HÒA
THƯỢNG
THÍCH
GIÁC TIÊN
(1880
- 1936)
Hòa
thượng Giác Tiên, họ Nguyễn, sinh năm Canh Thìn 1880 (năm Tự
Đức thứ 33) tại làng Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy,
tỉnh Thừa Thiên. Song thân Ngài mất sớm, vì vậy năm Giáp
Ngọ (1894) khi vừa tròn 15 tuổi, Ngài đã đến chùa Từ Hiếu
xin xuất gia với Hòa Thượng Tâm Tịnh. Năm Canh Tý (1900),
21 tuổi Ngài thọ giới Sa Di.
Năm
Giáp Thìn (1904) khi được 24 tuổi, Ngài theo Hòa thượng Bổn
sư Tâm Tịnh về dựng Am Thiếu Lâm để tu học, nhường chùa
Từ Hiếu lại cho bản phái. Am Thiếu Lâm này gần chùa Tây
Thiên, rất hợp cho thầy trò an cư tĩnh tu.
Năm
Mậu Thân (1908) Đại giới đàn được tổ chức tại chùa
Phước Lâm ở Quảng Nam, do Ngài Vĩnh Gia làm Đàn đầu Hòa
Thượng. Ngài được gởi vào thọ Cụ Túc giới tại giới
đàn này, Ngài tỏ ra là một giới tử xuất sắc nên được
chọn làm Thủ chúng Sa Di.
Năm
Quý Sửu (1913), Ni Sư Diên Trường xây dựng xong chùa Trúc
Lâm, liền xin phép Hòa Thượng Tâm Tịnh thỉnh Ngài về làm
trụ trì ngôi chùa mới cất này. Ngài về đây thu nạp đồ
chúng và mở rộng hoạt động hoằng dương Chánh pháp, tiếng
tăm vang xa, vượt ra khỏi làng Dương Xuân Thượng, đến khắp
mọi nơi.
Năm
Canh Thân (1920), các khóa giảng được mở ra thường xuyên
tại chùa Thiên Hưng do Hòa thượng Huệ Pháp chủ trì, Ngài
đã cùng nhiều vị Tăng khác nhanh chóng tìm đến cầu học.
Nơi đây, sau nhiều tháng ngày theo học, Ngài được Hòa thượng
Huệ Pháp khen tặng là người có túc căn thâm hậu.
Năm
Quý Hợi (1923), Ngài tổ chức Đại giới đàn tại chùa Từ
Hiếu. Tại giới đàn này, đệ tử của Ngài là Mật Khế
thọ đại giới, và Bổn sư Ngài là Hòa thượng Tâm Tịnh
làm Hòa thượng truyền giới.
Năm
Ất Sửu (1925), năm Bảo Đại nguyên niên, Ngài được sắc
chỉ triều đình làm trụ trì chùa Diệu Đế.
Năm
Kỷ Tỵ (1929), năm Bảo Đại thứ 5 , sau khi trùng tu chùa Trúc
Lâm và mở Phật Học Đường tại đây, Ngài liền vào Bình
Định cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp Di
Đà ra làm chủ giảng. Từ đó, năm nào Hòa thượng Phước
Huệ cũng được thỉnh về Trúc Lâm giảng dạy. Các đệ
tử của Ngài như thầy Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển
và Mật Thể đều được theo học và đã đóng góp tích cực
trong công cuộc chấn hưng Phật giáo sau này. Đặc biệt, cùng
theo học tại Trúc Lâm lúc này có cư sĩ Lê Đình Thám, Y sĩ
trưởng tại viện Pasteur Huế. Cư sĩ Lê Đình Thám đã quy
y với Ngài từ năm 1928 được đặt pháp danh là Tâm Minh (chính
cư sĩ là người vâng lời Ngài triệu tập các bậc đồng
lữ, thành lập hội An Nam Phật Học năm 1932).
Ngài
rất chú ý đến việc đào tạo Tăng tài. Nhờ những cố
gắng đó mà Ngài đã biến chùa Trúc Lâm thành nơi phát tích
nhiều cột trụ của nền Phật giáo cận đại. Tiêu biểu
trong số những Tăng sĩ lừng lẫy như : Quảng Huệ, Trí Thủ,
Mật Thể, Chánh Thông, Thiện Trí, Thiện Hoa, Thiện Hòa...
Năm
Quý Dậu (1933), năm Bảo Đại thứ 8, Ngài ủy thác cho thầy
Mật Khế mở trường Tiểu học Phật Học cho Sa Di các chùa
tại chùa Vạn Phước, trường trực thuộc Hội An Nam Phật
Học.
Năm
Giáp Tuất (1934), Ngài lại cùng đệ tử Mật Khế tổ chức
trường An Nam Phật Học tại chùa Trúc Lâm, thu nhận được
năm mươi học Tăng. Cuối năm này, Ngài lại quy tụ được
rất nhiều học Tăng có học lực và trình độ khá cao để
mở ra cấp Đại học Phật giáo, cũng tại Trúc Lâm.
Giai
đoạn này là cao trào chấn hưng Phật giáo ở miền Trung,
nhờ vào uy đức của Ngài cùng tài uyên bác của Tâm Minh
- Lê Đình Thám, và sự hưởng ứng nồng nhiệt của các bậc
thức giả học Phật như : Ưng Bàng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn
Khoa Tân Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ứng Bình, Bửu Bác, Trần
Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Trương Xướng, Tôn
Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiếu, Hoàng Xuân Ba, Lê Bá Ý và Tôn
Thất Tùng. Qua Hội An Nam Phật Học và tạp chí Viên Âm, Ngài
và đệ tử mình đã khéo léo dung nạp được rất nhiều
chánh kiến khác nhau, về cùng chí hướng là tận dụng người
tri thức để phục vụ Phật pháp.
Khi
sinh tiền, Ngài được Bổn sư Tâm Tịnh trao cho bài kệ đắc
pháp sau đây:
Giác
đạo kiếp không tiên
Không
không Bát Nhã thuyền
Quả
nhân phù hạnh giải
Xứ
xứ đắc an nhiên.
Dịch
:
Đường
giác trước không kiếp
Thuyền
Bát Nhã không không
Hạnh
giải hợp nhân quả
Ở
đâu cũng thung dung.
Ngài
hướng đạo cho Hội An Nam Phật Học được bốn năm. Năm
Bính Tý (1936) ngày mồng 2 tháng 10 Âm lịch, Ngài cho triệu
tập các môn đồ tứ chúng về đầy đủ và tụng bộ Pháp
Bảo Đàn Kinh, tụng đến phẩm Bát Nhã thì Ngài cho dừng
lại để dặn dò những điều cần thiết. Qua đến ngày mồng
4, Ngài an nhiên thị tịch. Thọ 57 tuổi đời, 29 hạ lạp(1).
Tháp
Ngài sau đó được tôn trí nơi phía tả khuôn viên chùa Trúc
Lâm.
Chú
thích :
1)
Ngài Giác Tiên tịch vào năm 1936 chứ không phải vào năm 1934
như Lê Đình Duyên đã viết trong bài “Tiểu sử đạo hữu
Tâm Minh - Lê Đình Thám” in ở đầu trang sách Kinh Thủ Lăng
Nghiêm xuất bản tại Sài Gòn năm 1973.