HÒA
THƯỢNG
HOẰNG
ÂN - MINH KHIÊM
(1850
- 1914)
Tổ
Hoằng Ân thế danh Nguyễn Văn Khiêm, húy Minh Khiêm, pháp hiệu
Liễu Khiêm-Diệu Nghĩa. Sinh ngày rằm tháng 07 năm Canh Tuất
(1850) tại làng Bà Điểm, tỉnh Gia Định. Ngài sinh ra trong
một gia đình nông dân, hai vị thân sinh do tham gia vào cuộc
nổi dậy chống sưu cao thuế nặng của triều đình nhà Nguyễn
nơi Mười Tám Thôn Vườn Trầu và Bưng Tầm Lạc, nên gởi
Ngài lại nhờ bà con nuôi giúp để lánh mặt, tránh những
đợt truy lùng gắt gao của hương hào địa chủ.
Năm
1859, lúc vừa được 9 tuổi, thực dân Pháp sau khi đánh chiếm
thành Gia Định đã cử binh đến nơi đây, nông dân lại nổi
dậy, kế đó nghĩa binh Trương Định sau khi đánh đồn Thuận
Kiều đã kéo quân về đây và được nhân dân trao thanh kiếm
Bình Tây Đại Nguyên Soái(1). Giữa lúc tình thế nhiều biến
đổi ấy, Ngài không thể tìm lại được song thân. Vì thế
tên tuổi của hai người cho đến mãi về sau vẫn không biết
được, sống chết như thế nào, tại đâu?
Chưa
thấy có sử liệu nào ghi lại ngày tháng Ngài xuất gia lúc
bao nhiêu tuổi. Chỉ biết Ngài đã đến chùa Giác Lâm (Nay
ở quận Tân Bình - Sài Gòn) xin xuất gia với Tổ Hải Tịnh.
Khi
đã trở thành một vị xuất gia, Ngài hết lòng học hỏi,
tham cứu tất cả các pháp yếu nơi thiền môn. Với trí tuệ
và tư chất thông minh, Ngài đã sớm vượt xa các pháp lữ
đã xuất gia trước mình trong một khoảng thời gian rất ngắn.
Do đó Ngài đã được Bổn sư chú ý và chăm sóc tận tình.
Ngoài sở học uyên thâm, Ngài còn có phong thái nhanh nhẹn
mà điềm đạm, vóc người cao ráo, thanh thoát, hội đủ các
tướng hảo ở một vị Tỳ kheo xuất trần vi thượng sĩ.
Năm
1870, Ngài được trao nhiệm vụ trụ trì chùa Giác Viên khi
vừa đúng 20 tuổi. Đây là một trường hợp cá biệt, rất
hiếm thấy nơi lịch sử các vị Tổ đức xưa. Đủ để
khẳng định hoài bão mà Bổn sư Ngài đã đặt để, quả
chẳng uổng.
Năm
1876 ở độ tuổi 26, Ngài lại được cử làm Giáo thọ và
đã được Tăng chúng kính trọng do sự tinh tấn và uyên thâm
Phật pháp. Cùng năm đó, Tổ Minh Vi - Mật Hạnh (trụ trì
chùa Giác Lâm) cảm thấy sức khỏe suy yếu và nhận biết
một vị Tăng trẻ như Ngài lại có nhiều nỗ lực, đầy
trách nhiệm, nên đã giao cho Ngài cùng lúc trụ trì hai chùa
Giác Viên và Giác Lâm.
Năm
1899, với trách nhiệm của mình, Ngài đã cho tiến hành trùng
tu lại ngôi chùa Giác Viên. Đây là lần trùng tu lớn nhất
trong lịch sử chùa này. Trong đó Ngài cho mở rộng mặt bằng
chùa và chỉnh trang lại chánh điện theo đúng sở nguyện
chư Tổ đời trước chưa có dịp thực hiện được.
Cũng
như các vị Tổ trong tông môn, Ngài cũng không có đệ tử
nhiều ngoài hai Ngài Như Nhu - Chơn Không và Như Phòng - Hoằng
Nghĩa. Vì thế thời gian kế tiếp Ngài đã cử Ngài Chơn Không
trụ trì chùa Giác Viên, giúp cho Ngài có thời gian lo việc
khác (Chức trụ trì nơi này khi Ngài Chơn Không tịch thì được
trao cho Ngài Như Phòng tiếp nối)(2).
Sự
kiện nổi bật trong việc hoằng đạo của Ngài là việc sao
chép kinh sách, bằng cách cho khắc bản gỗ kinh, luật và diễn
nôm một số sách Phật giáo khác. Số lượng công trình biên
tập diễn nôm và các loại sách khác do Ngài chứng minh rất
nhiều nhưng đã thất lạc cũng không ít. Hiện tại chỉ còn
lưu lại một số như bản chép tay bộ Kinh Pháp Hoa, được
chép vào năm Bính Tuất (1886) mỗi phẩm đóng thành một tập.
Năm
1880, tác phẩm bằng thơ lục bát dưới dạng chữ Nôm, tập
“Hứa Sử Vãn Truyện” cũng được Ngài cho khắc gỗ để
in lại.
Năm
1894, bộ sách Thiền Môn Trường Hàng Luật bằng chữ Hán,
được Ngài chỉnh biên tóm lược lại bằng chữ nôm và đặt
tên là TỲ NI NHỰT DỤNG YẾU LƯỢC cùng cho khắc in để
phổ biến rộng rãi.
Để
tiến hành khắc in bộ Luật nói trên cùng nhiều loại sách
khác, Ngài đã nhờ đến sự trợ lực của Ngài Đạt Lý
- Huệ Lưu (trụ trì Chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức), giúp phần
sao chép để khắc vào bản gỗ.
Với
khối lượng bề dày của mỗi quyển sách thì cũng bấy nhiêu
số lượng bản gỗ. Và như thế, ngay tại chùa Giác Viên,
Ngài cho mời các thợ khắc về ăn ở tại chùa để thực
hiện công trình.
Ngài
đã bỏ công và mạnh dạn thực hiện công trình in bộ Luật
quan trọng ấy. Ngài ý thức được rằng đó sẽ là bộ sách
giáo khoa đầu tiên ở cấp sơ học, rất cần thiết cho các
chùa ở Nam Bộ. Kết quả là đã trở thành giáo trình học
tập nơi các cuộc khảo thí của những Trường Hương, Trường
Kỳ thời bấy giờ.
Năm
1898, một số kinh chủ yếu như Nhơn Quả Thực Lục Toàn Bản,
Lăng Nghiêm Kinh Tán, Thí Thực Khoa v.v... được Ngài chứng
minh dưới bản khắc với tên Diệu Nghĩa, và diễn nôm Tống
Đàn Tăng.
Năm
1912, Ngài còn đứng ra hiệu đính cho bộ Quy Nguyên Trực Chỉ
do đệ tử là Ngài Từ Phong- Như Nhãn diễn nôm.
Trong
số kinh sách chép tay lưu lại, hiện còn thủ bút của Ngài
bằng hai câu đối. Trong đó nêu lên Pháp danh, Pháp hiệu và
tên chùa Giác Viên:
“GIÁC
ngộ đốn HOẰNG ÂN, ân mộc Như Lai thọ ký.
VIÊN
thông minh DIỆU NGHĨA, nghĩa tùng Bát Nhã nghiên cầu”.
Ngoài
việc thực hiện các công trình in khắc kinh trên, Ngài còn
dành rất nhiều thời gian du hóa khắp nơi. Bước chân Ngài
đã từng trải suốt cả đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ
Tho, Đồng Tháp, Cửu Long, An Giang, Hà Tiên v.v... Ngài đi bằng
tất cả phương tiện, có lúc phải đi bộ, kể cả trèo đèo
băng suối như khi qua vùng hiểm trở Thất Sơn. Đặc biệt,
tại Tiền Giang và An Giang, Ngài đã trụ lại một thời gian
khá dài từ năm 1905 cho đến khi viên tịch.
Trong
thời gian ở Tiền Giang, Ngài đã tu tập tại am Viên Giác,
cách chùa Bửu Lâm không xa, do đệ tử là Thiên Trường dựng.
Cũng tại nơi này, khoảng năm Ất Mùi (1895) Ngài đã đứng
ra vẽ kiểu và chứng minh cho việc xây dựng ngôi chùa Vĩnh
Tràng, một ngôi chùa lớn nhất Nam Bộ hiện nay.
Sau
khi rời Tiền Giang, Ngài đi sang một số tỉnh khác và trụ
lại chùa Tây An (Núi Sam - Châu Đốc). Đến đâu Ngài cũng
để lại niềm kính mến sâu xa trong lòng Tăng chúng và Phật
tử. Cho đến hôm nay, khi nhắc đến Ngài, Phật tử nơi này
vẫn còn gọi Ngài là “Tổ Núi Sam”. Thời gian tại chùa
Tây An, Ngài ở trong một am nhỏ sau chùa do Sư bà NHƯ THÀNH
- DIỆU DANH (3) là đệ tử của Ngài dựng nên và thường
xuyên công quả lo cơm nước cho Ngài. Tại đây, Ngài còn hai
thị giả nữa là Thiện Diệu (chùa Châu Viên) và một vị
là thư ký nên gọi là Ký Viên (chùa Pháp Võ).
Những
ngày cuối cùng, Ngài không cảm thấy đau nhức như các bậc
luống tuổi, mặc dù Ngài đã đi suốt cả một thời gian
dài như thế. Ngược lại, những ngày này Ngài càng tráng
kiện và minh mẫn hơn. Do đó, Ngài tận dụng những giây phút
hiếm hoi còn lại để khuyên nhủ các đệ tử, nhắn gởi
về Giác Lâm, Giác Viên chăm lo giữ gìn ngôi chùa Tổ v.v...
Vào
giờ Thìn, ngày 29 tháng Giêng năm Giáp Dần (1914) Ngài đã
thâu thần thị tịch tại chùa Tây An (Núi Sam - Châu Đốc)(4).
Hưởng thọ 64 tuổi. Nhục thân Ngài sau đó được đưa về
nhập tháp tại chùa Giác Lâm (Sài Gòn). Tại chùa Tây An tháp
vọng cũng được dựng lên để kính thờ Ngài.
Với
hành trạng như thế Ngài thật quả xứng đáng là người
hậu duệ đời thứ 38 dòng Lâm Tế (Bổn Ngươn) và truyền
thừa cho các đệ tử sau này như Ngài Đạt Lý - Huệ Lưu
(chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức), Như Lợi (chùa Giác Lâm), Như
Nhu - Chơn Không, Như Phòng - Hoằng Nghĩa (chùa Giác Viên), Như
Nhãn - Từ Phong (chùa Giác Hải, Q.6 - TP. HCM) và chùa Thiền
Lâm (Tây Ninh).
Chú
thích :
1)
TP. CCT - Thanh Giang - NXB TP. HCM 1980.
2)
Sau đó, Ngài lập một am trong khuôn viên chùa Giác Lâm (vị
trí là bót Nguyễn văn Cự sau này) đó là am Giác Đế ( PTS
Trần Hồng Liên).
3)
Ảnh và bàn thờ Sư Bà hiện đặt tại chùa Thới Hòa (Gò
Vấp).
4)
Có ý kiến cho rằng Ngài tịch tại am Viên Giác (PTS Trần
Hồng Liên).