HÒA
THƯỢNG
VẠN
AN-THÍCH CHÁNH THÀNH
(1872-1949)
Hòa
thượng, thế danh là Phạm Văn Vịnh, pháp danh Đạt Thới,
pháp hiệu Chánh Thành, sinh năm Quý Dậu (1872) tại làng Tân
Nhuận Đông, tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp, trong một
gia đình Nho học kiêm lương y đương thời.
Từ
thuở nhỏ, Ngài được phụ thân hướng dẫn dạy bảo theo
đường Nho học. Sẵn có thiên tư đĩnh ngộ, lại được
sự chăm sóc chu đáo của nghiêm đường, Ngài nổi tiếng
học giỏi, thông minh xuất chúng được mọi người khen ngợi.
Năm
Ngài 11 tuổi (1883) song thân lần lượt qua đời, trong lúc
việc học hành của Ngài đang tiến triển bình thường. Ngài
lâm vào hoàn cảnh côi cút, tràn ngập đau thương. Cảm thấy
thấm thía sự vô thường của tạo vật, cuộc sống ở cõi
Ta Bà này chỉ là giả tạm, Ngài liền nghĩ đến việc xuất
gia đầu Phật. Ngài đến đảnh lễ Sư Tổ Liễu Ngọc - Châu
Hoàn Thượng Nhân chùa Hội Phước ở Rạch Nha Mân, thị xã
Sa Đéc và xin được thế phát quy y.
Với
bản chất thông minh, lại thêm quyết chí tu học, ngoài những
thời công phu hàng ngày và chấp tác phụng sự Bổn sư, Ngài
dành cả thì giờ còn lại cho việc nghiên cứu kinh điển,
tìm hiểu những điều cao siêu thâm thúy của Phật pháp. Nhờ
vậy việc tu học của Ngài ngày một tiến triển, giới luật
càng tinh nghiêm, được các bậc tôn túc thương yêu và đại
chúng quý mến. Chẳng bao lâu Ngài đã trở thành một vị
Pháp sư tài đức vẹn toàn.
Năm
23 tuổi (1895), Ngài được Sư tổ Liễu Ngọc truyền trao Chánh
pháp Nhãn tạng với bài kệ như sau:
Đạt
đắc Bồ Đề trí huệ khai
Thới
nhiên tâm địa xuất trần ai
Chánh
pháp tạng trung chơn thật nghĩa
Thành
năng tham thấu tức Như Lai.
(Tư
Chỉ tạm dịch)
Đắc
quả Bồ Đề trí huệ khai
Hoát
nhiên tâm địa vượt trần ai
Trong
lòng chánh pháp chơn thật nghĩa
Năng
sở vô nghì rõ Như Lai.
Năm
1896 Sư Tổ Liễu Ngọc bổ xứ Ngài về trú trì chùa Vạn
An ở xã Tân An Đông, Sa Đéc. Về sau Tăng tín đồ thường
gọi Ngài là Hòa thượng Vạn An.
Năm
1902 sau khi Bổn sư Liễu Ngọc thị tịch, Ngài đến xin y chỉ
với Sư tổ Hải Huệ - Minh Thông ở chùa Linh Thứu ở Mỹ
Tho và được ban pháp hiệu Như Vịnh - Diệu Liên.
Năm
1914, hưởng ứng phong trào yêu nước chống thực dân Pháp
do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để hô hào ở Nam bộ, Ngài bị
người Pháp bắt giam 9 tháng, sau vì không có chứng cớ, chúng
phải trả tự do cho Ngài.
Năm
1934, phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ phát triển
mạnh. Các Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang, Pháp
Hải v.v... thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ở Trà Vinh,
mở Phật học đường để đào tạo Tăng tài, Ngài được
mời làm Pháp sư tham gia giảng dạy.
Năm
1937, Phật Học Đường Lưỡng Xuyên gặp khó khăn về tài
chánh phải đóng cửa. Ngài quay về bổn tự mở trường gia
giáo tại chùa Vạn An, tiếp tục truyền đạt giáo lý cho
Tăng sinh. Năm 1940 Ngài lại mở Phật học Ni trường ở Tây
đường chùa để đào tạo Ni chúng. Số Tăng Ni sinh xuất
thân từ trường gia giáo Vạn An rất nhiều, trong số đó
có những vị danh tiếng như các Hòa thượng Kiểu Lợi, Huệ
Hưng, Phước Cần... các Sư bà Chí Kiên, Như Hoa, Huyền Học,
Như Chơn...
Năm
1945, Liên đoàn Phật giáo Cứu quốc Nam bộ được thành lập,
phát triển các chi hội khắp các địa phương, trong đó có
huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp,
mặc dầu tuổi già sức yếu (lúc đó Ngài đã 73 tuổi, Ngài
vẫn hăng hái lãnh nhiệm vụ cố vấn, động viên tinh thần
yêu nước cho hàng ngũ Tăng tín đồ ở huyện nhà.
Năm
1947, chiến tranh lan khắp nơi. Quân viễn chinh Pháp mở các
cuộc càn quét vùng nông thôn. Khu vực chùa Vạn An mất an
ninh, Ngài phải cùng các đệ tử lánh cư về chùa Hội Phước.
Năm Kỷ Sửu (1949) Ngài lâm bệnh nhẹ và thị tịch vào lúc
3 giờ khuya ngày 25 tháng 6, trụ thế 77 năm, được 54 hạ
lạp.
Trong
cuộc đời hoằng pháp lợi sanh của Ngài, ngoài việc tham
gia giảng dạy ở các Phật học đường, Ngài còn có công
lớn trong việc diễn Nôm một số kinh lưu hành ở miền Nam
thời bấy giờ. Các tác phẩm của Ngài hiện còn lưu giữ
tại Tổ đình Vạn An (Sa Đéc) gồm có:
Kinh:
- Di
Đà Sớ Sao.
-
Pháp Hoa
-
Pháp Bảo Đàn.
-
Phật Tổ Tam Kinh
-
Quy Nguyên Trực Chỉ.
-
Long Thơ Tịnh Độ.
Luật:
- Tứ
Phần Như Thích
-
Bồ Tát Giới Kinh
-
Tỳ Kheo Giới Kinh.
-
Sa Di Sớ.
-
Tỳ Ni Hương Nhũ.
Sám:
-
Quy Mạng
-
Khể Thủ v.v...