HÒA
THƯỢNG
THÍCH
CHÁNH HẬU
(1852
- 1923)
Hòa
thượng Thích Chánh Hậu, thế danh là Trà Xuân Tồn, gốc người
Minh Hương, sinh năm Nhâm Tý (1852) tại làng Điều Hòa, tỉnh
Định Tường, nay thuộc tỉnh Tiền Giang.
Ngài
xuất thân từ một gia đình thế gia vọng tộc. Thân phụ
Ngài làm chức Tri Phủ, nhưng khi Ngài lớn lên thì gia đình
gặp lúc suy vi vì thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước
ta. Tuy nhiên Ngài vẫn được giáo dục chu đáo từ thuở nhỏ.
Năm
18 tuổi, Ngài vâng lệnh song thân kết hôn với cô Phan Thị
Lê, con quan Thủ Hạp(1) Định Tường ở cùng làng. Được
người vợ trẻ đẹp, đoan trang, con quan, tưởng đâu Ngài
sẽ được sống hạnh phúc đời thường. Không ngờ năm Ngài
22 tuổi (1874), cha mẹ đều qua đời, lại gặp lúc thời cuộc
đang buổi rối ren, Ngài cảm thấu luật “sanh lão bệnh tử”
của kiếp người và lẽ “vô thường” của tạo vật, bèn
giao gia tài cơ nghiệp lại cho người anh, khuyên vợ về bên
gia đình cha mẹ ở, rồi Ngài cất một cái am đặt tên là
“Thiền Lâm Tiểu Viện”, tự tu hành để báo hiếu cha mẹ.
Ngài
thực hiện ăn chay nằm đất khoảng hai năm, người ngoài
không rõ Ngài tu theo pháp môn nào, vì không có bổn sư hướng
dẫn. Một hôm có Hòa thượng Huỳnh Chơn Giác ở chùa Bửu
Hưng (Sa Đéc) về Tổ đình Bửu Lâm (Mỹ Tho) nghe chuyện này
bèn rủ Yết Ma Nguyễn Huyền Dương cùng tới viếng thăm Thiền
Lâm Tiểu Viện. Sau khi trò chuyện trao đổi, thấy Ngài dốc
lòng tu, nhưng không đúng hướng, hai vị lấy lời giảng giải
và thuyết phục Ngài nên đi theo con đường Chánh pháp.
Theo
lời khuyên của hai vị chân tu, năm 24 tuổi (1876) Ngài đến
Tổ đình Bửu Lâm đảnh lễ quy y thọ giới với Hòa thượng
Minh Phước (tức Nguyên Phước), hiệu Tư Trung. Hòa thượng
Tư Trung cũng là người Minh Hương, nên ban cho Ngài pháp danh
Quảng Ân, pháp hiệu Chánh Hậu (Theo một dòng kệ phái Lâm
Tế phổ biến trong giới Hoa kiều).
Năm
Ngài 27 tuổi (1879) được Hòa thượng Bổn sư ban cho bài kệ
truyền thừa như sau:
Tùng
lai tiền niệm sự kinh dinh
Lũy
niên dũ chướng dũ niệm tình
“Hữu
vi” thị pháp tâm bất liễu
Đạt
đắc “vô vi” pháp thậm “minh”.
Tạm
dịch:
Dò
theo nghĩ lại chuyện kinh dinh
Năm
thâm, chướng lắp, lại thêm tình
“Hữu
vi” là pháp tâm nào được
Đạt
được “vô vi” pháp thật “minh”.
Năm
sau Hòa thượng Bổn sư cử Ngài làm Thủ tọa chùa Sắc Tứ
Linh Thứu ở gần Mỹ Tho là một danh lam cổ tự có trước
thời Gia Long(2).
Còn
bà Phan Thị Lê, lúc đầu trở về nhà cha mẹ, cùng chồng
tuy không phải tử biệt nhưng thực sự đã sinh ly. Dần dần
nhờ bạn bè khuyên giải, bà vơi được nỗi đau buồn cũng
xin xuất gia đầu Phật tìm con đường giải thoát. (Sau thành
Tỳ kheo ni hiệu Diệu Tín, được Ngài An Lạc trụ trì chùa
Vĩnh Tràng thờ ở chùa này).
Mùa
hè năm Bính Tuất (1886) Ngài an cư kiết hạ tại chùa Phước
Hưng (Sa Đéc). Sau mùa an cư có giới đàn, Ngài được cử
làm Yết ma A Xà Lê Sư. Năm Canh Dần (1890), ông Huyện Thụ
là một cư sĩ thuần thành cùng các tín đồ đến chùa Sắc
Tứ Linh Thứu thỉnh Ngài về trụ trì chùa Vĩnh Tràng, một
ngôi chùa danh tiếng của đất Mỹ Tho đã bị hoang phế vì
nạn binh lửa. Từ khi Ngài về làm trụ trì, chùa được phục
hồi sinh khí như xưa, bổn đạo tới lui tấp nập. Năm Ất
Mùi (1895) Ngài xây lại chùa Vĩnh Tràng. Năm Kỷ Hợi (1889)
Ngài trùng tu chùa Sắc Tứ Linh Thứu. Năm Giáp Thìn (1904) cơn
bão lớn xảy ra vào hồi tháng ba đã làm hư hại nặng chùa
Vĩnh Tràng. Từ năm Đinh Mùi (1907) đến năm Tân Hợi (1911)
Ngài lại phải khuyến giáo tín đồ góp công góp của trùng
tu lại chùa. Đáng chú ý trong lần trùng tu này, Ngài đã nhờ
nghệ nhân điêu khắc tài hoa Tài Công Nguyên đảm nhận phần
trang trí và tạc toàn bộ tượng thờ trong chùa. Ngày nay,
chùa Vĩnh Tràng và Linh Thứu là hai thắng tích bậc nhất tỉnh
Tiền Giang, phần lớn nhờ vào công tu tạo của Ngài.
Thời
gian Hòa thượng Chánh Hậu trụ trì chùa Vĩnh Tràng là thời
gian khắp các nước Đông Á khởi xướng phong trào chấn hưng
Phật giáo. Từ Tích Lan, Ấn Độ, qua Thái Lan, Miến Điện,
đến Nhật Bản, Trung Hoa, đâu đâu cũng có các trung tâm,
các cơ quan ngôn luận, các vị tu sĩ và học giả hoạt động
cho phong trào. Đặc biệt tại Trung Hoa là nước gần với
Việt Nam, sự giao lưu chặt chẽ, các sách báo nói về việc
chấn hưng Phật giáo đã được các thương buôn Hoa kiều
du nhập vào nước ta, nhất là ở Nam kỳ, đã ảnh hưởng
sâu xa đến các vị Tôn túc Hòa thượng có đạo tâm, hằng
ưu tư về tiền đồ của Phật giáo Việt Nam.
Hòa
thượng là người Minh Hương nên dễ dàng tiếp cận và quan
hệ chặt chẽ với các bậc thức giả Hoa kiều, có dịp đọc
các bài nói về phong trào chấn hưng Phật giáo của Thái Hư
Pháp Sư bên Trung Hoa. Trong thâm tâm Ngài đã ươm hạt giống
chấn hưng để chờ có cơ duyên là đem gieo rắc vun trồng.
Tuy Ngài chưa khởi xướng lên được phong trào chấn hưng
Phật giáo, nhưng việc hoằng dương Chánh pháp của Ngài đã
đi đúng con đường chấn hưng. Ngài thường xuyên mở trường
gia giáo để đào tạo Tăng tài. Khi thì tự Ngài làm Pháp
Sư. Khi thì Ngài thỉnh Hòa thượng Giác Hải. Đặc biệt Ngài
còn mở lớp dạy chữ Nho, dạy thuốc. Ngài mời các bậc
túc nho, phần nhiều là các chiến sĩ Văn Thân, Cần Vương
lánh nạn ẩn tích và các bậc lương y trong vùng đến dạy.
Trong số có cụ Tòng Am Phan Văn Viễn cùng họ với cụ Phan
Đình Phùng ở Hà Tĩnh đã được chùa Vĩnh Tràng nuôi ở
hàng chục năm.
Rất
tiếc là công cuộc chấn hưng Phật giáo tại Nam kỳ đang
trong thời kỳ manh nha, thai nghén thì ngày 29 tháng 7 năm Quý
Hợi (1923) Hòa thượng Chánh Hậu viên tịch, thọ 72 tuổi
với 47 hạ lạp.
Sự
nghiệp kiến lập trùng tu tự viện, khai mở các lớp gia giáo
đào tạo Tăng tài và quan tâm đến tiền đồ Phật giáo của
Ngài, được xem là bước tiên phong chân chính, vinh quang như
bình minh thế kỷ XX.
Chú
thích :
1)
Thủ hạp là chức quan giữ kho tiền, kho lúa của triều đình
tại các tỉnh, thành.
2)
Chùa Linh Thứu lúc đầu chỉ là am tranh, sau được Hòa thượng
Thiệt Thanh - Nguyệt Hiện (1759 - 1815) xây lại bằng gạch
ngói và đặt tên là chùa Long Tuyền. Trong thời gian tẩu quốc,
có lần Nguyễn Ánh trốn vào chùa này thoát nạn, nên năm
Gia Long thứ 11 (1812) Sắc Tứ Long Tuyền Tự. Đến triều Thiệu
Trị năm thứ nhất (1841) đổi là Sắc Tứ Linh Thứu Tự.