HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRÍ THIỀN
(1882
- 1943)
Hòa
thượng thế danh NGUYỄN VĂN ĐỒNG, pháp danh Trí Thiền, pháp
hiệu Hồng Nguyện, sinh năm Nhâm Ngọ (1882) tại làng Vĩnh
Thanh Vân, huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá, (nay là tỉnh Kiên
Giang), trong một gia đình nông dân. Thân phụ là Cụ Nguyễn
Văn Trinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Trường. Hai ông bà
chính gốc từ Cái Dầu xứ Cao Lãnh đến đây lập nghiệp,
sinh hạ năm người con. Ngài là con út.
Năm
Nhâm Tý (1912) lúc 30 tuổi, Ngài xuất gia đầu Phật, làm đệ
tử Hòa thượng Vĩnh Thùy ở chùa Thập Phương. Nhờ bản
tính cương trực, chí hướng đại hùng, chẳng bao lâu đạo
nghiệp của Ngài càng thêm sáng tỏ. Năm nào Ngài cũng vào
hạ tu học trau giồi giới đức, năm nay tỉnh này, năm sau
tỉnh khác. Đạo tràng nào cũng có Ngài tham dự. Ngoài thời
gian kiết hạ an cư, mỗi năm Ngài thường vào tịnh thất
cấm túc tham thiền, trường trai khổ hạnh. Bởi đạo nghiệp
tinh chuyên nên người đời đều cảm đức của Ngài. Người
mộ Phật đến xin quy y thọ giới với Ngài rất đông.
Năm
1915 do cảm mến đạo hạnh của Ngài, bà Dương Thị Oán cúng
cho Ngài ngôi chùa cũ được Sắc Tứ từ thời vua Gia Long.
Ngài khuyến giáo thập phương tín hữu đóng góp, xây dựng
lại ngôi chùa, từ mái tranh vách lá thành một cảnh già lam
khang trang tráng lệ, và đổi tên là chùa Tam Bảo. Mấy năm
sau, trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, Ngài còn tạo
dựng thêm được nhiều ngôi chùa khác như Tam Bảo Hòa Thanh
Tự ở Vĩnh Hiệp, Vĩnh Phước Tự ở Tà Niên, Bửu Hưng Tự
ở Cầu Cà, Bờ He, Gò Đất, Phước Hưng Tự ở Ngăn Gừa
, Tam Bảo Từ Tôn Tự ở Sóc Xoài, Tam Bảo Kỳ Viên Tự ở
Hòn Quéo, Tam Bảo Long Sơn Tự ở Hòn Đất.
Ngài
cũng là người tha thiết với công cuộc chấn hưng Phật giáo,
đã nhiệt tình ủng hộ và khích lệ Hòa thượng Khánh Hòa
trong công tác này. Ngày 26-8-1931, hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
học được chính thức thành lập, trụ sở đặt tại chùa
Linh Sơn gần chợ Cầu Muối (Sài Gòn). Ngài được mời làm
cố vấn cho hội cùng với Hòa thượng Huệ Định. Năm ấy
Ngài 50 tuổi. Trong thời gian hoạt động cho hội Nam Kỳ Nghiên
Cứu Phật Học, Ngài quen biết một nhà sư trẻ tuổi, có
tư tưởng cấp tiến là thiền sư Thiện Chiếu. Ngài đã chịu
ảnh hưởng nhiều của vị sư này.
Sau
khi hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học bị lực cản của Ông
Trần Nguyên Chấn, không khai giảng được Thích học đường,
các vị Hòa thượng uy tín ( như Thiền Sư Khánh Hòa, Thiện
Chiếu v.v...) của hội lần lượt bỏ về chùa ở các tỉnh
để tìm phương thành lập các hội khác. Ngài cũng trở về
chùa Sắc Tứ Tam Bảo ở Rạch Giá.
Sư
Thiện Chiếu không đồng tình với chủ trương bảo thủ của
các Hòa thượng trong hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, trong
ban biên tập báo Pháp Âm, báo Từ Bi Âm, đã đi khắp các
chùa để tìm đồng chí, nhưng không nơi nào toại nguyện
cả. Năm 1936, Sư xuống Rạch Giá tìm gặp Ngài, người mà
Sư thấy có nhiều tư tưởng tiến bộ. Qua trao đổi, hai vị
tỏ ra tâm đầu ý hợp, Ngài đồng ý thành lập hội Phật
Học Kiêm Tế vào ngày 23-3-1937, và đầu năm 1938 cho xuất
bản tạp chí Tiến Hóa. Ngài lãnh nhiệm vụ Chánh Tổng Lý
của hội và tu sĩ Phan Thanh Hòa làm Chủ bút tạp chí.
Với
tên gọi Phật Học Kiêm Tế cùng với tạp chí Tiến Hóa -
cơ quan ngôn luận của hội, tổ chức này hoàn toàn là một
tổ chức “cách mạng” trong Phật giáo. Tên Phật Học Kiêm
Tế được giải thích như sau : “Đây không phải là một
cái hội chỉ để học Phật, mà còn là một cái hội để
thực hành kinh bang tế thế nữa”. Cụ thể hóa tôn chỉ
đó, hội đã tổ chức ba lớp học miễn phí cho con em nhà
nghèo quanh vùng, nhà chùa trả lương cho giáo viên. Hội còn
lập ra phòng thuốc phước thiện và bệnh xá cho bệnh nhân
nằm điều trị. Lần đầu tiên trong cả nước, hội lập
ra một viện mồ côi ngay tại chùa. Ngoài ra hội còn tổ chức
cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Rạch Giá, nuôi ăn từ hai
trăm đến ba trăm người trong thời gian ngắn.
Chính
do những tư tưởng tiến bộ như thế, mà chùa Tam Bảo đã
trở thành nơi lui tới của các cán bộ cách mạng, làm nơi
chế tạo vũ khí, in truyền đơn chống chế độ thực dân
Pháp.
Ngài
cũng thường hay qua lại một số chùa trên đất Campuchia và
Thái Lan để trao đổi đạo pháp với các vị sư sãi các
xứ này. Năm nào các chùa có mở trường Hương, trường Kỳ,
Ngài thường được mời Chứng minh. Phật sự khắp các tỉnh
như Sài gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Mỹ Tho, Bến
Tre, Trà Vinh, Châu Đốc v.v..Ngài đều tham gia .
Để
giúp hội Phật Học Kiêm Tế và báo Tiến Hóa có phương tiện
hoạt động, trong phiên họp ngày 20-3-1938 của hội, Ngài đã
hiến tài sản của chùa gồm có chùa chiền, ruộng vườn,
và số tiền mặt tổng cộng 19.973 đồng (vào thời điểm
năm 1938 đó là số tiền lớn ) cho hội, sau khi được bổn
đạo của chùa đồng ý.
Cuối
năm 1939, do tên Tư Chà làm nội gián, cơ sở cách mạng ở
chùa Tam Bảo vị vỡ. Chùa bị mật thám Pháp khám xét. Tài
liệu, truyền đơn và lựu đạn bị tịch thu. Hòa thượng
Trí Thiền, Đại đức Thiện Ân tục danh Trần Văn Thâu và
nhiều người khác bị bắt. Ngài và Đại đức Thiện Ân
bị chúng giải lên Sài Gòn, đưa ra tòa xét xử. Đại đức
Thiện Ân bị kết án tử hình, còn Ngài bị 5 năm biệt xứ
lưu đày Côn Đảo. Lúc ở trong tù, Ngài nói với ông Lê Hoàng
Minh, tức Ông Ký ở Nhị Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho
rằng “Ông còn nhỏ, sau này được thả ra, còn hoạt động
được. Còn tôi già rồi, kỳ này ra Côn Đảo, chắc chết”.
Đúng
vậy, ra Côn Đảo, Ngài bị giam trong phòng cấm cố, Ngài tuyệt
thực mấy ngày liền đến kiệt sức để phản đối chế
độ lao tù hà khắc. Ngày 26-6-1943 (Quí Mùi) Ngài viên tịch,
hưởng thọ 61 tuổi đời, 30 tuổi hạ.
Từ
lúc Ngài bị bắt, chùa Tam Bảo bị đóng cửa, không ai được
lui tới. Sau Cách mạng tháng tám, chùa mới được mở cửa
lại. Tăng tín đồ Phật tử và nhân dân tổ chức một lễ
cầu siêu lớn tại chùa để cầu nguyện cho Ngài và các đồng
chí của Ngài đã chết vì đạo pháp và dân tộc. Lịch sử
còn ghi mãi tâm nguyện cao cả của Hòa Thượng Đồng, rạng
danh trong phong trào chấn hưng Phật giáo và còn mãi với phong
trào cách mạng kháng Pháp.