HÒA
THƯỢNG
NHƯ
PHÒNG - HOẰNG NGHĨA
(
1867 - 1929 )
Hòa
thượng Hoằng Nghĩa, húy Như Phòng, thế danh Trần Văn Phòng,
sinh ngày 29 tháng 9 năm Đinh Mão (1867) tại làng Bình Thới,
tỉnh Gia Định. Thuộc dòng Lâm Tế Bổn Ngươn, đời thứ
39.
Năm
ấy là niên hiệu Tự Đức thứ 19, bảy năm sau khi thành Gia
Định thất thủ, và ba năm sau khi Trương Định cự tuyệt
mệnh lệnh triều đình không chịu rời Gò Công, nơi được
nhân dân phong tặng Bình Tây Đại Nguyên Soái(1). Tướng Nguyễn
Tri Phương với hai trăm khẩu thần công đã không giữ được
thành Gia Định, đồn Chí Hòa - Phú Thọ... Và năm 1867 chính
là năm Pháp vừa chiếm ba tỉnh miền Tây, chưa kể đến các
sự kiện nghĩa quân nổi dậy khắp Nam kỳ lục tỉnh v.v...
Vì vậy, nơi Ngài sinh ra chính là một trong những nơi mà song
thân của mình đã dừng chân tha phương(2) trên đường tìm
đất sống. Giữa thời buổi loạn lạc ấy, phần lớn các
gia đình đều ly tán, sinh con rồi gửi lại người thân nuôi
nấng để ra đi vì sinh kế hoặc theo các phong trào nghĩa binh
nổi dậy chống thực dân. Ngài là một trong số hoàn cảnh
đó. Vì thế nguồn gốc về song thân của Ngài, đến nay vẫn
chưa có sử liệu nào ghi lại được(3).
Do
những hoàn cảnh kể trên, tuổi thơ của Ngài đã sớm chịu
sự xa cha vắng mẹ. Nhưng Ngài vẫn được những người bảo
hộ cho học hành tử tế và có phần ưu đãi, bởi tự thân
Ngài đã sớm biểu lộ đức tính cần cù nhẫn nại và uyên
bác trong tri thức. Bên cạnh đó là lòng thương yêu người
và cả những vật thể chung quanh. Ngoài những lúc làm việc
phụ giúp người thân và học hành, Ngài hay theo các bạn đồng
lứa đến chùa lễ Phật, nghe Pháp.
Năm
Quý Dậu (1873), khi vừa bảy tuổi, Ngài đã đến chùa Giác
Viên (Chợ Lớn) xin được thọ pháp xuất gia với Tổ Hoằng
Ân - Minh Khiêm.
Thời
gian tu học nơi dây, Ngài được các bạn lữ hết lòng giúp
đỡ và khen ngợi. Tổ Hoằng Ân cũng rất hài lòng về đệ
tử mới của mình . Từ trợ duyên tích cực đó Ngài đã
tự sách tấn mình trong việc học hành, tu tập bằng tất
cả tư chất thông minh vốn có nên đạt được kết quả
tốt đẹp.
Năm
Quý Mão (1903), Hòa thượng Chơn Không- Như Nhu (huynh đệ với
Tổ Như Phòng) viên tịch. Tổ Hoằng Ân liền giao cho Ngài
trách nhiệm trụ trì chùa Giác Viên.
Sau
khi nhận trách nhiệm, Ngài đã đặt cách các chức sự trong
chùa hợp lý hơn, đồng thời hiệp lực cùng các huynh đệ
lo trùng tu chùa, lúc này đã xuống cấp, có nhiều khả năng
hư hoại nặng. Những việc làm kịp thời, đúng lúc của
Ngài, đã được sự tán trợ nhiệt thành của mọi người
và Phật tử gần xa.
Cũng
từ khi nhận trách nhiệm trụ trì, Ngài càng tinh tấn hơn
trong nếp sống đạo hạnh, bền chí tu học và giữ gìn giới
luật nghiêm tịnh, hầu làm gương soi cho Tăng chúng. Lúc này,
dưới sự quan tâm trực tiếp của Ngài, sinh hoạt thường
nhật, oai nghi tế hạnh trong chùa đã đi vào nề nếp.
Ngoài
việc chăm lo cho chùa Giác Viên, Ngài còn quan tâm, đóng góp
nhiều công sức trong việc trùng tu lần thứ hai ngôi chùa
Giác Lâm vào những năm 1900 - 1909. Do đó, trong lịch sử xây
dựng và bảo tồn hai Tổ đình quan trọng này, Ngài là một
trong những vị đầy năng động, nhiệt thành có công rất
lớn.
Năm
Nhâm Tuất (1922), giới đàn quan trọng được mở ra tại chùa
Giác Lâm nhằm truyền trao giới pháp cho Tăng sĩ khắp nơi.
Ngài được suy tôn làm Hòa thượng Đàn đầu.
Những
năm kế tiếp, Ngài được cung thỉnh vào các hàng Tôn Chứng,
A Xà Lê, Giáo Thọ v.v... ở những giới đàn khác, do oai đức
vang dội khắp nơi, Ngài cũng ý thức được sự nghiệp gầy
dựng những tầng lớp kế thừa, là nhiệm vụ hàng đầu
ở buổi bình minh của phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngài
không quên dặn lòng cũng như khuyến hóa chúng Tăng phải giữ
vững đạo tâm, tuy sẵn sàng cứu dân giúp nước, nhưng chớ
để thời cuộc lôi kéo mà quên bổn phận của một hành
giả : Cứu cánh giải thoát.
Điều
để nhận ra trước nhất là đức độ và lòng thiết tha
với đạo với đời nơi Ngài luôn chan hòa và vững chắc,
và Ngài là một trong rất ít Tăng sĩ xuất gia rất sớm. Do
đó hành trạng của Ngài như bông hoa bừng nở, tỏa hương.
Đồng thời cũng nhờ công đức hoằng hóa của Ngài mà nếp
sống theo tinh thần Phật giáo có mặt mọi nơi trong xã hội.
Tạp chí Kim Thi Tập, đã có lời ca ngợi về đức độ và
việc làm của Ngài: “Ông Hoằng Nghĩa thường đêm tụng
Pháp Hoa kinh, thập phương thiện tín người người đều yêu
mến, cho nên lúc trùng tu chùa Giác Lâm, thiên hạ hỷ cúng
tới bạc muôn, cũng là nhờ có Phật ân phổ chiếu, đáng
tặng đáng khen...”
Trong
số các Tăng sĩ đệ tử tài ba lỗi lạc của Ngài, được
biết đến nhiều sau này như Ngài Hồng Hưng - Thạnh Đạo
(trụ trì chùa Giác Lâm từ năm 1910 - 1949), Ngài Hồng Long
- Thiện Phước và Hồng Từ - Tuệ Nhơn (cũng ở chùa Giác
Viên).
Một
Tăng sĩ tài ba, suốt cả một cuộc đời đóng góp nhiều
cho đạo pháp như Ngài, luôn là kim chỉ nam cho không ít các
bậc thức giả sau này. Khi cao trào chấn hưng Phật giáo khởi
sắc, thì những vị được đào tạo chính qui và trang bị
học thuật sẵn từ bấy giờ chính là những nhân tố rất
cần thiết cho đại cuộc. Ngài đã làm được việc đó,
xứng đáng là hậu duệ thứ 39 chi phái Lâm Tế Bổn Nguơn.
Và hai ngôi chùa Giác Lâm, Giác Viên nổi tiếng được biết
đến nhờ những vị cao Tăng như thế.
Khi
cảm thấy những phước báu đưa đến, cũng là lúc công việc
hoằng hóa đã đến hồi viên mãn. Không khi nào Ngài tỏ ra
tự mãn hoặc tự hào về chính mình. Ngược lại, Ngài tỏ
ra khiêm tốn, hòa ái với chung quanh. Đó được xem là pháp
âm mà Ngài muốn truyền cho hậu thế. Cũng vậy qua những
mẫu chuyện truyền khẩu trong chốn già lam, việc Ngài đi
bộ từ chùa Giác Lâm đến Giác Viên và ngược lại, không
hề màng đến các phương tiện di chuyển là ý khuyến hóa
chúng Tăng trong chùa nên giữ hạnh kham nhẫn khiêm cung, cẩn
trọng đối với tứ sự cúng dường của đàn việt và tình
pháp hữu phải được hòa hợp. Đó là một trong những lộ
trình đến Niết bàn giải thoát, đầy lòng vị tha.
Năm
Kỷ Tỵ (1929) nhằm ngày 23 tháng 11. Ngài đã an nhiên thị
tịch tại chùa Giác Viên, thọ 63 tuổi.
Tang
lễ của Ngài được ghi lại rất chi tiết trong vài quyển
sách xuất bản hai năm sau đó (1931) và cho biết có hơn một
ngàn người đến thọ tang, tiễn đưa nhục thân Ngài vào
bảo tháp.
Chú
thích :
1)
Tập Văn Yêu Nước Nam Bộ (NXB Giải Phóng 1976).
2)
Đất Gia Định xưa - Sơn Nam (NXB TP. Hồ Chí Minh 1984).
3)
Có sách ghi Ngài sinh tại Bà Điểm, là con của một thầy
thuốc gia truyền, và sinh vào năm 1857 (PTS Trần Hồng Liên).