HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỀN PHƯƠNG
(1879
- 1949)
Hòa
thượng pháp danh Như Đắc, pháp tự là Giải Tường, pháp
hiệu là Thiền Phương, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời
thứ 41, Ngài họ Dương, sinh năm (Kỷ Mão) 1879, tại làng Phong
Thắng, huyện Tuy An, thuộc tỉnh Phú Yên, Trung Việt. Ngài
lớn lên trong một gia đình Nho phong, lễ giáo, có lòng kính
Phật trọng Tăng.
Năm
Ất Dậu (1885) khi lên 7 tuổi, Ngài đã theo thân mẫu đến
chùa lễ Phật và quy y Tam Bảo với Tổ Pháp Tạng, và được
Tổ đặt pháp danh là Như Đắc. Trong lúc đảnh lễ Tam Bảo,
mắt Ngài không rời tượng Phật, mặt đượm vẻ vui tươi
sùng kính. Xem thấy khí sắc như thế, Tổ Pháp Tạng biết
là đã gặp người có túc thế thiện căn. Tổ bèn tỏ ý
với thân mẫu Ngài nên cho Ngài xuất gia. Mẹ Ngài hoan hỷ
thuận lời và việc chuẩn bị cũng bắt đầu từ hôm ấy.
Ngài
bước vào nếp sống thiền gia được nhiều cơ duyên thuận
lợi. Truyền thống gia đình cùng sự hỗ trợ tích cực của
song thân và đặc biệt là Ngài được trực tiếp thọ giáo
với Tổ Pháp Tạng, bậc tu hành lừng lẫy với công hạnh
to lớn thời bấy giờ. Đó là niềm vinh dự rất lớn không
riêng cho bản thân mà cả gia đình Ngài. Do đó, Ngài luôn
tỏ ra xứng đáng với sự tin yêu của Bổn sư và càng chuyên
cần tu học. Trong thời gian chấp tác, chưa bao giờ Ngài để
Bổn sư và gia đình buồn lòng.
Chẳng
bao lâu sau, Ngài được Bổn Sư cho thọ Sa Di giới để khuyến
khích sự tinh tấn. Đặc biệt, Ngài còn được Bổn sư tận
dụng những lúc Ngài gần gũi hầu Thầy, để đưa ra những
bài trắc nghiệm về Phật học nhằm khảo sát một cách nhẹ
nhàng với Ngài. Trong những lúc ấy Tổ thường đặt những
câu hỏi đúng vào nơi yếu chỉ của Kinh, Luật và lần nào
Ngài cũng làm cho Tổ hài lòng. Nhờ năng khiếu biện luận
cũng như khả năng nhận thức giáo lý tinh thông. Tổ Pháp
Tạng biết rằng người đệ tử thông minh này mai sau sẽ
là người đống lương cho Phật giáo.
Năm
Mậu Tuất (1898), Ngài 20 tuổi, Tổ Pháp Tạng cho Ngài thọ
Cụ Túc giới. Từ đây Ngài luôn phát tâm dõng mãnh, bồi
lực chuyên tu, sưu tầm diệu nghĩa kinh điển. Sự học hỏi
đối với Ngài không bao giờ đủ, Ngài thường tạo ra nhiều
thắc mắc để được đồng môn giải thích hoặc tầm thầy
truy thông. Nhờ vậy nơi Ngài đã có được một cung cách,
một sức tiến nổi bật hơn hẳn các bạn đồng môn. Bấy
giờ, Bổn sư phú pháp cho Ngài, ban pháp tự là Giải Tường,
hiệu Thiền Phương, đồng thời cử Ngài làm trụ trì Tổ
đình Phước Sơn tại thôn Đồng Tròn, làng Phú Phong, huyện
Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
Với
việc tiếp Tăng độ chúng, Ngài thường dùng những lời thâm
thiết trong kinh luật để nhắc chúng tu hành. Do công hạnh
quý báu đó Ngài được Tăng chúng và Phật tử bấy giờ
tôn Ngài là Cụ Nhãn Tôn Sư.
Để
mở rộng phạm vi hoằng pháp, Ngài khai Phật học đường
gia giáo, quy định mỗi khóa học 3 tháng, hết khóa này đến
khóa khác liên tục thường xuyên dung nạp Tăng Ni hiếu học
từ khắp nơi về. Tại đây đã đào tạo được rất nhiều
tầng lớp Tăng sĩ có đủ tài đức khả dĩ thừa kế Phật
sự ngày mai. Phần đông đã trở thành những bậc cao Tăng
danh đức, làm cho cảnh Tòng lâm Phước Sơn một thời hưng
thạnh.
Ngoài
việc đào tạo Tăng tài cho Phật giáo, Ngài còn quan tâm đến
việc mở mang trùng tu tự viện, chùa chiền. Biết chùa nào
bị hư hao sụp đổ Ngài liền dùng mọi phương tiện, đem
hết tâm lực và khả năng của mình mà tô bồi xây đắp.
Trong rất nhiều những công trình ấy, điển hình đáng kể
nhất là nét đồ sộ trang nghiêm của hai ngôi chùa nổi tiếng
Từ Quang và Bửu Sơn.
Hành
trạng oai đức của Ngài ai nghe cũng mến phục, uy danh lừng
lẫy khắp Phật giáo Trung Việt thời bấy giờ. Do đó chư
Tôn đức xa gần thường hay tìm đến thưa hỏi đạo tình
và thỉnh ý Phật sự cần thiết.
Năm
Đinh Sửu (1937), do mến tài cảm đức, Hội Phật Học Thừa
Thiên (Huế) cung thỉnh Ngài làm Chứng minh Đạo sư cho toàn
kỳ, truyền thọ quy giới và làm mô phạm cho tất cả Tăng
Ni và thiện tín khắp Trung Việt.
Trong
thời kỳ phôi thai của công cuộc chấn hưng Phật giáo, Ngài
đã đóng góp rất nhiều ý kiến thiết thực với chư Tôn
đức có trách nhiệm, và gởi gắm nhiều hoài vọng của mình
vào tương lai Phật giáo. Ngài là một bậc cao Tăng có nếp
sống chuẩn hạnh, nhưng sự cởi mở, biết nhìn xa trông rộng
cũng là điều Ngài hằng quan tâm. Lúc nào Ngài cũng mong sao
cho Phật giáo và tông môn có được nếp sống thiền gia đúng
nghĩa. Bởi Ngài đã và đang sống lầm than như đồng bào
mình trong bối cảnh đất nước bị xâm lăng, đô hộ của
thực dân. Do đó nên Ngài có nhiều trăn trở về tiền đồ
đạo pháp. Giáo huấn một đội ngũ kế thừa có khả năng
đức độ truyền bá giáo pháp để mọi nơi mọi xứ đều
được học hỏi vượt qua đau khổ tìm được an vui là hoài
vọng tha thiết của Ngài.
Ngài
đã có công đào luyện được những bậc Tăng tài khả kính,
đóng góp nhiều công lao cho Giáo Hội, cho công cuộc hoằng
hóa độ sinh, như Hòa thượng Phúc Hộ, Hòa thượng Phước
Bình (Hành Trụ), Phước Trí, Phước Cơ, Phước Ninh...
Thời
kỳ hóa duyên đã mãn, Ngài đã ung dung thâu thần thị tịch
vào ngày 10 tháng 08 Â.L năm Kỷ Sửu (1949). Hưởng thọ 70
tuổi đời, 55 tuổi đạo. Bảo tháp được xây dựng tại
Tổ đình Phước Sơn, nơi mà Ngài đã sống và hoằng hóa
trọn cuộc đời của một bậc cao Tăng, vang danh Phật giáo
Phú Yên và tiêu biểu cho miền Trung nước Việt.