TỔ
TRUNG HẬU
HÒA
THƯỢNG-THÍCH TRỪNG THANH
(1861
- 1940)
Hòa
thượng thế danh Nguyễn Ất, pháp hiệu Thanh Ất, sinh năm
Tân Dậu (1861) tại làng Thượng Trưng, tổng Thượng Trưng,
phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên(1). Năm Ngài lên 12 tuổi (1873),
nhân một hôm được thân mẫu dẫn tới vãng cảnh chùa Trung
Hậu ở Phúc Yên. Thấy Ngài có cốt cách khác phàm, vầng
trán cao rộng, với đôi mắt sáng, Hòa thượng đệ nhị Sư
Tổ đem lòng yêu mến thọ ký và cơ duyên tốt lành đó khiến
Ngài phát tâm bước vào cửa thiền với tâm nguyện chí thành
cao đẹp.
Được
gia đình chấp thuận, Ngài xuất gia đầu Phật, thế phát
quy y với đệ nhị Sư Tổ chùa Trung Hậu. Từ đó ngày đêm
Ngài chí tâm học đạo, tinh tấn tu hành. Năm 15 tuổi (1876),
Ngài thọ Sa Di giới, và năm 20 tuổi (1881) thọ Cụ Túc giới.
Sau đó Ngài đến tham học ở trường Phật học Hạ Lôi,
rồi xuống chùa Bồ Đề ở huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh
( nay thuộc Hà Nội) tiếp tục nghiên cứu kinh tạng. Thời
gian sau, Ngài lại sang chùa Liên Phái ở Hà Nội, chuyên tu
theo pháp môn niệm Phật hướng nguyện sinh về Tây phương
Lạc quốc.
Về
công phu niệm Phật, Ngài thâm đắc hơn người. Thường khi
rảnh rỗi công việc, Ngài chỉ hướng mặt về phương Tây,
lần tràng niệm Phật, cứ mỗi hơi một tràng. Chuỗi hạt
trên tay Ngài luân chuyển không ngừng, chứng tỏ đạo lực
hành trì của Ngài đã đi sâu vào chánh niệm.
Năm
1901, lúc 40 tuổi, sau khi Bổn sư qua đời, Ngài trở về tiếp
đăng trụ trì chùa Trung Hậu và ở đó luôn cho đến ngày
viên tịch. Do đó chúng Tăng và thiện tín thường gọi Ngài
là Tổ Trung Hậu, hay Tổ Trung.
Ngài
là một trong những vị Hòa thượng có công trong phong trào
chấn hưng Phật giáo trên miền Bắc vào đầu thế kỷ XX
. Ngài quan niệm và thấu hiểu rằng Tăng già tu học Phật
pháp cốt yếu phải hiểu luật trước tiên, nên khi bắt tay
vào việc hoằng pháp, Ngài liền khởi công cho đệ tử vào
trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội để sao chép bộ Tứ
Phần Tiêu Thích đem về khắc bản ấn hành cho học Tăng các
nơi có sách khảo cứu tu học.
Ngài
lại nhận thấy Phật giáo từ lâu trên đà suy vi vì Tăng
già chia ra nhiều sơn môn. Sơn môn nào biết sơn môn ấy, làm
sai ý nghĩa Tăng già là hòa hợp. Do đó hàng ngũ Tăng Già
như nắm cát rời, không còn có sự nhất trí trong Thanh qui,
thiếu đi tinh thần đồng sự của Tứ nhiếp pháp.
Chính
vì vậy mà Ngài rất tha thiết và sốt sắng, đem những ngày
còn lại của tuổi đời, hoạt động cho phong trào chấn hưng
Phật giáo. Ngài đã thân hành đi khắp các sơn môn, kêu gọi
Tăng già đoàn kết với nhau, họp thành một khối thống nhất,
chấn chỉnh lại gia phong Phật tự. Khoảng năm 1930, Ngài lập
ra một chốn tùng lâm, ở ngoại vi Hà Nội xung quanh có hào
lũy, phía trong xây dựng từng khu Tăng viện, Ni viện, Phật
điện. Chỗ học, chỗ tu phong quang mát mẻ. Có ruộng để
sản xuất lấy thóc ăn, có đất làm nghĩa địa. Tùng lâm
mở rộng cửa, đón nhận tất cả Tăng Ni vô sở trụ vào
đấy mà nương bóng từ bi, trọn đời tu học, không còn chịu
cái vòng cương tỏa của ngu tục nữa.
Khi
phong trào chấn hưng Phật giáo dâng cao khắp ba miền Nam Trung
Bắc, tuy đã ngoài bảy mươi Ngài vẫn tinh tấn dũng mãnh
góp phần cùng với một số Tăng hữu và cư sĩ vận động
thành lập hội Bắc kỳ Phật giáo cuối năm 1934, và cung thỉnh
Tổ Vĩnh Nghiêm - Hòa thượng Thích Thanh Hanh làm Thiền gia
Pháp chủ . Sau đó , năm 1938 là Hòa thượng Thanh Tường trú
trì chùa Vô Thạch ở Hà Nội nối tiếp ngôi đệ nhị Thiền
gia Pháp chủ.
Trong
buổi sơ khai, hội Bắc kỳ Phật giáo đặt trụ sở tại
chùa Quán Sứ, công việc hết sức bề bộn. Ngài đã góp
phần quan trọng, trên giúp Tổ Vĩnh Nghiêm cùng Ban quản trị
chỉnh đốn mọi việc, dưới thù tiếp Tăng tục thập phương.
Ngài lại đảm nhiệm chức Trưởng ban Thiền học, tổ chức
các trường Phật học. Lắm phen kinh tế nhà trường gặp
khó khăn, nhiều vị đôi phen bàn việc giải tán. Ngài vẫn
cương quyết duy trì, tìm mọi phương sách chống đỡ để
Tăng Ni yên tâm tu học. Công việc đa đoan, nặng nhọc như
thế, mà hai ba năm đầu cùng chư Tăng dự các khóa hạ, Ngài
vẫn lên ba khóa lễ mỗi ngày không hề trễ nải.
Công
việc của hội vừa đi vào nề nếp, thì Thiền gia Pháp chủ
Thanh Hanh viên tịch. Trong lúc chờ cung thỉnh vị Pháp chủ
mới. Ngài phải đứng đầu ban Kỳ Túc mà làm thay mọi việc.
Nhất là việc khởi công tu tạo chùa Hội Quán. Bấy giờ
Ngài phải đảm nhiệm Chánh Đốc công ròng rã hai năm trong
hoàn cảnh trăm bề thiếu thốn. Công việc sắp hoàn thành
thì vào ngày mồng 3 tháng chạp năm Canh Thìn (1940), Ngài không
đau ốm gì mà viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời, 60 tuổi
hạ.
Tổ
Trung Hậu, ngoài công hạnh kiến tạo tòng lâm tiếp Tăng độ
chúng, Ngài còn có công xây dựng hàng trăm ngôi chùa lớn
nhỏ khắp miền Bắc. Trong phong trào chấn hưng Phật giáo
tại miền Bắc, Ngài là bậc khai sơn đặt nền tảng cho bao
lớp Tăng Ni kế thừa lợi lạc quần sinh, góp công lớn với
lịch sử giai đoạn chấn hưng Phật giáo nước nhà. Ngày
nay, hầu hết các chùa ở Hà Nội đều thờ tượng Ngài để
tưởng nhớ bậc khai sơn những ngôi Tam Bảo còn lưu mãi với
thời gian.
Chú
thích :
1)
Nay là tỉnh Vĩnh Phú .