TỔ
VĨNH NGHIÊM
HÒA
THƯỢNG-THÍCH THANH HANH
(1840
- 1936)
Hòa
thượng thế danh là Nguyễn Thanh Đàm(1) pháp hiệu là Thanh
Hanh, sinh năm 1840 tại làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh
Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình thi lễ. Năm
lên bảy tuổi, Ngài được gia đình theo cho học chữ Nho.
Nhờ có sẵn thiên tư, lại được cha rèn thầy dạy, nên
việc học của Ngài tiến bộ nhanh chóng. Tuy nhiên, Ngài lại
không thích đời trần tục mà lại có ý muốn xuất gia.
Mặc
dầu được cha mẹ thương yêu, nặng tình cốt nhục cố ngăn
cản, Ngài vẫn một lòng xin song thân cho phép đi tìm cuộc
sống thanh thoát nơi thiền gia. Cuối cùng Ngài được toại
nguyện. Lên mười tuổi (1850), Ngài đến làm lễ xuất gia
với vị Hòa thượng họ Nguyễn ở chùa Hòe Nhai - Hà Nội.
Năm
lên 18 tuổi (1858), Ngài được về chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh
Bắc Giang, tiếp tục tu học dưới sự chỉ dẫn của Hòa
Thượng Tâm Viên.
Năm
20 tuổi (1860), Ngài thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn
chùa Vĩnh Nghiêm. Sau đó Ngài vẫn tiếp tục ở lại chùa
tu hành nghiên cứu giáo lý. Ngài tu học rất tinh tấn và trở
thành một nhân vật rường cột của Tổ đình này.
Năm
30 tuổi (1870), nghĩa lý đã làu, đạo thiền đã thấu, Ngài
được nghiệp sư cử vào tỉnh Ninh Bình giảng dạy Phật
pháp cho Tăng Ni, khi ở chùa Phượng Ban, lúc tới chùa Hoàng
Kim, lại về chùa Phúc Tỉnh v.v... Đến chỗ nào, Ngài cũng
chỉ thiết tha một niềm: lấy việc hoằng dương Chánh pháp,
giáo hóa Tăng Ni làm phận sự. Ngài luôn tâm niệm làm mọi
việc lợi lạc cho tín đồ là sứ mệnh của người xuất
gia. Ròng rã ba mươi năm Ngài làm Pháp sư, đem đạo dạy đời.
Trong thì Tăng Ni, ngoài thì thập phương thiện tín, ai cũng
được thấm nhuần mưa pháp. Nhờ vậy mà đệ tử của Ngài
nhiều người thành bậc đạo hạnh thuần nhã, tín căn kiên
cố.
Năm
Canh Tý (1900), Ngài 60 tuổi, sư huynh của Ngài là Hòa thượng
Thanh Tuyền viên tịch. Ngài trở về Tổ đình Vĩnh Nghiêm
và được sơn môn suy cử vào ngôi kế đăng. Từ đó Tăng
chúng và tín đồ thường gọi Ngài là Tổ Vĩnh Nghiêm.
Trong
cương vị đứng đầu một ngôi Tổ đình lớn vào bậc nhất
miền Bắc, công việc điều hành đa đoan, Ngài vẫn không
sao nhãng việc hoằng dương Chánh pháp, đào tạo Tăng tài,
bồi dưỡng lớp kế thừa. Ngài thường xuyên lui tới trường
Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, tìm tòi tam tạng kinh điển
đại thừa, rồi xin phép ban Giám đốc cho đồ chúng đem bút
giấy vào sao chép về cho khắc ván ấn hành nhiều bản. Bước
đi tiên phong của Ngài đã gây nên phong trào các sơn môn lớn
trên đất Bắc đua nhau sao chép và in ấn kinh sách, giúp Tăng
Ni và cư sĩ có tài liệu tham cứu. Nhờ đó mà các thiền
môn có được những bộ kinh quý hiếm như kinh Hoa Nghiêm Sớ
Tấu, kinh Đại Bát Nhã, kinh Đại Bảo Tích, kinh Duy Ma Cật,
kinh Trường A Hàm, luật Tứ Phần Tu Trì, luật Trừng Trị
Tục Khắc và các bộ luận về môn Duy Thức với bộ Phụ
Giáo Biên v.v... Các bộ kinh, luật, luận ấy được khắc
ván và in, đều có mang lời tựa và lời bạt của Ngài. Ngày
nay chúng ta đọc lại những bài ấy sẽ thấy sức học của
Ngài rất uyên thâm, sự hiểu biết sâu sắc, lòng vị chúng
của Ngài rất thống thiết.
Ngài
luôn quan tâm đến việc chấn hưng Phật giáo, quy tụ các
sơn môn về một mối. Hoạt động của Ngài và Tăng hữu
cho mục đích cao cả đó đã vang dội tận miền Nam, nên năm
1929, Hòa thượng Khánh Hòa đã cử Thiền sư Thiện Chiếu
ra Bắc gặp các sơn môn để bàn việc thành lập Việt Nam
Phật Giáo Tổng Hội. Nhưng vì cơ duyên chưa thuận, việc
không thành. Sau đó miền Nam, rồi miền Trung lần lượt thành
lập các hội Phật giáo. Miền Bắc đến ngày 05-12-1934, Bắc
Kỳ Phật Giáo Hội mới chính thức được thành lập. Hội
đã thỉnh cầu Ngài làm Thiền gia Pháp chủ. Tuy tuổi Ngài
lúc đó đã 94, sức khỏe đã giảm sút nhiều, nhưng vì ước
nguyện mấy chục năm nay của Ngài đã thành sự thật, nên
Ngài vẫn vui vẻ nhận lãnh nhiệm vụ nặng nề ấy. Trong
lễ suy tôn, tổ chức rất long trọng tại chùa Quán Sứ ngày
23-12-1934, Ngài đã kêu gọi Tăng sĩ theo nguyên tắc lục hòa
của Phật dạy mà bỏ hết dị biệt của tông nọ phái kia
để dốc lòng chấn hưng Phật giáo.
Tuy
vậy, sự bất đồng ý kiến của một số sơn môn với Bắc
Kỳ Phật Giáo Hội vẫn xuất hiện. Đó là việc hai chùa
Linh Quang (Bà Đá) và Hồng Phúc cho phát hành tờ Tiếng Chuông
Sớm vào giữa năm 1935, lúc đó tờ Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn
luận của hội Bắc Kỳ Phật Giáo chưa xuất hiện. Sự bất
đồng ý kiến kéo dài từ giữa cho đến cuối năm 1935, nặng
nề nhất là việc hai Tổ đình Linh Quang và Hồng Phúc phối
hợp với các chùa chi nhánh tại Hà Nội và các tỉnh để
tổ chức Bắc Kỳ Phật Giáo Cổ Sơn Môn. Trước tình trạng
đó Hòa thượng Thanh Hanh đã tìm mọi cách hòa giải, Ngài
thường xuyên lui tới các Tổ đình trên để đả thông và
thuyết phục. Nhờ vậy mà sự bất đồng ý kiến trước
đó dần dần nhường chỗ cho sự cộng tác. Đầu tháng chạp
năm 1935, tờ Đuốc Tuệ ra mắt độc giả. Báo Tiếng Chuông
Sớm liền viết bài chào mừng và đăng những bài có tinh
thần hòa giải và cởi mở.
Sau
bao năm tận tụy phục vụ Đạo pháp, đào tạo Tăng tài,
góp sức cho phong trào chấn hưng Phật giáo, hòa giải những
ý kiến dị biệt, đưa các sơn môn miền Bắc về chung một
mái nhà Phật giáo, công đức của Ngài vô cùng to lớn. Đã
đến lúc Ngài có thể trút bỏ thân tứ đại để trở về
cõi Tây phương Cực Lạc, nên ngày mồng 8 tháng 12 năm Bính
Tý (1936), Ngài đã viên tịch tại chùa Vĩnh Nghiêm, hưởng
thọ 96 tuổi đời, 86 tuổi đạo.
Ý
nguyện hòa hợp Tăng già, thạnh hưng Phật đạo để làm
mẫu mực cho đời và hy vọng giải thoát chúng sanh của Ngài
còn mãi.
Chú
thích :
1)
Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập III,
Hòa thượng Thanh Hanh tên tục là Nguyễn Thanh Đàm (trang 149).
Nhưng theo tài liệu viết về Tổ Thuyền Gia Pháp Chủ (Do Đại
Đức Gia Quang ở Phân viện Nghiên Cứu Phật học Hà Nội
cung cấp) thì lại thuộc dòng họ Bùi.