HÒA
THƯỢNG
AN
LẠC-THÍCH MINH ĐÀNG
(1874
- 1939)
Hòa
thượng An Lạc, tự Minh Đàng, thế danh Lê Ngọc Xuyên, sinh
năm Ất Hợi (1874) tại tổng Thanh Phong, làng Mỹ Phong, là
làng sở tại chùa Vĩnh Tràng, thành phố Mỹ Tho.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình sùng kính đạo Phật. Cha là
đệ tử Hòa thượng Tư Trung. Mẹ là đệ tử Hòa thượng
Chánh Hậu. Do đó từ thuở bé thơ, Ngài đã thường xuyên
các ngày sóc vọng theo cha mẹ lên chùa thắp nhang lễ Phật.
Năm Ngài 15 tuổi (1889) được song thân dẫn tới quy y thế
độ với Yết ma Chánh Hậu, được Bổn sư ban cho pháp danh
Tục Thông, pháp hiệu An Lạc. Từ đó Ngài ở lại chùa Sắc
Tứ Linh Thứu chuyên tâm tu học.
Qua
năm sau, Hòa thượng Chánh Hậu về trụ trì chùa Vĩnh Tràng,
chú tiểu Tục Thông theo Bổn sư về đây tiếp tục tu hành.
Tuy được về chùa gần nhà, nhưng Ngài không bao giờ xao nhãng
công phu tu học. Rằm tháng 3 năm Canh Tý (1900), sau một thời
gian học hành công quả, Ngài lại được Hòa thượng Bổn
sư ban cho pháp danh Kiểu Thuận, pháp hiệu Tâm Liễu (nối
đời thứ 40 dòng kệ Đạo Mẫn, tông Lâm Tế) và nhận Ngài
làm pháp tử, phú cho bài kệ như sau:
Kiểu
pháp phương tri sắc tức không
Thuận
thừa Phật nguyệt đạt chân tông
Tâm
thiền khổ hải tòng siêu xuất
Liễu
ngộ nguyên lai hữu hà công ? (1)
Tạm
dịch:
Kiểu
pháp biết nên sắc tức không
Thuận
về Phật nguyệt đạt chân tông
Tâm
thiền biển khổ cùng siêu xuất
Liễu
ngộ nguyên lai hỏi có công ?
Năm
Nhâm Dần (1902), Ngài thọ giới Cụ Túc tại giới đàn chùa
Kim Tiên (xã An Hữu, huyện Cái Bè), sau đó Ngài an cư tại
chùa Hội Phước ở Sa Đéc (1904). Năm 1905, Ngài an cư tại
chùa Sắc Tứ Trường Thọ ở Gia Định và được cử làm
Chánh Tri Sự, sau mùa an cư Ngài được cử làm Đệ tam Tôn
chứng Đại giới đàn. Mùa an cư năm Đinh Mùi (1906) tại chùa
Long Quang ở Vĩnh Long, Ngài được cử làm Thư ký. Năm Mậu
Thân (1907) sau mùa an cư tại chùa Bửu Long ở Sa Đéc, Ngài
được cử Yết ma tại Đại giới đàn ở đây.
Tháng
7 năm Quý Hợi (1923), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài
là trưởng tử được kế thừa trụ trì chùa Vĩnh Tràng.
Để báo đáp thâm ân Bổn sư, Ngài ra Đà Nẵng đặt làm
một cây tháp đá để thờ Hòa thượng Chánh Hậu. Năm 1925,
Ngài đặt thêm một cây bảo đồng hai tầng riêng thờ Tỳ
kheo ni Diệu Tín.(2) Năm 1930, Ngài trùng tu chùa Vĩnh Tràng với
quy mô lớn, kết hợp hài hòa giữa nền kiến trúc xứ chùa
Tháp với nền kiến trúc chùa cổ truyền của Nam bộ, với
những kiểu dáng La Mã thời Phục Hưng, vừa có nét Ấn Độ
- Á Đông. Ngày nay, chùa Vĩnh Tràng là một trung tâm du lịch
của thành phố Mỹ Tho. Công đóng góp của Ngài không nhỏ.
Trong
phong trào chấn hưng Phật giáo tại Nam kỳ vào những năm
của thập niên 1930, người tiên phong và có công lớn là Hòa
thượng Thích Khánh Hòa. Cộng tác với Ngài một cách tích
cực gồm nhiều Hòa thượng ở các Tổ đình, trong số đó
có Hòa thượng Thích An Lạc ở Tổ đình Vĩnh Tràng thuộc
thành phố Mỹ Tho.
Năm
1931, Hòa thượng Thích Khánh Hòa cùng với các Hòa thượng
đồng chí hướng thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
Học, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn gần chợ Cầu Muối
Sàigon. Hội đã xây dựng xong sáu căn nhà sát bên chùa, sắm
đủ bàn ghế giường tủ trang bị cho các học Tăng, chỉ
chờ ngày làm lễ khai giảng Thích học đường, nhưng Hội
đã gặp trở ngại, lớp học không tiến hành được.
Nôn
nóng với việc đào tạo Tăng tài, chuẩn bị đội ngũ Tăng
Ni cho phong trào chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng Thích Khánh
Hòa lui về Trà Vinh, cùng các pháp hữu thành lập Phật học
đường lưu động lấy tên là Liên Đoàn Phật Học Xã, lớp
học đầu tiên đặt tại chùa Long Hòa, hai lớp sau tại chùa
Thiên Phước (ở Trà Ôn), và chùa Viên Giác (ở Bến Tre).
Sau đó trường phải giải tán vì thiếu tài chánh. Rút kinh
nghiệm, Hòa thượng Thích Khánh Hòa cùng các pháp hữu nghĩ
đến việc thành lập một hội Phật học có đông đảo hội
viên thường xuyên đóng góp tài chánh mới có thể duy trì
một Phật học đường được lâu dài. Kết quả Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học được chính thức thành lập ngày 13-8-1934,
đặt trụ sở tại chùa Long Phước ở Trà Vinh. Ngài được
công cử làm Hội trưởng khóa đầu và Hòa thượng Thích
Từ Phong làm Chứng minh Đạo sư.
Ngày
22 tháng 6 Ất Mão (1939), Ngài viên tịch tại chùa Vĩnh Tràng,
thọ 65 tuổi với 37 hạ lạp.
Chú
thích :
1)
Các chữ đầu của mỗi câu trong bài kệ này là pháp danh
và pháp hiệu của Hòa thượng Thích An Lạc.
2)
Bà Phan Thị Lê sau khi xuất gia có pháp hiệu Diệu Tín (xem
thêm tiểu sử Hòa thượng Thích Chánh Hậu).