TỔ
BỒ ĐỀ
THÍCH
NGUYÊN BIỂU
(1836
- 1906)
Hòa
thượng họ Phạm, pháp danh Thích Nguyên Biểu, hiệu Nhất
Thiết, sinh năm Bính Thân (1836) triều vua Minh Mạng thứ 17
tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thân phụ là Phạm tướng
công, húy Quang Tự, hiệu Trung Tín, tự Khoan Bình. Thân mẫu
là cụ bà Trần thị Ngọc, hiệu Từ Niệm. Ngài thuộc dòng
ba đời khoa bảng.
Ngay
từ nhỏ Ngài đã mến mộ đạo Phật, nên sớm được gia
đình cho xuất gia đầu Phật, Ngài được thế phát quy y tại
Tổ đình Phù Lãng ở Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh.
Bấy
giờ Tổ đình Vĩnh Nghiêm ở xã Đức La, huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang, nay là xã Trí Yên, tỉnh Hà Bắc, là trung
tâm Phật giáo của phái Trúc Lâm tại miền Bắc, có Hòa thượng
Tâm Viên là vị cao Tăng tinh thâm kinh điển, đạo hạnh cao
dày, an trụ thuyết giảng Phật pháp. Tăng tục khắp nơi quy
về tu học rất đông. Năm 17 tuổi, Ngài được Bổn sư chùa
Phù Lãng cho sang đây tham học và thọ Sa Di giới. Năm 20 tuổi
(1855) Ngài được thọ Cụ Túc giới cũng tại chùa Vĩnh Nghiêm
với Tổ Tâm Viên.
Sau
khi được giới châu viên mãn, Ngài ở lại “phụng Phật
sự Sư” thêm 5 năm nữa, tại đây lo sớm tối tu học, giới
luật nghiêm thân. Chính trong thời gian này, Ngài đã thay mặt
nghiệp sư dìu dắt sư đệ Thích Thanh Hanh từ chùa Hòe Nhai
được gửi về đây tham học. Hòa thượng Thanh Hanh sau này
là Thiền gia Pháp chủ của Hội Bắc Kỳ Phật học.
Khi
lực học đã khả kham, Ngài được nghiệp sư cho xuất viện
đi hoằng pháp các nơi. Bước đầu du hóa, Ngài tới vùng
đông du thuyết pháp độ sinh, rồi qua trú trì chùa Hạ Lôi
ở huyện An Lãng, tỉnh Phúc Yên. Tại nơi đây, Ngài đã đào
tạo được nhiều đệ tử danh tiếng đương thời như Hòa
thượng Trung Hậu, Hòa thượng Thông Toàn là vị trú trì đệ
tứ tại chùa Bà Đá (Linh Quang Tự) ở Hà Nội.
Năm
1874, Ngài vừa 38 tuổi, nhân trong cuộc du hóa truyền giáo
ở vùng Gia Lâm, Ngài tới bến Bồ Đề trên bờ sông Hồng
nhìn qua bên kia thành Thăng Long. Nhận thấy nơi đây cảnh
trí thiên nhiên thanh nhã, địa danh Bồ Đề lại đồng danh
với quả vị mà mọi người tu Phật đều mong đạt tới.
Vả lại đây cũng là dinh cũ của vua Lê trong những ngày kháng
chiến chống quân Minh. Thật là một nơi địa linh, đáng có
một ngôi Tam Bảo để hoằng dương chánh pháp, cứu độ chúng
sinh. Do đó, Ngài quyết định ở lại, tự mình khai sơn phá
thạch, dựng lên ngôi chùa đặt tên là Thiên Sơn Cổ Tích
Tự. Nhưng vì chùa nằm trên bến Bồ Đề nên tứ chúng thường
gọi là chùa Bồ Đề.
Sau
khi xây xong chánh diện và giảng đường, Ngài liền khai tràng
thuyết pháp, thu nạp đệ tử tiếp chúng độ nhân. Tăng tục
lui tới tham học nghe pháp rất đông. Chùa Bồ Đề trở nên
một đạo tràng sầm uất nơi cố đô Thăng Long. Trong số
đệ tử của Ngài, nhiều vị đã trở thành các bậc lương
đống trong các Tổ đình trên miền Bắc, cả về học thức
lẫn đạo hạnh như Tổ Quảng Gia, Tổ Quảng Yên ở chùa
Bồ Đề, Tổ Phổ Tụ ở chùa Tế Xuyên, Tổ Doãn Hài ở
chùa Tế Cát, Tổ Thanh Khải ở chùa Đa Bảo.
Suốt
ba thập kỷ trú trì Thiên Sơn Cổ Tích Tự từ ngày sáng lập
cho đến ngày thị tịch, Ngài đã để công tô điểm cho ngôi
chùa trở thành một tùng lâm quy mô với chánh điện, giảng
đường, trai đường, pháp đường. Cũng trong thời gian này
Ngài còn cho khắc ván in bộ kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, luật
Tứ Phần, các sách Lược Ký Ni, Thụ Giới Nghi Phạm, Nhật
Tụng Bồ Đề (2 tập).
Ngày
mồng 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (1906) Ngài không ốm đau gì cả
mà an nhiên thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi đời, 50 tuổi
hạ.
Hòa
thượng Thích Nguyên Biểu là một vị cao Tăng đã có công
khai sơn Tổ đình Bồ Đề Thiên Sơn, đào tạo nhiều Tăng
tài làm hạt giống cho phong trào chấn hưng Phật giáo trên
miền Bắc. Tuy Ngài không còn trụ thế khi phong trào được
phát động, nhưng sư đệ của Ngài như Hòa thượng Thanh Hanh,
đệ tử của Ngài như Hòa thượng Trung Hậu, sư điệt của
Ngài như Hòa thượng Trí Hải, Hòa thượng Tâm Tịch đều
là những cây đại thụ của phong trào. Chùa Bồ Đề của
Ngài là một trong hai Phật học đường Trung học Phật giáo
đầu tiên của miền Bắc.