TỔ
PHI LAI
THÍCH
CHÍ THIỀN
(1861
- 1933)
Tổ
Phi Lai thế danh là Nguyễn Văn Hiển, Pháp hiệu Chí Thiền(1).
Ngài sinh tháng 02 năm Tân Dậu (1861) tại Quảng Nam, xã Diêm
Sơn, huyện Duy Xuyên, trong một gia đình nhiều đời làm quan
triều đình và có lòng kính tin Phật pháp. Ông nội là Hộ
Quốc Công Nguyễn Công Thành, dưới triều Tự Đức,(2) thân
phụ Ngài là quan Tổng Trấn Quảng Nam, rất được lòng dân(3).
Ngài
lớn lên trong sự giáo dục nghiêm nhặt theo đúng truyền thống
gia phong, văn võ song toàn, trí đức ngời sáng. Tuy ở dinh
Tổng Trấn với nếp sống quyền quý, nhưng Ngài vốn bản
tính hiền hậu hay giúp đỡ mọi người. Giữa lúc thiếu
niên đang cần sự dạy bảo của phụ thân thì ông qua đời.
Ngài phải nương dựa vào mẹ và tiếp tục phấn đấu học
hành tiến thủ.
Năm
Mậu Dần (1878), khi Ngài 18 tuổi, vua sắc chỉ trọng dụng
con công thần làm quan, Ngài được bổ nhậm làm quan Hậu
Bố tại hạt Khánh Hòa. Tuy làm quan, có tài kinh lược, nhưng
Ngài vẫn không cảm thấy thích thú với quan lộ như truyền
thống gia đình. Ngài bí mật tham gia phong trào khởi nghĩa
Văn Thân. Khi phong trào tan rã, Ngài lánh nạn vào miền Nam
ở đất Gia Định để tránh sự theo đuổi của quan quân
triều đình và mật thám Pháp.
Năm
Tân Tỵ (1881) tại nơi lánh nạn này, Ngài cảm nhận được
sự vô thường, danh lợi như chiếc bóng thoáng qua, chiêm nghiệm
thực cảnh biển dâu, thống khổ bấy giờ chỉ là giấc mộng,
chí xuất trần bộc phát nên Ngài đến chùa Giác Viên Chợ
Lớn xin xuất gia học đạo với Tổ Hoằng Ân - Minh Khiêm,
được Tổ ban pháp hiệu Chí Thiền, pháp danh Như Hiền.
Từ
đó, Ngài theo thầy Tổ để học đạo, và noi gương Lục
Tổ Huệ Năng phát nguyện bửa củi, gánh nước, giã gạo
v.v... không nề gian lao khổ cực suốt một thời gian dài.
Sau đó Ngài phát nguyện đóng chuông ngày sáu thời ròng rã
suốt ba tháng. Mãn đóng chuông ba tháng, Ngài phát tâm công
quả đấp nền chùa Giác Viên hằng ngày bằng 100 xe đất
cho đến lúc thành tựu. Sau đó Ngài xin Bổn sư cho nhập thất
ba năm, được Thầy ban pháp ấn. Ba năm nhập thất cũng đạt
sở nguyện viên mãn, Ngài lại cùng Bổn sư lo xây dựng ngôi
Tam bảo Giác Sơn. Ngôi chùa được khánh thành, Bổn sư cử
Ngài làm Thủ tọa coi sóc trong ngoài chùa Giác Sơn. Cho đến
khi Bổn sư viên tịch vào năm Kỷ Tỵ (1899), Ngài lại kiêm
nhiệm trụ trì chùa Giác Viên.
Năm
Giáp Thìn (1904), trận bão lụt lớn nhất miền Nam thời ấy,
gây tai họa thảm khốc cho nhân dân Gò Công. Ngài đích thân
quy nạp ghe thuyền với sự trợ sức của Tăng tín đồ tỉnh
Gò Công, cứu giúp gần một vạn người đang bị nước cuốn
trôi. Giữa trận mưa bão tơi bời, hình ảnh Tăng sĩ vật
lộn với thiên tai đã đem lại lòng tin nơi những người
cộng sự và để lại trong lòng người dân tỉnh Gò Công
một hình ảnh hết sức tốt đẹp và cao quý. Nhất là nơi
vàm Ốc Len ngay chính ghe cứu nạn của Ngài bị lật úp, nhưng
với tinh thần từ bi cao cả và bình tĩnh sáng suốt, Ngài
đã nhanh chóng biến nguy nan thành sức mạnh tự tại, nhờ
đó mà vượt qua được nạn tai.
Sau
trận bão lụt, ngoài việc tiếp tục lo tìm xác thu lượm
chôn cất và làm lễ cầu siêu cho những người xấu số,
Ngài còn vận động xây cất nhà cửa, dọn dẹp những căn
nhà đổ nát và cấp phát thuốc men ngừa bệnh. Ngày rằm
tháng chạp năm đó, Ngài trở về quê cũ thăm mẫu thân thì
mẹ đã qua đời. Ngài lo an táng và cầu siêu cho mẹ đến
chung thất mới trở lại chùa.
Sau
khi sắp đặt cắt cử mọi việc trong chùa xong, Ngài cùng
một thị giả đến chùa Giác Sơn, từ giã huynh đệ thẳng
đường đến núi Sam - Châu Đốc, ẩn dật tu hành. Khi đi
ngang kênh Vĩnh Tế, Ngài được ông Năm Thanh đưa sang bờ
và hướng dẫn đến chùa Phi Lai Cổ Tự lễ Phật. Đây là
ngôi chùa vách đất, vắng vẻ hoang vu, do đó khi lễ Phật
xong Ngài cùng thị giả đi thẳng qua hướng Thạch động,
núi Cấm, yên chí tu hành nhưng không quên ngôi chùa vắng vẻ
đìu hiu ấy. Ông Năm Thanh, sau khi tiễn Ngài lên núi, trở
về bàn cùng hương chức và Phật tử địa phương cung thỉnh
Ngài trụ trì chùa Phi Lai và được Ngài hứa khả. Chùa Phi
Lai sau đó được Ngài về trụ trì. Nhờ uy đức và hạnh
nguyện, Ngài đã biến nơi đây thành chốn già lam đông đúc
Tăng tín đồ đến thọ pháp, cuộc sống người dân quanh
vùng có biến đổi mới mẻ và chan hòa ý sống tình đạo.
Năm
Đinh Mùi (1907), một thảm họa khác lại đưa đến, do nước
lũ ngập úng, cây cối hoa màu không sinh sôi nảy nở, mùa
màng tổn thất. Ngài cho cứu tế khắp nơi, đem cả lương
thực của chùa ra phân phát, kêu gọi dân chúng lên núi vào
ở ngay trong chùa, đợi cho đến khi nước rút mới thôi. Do
đó mà người dân đã thoát qua được những trận thiên tai
địa ách bằng lòng tin và cách sống vị tha của Ngài. Họ
đã đứng sau lưng Ngài trong suốt 49 ngày lập đàn Dược
Sư cầu nguyện. Sau những biến động thiên tai dồn dập ấy,
Ngài phát nguyện tịch cốc, chỉ ăn rau trái, với tâm nguyện
chịu nỗi khổ thay dân trong suốt mười hai năm liền.
Do
những hoạt động và tinh thần xả thân vì chúng sanh, Ngài
được quần chúng ngưỡng mộ và hết lòng quy thuận, nên
mật thám Pháp nghi ngờ Ngài làm quốc sự và bắt giam Ngài
trong mười tháng.
Do
những hoạt động và tinh thần xả thân vì chúng sanh, Ngài
được Lục Cả chùa Tà Lạp ở Campuchia hiến cúng pho tượng
Phật cổ hàng trăm năm bằng vàng, để tôn trí tại chùa
Phi Lai. Đủ nói lên tinh thần và oai đức của Ngài đã vượt
ra khỏi biên giới bản địa, kết chặt thêm tình đạo cao
sâu, giữa thời buổi chiến tranh loạn lạc.
Thời
điểm mở đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo, Tổ Khánh
Hòa cùng chư Hòa thượng đồng tâm nguyện họp bàn công việc
Phật sự tại chùa Linh Sơn Sàigòn, Ngài không đến được,
đã gửi cúng vào quỹ Chấn hưng ba trăm đồng tiền Đông
Dương.
Năm
Đinh Mẹo (1927), Ngài chứng minh lễ khai giảng lớp học Tăng
ở chùa Giác Hoa tỉnh Sóc Trăng. Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài chứng
minh Đại giới đàn chùa Trùng Khánh ở Phan Rang.
Năm
Nhâm Thân (1932), sau khi Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học được
thành lập, Ngài tham gia vận động trực tiếp cổ xúy cho
Hội, khuyến khích Phật tử tích cực ủng hộ hầu làm cho
ngôi nhà Chánh pháp thêm vững mạnh, huy hoàng.
Năm
Quí Dậu (1933), Ngài thọ bệnh và an dưỡng tại thiền sàng,
Ngài ứng hẹn vào vía Phật nhập Niết Bàn sẽ viên tịch.
Quả đúng như thế, đến ngày rằm tháng 02, sau khi dặn dò
các đệ tử, Ngài chắp tay nói bài kệ:
Nhứt
niệm viên quang tội tánh không
Đẳng
đồng pháp giới hàm thanh tịnh.
rồi
an nhiên thâu thần thị tịch. Ngài trụ thế được 73 năm,
hành đạo 52 năm. Bảo tháp của Ngài được xây tại chùa
Phi Lai Châu Đốc.
Cuộc
đời của Tổ Phi Lai còn rất nhiều hành trạng bí mật trong
việc giúp đỡ các phong trào yêu nước chống Pháp và những
pháp thuật cứu đời. Học thức uyên thâm và đức độ của
Ngài đã cảm hóa không biết bao nhiêu người trở thành đệ
tử Ngài, quy y theo Phật, xuất gia học đạo và thế hệ kế
thừa Ngài là những vị Tăng tài xuất chúng đóng góp cho
sự nghiệp phát triển Phật giáo Việt Nam rạng rỡ huy hoàng.
Tổ
Phi Lai là tiêu biểu cho thế hệ danh Tăng ở miền Tây Nam
bộ, đóng góp công sức rất lớn cho phong trào chấn hưng,
mà lịch sử mãi còn kính ghi khắc lại tưởng niệm đời
đời.
Chú
thích :
1)
Có nơi gọi là Chí Thành - vì cữ tên ông nội nên gọi là
Chí Thiền (Phật Giáo Việt Nam Sử Lược Tập III - Nguyễn
Lang) - (Ý kiến Trương Ngọc Tường).
2)
Có ý kiến cho rằng ông nội của Ngài là Tiền Quân Nguyễn
văn Thành dưới triều Tự Đức. Sau biến cố gia đình theo
anh về Bình Định (đang làm Bố Chánh Bình Định) - (Trương
Ngọc Tường).
3)
Có bản tiểu sử ghi Ngài là con của Hộ Quốc Công Nguyễn
Công Thành (Tiểu sử chùa Kim Quang-Nha Trang, Tiểu sử chùa
Từ Quang - Thủ Đức ).