HÒA
THƯỢNG
THÍCH
KHÁNH HÒA
(1877
- 1947)
Hòa
thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí,
pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú
Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Ngài
sinh trong một gia đình trung lưu, có nề nếp Nho học, từ
nhỏ đã được tiếng thông minh và nết hạnh. Là người
anh cả, sau Ngài còn có hai em, một trai, một gái. Người em
trai kế cũng xuất gia tu học sau này, người em gái đã mất
lúc còn nhỏ.
Năm
Ất Mùi (1895), khi 19 tuổi, Ngài đến chùa Long Phước, quận
Ba Tri, xin xuất gia học đạo. Sau đó đến tham học tại chùa
Kim Cang, tỉnh Tân An, nơi đây được Hòa thượng Long Triều
trực tiếp giảng dạy. Thời gian này Ngài rất chăm chỉ và
năng nổ trong việc học đạo, nên nghe đâu có bậc thạc
đức thì Ngài luôn tìm đến cầu học, không ngại gian khó,
chẳng nài xa cách. Nhờ tinh thần tiến thủ đó mà Ngài đi
đến đâu cũng đều được các bậc trưởng thượng quý
mến.
Năm
Giáp Thìn (1904), Ngài nhập hạ đầu tiên tại chùa Long Hoa,
quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Nơi đây, được sự khuyến
khích của chư Tôn đức, Ngài đã giảng kinh Kim Cang Chư Gia,
rất được các vị Pháp sư và đại chúng ở trường hạ
quý mến. Từ đó về sau mỗi lần nhập hạ, Ngài đều có
giảng kinh. Nhờ đó mà bảo hiệu Khánh Hòa đã sớm vang khắp
nơi.
Năm
Bính Thìn (1916), lúc này Ngài đang trụ trì chùa Tuyên Linh,
tỉnh Bến Tre. Với trình độ thâm đạt Phật lý và đức
tính ôn hòa, Ngài luôn trăn trở trước viễn cảnh ngôi nhà
chánh pháp có nguy cơ sụp đổ, thường hay than rằng : “Phật
pháp suy đồi, Tăng đồ THẤT HỌC và không ĐOÀN KẾT”.
Do đó, Ngài quyết tâm thi hành nhiệm vụ của một Sứ giả
Như Lai, mong muốn thực hiện thống nhất Phật giáo và chỉnh
đốn Tăng già. Mong muốn rất to lớn và chính đáng này, trong
hoàn cảnh chung thời bấy giờ, không phải ai cũng có. Biết
được Ngài đang ôm ấp hoài bão thiết tha đó, một vị Hòa
thượng hỏi Ngài với đại ý việc cổ động chấn hưng
Phật giáo ấy có mấy người đồng tình đồng tâm hưởng
ứng và tại sao nhiều chùa giàu có không đứng ra chung lo
với Ngài? Ngài từ tốn đáp rằng: “Ở đời, vàng bạc
bao giờ cũng ít, ngói đá lúc nào cũng nhiều. Chúng ta dù
ít nhưng cố gắng sẽ thành công. Khó gì bằng lìa bỏ tình
yêu cha mẹ vợ con và đời sống cao sang quyền quý, vùi thân
trong núi tuyết rừng già mà đức Bổn Sư ta còn bỏ được
và làm được thay!”.
Năm
Canh Thân (1920), Ngài cùng quý Hòa thượng khác lập ra Hội
Lục Hòa. Đó là mục tiêu ban đầu nằm trong hoài bão, nhằm
tạo sự đoàn kết, tương thân theo đúng pháp Phật trong giới
Tăng sĩ. Ngài còn lo mở trường gia giáo để đào tạo Tăng
tài hầu đảm nhiệm trọng trách hoằng dương chánh pháp,
dìu dắt người sau. Bên cạnh đó Ngài cần mẫn dịch Kinh,
Luật, Luận ra chữ quốc ngữ để phổ cập được trong mọi
tầng lớp quần chúng.
Năm
1927, Ngài cử Sư Thiện Chiếu ra Bắc bộ để vận động
chấn hưng Phật giáo. Không thành công, năm 1928 Sư Thiện Chiếu
về Sài gòn.
Năm
1928, Ngài cùng các vị Thiện Chiếu, Từ Nhẫn, Chơn Huệ và
Thiện Niệm lập Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại
chùa Linh Sơn (Cầu Muối). Cùng năm này, chư Tôn đức tỉnh
Bình Định mở trường hạ tại Tổ đình Long Khánh (Quy Nhơn),
đã cung thỉnh Ngài làm Pháp sư chủ giảng suốt 3 tháng tại
đây.
Tháng
giêng năm Kỷ Tỵ (1929), khi trở lại quê nhà, vẫn không nản
lòng với ước nguyện cao cả, Ngài quyết định đi cổ động
chấn hưng Phật giáo khắp các tỉnh Nam bộ, kêu gọi sự
đồng tình, ủng hộ với ba phương châm:
1/
Chỉnh đốn Tăng già.
2/
Kiến lập Phật học đường.
3/
Diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt ngữ.
Tâm
lực cao cả đó là hành trang theo Ngài trên mọi nẻo đường
từ tỉnh này sang tỉnh khác. Ngài đem hết can tràng tha thiết
chỉ rõ sự suy đồi và nguy cơ bị tiêu diệt của Phật giáo
nếu không sớm CHẤN HƯNG. Tuy nhiên chỉ có các vị Huệ Quang,
Kim Huê, Vạn An, Liên Trì, Viên Giác... tỏ ra đồng tình ủng
hộ triệt để và hết lời ca ngợi việc làm cao đẹp này.
Ngoài ra, hầu hết chỉ nghĩ đến tông môn mình, chùa mình
và từ chối thoái thác cộng tác. Đôi khi Ngài còn bị những
người ấy công kích hủy báng hết sức thậm tệ. Có lúc
Ngài tự than rằng: “Ôi ! Phật pháp suy vi, Tăng đồ hủ
bại đến thế là cùng. Rồi đây, họ sẽ bị trào lưu đào
thải !”. Nhưng Ngài vẫn không nản chí, mà ngược lại càng
nhẫn nại và sáng suốt hơn bao giờ hết.
Để
đẩy mạnh việc truyền bá Phật pháp, Ngài cùng các Hòa thượng
khác cho xuất bản tập san Phật Học bằng chữ quốc ngữ
tên là Pháp Âm. Số đầu tiên ra ngày 13.8.1929. Sau đó là
tập san Phật Hóa Tân Thanh Niên ra đời năm 1930 cũng bằng
chữ quốc ngữ nhưng có nội dung tiến bộ hơn, nhắm vào
hàng cư sĩ trí thức và Tăng sĩ trẻ. Không lâu sau, nhiều
nội ngoại chướng dồn dập, hai tập san đều ngưng hoạt
động.
Năm
Tân Mùi (1931), Ngài cùng nhiều vị Tôn đức và các cư sĩ
học giả, thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học đặt
Hội quán tại chùa Linh Sơn - Sài Gòn, sau đó cho xuất bản
tạp chí Từ Bi Âm (1932). Ngài được cử làm Đệ nhứt Phó
Hội trưởng kiêm Chủ nhiệm báo Từ Bi Âm. Ngài đã cổ động
hàng cư sĩ Phật tử Trà Vinh thỉnh và hiến cúng Tam Tạng
kinh điển cho hội để có tài liệu nghiên cứu và diễn dịch.
Bước đầu hội không có tài chánh để xây thư viện hầu
lưu trữ Tam Tạng Kinh, Ngài bèn về chùa Tuyên Linh thương
lượng với bổn đạo, hiến ngôi chánh điện cho hội, để
xây Pháp Bảo Phường, lưu trữ Pháp Bảo Tam Tạng kinh. Hiện
Tam Tạng kinh và Pháp Bảo Phường vẫn còn tại chùa Linh Sơn
- Sài Gòn.
Thế
rồi sau hai năm hoạt động. Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
Học đang có chiều hướng tiến triển, thì có sự độc tài
của một vài cá nhân kỳ thị, khuynh loát Thích Học Đường
không khai giảng được. Nhận thấy nguy cơ không có khả năng
chỉnh đốn lại nên Ngài cùng Tổ Huệ Quang lui gót trở về
Lục tỉnh.
Năm
Quý Dậu (1933), vẫn không nản lòng, Ngài cùng các Tổ Huệ
Quang, Pháp Hải, Khánh Anh... thành lập Liên Đoàn Phật Học
Xã nhằm tiếp tục con đường đào tạo Tăng tài. Tổ chức
này có hình thức di động không trú xứ, luân phiên mỗi chùa
3 tháng phải chu toàn, đài thọ các mặt hoạt động của
Liên Đoàn, sau đó lại đến chùa khác. Tổ chức này ra đời
bằng nghi thức khai Gia Giáo, bắt đầu từ chùa Từ Hòa (chùa
Tổ Huệ Quang) thuộc làng Long Hòa, huyện Tiểu Cần; rồi
đến khai giảng tại chùa Thiên Phước, quận Trà Ôn, tỉnh
Vĩnh Long, sau đó đến chùa Viên Giác, tỉnh Bến Tre. Nhưng
công việc đang hanh thông giữa chừng thì lại gặp chướng
duyên, xem như gãy đổ hoàn toàn (năm 1934).
Năm
Giáp Tuất (1934), Ngài lại cùng các Tổ Huệ Quang, Khánh Anh,
Pháp Hải... và các cư sĩ tỉnh Trà Vinh thành lập Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học do Ngài làm Pháp sư. Ngài cho xuất bản tạp
chí Duy Tâm và thỉnh Đại Tạng, Tục Tạng để làm tài liệu
nghiên cứu và dịch giảng. Bên cạnh đó Ngài còn kiến tạo
Phật Học Đường và khóa đầu tiên được khai giảng năm
Ất Hợi (1935) với số lượng học Tăng ba mươi vị. Trong
số đó có các Ngài Thiện Hòa, Thiện Hoa, Hành Trụ... Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học và tạp chí Duy Tâm tồn tại cho đến
khi chiến tranh xảy ra năm 1945.
Thời
gian sau, do sức khỏe có phần suy giảm, Ngài tạm thời lui
về chùa Vĩnh Bửu, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre để tịnh
dưỡng chuyên tu. Những ngỡ Ngài đã phần nào yên lòng với
những thành công nhất định đã đạt được, và những thất
bại đã trải qua để dừng chân ngơi nghỉ. Nào ngờ, nơi
đây Ngài lại cho mở Ni trường Phật Học để chuyên chú
cho Ni giới. Các Ni Sư tốt nghiệp trường này có Diệu Ninh
(Thường gọi là Ni Sư Vĩnh Bửu sau là Quản lý trụ sở Ni
bộ chùa Từ Nghiêm - Chợ Lớn).
Trong
thời gian trú xứ tại chùa Vĩnh Bửu, Ngài cùng chư Tôn đức
khác đã hết lòng sát cánh bên Ngài tổng kết quá trình phấn
đấu cho tương lai Phật giáo. Riêng Ngài, trong lịch sử phôi
thai của công cuộc chấn hưng Phật giáo đáng nhớ, đã nổi
bật lên ba đức tính làm gương soi cho các thế hệ đi sau
làm bài học tiến thủ không ngừng đó là:
1/
Mỗi lần thất bại là mỗi lần cố gắng đứng lên, kiên
tâm nhẫn nại, cương quyết như sắt đá, không hề thối
chí nản lòng.
2/
Suốt đời hy sinh, hiến thân cho đạo pháp, không nề gian
lao, chẳng từ khó nhọc, hy sinh cả tài sản chùa mình để
sung vào của công, góp phần chấn hưng, không màng danh lợi,
quyền tước và danh vọng.
3/
Thân già nhiều bệnh nhưng chí hướng không già, lúc nào cũng
tỏ ra hăng hái trước mọi việc, không chán nản với Phật
sự.
Sau
đó, Ngài trở lại chùa Tuyên Linh tiếp tục tịnh dưỡng.
Năm Đinh Hợi (1947), thời gian nước nhà bị chiến tranh loạn
lạc, Ngài đã ghi lại những hàng di chúc đầy tha thiết chứng
tỏ ước nguyện lớn lao của Ngài :
“Phật
Giáo đang hồi suy vi, nước nhà vào cảnh loạn ly, mà tôi
không làm được việc gì, nên sau khi tịch rồi, chỉ tẩn
liệm tôi với bộ y hậu vải thường, không nên dùng gấm
lụa, đừng làm long vị sơn son thếp vàng, vì cần phải tiết
kiệm để bố thí cho người nghèo. Còn ngôi chùa tôi khai
sáng thì phải giao cho thầy Tỳ Kheo đủ tài đức, giới hạnh
tinh nghiêm, trụ trì kế nghiệp. Bao nhiêu tài sản của chùa,
phải đem ra nuôi chúng Tăng tu học, không được dành làm
của riêng. Đệ tử nào không y theo lời di chúc, thì không
phải là môn đồ của Phật giáo”.
Năm
ấy, Ngài viên tịch vào ngày 19 tháng 6 năm Đinh Hợi (1947),
tại chùa Tuyên Linh, hưởng thọ 70 tuổi đời, 40 tuổi đạo.
Năm
Ất Mùi (1955), Tổ Huệ Quang (Lúc này đang là Pháp Chủ Giáo
Hội Tăng Già Nam Việt) hướng dẫn phái đoàn về Bến Tre
hợp cùng môn đồ pháp quyến Tổ đình Tuyên Linh làm lễ
trà tỳ linh cốt Ngài vào ngày 10, 11, 12 tháng 5 năm Ất Mùi.
Sau đó tro xá lợi được tôn thờ các nơi như Tổ đình Tuyên
Linh (trú xứ), chùa Long Phước (trụ sở Hội Lưỡng Xuyên
Phật Học), chùa Ấn Quang (trụ sở Giáo Hội Tăng Già Nam
Việt), Tháp Đa Bảo (chùa Phước Hậu - Trà Ôn), chùa Vĩnh
Bửu (Phật Học Ni Trường), chùa Từ Nghiêm (trụ sở Ni bộ
Bắc tông).