
Đinh Hợi (1887), sau khi lực lượng nghĩa quân Cần Vương bị
Pháp đàn áp, các thủ lãnh lần lượt hy sinh, Ngài phải lánh
nạn vào vùng Bà Rịa, tạm khoát áo thầy đồ che mắt quân
địch, để chờ cơ hội và tìm đồng chí. Ngài đã đi khắp
các tỉnh miền Đông xuống tới Gò Công. Đi đến đâu Ngài
cũng đều thất vọng vì bấy giờ người Pháp đã đặt xong
nền cai trị với bộ máy đàn áp và tay sai khắp nơi. Phong
trào Cần Vương không có ảnh hưởng gì ở miền Nam. Chán
nản, Ngài lại quay về Bà Rịa, tạm ẩn mình nơi nhà người
bạn cũ năm xua.
Năm
1900, một hôm, đang dạo bước lên đồi Chân Tiên, lòng bâng
khuâng vì thời cuộc, bỗng xa vọng lại tiếng chuông chùa
trầm buồn giữa núi rừng thâm u thanh vắng, Ngài chợt thức
tỉnh giấc mộng trần. Sáng hôm sau Ngài tìm đến chùa Long
Hòa Cổ Tự gặp Sư Tổ Hải Hội-Chánh Niệm. Qua phong thái
và tâm tình của Ngài, Tổ trú trì đoán đây là người lương
đống cho Phật pháp trong tương lai, nên lấy lời cảnh tỉnh
khuyên Ngài xuất gia hành đạo. Nghe Tổ giáo huấn, Ngài tự
nghĩ rằng “Cứu quốc không xong, thôi đành cứu đời vậy”.
Từ đó Ngài xin xuất gia học đạo, Tổ Hải Hội - Chánh
Niệm truyền quy giới và ban cho Ngài pháp hiệu là Thiện Thức.
Ngài tinh tấn tu học, mau chóng am hiểu được các việc trong
thiền lâm, được Thầy Tổ mến yêu, huynh đệ kính vì.
Năm
1901, Ngài được Bổn sư gởi đi tham học với Tổ Trí Hải
ở chùa Thiên Thai Sơn Thạch Tự ở Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Ngài ở đây ba năm tinh tấn tu học, tỏ ra là người trí
tuệ uyên bác, thông suốt các kinh, luật, luận. Rồi Ngài
quay về chùa Long Hòa. Thấy đạo phong và trí huệ Ngài xứng
đáng là người gìn giữ mối đạo tương lai, Tổ Hải Hội
truyền trao Cụ Túc giới và ban pháp danh là Thanh Kế, đạo
hiệu là Huệ Đăng. Năm đó, Ngài 30 tuổi (1903), Ngài được
Tổ cho trú trì chùa Kiên Linh hơn một năm. Sau đổi về trú
trì chùa Phước Linh ở xã Tam Phước cùng tỉnh Bà Rịa năm
1904 và cũng năm này, Ngài được nhập chúng tu học với hạ
lạp đầu tiên tại chùa Giác Viên, do Tổ Hoằng Ân làm Chủ
hương.
Năm
Ất Tỵ 1905, Tổ Hải Hội viên tịch ở chùa Long Hòa. Ngài
phải về cư tang và lo xây dựng bảo tháp. Thời gian này Ngài
vào núi Dinh (núi Dinh Cố) khai phá Thạch động làm nơi tĩnh
tu. Ngài ở lại đây hai năm tĩnh tu thiền định, tụng kinh
Pháp Hoa. Danh đức của Ngài vang khắp, thiện tín bốn phương
sùng kính ngày càng đông, đồ chúng theo Ngài tu học càng
nhiều.
Năm
1908, Ngài 35 tuổi, chùa Châu Viên ở Bà Rịa khai trường Kỳ,
chư sơn mời Ngài lãnh chức Yết Ma, đồng thời làm Pháp
sư trong giới đàn đó.
Năm
1910, Ngài vẫn ở tại Thạch động mà Ngài đặt tên là Động
Thiên Thai. Thạch động nhỏ hẹp, không phải là chốn già
lam, nên Ngài nghĩ đến việc xây dựng chùa Thiên Thai ở chân
núi Dinh để tiếp Tăng độ chúng truyền bá chánh pháp.
Năm
1913 chư sơn trong tỉnh thỉnh Ngài tổ chức giới đàn tại
chùa Phước Linh xã Tam Phước, Bà Rịa. Tại Đại giới đàn
này, ngài được suy tôn làm Đường đầu Hòa thượng.
Năm
1915 (42 tuổi), Ngài được thỉnh đến trú trì chùa Bà Lang
Lệ ở Cái Tàu Thượng (Sa Đéc) do Phật tử cúng cho Ngài.
Về đây việc truyền bá Phật pháp của Ngài có cơ hội phát
triển. Rất đông chư sơn các nơi đến học và quảng đại
tín đồ đến quy y thọ giới. Từ đó Pháp hạnh của Ngài
được lan truyền trong các sơn môn, nên trong những trai đàn
đại lễ, các chùa đều thỉnh Ngài làm Pháp sư hay Chứng
minh. Ngài không từ chối dù phải đi xa, như năm 1918 Ngài
làm Pháp sư trường Hương ở chùa Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự
(Cà Mau), năm 1920 Ngài làm Chứng minh trường Hương ở chùa
Phước Trường v.v...
Sau
một thời gian vân du hoằng hóa ở các tỉnh Nam bộ, Ngài
cùng một đệ tử về ẩn tu ở hang Mai trên núi Dinh, sống
khắc khổ để tĩnh tu thiền định. Ngài bị quan Tri phủ
sở tại nghi ngờ tổ chức chống Pháp nên bắt buộc phải
rời hang Mai.
Năm
1925, Ngài lại dẫn đồ chúng lên sườn núi Dinh khai hoang
lập vườn trồng cây trái. Sau năm năm vừa tu hành vừa làm
lụng cực nhọc, vườn cây vú sữa đã có trái, đủ huê
lợi cho môn đồ no ấm tu học.
Năm
1929, Ngài trùng tu lại ngôi Tổ đình Long Hòa được khang
trang. Vì chùa đã bị hư mục sau 200 năm xây dựng. Và năm
1933, do thỉnh cầu của đồ chúng, Ngài cho xây dựng Thiên
Bửu Tháp (còn gọi là Cửu Liên Đài) ở phía đối diện
chùa Thiên Thai.
Năm
1931, Hòa thượng Khánh Hòa, cây đại thụ của phong trào chấn
hưng Phật giáo, vận động chư sơn thành lập hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn ở
gần chợ Cầu Muối. Chẳng may trên bước đường hoằng dương
chánh pháp, hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học đã gặp trở
ngại, nên Phật sự không tiến hành được suôn sẻ.
Trước
tình trạng đó, các Hòa thượng có tâm huyết ở Nam kỳ tha
thiết với mục đích chấn hưng Phật Giáo, đã phải quay
về chùa nhà, tỉnh nhà thành lập các tổ chức Phật giáo
với danh xưng khác nhau để tùy duyên hoằng pháp. Hòa thượng
Khánh Hòa thành lập hội Lưỡng Xuyên Phật Học năm 1934,
Hòa thượng Trí Thiền thành lập Hội Phật Học Kiêm Tế
năm 1937. Cùng chiều hướng này năm 1935, Ngài thành lập hội
Thiên Thai Thiền Giáo Tông, đặt trụ sở tại chùa Long Hòa
ở Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời Ngài cho xuất bản tờ
Bát Nhã Âm để vận động phong trào chấn hưng Phật Giáo
và hoằng dương chánh pháp. Trường gia giáo cũng được khai
giảng tại chùa Long Hòa, quy tụ hàng Phật tử xuất gia và
tại gia về tu học ngày càng đông.
Ngài
thường nói với đồ chúng rằng:"Duy trì Phật pháp chính
là ở chỗ mở rộng việc hoằng hóa lợi sanh, giáo dục thiện
tín, gieo trồng duyên lành, cội phước". Chính nhờ quan niệm
đúng đắn đó, mà việc truyền bá giáo lý của Ngài được
phát triển khắp nơi.
Năm
1941, Ngài về thăm quê nhà. Vì quá ngưỡng mộ danh đức của
Hòa thượng, quan huyện Bình Khê và một số đông nhân sĩ
trong huyện đến thọ giáo và thỉnh cầu Ngài ở lại hoằng
hóa tại đây. Ngài chọn núi Ông Đốc ở xã Bình Tường
- Phú Phong - Tây Sơn - Bình Định, lập nên ngôi chùa Thiên
Tôn.
Năm
1943, sơn môn trong Nam cử người ra rước Ngài trở lại chùa
Thiên Thai. Bấy giờ sức khỏe của Ngài đã giảm sút nhiều.
Ngài luôn khuyên bảo đồ chúng lo tinh tấn tu hành, cố gắng
giữ gìn chánh pháp, một lòng một dạ với sự nghiệp lợi
sanh. Ngài sắp xếp ngôi thứ trong Tổ đình Thiên Thai và nhiệm
vụ truyền pháp độ sanh trong môn đệ.
Qua
năm sau (1944) Ngài lại trở về chùa Thiên Tôn - Bình Định
và đến ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ (1953) Ngài ngồi kiết
già, hướng mặt về Tây, niệm Phật và viên tịch. Bảo tháp
Ngài được xây dựng trên sườn núi Ông Đốc cạnh chùa.
Công
hạnh và đạo nghiệp rực rỡ của Ngài còn thể hiện qua
việc trước tác nhiều thơ văn Nôm. Các kinh điển được
Ngài diễn Nôm thường tụng còn lưu truyền rộng rãi cho đến
ngày nay:
- Kinh
Vu Lan nghĩa.
-
Kinh Di Đà nghĩa.
-
Bát Nhã Tâm Kinh nghĩa.
-
Tịnh Độ Chánh Tông.
-
Bài sám Thảo lư.
Hòa
thượng Huệ Đăng với Tổ đình Thiên Thai là tiêu biểu cho
tinh thần Phật giáo gắn với truyền thống yêu nước phụng
đạo: Đất nước có độc lập tự chủ thì Phật pháp mới
hóa độ tròn duyên.