Cố
Hòa thượng (HT) Thích Thiện Hoa nguyên Viện trưởng Viện
Hóa đạo GHPGVNTN (1966-1973), Phó Chủ tịch Ủy ban Liên phái
bảo vệ Phật giáo (1963), là một cao tăng tòng lâm thạch
trụ . Ngài trụ thế tuy không lâu, hạ lạp tuy không nhiều
nhưng đã để lại một sự nghiệp to lớn, một tấm gương
sáng ngời quý báu cho hàng hậu tấn, nhất là trong sự nghiệp
giáo dục , hoằng pháp lợi sanh . Nhân ngày giỗ lần thứ
27 của cố Hoà Thượng (20.12 Nhâm Ty - 20.12 Kỷ Mão) ,chúng
tôi xin ghi lại đôi hàng tưởng niệm qua một số lời kể
của HT Thích Thanh Từ, thành viên HÐCM GHPGVN, Viện trưởng
thiền viện Trúc Lâm- Ðà Lạt, là trưởng tử của cố HT
Thích Thiện Hoa.
Bửu
Ðại lược ghi.
Hôm
nay nhân ngày giỗ của cố HT Thích Thiện Hoa, tôi xin tóm lược
vài trang tiểu sử cho Tăng Ni và Phật tử nhớ lại đôi nét
về hình ảnh cao quý của người xưa để chúng ta cố gắng
học hỏi, noi theo ; làm thế nào để xứng đáng là con cháu
trong nhà, xứng đáng là người kế thừa chánh pháp.
Thời
thơ ấu : Hòa thượng pháp danh Thích Thiện Hoa, hiệu Hoàn
Tuyên , sinh ngày mùng 7 tháng 8 năm Mậu Ngọ(1918) tại làng
Tân Quy , huyện Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ. Ngài được quy y từ
thưở ấu thơ nên lấy pháp danh Thiện Hoa làm tục danh, húy
là Trần Thiện Hoa. Thân phụ là cụ Trần văn Thế, PD Thiện
Huệ, cụ ông qua đời lúc 53 tuổi, khi ấy Ngài vừa được
6 tuổi . Thân mẫu húy Nguyễn thị Sáu, PD Diệu Tịnh, thọ
90 tuổi, tịch ngày 19.8 Ðinh Mùi (1967). Toàn thể gia đình
được quy y với Tổ Chí Thiền ở chùa Phi Lai, Châu Ðốc.
PD Thiện Hoa là do Tổ đặt.
Thời
kỳ học đạo.
Năm
lên 7 tuổi, HT cầu pháp với Tổ Khánh Anh được hiệu là
Hoàn Tuyên, từ đó Tổ đi dạy ở đâu, Ngài cũng đều được
Tổ cho đi đến đó để học tập . Từ chùa Ðông Phước
đi khắp nơi, sau cùng là chùa Long An . Năm 1931, Tổ Khánh Anh
lãnh chùa Long An ở Ðồng Ðế- Trà Ôn và khai lớp gia giáo
nơi đây. Năm ấy HT đã 14 tuổi, Ngài được nhập chúng tu
học tại chùa này 3 năm . Ðầu hạ 1935, Phật học đường
Lưỡng Xuyên khai giảng , HT xin nhập học tại đây và thọ
giới Sa di, lúc ấy HT được 17 tuổi. 1938, Ngài ra Huế học
tại Phật học đường Tây Thiên 2 năm, kế đến vào chùa
Long Khánh - Quy Nhơn xin cầu học với Tổ Phước Huệ( chùa
Thập Tháp) hết 1 năm . Xong HT trở lại Huế học ở Phật
học đường Báo Quốc 4 năm rồi đến tòng lâm Kim Sơn 1 năm
.1945, sau 8 năm tu học HT trở về miền Nam , Ngài cùng HT Trí
Tịnh khai giảng Phật học đường Phật Quang tại rạch Bang
Chang( Trà Ôn), số Tăng sinh trên 30 vị. Năm 29 tuổi HT thọ
giới Tỳ Kheo và Bồ tát giới tại giới đàn chùa Kim Huê,
Sa Ðéc. Năm 1946_1947, Phật học đường Nam Việt bị lung lay
vì một số Tăng sinh tham gia phong trào chống Pháp cứu nước
. Trước tình cảnh chiến tranh, một số Tăng sĩ cởi áo cà
sa khoác chiến bào ; khi ấy HT Trí Tịnh quyết định trở
lên Sài Gòn , còn lại một mình HT ở lại vừa lo dạy học,
vừa lo đối phó với hoàn cảnh khó khăn, HT mở lớp dạy
trẻ con do Tăng ni sinh đảm trách , mở trạm y tế để giúp
đỡ đồng bào địa phương . Mỗi ngày Tăng chúng làm buổi
sáng làm công tác chích thuốc và dạy học, buổi chiều tất
cả vào lớp kinh điển . HT lại mở lớp bình dân xóa nạn
mù chữ , dạy vào ban đêm , lớp học này chỉ hoạt động
trong vòng một tháng là học trò biết đọc và viết được.
Sở dĩ có kết quả nhanh chóng ấy là do HT có sáng kiến soạn
tập sách Vần chữ O. Ðích thân HT chích thuốc , dạy học
đời , dạy học đạo thế mà HT vẫn cảm thấy chưa đủ
. Ngài xoay qua học chẩn mạch, cho toa Ðông y. HT dạy học
chúng rằng:"Chúng ta cần đem Tứ nhiếp pháp và Ngũ minh để
giáo hoá chúng sinh , nhất là trong hoàn cảnh này". Ở đây,
tôi giải thích thêm: bởi vì năm 1945 tại Trà Ôân đã có
một buổi họp thành lập Mặt trận Việt Minh , lúc đó HT
nhận lời mời làm Uûy viên giáo dục , chuyên trách bình dân
học vụ( cho nên Ngài tìm tòi soạn sách Vần chữ O để làm
giáo án dạy cho đồng bào mù chữ trong huyện).
HT
là người vừa lo cho chúng Tăng có nơi tu học , vừa lo công
tác từ thiện xã hội , giúp cho người dân mở mang kiến
thức , đồng thời cũng giúp cho đồng bào địa phương đau
yếu có nơi nương tựa. Chúng tôi còn nhớ rõ năm 1949 ở
chùa Phật Quang, HT lo chích thuốc xem mạch cho dân cũng như
ngay cả một số cán bộ Việt Minh bị bệnh hoạn cũng được
HT bảo bọc, chăm lo ; muốn chích thuốc tây hoặc uống thuốc
bắc HT đều tận tâm săn sóc chu đáo . Lúc ấy tại chùa
Phật Quang có 3 lớp học 1,2,3 dạy cho trẻ con và HT cũng nhận
nuôi 30 trẻ do cha mẹ bận đi tham gia kháng chiến, mà chúng
tôi là một trong số người được HT giao cho dạy dỗ . Tuy
ở tại chùa nhưng HT không chỉ chu tất việc đạo mà còn
giúp ích cho đời một cách cụ thể và nhiệt tình.
Khoảng
năm 1951 , tôi còn nhớ giặc Pháp dùng 2 chiếc phi cơ bắn
phá tại chùa Phật Quang ngót 2 giờ liền . Trong chùa người
lớn , trẻ nhỏ có khoảng 200 , nhưng chỉ có một ni cô bị
thương được đưa tới Cần Thơ thì mất . Trước tình cảnh
đó, 1952 HT cho dời Tăng chúng và học sinh ra chùa Phước Hậu
; cũng trong năm này HT Thiện Hoà xuống thăm và mời HT về
Sài Gòn hợp tác ở Phật học đường Nam Việt ( chùa Aán
Quang) 1953 HT và chúng tôi lên Sài Gòn , Ngài được quý HT
cử làm Trưởng ban Hoằng Pháp GH Tăng Già Nam Việt , Trưởng
ban Giáo dục Tăng Già NV , kiêm Ðốc giáo Phật học đường
NV . Từ đó HT phát huy con đường giáo dục của Ngài ? nhưng
với bản hoài của HT , Ngài nghĩ rằng : Trước đây kinh sách
được chư tôn đức giảng dạy cho Tăng Ni Phật tử đều
bằng Hán văn . Nhất là HT rất tâm đắc với lối giảng
dạy Phật pháp bằng tinh thần khoa học của cụ Tâm Minh -
Lê Ðình Thám , nên HT tâm niệm phải soạn thảo ra một chương
trình học Phật phổ cập bằng Việt ngữ để cho Tăng ni
và Phật tử dễ dàng tiếp thu giáo lý. Năm 1965 , HT soạn
xong 12 khóa Phật học phổ thông (Cây thang giáo lý) ,Bản đồ
tu Phật 10 tập , Duy thức học 6 tập , 8 quyển sách quý ,
Bài học ngàn vàng, Tu tâm , Dưỡng tánh, Nhân quả, Luân hồi,
Ngũ đình tâm quán , Tứ diệu đế, Từ bi trong đạo Phật,
chữ Hoà trong đạo Phật và 5 yếu tố hòa bình?Về phiên
dịch HT đã dịch kinh Kim Cang, Ðại cương kinh Lăng Nghiêm
, Kinh Viên Giác , Tâm kinh, Luận Ðại thừa khởi tín , Nhân
minh luận?HT chủ trương một Phật học tùng thư phân làm
8 loại : Phật học phổ thông , Bản đồ tu Phật , Duy thức
học , Phật học giáo khoa các trường Bồ Ðề , Giáo lý dạy
GÐPT , Nghi thức tụng niệm , Tạp luận , Sự tích ? gồm 80
quyển các loại .
Thời
kỳ lãnh đạo
Thời
pháp nạn 1963 , HT tích cực tranh đấu cho đạo pháp . Ngài
lãnh chức Phó chủ tịch Uûy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo
. Với uy tín sẵn có , HT đã kêu gọi Tăng tín đồ miền
Nam đứng lên bảo vệ đạo pháp và đã được mọi người
ủng hộ nồng nhiệt . Trong đêm 20.8.1963 , HT cùng một số
chư tôn đức bị bắt đưa vào khám đường . Sau khi tranh
đấu thành công , năm 1964 GHPGVNTN ra đời , nhiệm kỳ I của
Viện Hóa Ðạo , HT nhận chức Phó viện trưởng , kế đến
nhận chức trụ trì Việt Nam Quốc Tự . Năm 1966, HT đảm
nhận chức Viện trưởng Viện Hoá đạo. Trong thời kỳ này
con thuyền Phật giáo Việt Nam
gặp
nhiều sóng gió , thế nhưng HT vẫn nắm vững tay lái hướng
theo con đường bảo vệ đạo pháp và cứu dân cứu nước
? lấy sự tồn tại của đạo pháp trong sự tồn tại của
dân tộc và nhân loại tiến bộ làm ngọn hải đăng .
Viên
tịch
HT
khởi bệnh từ tối 17.11 năm Nhâm Tý (1973) sau ngày vía Ðức
Phật A Di Ðà . Hôm ấy HT Thiện Hòa đi vắng , nên buổi sáng
Ngài làm chủ lễ và truyền Tam quy ngũ giới cho Phật tử
. Bởi trong mình có sẵn bệnh lại thêm sự nhọc nhằn , nên
HT ngã bệnh và được đưa vào bệnh viện Ðồn Ðất . Bất
thần ngày 17.12 Âl , HT trở bệnh nặng ? tuy được y bác sĩ
tận tình săn sóc nhưng bệnh tình mỗi ngày càng thấy đáng
lo. Ðến đêm 19.12 Âl , HT thấy mệt , biết không qua khỏi
nên HT gọi các môn đồ đến bảo :" Các con niệm Phật cho
Thầy vãng sanh , Thầy mệt quá rồi !" Từ lúc ấy tiếng niệm
Phật đều đều vang lên khắp phòng hồi sức , HT lặng lẽ
dần dần tới 6 giờ 5phút , HT thở một hơi dài rồi im lặng
theo Phật . HT viên tịch vào sáng ngày 20 tháng chạp năm Nhâm
Tý (1973) thọ 55 tuổi đời , được 26 hạ lạp . Ðây là
những hình ảnh xúc động cuối cùng mà chúng tôi được
chứng kiến . Cho nên Tăng ni và Phật tử có thương kính người
quá cố thì không gì hơn là chúng ta phải học tập theo tấm
gương cao quý đó để tu học cho có kết quả , hầu đem lại
lợi lạc cho mọi người và không cô phụ công ơn của Thầy
, của Tổ .
Source:
Tuần báo GIÁC NGỘ
Trở
Về Mục Lục Danh Tăng Tập I