HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ PHÁP
(1891-1946)
Hòa
thượng Thích Huệ Pháp thế danh Võ Văn Phó, húy Hồng Phó,
thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Ngài sinh năm Tân
Mão (1891), tại xã Khánh Hòa, tổng An Lương, huyện Châu Phú,
tỉnh Châu Đốc, nay thuộc tỉnh An Giang, trong một gia đình
trung nông, nho phong lễ giáo. Thân phụ là ông Võ Văn Huỳnh
và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Đồng.
Thuở
thiếu thời, Ngài đã có những biểu hiện khác thường so
với các bạn cùng lứa tuổi. Đặc biệt, khi đã biết ăn,
Ngài hoàn toàn không đụng đến thịt cá, và như vậy, đặc
điểm này Ngài đã giữ cho đến hết cuộc đời. Thú vui
giải trí của Ngài lúc này chỉ là niềm mơ tưởng về Phật
pháp, được gởi gắm trong những tượng Phật bằng đất
do tự tay Ngài nắn tạo.
Năm
Mậu Tuất (1898), khi được 8 tuổi Ngài đã học thông chữ
quốc ngữ. Nhận thấy bản tính thông minh nhạy bén của Ngài
vượt hẳn các bạn đồng học nên năm sau Kỷ Hợi (1899),
thân phụ gởi Ngài đến thầy giáo Bửu, vừa là nhà Nho kiêm
lương y để ngài học chữ Nho và Đông y dược.
Cuộc
sống hướng thượng của Ngài không còn thích hợp với gia
đình, Ngài buồn chán trước nỗi thống khổ vô thường nay
còn mai mất của nhơn sinh. Nhất là sau 5 năm đèn sách theo
thầy Bửu, đã nắm vững được các tánh dược, phương thang
và y lý Đông y cùng suốt thông được đạo lý Nho học rồi,
Ngài thiết nghĩ cần phải ly gia cắt ái để tìm thầy cầu
học Phật pháp diệu thâm hơn.
Do
đó, năm lên 13 tuổi (1904) Giáp Thìn, Ngài quyết chí trốn
nhà ra đi. Để noi gương Thái tử Tất Đạt Đa, Ngài đã
tự cạo tóc xuất gia tu hành và tầm sư học đạo, tạm thời
ở vùng lân cận. Một hôm, may gặp người thân chèo ghe đi
buôn trên Nam Vang, Ngài liền quá giang sang Cao Miên. Ở xứ
này một thời gian, học đạo chưa thỏa mãn nên Ngài lại
vượt qua Ai Lao, rồi thẳng sang Thái Lan.
Nhờ
túc duyên, đến nơi nào Ngài cũng được các sư sãi rất
thương mến và tận tình truyền dạy đạo pháp, kể cả dạy
các pháp thuật để làm phương tiện độ đời. Do đó qua
hai năm tu học, Ngài đã thu thập được rất nhiều những
tinh ba Phật pháp của giáo hệ Nam Tông Phật Giáo và những
bí pháp của Miên, Lào và Thái. Đối với người Việt ở
ba nước ấy lúc bấy giờ, thật không ai bì kịp.
Năm
sau, Bính Ngọ (1906), Ngài trở lại đất nước Ai Lao để
đi du khảo tại cố đô Luangprabang, cánh Đồng Chun, Sầm Nứa,
Phong Xa Ly, Xiêng Khom và Vientiane. Chính nơi thủ đô này, Ngài
được gặp Sư tổ Như Tâm là người Việt chơn tài lỗi
lạc về Nho học, Tây học và Phật học. Ngài cầu học về
quẻ Dịch và yếu lý Đại thừa Phật giáo, trong những ngày
Sư Tổ lưu trú tại nhà của người thân ở Vạn Tượng.
Sau đó, Sư Tổ trở về Việt Nam, khai sơn chùa Định Long
ở Núi Sam, tỉnh Châu Đốc.
Năm
Đinh Mùi (1907), sau khi tiễn thầy một dặm đường, Ngài vẫn
ở lại Ai Lao tiếp tục tu học và tiếp độ những tu sĩ
từ Trung Việt sang lúc này rất đông. Đặc biệt nơi tỉnh
Savanakhet, Ngài đã được lòng hàng Phật tử bản xứ nhờ
công đức tu tập. Do đó Ngài đã chấp thuận cho họ quyên
góp để xây dựng một ngôi chùa Việt Nam đầu tiên tại
đây với mục đích thỉnh cầu Ngài lưu trú lâu dài để
hóa độ. Và ngôi chùa được mang tên của tỉnh (Savanakhet).
Trong thời gian 7 năm lưu trú tại đây, nhờ vào uy đức lẫn
những phương pháp trị bệnh bằng Đông y dược nên tiếng
lành đồn xa và trong cộng đồng người bản xứ có lúc đã
gọi Ngài là vị Phật sống cứu độ chúng sanh.
Năm
Quý Sửu (1913) do danh tiếng đó, Toàn quyền Đông Dương thời
bấy giờ là Pasquere, cùng hai viên Khâm Sứ của Lào và Cao
Miên, được vua Hoàng Lân của Cao Miên nhờ cung thỉnh Ngài
sang nước họ để trị bệnh cho bà Hoàng Thái Hậu. Hoàng
gia Cao Miên đón rước ngài như một vị Thánh y, đủ thành
phần xã hội đứng chào đón Ngài như một thượng khách
từ bến tàu về tận Hoàng cung, đủ nói lên tài ba y pháp
và đức độ của Ngài lừng lẫy biết dường nào. Đó còn
là niềm tự hào to lớn của không riêng gì giới Phật Giáo
Việt Nam. Trong thời gian chữa bệnh cho Hoàng Thái Hậu, Ngài
được mời trú tại chùa Vua Sãi. Được vua cho người hướng
dẫn viếng thăm các di tích như Núi Phật Tổ, đền Angcovat,
núi Tà Lơn hùng vĩ v.v... Sau khi chữa lành bệnh cho bà Hoàng
Thái Hậu, vua nước Cao Miên làm lễ phong chức Chef de Bonze
(tương đương Tăng Cang hoặc Tăng Thống ở nước ta) và kèm
nhiều phẩm vật hoàng gia quý giá, lẫn huy chương vàng. Đến
chứng kiến ngày ấy có đầy đủ vua ba nước Cao Miên, Lào
và Bảo Đại của Việt Nam.
Năm
Giáp Dần (1914) sau 10 năm vân du hóa độ, từ đất nước
Cao Miên, Ngài quyết định trở về nước. Ngày tiễn đưa
Ngài về nước cũng được Hoàng gia tổ chức long trọng,
lại còn thông báo về Việt Nam cho Tỉnh trưởng Châu Đốc
hay để chuẩn bị đón tiếp. Nhờ đó, khi về lại quê nhà
là xã Khánh Hòa, huyện Châu Đốc, Ngài được đón tiếp
trọng thể, công việc hữu ích cho đạo pháp cũng nhờ đó
mà phát triển. Ngài nhanh chóng cho mở phòng chẩn trị từ
thiện tại chùa Đức Lâm để giúp đỡ dân nghèo, mọi người
hay tin tìm đến ngày càng đông. Vì thế người Pháp có phần
lo ngại và tìm đủ mọi cách để khống chế. Sau đó Ngài
tìm đến chùa Định Long trên núi Sam để bái kiến Bổn sư.
Tổ Như Tâm nhân đó mới chính thức phú pháp cho Ngài là
hàng thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40 với pháp danh
Huệ Pháp, húy Hồng Phó. Tiếp đó Ngài được Bổn sư công
cử làm Thủ tọa chùa Định Long, và khuyên Ngài nên tìm nơi
trú xứ để độ chúng tiếp Tăng. Vì nhiệm vụ quan trọng
ấy Ngài phải bắt đầu trở lại dùng cơm theo thời khóa
sau hơn 10 năm chỉ ăn toàn rau quả.
Năm
Mậu Ngọ (1918) sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài tạm giao chức
Thủ tọa chùa Định Long cho thầy Thiện Ngọc để về xã
Khánh Hòa tìm nơi xây cất chùa theo di huấn của Bổn sư.
Các nhà hảo tâm ở địa phương hết lòng hỗ trợ công cuộc
xây cất này. Mãi đến năm Ất Sửu (1925) chùa mới thực
sự hoàn thành và được đặt tên là chùa Long Khánh. Ngày
khánh thành cũng là ngày mở Đại giới đàn tại đây và
Ngài được cử làm Đường đầu Hòa thượng, truyền giới
cho Tăng Ni, Phật tử đến thọ pháp. Sau đó Ngài cho mở các
khóa học Phật pháp thường kỳ và đã đào tạo được rất
nhiều vị tinh chuyên Phật học tại đây.
Năm
Kỷ Tỵ (1929), Hòa thượng Khánh Hòa cùng với Sư Thiện Chiếu
chùa Linh Sơn - Sài Gòn và ông Cò Mi Chấn (Dinh Đốc Lý Sài
Gòn) khởi xướng việc chấn hưng Phật Giáo, Ngài hỗ trợ
bằng cách cho thành lập Phật Học Thư Xã và cho ra đời tập
san Phật Học đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ.
Năm
Canh Ngọ (1930), để chuẩn bị cho Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu
Phật Học ra đời, Hòa thượng Khánh Hòa công cử Ngài đi
khắp các tỉnh Nam kỳ vận động chư Tôn đức tham gia phong
trào Chấn Hưng Phật Giáo. Đến ngày 26.8.1931, Thống đốc
Nam kỳ mới ký giấy phép cho hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
Học được thành lập. Ngài được mời làm hội viên chính
thức, mỗi năm thường kỳ Ngài phải lên Sài gòn để dự
đại hội một lần.
Năm
Nhâm Thân (1932), đại hội bầu lại Ban Trị Sự Trung Ương
Hội, Ngài được cử làm Hội Trưởng chi nhánh tỉnh Châu
Đốc.
Năm
Bính Tý (1936). Ngài lại được cử giữ chức Chánh Hội trưởng
HNKNCPH sau ba năm gián đoạn. Cùng năm đó, Hội đề cử Ngài
đại diện mang kinh sách sang tặng cho hai vương quốc Cao Miên
và Ai Lao để góp phần cổ xúy phong trào Phật học đang thịnh
phát ở đó. Chuyến đi này trải qua một tháng hai mươi ngày,
Ngài được tiếp đón trọng thể.
Năm
Ất Hợi (1935), kinh tế và uy tín chùa Long Khánh ngày càng
phát triển, ruộng đất của chùa lên đến trên 12 mẫu do
các Phật tử hảo tâm hiến cúng đền ơn Ngài chữa lành
bệnh nan y cho họ. Nhờ đó việc tiếp Tăng độ chúng ngày
thêm sung mãn như ý nguyện của Ngài và Ngài có phương tiện
để trùng tu và kiến tạo thêm các công trình của chùa, làm
tăng vẻ trang nghiêm hùng vĩ.
Năm
Bính Tý (1936), nhân giỗ Tổ Bổn sư (ngày 2-9 ÂL) có mặt
rất nhiều chư Tôn đức cùng cư sĩ Phật tử ở địa phương,
Ngài đã ân cần phó chúc, dặn dò các đệ tử những điều
trọng yếu để sống đúng đạo hạnh của người con Phật
hộ đạo giúp đời. Từ đó, Ngài chuyên tâm tu niệm và sách
tấn đại chúng tu hành cho đến ngày mãn duyên.
Năm
Bính Tuất (1946), sau thời gian nhuốm bệnh, Ngài đã thâu thần
viên tịch vào lúc 15 giờ 20 phút chiều ngày 26 tháng 3 ÂL.
Trụ thế 56 năm,42 tuổi đạo. Bảo tháp Xá lợi Ngài được
tôn trí ngay trong khuôn viên chùa Long Khánh, xã Khánh Hòa, huyện
Châu Phú, tỉnh An Giang ngày nay.
Một
bậc danh Tăng của Việt Nam với đức độ và công hạnh đã
làm cho vua Cao Miên và Ai Lao qui ngưỡng kính phục. Điều đó
góp phần gieo giống Bồ đề khắp ba nước Đông Dương để
Phật giáo được hoằng dương rộng rãi.