HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỬU CHUNG
(1881-1947)
Hòa
Thượng thế danh là Nguyễn Văn Kim, Pháp danh Như Kim, Pháp
hiệu Bửu Chung, sinh năm Tân Tỵ (1881) tại Rạch Cái Đầm,
xã Hiệp Xương, huyện Tân Châu, tỉnh Long Xuyên (nay là An
Giang). Thân phụ là cụ ông Chánh bái Nguyễn Văn Phước. Thân
mẫu là cụ bà Lê Thị Dậu.
Khi
tuổi thiếu niên, Ngài đã được song thân cho xuất gia với
Tổ Minh Thông - Hải Huệ ở chùa Bửu Lâm, Rạch Cái Bèo,
xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, (nay là
tỉnh Đồng Tháp ) và được ban pháp hiệu là Bửu Sơn.
Thấy
Ngài nhỏ tuổi, vóc dáng ốm yếu, Tổ thương và giao trách
vụ hương đăng trong chùa.
Tổ
Minh Thông - Hải Huệ có biệt hạnh là đi tới đâu Tổ cất
chùa ở đó, tuy chỉ là mái tranh vách đất mà thôi. Khi cất
chùa xong, Tổ bổ nhiệm các đệ tử phần nhiều mới xuất
gia đến trú trì. Vì phải ra làm trú trì quá sớm, phần đông
đệ tử của Tổ ít được dịp tu học kinh luật đến nơi
đến chốn.
Nhận
thấy đó là điều thiệt thòi cho kẻ xuất gia, sợ về sau
khó lòng đảm trách được vai trò và nhiệm vụ của một
sứ giả Như Lai, nên trưởng tử của Tổ là Yết Ma Cả Như
Khả - Chân Truyền, trú trì chùa Khải Phước(1), đã tìm cách
xin phép Tổ đưa 5 Sa Di, gồm hai anh em ruột Bửu Sơn, Bửu
Phước(2), Bửu Quang(3) và Bửu Tín đang theo học tại chùa
Khải Phước lên Sàigòn, chùa Long Thạnh(4) ở đường Bà
Hom thuộc xã Phú Lâm để gửi vào học đạo với Tổ Minh
Hòa - Hoan Hỷ. Từ đó Ngài được đổi Pháp hiệu là Bửu
Chung.
Ba
năm sau, vì bệnh duyên, Ngài đành phải từ giả Bổn Sư và
học chúng, để về Nha Mân ở Sa Đéc dưỡng bệnh và cầu
y chỉ với Tổ Phổ Minh ở chùa Hội Phước. Hàng ngày ngoài
thì giờ tu học, Ngài vẫn được giao trách vụ hương đăng
trong chùa.
Được
ít lâu, Ngài xin phép Tổ Phổ Minh lên Lấp Vò thăm Yết Ma
Cả Như Khả - Chân Truyền và trình bày lý do vì sao Ngài lại
rời khỏi chùa Long Thạnh về chùa Hội Phước. Yết Ma Như
Khả dạy Ngài rằng: “Nếu muốn ở yên trong chúng và sau
thành tựu sự nghiệp tu học thì phải nhớ lời dạy của
Thiền Sư Đại Huệ:
Cung
người chớ cầm
Ngựa
người đừng cưỡi
Việc
người đừng biết
Thường
tự biết quấy để sửa.
Ngài
thành kính thụ giáo và lui về.
Năm
Tân Sửu (1901) Ngài thọ giới Cụ túc và được bổ nhiệm
trú trì chùa Thiền Lâm ở Nha Mân. Năm Ất Tỵ (1905) Ngài
lại được mời làm trú trì chùa Phước Long ở Rạch Ông
Yên cũng thuộc Nha Mân. Bốn năm sau, năm Kỷ Dậu (1909) Ngài
lo trùng tu chùa, cất thêm Tăng xá, mở trường gia giáo. Tăng
chúng khắp nơi tới tu học rất đông. Trong số các đệ tử
của Ngài, có các vị sau này trở nên trụ cột của Phật
giáo các tỉnh miền Tây như Hòa Thượng Thích Thành Chí trụ
trì chùa Phước Ân ở Rạch Cai Bường, Hòa thượng Thích
Thiện Tài, viện chủ chùa Bửu Lâm ở Rạch Cái Bèo, chứng
minh đạo sư của Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp, Hòa
thượng Thích Huệ Từ, trú trì chùa Phước Long ở Rạch Ông
Yên, chứng minh đạo sư của Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Đồng
Tháp, Hòa thượng Thích Phước Minh, Trưởng ban Trị sự Tỉnh
hội Phật giáo Cần Thơ.
Ngài
là một Pháp Sư danh tiếng, được Tổ Phi Lai - Chí Thiền
mời thuyết giảng tại chùa Phi Lai trong Đại Trai đàn về
“ Pháp đếm hơi nhiếp tâm niệm Phật tam muội “ mà Ngài
thường truyền dạy cho các đệ tử. Sau Đại Trai đàn, bài
pháp này được ghi lại thành sách lưu tại chùa Phi Lai, Châu
Đốc.
Trong
cuộc đời tu hành, Ngài chủ trương tham gia lao động làm
kinh tế để chùa có đủ lương thực tự túc. Nhận thấy
ruộng của chùa đều là ruộng gò, năng suất rất thấp.
Ngài bèn ra sức cải tạo đất, bằng cách làm lò gạch, đào
đất đúc gạch ngói vừa bán có tiền vừa hạ sâu ruộng
để có thể cấy lúa hai vụ, đem lại kết quả rất khả
quan. Gạch ngói mang hiệu Bửu Tân Long của chùa nổi tiếng,
sản phẩm được tiêu thụ tận Sàigòn.
Tuy
nhiên, Ngài coi đó chỉ là phương tiện trợ duyên, còn việc
tu học mới là căn bản, cho nên sau khi đã đạt mục đích
cải tạo ruộng cho chùa, Ngài giao lò gạch lại cho bổn đạo
để chuyên chú vào việc tu hành và dìu dắt các đệ tử.
Tháng giêng năm Nhâm Thân (1932) Ngài lại trùng tu chùa một
lần nữa được khang trang bằng kết quả làm kinh tế của
thời gian qua để phụng trì Tam Bảo.
Ngài
cũng là một nhà Sư yêu nước, từng tham gia tổ chức Thiên
Địa Hội chống Pháp và bị bắt giam tại bót Thị Đinh.
Nhờ Ngài trả lời bằng trí tuệ khôn khéo, nên sớm được
trả tự do. Còn em Ngài là ông Sáu Phụng bị đày ra Côn Đảo.
Sau cuộc Cách mạng đảo chính Nhật, giành được chính quyền
Ngài ủng hộ phong trào Thanh niên Tiền phong, tiến hành Cuộc
cách mạng tháng 8 năm 1945. Khi thực dân Pháp trở lại gây
hấn ở Nam bộ, chúng thẳng tay đàn áp cán bộ và khủng
bố dân chúng.
Vốn
có tài thợ mộc, Ngài nghĩ ra cách giúp đỡ Cách mạng, bằng
sáng kiến đóng một cái hộc “đựng lúa của chùa hình
vuông, có hai lớp vách để khi quân Pháp đi ruồng bố, Cán
bộ chạy đến trốn vào. Còn Ngài thì mắc võng nằm xem kinh.
Nhờ vậy, quân Pháp vào chùa chỉ thấy nhà Sư với ông già
bà lão và trẻ em, nên không nghi ngờ gì.
Để
thể hiện lòng từ bi cứu khổ ban vui, Ngài còn làm các công
tác từ thiện xã hội giúp đỡ nhân dân. Ngài cho cất nhà
dưỡng lão, tập trung các cụ già, người đau ốm bệnh hoạn
không người chăm sóc, kêu gọi bổn đạo phát tâm giúp Ngài
lập một nghĩa trang để những người cô thế này có nơi
an nghỉ khi họ từ trần.
Công
hạnh hóa đạo đến hồi viên mãn, ngày 14 tháng 4 năm Đinh
Hợi (tức ngày 2-6-1947) vào lúc canh năm, tứ chúng vừa công
phu khuya xong, Ngài đang nằm trên võng, tay cầm quyển kinh,
đưa mắt nhìn khắp tứ chúng đang bao quanh, và nhỏ giọng
niệm “A Di Đà Phật Vô Lượng Y Vương “ rồi nhắm mắt
an nhiên thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời, 46 hạ lạp.
Các
dịch phẩm của Ngài gồm có:
- Đốn
ngộ nhập đạo yếu môn.
-
Vạn pháp qui tâm lục.
-
Phật học dị giải....
Chú
thích :
(1)
Chùa Khải Phước ở xã Bình Thành, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng
Tháp, chùa này hiện không còn dấu tích gì. Tháp và di cốt
của Yết Ma Cả được dời về chùa Phước Ân năm 1989.
(2)
Khai Sơn chùa Phước Ân ở Rạch Cai Bường, xã Vĩnh Thạnh,
huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng tháp.
(3)
Khai Sơn chùa Kim Liên, xã Bình Thủy, huyện Ô Môn, tỉnh Cần
Thơ.
(4)
Hiện nay chùa Long Thạnh ở số 3/265 tỉnh lộ 10 xã Tân Tạo,
huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh.