HÒA
THƯỢNG
THÍCH
VĨNH GIA
(1840
- 1918)
Ngài
họ Đoàn tên Nhược, quán làng Thế Dương, quận Thăng Bình,
tỉnh Quảng Nam, sinh vào năm thứ 21, triều vua Minh Mạng (1840).
Xuất
thân trong một gia đình nho phong, bẩm chất thông minh hiếu
học, lúc Ngài được 18 tuổi thì thân sinh đã mạng chung.
Từ đó Ngài vân du đó đây hầu mở rộng kiến thức. Đến
tỉnh Thuận Hóa, Ngài gặp cụ Bố Chính Nguyễn Khoa Luân (Về
sau tức Viên Giác Thiền sư) tại chùa Ba La Mật. Sau mấy ngày
đàm đạo, các Ngài nhận thấy thân mạng là vô thường,
tam giới như nhà lửa, chỉ có lối tu học chánh pháp của
Như Lai mới là con đường giải thoát chân chánh.
Năm
1859, được 19 tuổi Ngài phát tâm tầm sư học đạo. Lúc
bấy giờ tại tỉnh Quảng Nam, nơi quê quán của Ngài, có
Hòa Thượng Quán Thông, một vị danh Tăng, vào hàng thứ năm
dòng Lâm Tế, làm trú trì chùa Phước Lâm. Ngài mới xin thế
phát đầu sư với Hòa Thượng. Thọ Sa Di giới được 6 năm,
Ngài tỏ ra là một Tăng sĩ xuất chúng. Hòa Thượng Bổn sư
Quán Thông đặt cho Ngài pháp danh là Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên,
hiệu Vĩnh Gia.
Năm
1865, được 25 tuổi Ngài đến cầu đạo với Ngài Huệ Quang
tại chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn) Quảng Nam. Tại đây, Ngài
thọ tam đàn Cụ Túc giới.
Năm
1893 (Quý Tỵ - triều Thành Thái) Ngài cùng Hòa thượng Chí
Thành mở Đại giới đàn tại Tổ đình Chúc Thánh (Quảng
Nam) và Ngài nhận chức Giáo Thọ A Xà Lê tại giới đàn này.
Năm
1894 (Giáp Ngọ), Ngài được thỉnh làm Đệ nhị Tôn chứng
cho Đại giới đàn tại Tổ đình Báo Quốc (Thuận Hóa).
Năm
1906 (Bính Ngọ), Ngài nhận làm Yết Ma cho Đại giới đàn
tại Tổ đình Thập Tháp Di Đà (Bình Định).
Năm
1908 Mậu Thân, Ngài được thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng
Đại giới đàn tại chùa Phước Lâm (Quảng Nam).
Đến
năm 1910 (Canh Tuất - triều Duy Tân) Ngài khai Đại giới đàn
tại Tổ đình Phước Lâm, Hội An, và làm Đàn đầu Hòa Thượng.
Giới đàn này quy tụ gần 200 giới tử, trong đó sau này có
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, đệ nhất Tăng Thống Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa thượng Thích Giác
Nhiên chùa Thuyền Tôn là đệ nhị Tăng Thống... Về phần
tại gia thì có Miên Trinh Tuy Lý Vương, cụ Đô Thống Lê Viết
Nghiêm v.v... và nhiều hoàng thân quốc thích khác đều là
đệ tử của Ngài.
Ngài
có công lớn trong việc đại trùng tu Tổ đình Phước Lâm,
chú trọng việc đào tạo Tăng tài, giáo hóa hậu lai. Nhờ
thế dân chúng thấm nhuần ảnh hưởng đạo đức của Ngài,
không những đối với Phật giáo đồ Quảng Nam mà còn đối
với cả Phật giáo miền Trung. Với sự nghiệp cao dày của
Ngài, trọn đời hiến thân cho việc phục hưng Phật giáo,
cụ Thượng thư Hiệp biện Đại học sĩ Nguyễn Hà Đình
(đệ tử của Ngài) một nhà thâm nho và cũng thâm uyên giáo
lý đã dâng tặng Ngài hai câu đối bằng gỗ trầm hương,
hiện nay còn treo tại chùa Phước Lâm :
Tăng
lữ thả bồi hương hỏa xã,
Cao
tình du ái thủy vân hương.
Ngài
thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của
Phật pháp, nếu phá giới thì phải hoàn lại y bát, ra khỏi
già lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia có vậy,
nước Thiền định mới khai thông, đèn tri giác thêm sáng
tỏ”. Trên 40 năm tu học và hành đạo, Ngài am tường giới
luật, hành trì nghiêm tịnh, đạo hạnh ngày càng vang dội.
Đến
năm 1918, tuổi già sức yếu, Ngài gọi đồ chúng dạy bảo
lần cuối rồi an nhiên thị tịch. Ngài thọ 79 tuổi với
54 hạ lạp, tháp của Ngài được xây cất trang nghiêm cổ
kính phía tả Tổ đình Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam - Đà
Nẵng.
Hàng
năm đến ngày 20 tháng 3 âm lịch, Tăng tín đồ tề tựu lại
Tổ đình Phước Lâm, thành kính lễ Húy kỵ tưởng niệm
công đức Ngài. Đạo phong cao vời của Ngài tỏa sáng mãi
trong Tăng tín đồ hậu thế.