LỜI GIỚI THIỆU
Viện
Tăng Thống kính gởi đến toàn thể Tăng Ni Phật tử Việt
Nam, cùng đồng bào trong và ngoài nước, bản Tiểu sử cố
Ðại Lão Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu, Chánh Thư ký kiêm Xử
lý Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
từ PL. 2522-2530 (1978-1992). Tiểu sử được viết dưới dạng
niên biểu, do các đệ tử của Ngài kể, vào những ngày cuối
cùng của đời Ngài.
Ðối
với đồng bào, trong và ngoài nước, bản niên biểu này không
chỉ là tiểu sử của một vị Cao Tăng của Phật giáo Việt
Nam mà còn là tấm gương phản chiếu để các thế hệ hiện
tại, và nhiều thế hệ tương lai, nhìn thấy trong đó những
bước thăng trầm, vinh nhục của dân tộc qua những khúc quanh
lịch sử nghiêm trọng đầy nguy hiểm, những lựa chọn sáng
suốt hay sai lầm đã và sẽ đưa đất nước chìm đắm trong
tối tăm, nghèo nàn, lạc hậu; hay
tiến
lên ngang tầm thời đại văn minh của loài người giàu nhân
ái, bao dung, khát khao tự do, như là những điều kiện tất
yếu để tự khẳng định và thể hiện giá trị nhân bản
của từng cá nhân.
Ðối
với Phật Tử Việt nam, đây là tiểu sử hóa thân Bồ tát
đã hiến thân cho đời, dấn bước trên những đoạn đường
dẫy đầy ma chướng, gánh chịu vô vàn thống khổ của nhân
sinh. Chiếc áo nâu sòng thấm màu đất khổ, lặn lội suốt
dãy Trường Sơn, trong bom đạn của một cuộc chiến huynh
đệ tương tàn; nhẫn nhục bằng tất cả sức mạnh vô úy
dưới áp lực khống chế của bạo lực chuyên chính. Uy vũ
không khuất phục. Danh vọng không thể quyến rũ. Quyền lực
thế gian chỉ là tập hợp của khối cộng nghiệp đen tối.
Chân lý mầu nhiệm của pháp tính là niềm không lay chuyển.
Ánh sáng trí tuệ phát sinh từ tư duy quán chiếu là ngọn
đuốc soi đường. Bi nguyện là nguồn năng lượng không hề
vơi cạn để vượt qua sa mạc sinh tử mênh mông. Ðấy là
tất cả giá trị nhân bản hàm tàng nội dung Phật tính dựng
lên hình ảnh của bậc đại nhân, là vị Lãnh đạo tinh thần
cao cả của Phật Giáo Việt nam, đã hướng dẫn Phật tử
học đạo và hành đạo đúng theo chánh Pháp, chỉ rõ ý nghĩa
chân thật của lẽ sống, phân biệt rõ ràng đường
tà, nẻo chánh, để Phật tử Việt nam sống và hành động
chân chính, thể hiện phẩm chất trong sáng, thuần tịnh của
người Phật tử, hành đạo vì ích lợi cho mình và cho mọi
người, trong dời này và đời sau.
Ðối
với Tăng Ni Việt Nam, cuộc đời đạo hạnh và hy sinh của
Ngài là nhân cách lý tưởng luôn luôn được chiêm ngưỡng
và noi theo. Ðó là nhân cách và khi dấn thân vào chợ đời
trược loạn nhưng tâm tư không hề bị ô nhiễm và nhiễu
loạn; khi bị vây khốn trong vòng vây quyền lực thế gian
nhưng vẫn an nhiên tự tại tiến bước theo đường hướng
đã tự mình chọnï lựa, mặc dù con đường chênh vênh giữa
sống và chết, vinh và nhục. Ðó là bậc
Thượng
sỹ xuất trần mà vẫn không bỏ rơi trần gian khổ lụy,
Ngài đã dày công kết dệt sợi dây điều ngự của Ba-la-đề-mộc-xoa,
làm giềng mối cho Tăng luân; duy trì và quảng diễn Tì-ni
tạng để cho mạng mạch của Chánh pháp trường tồn.
Thế
gian có thành, có hoại; triều đại có hưng có phế; hóa sinh
của Bồ tát có sinh có diệt. Nhưng tâm nguyện của bậc Ðại
Sỹ như hư không, chẳng hề giao động, và không có chỗ tận
cùng. Nguyện cho gương sáng của Ngài mãi mãi được ngời
sáng trong ánh sáng từ bi và trí tuệ mười phương Chư Phật,
Bồ tát, vô lượng Thánh chúng.
Nghĩa
Hành, ngày 20 tháng 7 năm Canh Thìn,
Nhằm
ngày 19 tháng 8 Tây lịch 2000
Xử
lý Thường vụ Viện Tăng Thống
Tỳ
kheo Thích Huyền Quang (ấn ký)
NIÊN BIỂU
ÐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH ÐÔN HẬU
Chánh
Thư ký, Xử lý Viện Tăng Thống
Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Ất
Tỵ, 1905: Hòa Thượng sinh giờ Tý (từ 23 giờ đến 1 giờ),
ngày Hợi, 13 tháng Giêng (16-02 dương lịch), niên hiệu Thành
Thái năm thứ 17, tại làng Xuân an, tổng An Ðôn, phủ Triệu
phong, tỉnh Quảng Trị.
Canh
Tuất, 1910: Bắt đầu học chữ Hán với cụ đồ Nho trong
làng.
Giáp
Dần, 1914: Thân mẫu mất, Hòa thương thọ tang mẹ lúc lên
9 tuổi.
Bính
Thìn, 1916: Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh về thăm nhà, ghé
thăm thân phụ Hòa thượng và đoán tướng cho Hòa thượng
năm lên 11 tuổi.
Ðinh
Tỵ, 1917: Hòa thượng vừa học chữ Hán với các sĩ phu, vừa
được thân phụ cho lên trường huyện học thêm chữ Quốc
ngữ.
Tân
Dậu, 1921: Ðậu bằng tiểu học (Certificat d’études primaires)
chương trình Pháp Việt.
Nhâm
Tuất, 1922: Ngày 19.9 âm lịch (tức 07.11 dương lịch), niên
hiệu Khải Ðịnh năm thứ 8, Hòa thượng xuất gia, vào chùa
Tây Thiên đầu sư với Tổ khai sơn Thanh Ninh Tâm Tịnh. Năm
đó Hòa thượng lên 17 tuổi (tính tròn 17 năm 8 tháng 22 ngày).
Qúy
Hợi, 1923: Ngày 10.6 âm lịch (tức 23.7 dương lịch), Hòa thượng
thọ Sa di giới tại giới đàn Thuyền tôn, Huế, được Bổn
sư đặt pháp danh TRÙNG NGUYÊN, pháp hiệu ÐÔN HẬU.
Giáp
Tý, 1924: Ngày 15.6 âm lịch (tức 16.7 dương lịch), niên hiệu
Khải Ðịnh năm thứ 9, Hòa thượng thọ Tam đàn Cụ túc giới
tại Ðại giới đàn chùa Từ Hiếu, Huế.
Bính
Dần, 1926: Ngày 06 tháng 3 âm lịch (tức 17.4 dương lịch),
Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh viên tich. Sau lễ chung thất
Bổn sư, Hòa thượng được nhị vị pháp huynh, là Hòa Thượng
Trừng Văn Giác Nguyên và Trừng Thùy Giác Nhiên, gởi qua chùa
Thệ Ða Lâm (tức chùa Hồng Khê ngày nay) tiếp tục tu học
với pháp huynh là Hòa thượng Trừng Huệ Giác Viên.
Ðinh
Mão, 1927: Hòa thượng lại được Hòa thượng Trừng Huệ
Giác Viên gởi vào chùa Thập Tháp, ( tỉnh Bình Ðịnh) tham
học với Hòa thượng Quốc sư Phước Huệ.
Nhâm
Thân, 1932: Sau 5 năm chuyên cần theo học chùa Thập Tháp, Hòa
thượng trở về Huế và được An Nam Phật học Hội mời
vào làm giảng sư nòng cốt của hội.
Giáp
Tuất, 1934: Hòa thượng bắt đầu công việc trước tác và
biên soạn. Bài đầu tiên Hòa thượng biên soạn là bài “Giảng
Giải Danh Từ Phật”, giảng tại Hội quán Phật học Hội,
chùa Từ Quang, Huế, ngày 15.1 và sau đó đăng trên tạp chí
Viên AÂm, cơ quan hoằng pháp của An Nam Phật học Hội, số
14 năm 1935.
Ất
Hợi, 1935: An Nam Phật học Hôi bắt đầu khai giảng Phật
học viện với 3 trường Sơ đẳng, Trung đẳng, và Cao đẳng
tại chùa Tây Thiên. Hòa thượng tiếp tục học chương trình
Cao đẳng. Vừa học Cao đẳng, vừa được mời dạy cho các
lớp học sinh trường Trung đẳng của Viện.
Bính
Tý, 1936: Hòa thượng biên soạn bài “Chánh Tín và Mê Tín”,
giảng tại Hội quán Phật học Hội, chùa Từ Quang, Huế
vào 05.5 dương lịch, đăng trên tạp chí Viên AÂm số 20, năm
thứ 2, tháng 3 và 4. Hòa thượng phỏng thuật theo Kinh Pháp
Cú “Chuyện Nàng Liên Hoa”, đăng trên tạp chí Viên Âm số
21, năm thứ 2, số tháng 5 và 6.
Ðinh
Sửu, 1937: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Ðâu Là Con Ðường
Hạnh Phúc”, đăng trên tạp chí Viên AÂm số 27 và 28.
Mậu
Dần, 1938: Hòa thượng tốt nghiệp văn bằng Ðại học Phật
giáo với hạng ưu. Hòa thượng được An Nam Phật học Hội
cử đi thuyết pháp tại Ðà Nẵng, Quảng Nam, khắp 17 tỉnh
miền Trung và một số tỉnh ở miền Nam.
Canh
Thìn, 1940: Hội Phật tử Việt kiều tại Savanakhet, Vương
quốc Lào, mời Hòa thượng sang dự lễ khánh thành chùa Diệu
Giác và thuyết pháp.
Nhâm
Ngọ, 1942: Hội Phật tử Việt kiều tại Savanakhet, Vương
quốc Lào, lại mời Hòa thượng sang thuyết pháp. Lần nầy
Hòa thượng có dịp diện kiến Ðức Vua Sãi tại thủ phủ
Vạn tượng.
Ất
Dậu, 1945: An Nam Phật học Hội đổi danh hiệu thành Việt
Nam Phật học Hội. Ðại hội đồng thường niên năm thứ
XIII công cử Hòa thượng giữ chức vụ Chánh Hội trưởng
Việt Nam Phật học Hội, thay thế Bác sĩ Lê Ðình Thám. Hội
đồng Sôn môn Tăng già công cử Hòa thượng lên trú trì chùa
Linh Mụ.
Bính
Tuất, 1946: Ðại hội bất thường của các Hội đoàn Phật
giáo miền Trung mời Hòa thượng kiêm nhiệm chức vụ Chủ
tịch Hội Phật giáo Liên hiệp Trung bộ.
Ðinh
Hợi, 1947: Hòa thượng tháp tùng nhị vị Hòa thượng Trừng
Văn Giác Nguyên và Trừng Thùy Giác Nhiên chạy tản cư về
làng An Xuân. Tại đây, Hòa thượng bị thực dân Pháp bắt
giam 3 ngày rồi thả. Trở về chùa Linh Mụ một thời gian
ngắn, Hòa thượng lại bị thực dân Pháp bắt. Lần nầy,
Hòa thượng bị tra trấn dã man trên 10 ngày, rồi bị bắt
tự mình đào huyệt để bắn mà chôn. Hòa thượng an nhiên
tự tại vừa đào huyệt, vừa trì chú Ðại Bi. Nhờ có Sư
bà Tâm Hảo Diệu Không và Cư sĩ Tâm Huệ Tráng Ðinh can thiệp
kịp thời với bà Hoàng Thái hậu Từ Cung và Hoàng hậu Nam
Phương, nên được trả tự do vào giờ phút sắp bị đưa
ra hành hình.
Cũng
trong năm nầy, sau khi dân chúng Huế hồi cư, Hòa thượng bắt
đầu lo việc đại trùng tu chùa Linh Mụ lần thứ nhất.
Mậu
Tý, 1948: Ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch, kỷ niệm Ðức Phật
Thích Ca xuất gia, cũng là ngày Phật học đường Báo Quốc
và Ni viện Diệu Ðức tái khai giảng, Hòa thượng được
mời làm Giáo thọ cho cả hai trường. Hòa thượng lại luân
chuyển đảm nhận các chức vụ quan trọng như Yết ma, Giáo
thọ, Tuyên luật sư trong các Ðại giới đàn được tổ chức
tại các chùa Báo Quốc, Từ Hiếu, Huế; chùa Long Sơn, Nha
Trang; chùa Ấn Quang, Sài
Gòn.
Canh
Dần, 1950: Vì có nhiều Phật sự quan trọng rất cần đến
Hòa thượng, nên Ðại hội đồng thường niên lần thứ XIX
đã công cử Cư sĩ Chơn An Lê Văn Ðịnh lên giữ chức Chánh
Hội trưởng Hội Việt Nam Phật học thay thế Hòa thượng.
Hòa thượng lên đảm nhận trọng trách Cố vấn Giáo hạnh.
Hòa thượng biên sọan bài “Ý Nghĩa Ngày Từ Thiện Phật
Giáo”, giảng giải tại nhà Ðại chúng, Huế, hôm 4.4 âm
lịch.
Tân
Mão, 1951: Hòa thượng là thành viên Ban Tổ chức Ðại hội
Thống nhất Phật giáo Việt Nam gồm 6 tập đoàn Tăng già
vá Cư sĩ thuộc ba miền Bắc – Trung – Nam Việt Nam, họp
tại chùa Từ Ðàm, Huế. Ðại hội Giáo hội Tăng già Trung
Việt công cử Hòa thượng lên giữ chức Giám luật Giáo hội
Tăng già Trung Việt.
Nhâm
Thìn, 1952: Ðại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc họp tại
chùa Quán Sứ, Hà Nội, công cử Hòa thượng lên chức vụ
Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc.
Bính
Thân, 1956: Hòa thượng sáng lập và làm Chủ nhiệm Liên Hoa
Văn Tập, cơ quan hoằng pháp của Giáo hội Tăng già Trung phần,
tòa soạn đặt tại Huế. Hòa thượng cùng với Hòa thượng
Tâm Phật Thiện Siêu trích dịch và biên soạn bộ “Nghi Tụng
Giới của Tại Gia Bồ Tát”, Giáo hội Tăng già Trung phần
ấn hành. Hòa thượng viết bài “Ðịnh Hướng” đăng trên
Liên Hoa Văn Tập số 2; và bài “Nhiệm Vụ Phật Tử Trước
Tình Thế Hiện Tại”
đăng
trên Liên Hoa Văn Tập bộ mới, số 6.
Ðinh
Dậu, 1957: Hòa thượng lo việc đại trùng tu chùa Linh Mụ
lần thứ hai. Ðây là lần trùng tu có tính quy mô và bền
bỉ nên Hòa thượng cho thay thế cột kèo, đòn tay gỗ bằng
bê tông cốt thép rất kiên cố, hóa trang như gỗ, nhờ thế
vẫn giữ các đường nét mỹ thuật của kiến trúc Á đông
cổ.
Mậu
Tuất, 1958: Liên Hoa Văn Tập đổi tên ra Liên Hoa Nguyệt San,
nâng lên thành cơ quan Hoằng pháp của Giáo hội Tăng già toàn
quốc. Hòa thượng vẫn giữ trọng trách Chủ nhiệm. Hòa thượng
viết bài “Kiểm Ðiểm” đăng trên Liên Hoa Nguyệt San số
1. Hòa thượng viết lời giới thiệu cho tác phẩm “Thảo
Luận Với Bác Sĩ Ba-khắc-sum” do Thượng tọa Nguyên Tánh
Ðức Tâm dịch, tòa soạn Liên Hoa Nguyệt San ấn hành.
Kỷ
Hợi, 1959: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Nhiệm Vụ Cần
Thiết của Một Phật Tử”; viết bài “Tôn Ý” đăng trong
tập Kỷ yếu của Ðại hội kỳ II Giáo hội Tăng già toàn
quốc họp tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
Canh
Tý, 1960: Hòa thượng viết bài “Cảm Ứng Tự Nhiên” đăng
trong đặc san kỷ niệm Ðức Quán Thế AÂm Bồ tát, ngày 19.9
âm lịch, tại chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Hòa thượng biên
soạn tác phẩm “Tứ Nhiếp Pháp”, nhà xuất bản Liên Hoa
ấn hành.
Tân
Sửu, 1961: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Cách Thức Sám
Hối Các Tội Ðã Phạm”, do Giáo hội Tăng già Trung phần
ấn hành.
Nhâm
Dần, 1962: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Phương Pháp
Tu Quán”, do Giáo hội Tăng già Trung phần ấn hành.
Qúy
Mão, 1963: Hòa thượng là thành viên Ban lãnh đạo Phong trào
tranh đấu của Phật giáo Việt Nam chống chính sách kỳ thị
tôn giáo của chính quyền Ngô đình Diệm.
Nhận
giáo chỉ của Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo
Việt Nam, Trừng Thông Tịnh Khiết, Hòa thượng ra chỉ đạo
cuộc tranh đấu tại tỉnh Quảng Trị. Sau đó, trở về Huế
chỉ đạo phong trào tranh đấu ở chùa Diệu Ðế. Ðêm 20.8
dương lịch, chính quyền Ngô Ðình Diệm tấn công chùa Diệu
Ðế, bắt Hòa thương về giam tại Ty Cảnh sát Thừa Thiên.
Nhờ sự trầm tĩnh và khôn khéo cùng sự hỗ trợ của Phật
giáo đồ Huế, nên một thời gian ngắn Hòa thượng cùng nhiều
Hòa thượng, Thượng tọa khác được trả tự do. Sau đó,
Hòathượng bị bệnh dạ dày nên phải vào điều trị ở
bệnh viện Ngô Quyền, Huế.
Hòa
thượng viết đơn xin tự thiêu để cúng dường Phật Pháp,
nhưng không thực hiện được đại nguyện, vì nhị vị Sư
bà Tâm Luân Thể Quán và Tâm Ðịnh Cát Tường đã cung kính
đảnh lễ xin Hòa thượng không nên thực hiện ý định ấy,
vì sẽ mất đi một người lãnh đạo trong lúc Phật giáo
đang ở vào giai đoạn cam go và quyết liệt như sợi chỉ
mành treo chuông.
Hòa
thượng tiếp xúc và phê bình sự sai trái của “Uûy ban Phật
giáo thuần túy”, do chính quyền Ngô Ðình Diệm dựng lên
với mưu đồ ly gián và làm suy yếu cuộc đấu tranh của
Phật giáo.
Hòa
thượng tiếp kiến và trả lời những câu hỏi của phái
đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tại khách sạn Thuận Hóa,
Huế (nay là khách sạn Hương Giang
1)
về việc chính quyền Ngô Ðình Diệm đàn áp dã man Phật
giáo đồ Việt Nam.
Ngày
3.11 dương lịch, sau khi chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm
bị lật đổ, nhân danh Giám luật Giáo hội Tăng già toàn
quốc, Hòa thượng gởi “Lời kêu gọi” khẩn thiết đến
chư Tăng Ni và Phật giáo đồ trên toàn quốc.
Giáp
Thìn, 1964: Ngày 30.12 dương lịch, Hòa thượng tham dự Ðại
hội nghị của 11 giáo phái và Hội đoàn Phật giáo Việt
Nam, tổ chức tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn, để thành lập Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ðại hội công cử Hòa
thượng vào chức vụ Chánh Ðại diện Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất tỉnh Thừa Thiên.
Ất
Tỵ, 1965: Hòa thượng làm Yết ma cho Ðại giới đàn Vạn
Hạnh, tổ chức tại chùa Từ Hiếu, Huế, quy tụ 1000 giới
tử.
Bính
Ngọ, 1966: Nhân danh Chánh Ðại diện Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất niền Vạn Hạnh, Hòa thượng lãnh đạo cuộc
đấu tranh bất bạo động chống đàn áp Phật giáo của chính
quyền Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ – một chế độ
được mệnh danh là chế độ “Diệm không có Diệm”.
Ðinh
Mùi, 1967: Hòa thượng viết lời giới thiệu cho tác phẩm
“Ðại Cương Thiền Quán” của Ðại đức Nguyên Chứng
Tuệ Sỹ, viết lời giới thiệu cho tác phẩm “Pháp Môn Tịnh
Ðộ” của Sư bà Tâm Luân Thể Quán.
Mậu
Thân, 1968: Lúc 23 giờ ngày 19.01 âm lịch (tức ngày 12.02 dương
lịch), nhà cầm quyền Cọng sản Việt Nam, dưới danh nghĩa
Mặt trận Dân tộc Giải phóng, ra lệnh cho một toán người
võ trang đến chùa Linh Mụ “mời” Hòa thượng lên Trường
Sơn. Lúc ấy, thời tiết đang giá lạnh, bệnh xuất huyết
dạ dày của Hòa thượng tái phát trầm trọng, cọng thêm
bao trọng trách Giáo hội giao phó, Hòa thượng viện dẫn nhiều
lý do để từ khước lời
“mời”.
Nhưng nhóm võ trang nại cớ “có lệnh trên”, cưỡng ép
đặt Hòa thượng lên cáng khiêng đi.
Ất
Mão, 1975: Trở lại Huế, nhưng bị giữ chân tại viện Ðại
học Huế. Một thời gian sau mới được phép về chùa Linh
Mụ. Sau đó, Hòa thượng vào Sài Gòn thăm và phát biểu về
con đường hoằng pháp ở thời nghịch chướng trước Hội
đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất
tại chùa Ấn Quang. Hội đồng Lưỡng viện cung thỉnh Hòa
thượng vào Hội đồng Trưởng lão và công cử Hòa thượng
giữ chức vụ Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất.
Bính
Thìn, 1976: Hòa thượng bắt đầu đi giảng dạy Kinh, Luật,
Luận cho nhiều lớp Tăng Ni ở các chùa Báo Quốc, Linh Quang,
Linh Mụ.
Ðinh
Tý, 1977: Hòa thượng biện soạn "Ðồng Mông Chỉ Quán", quay
ronéo. Làm Ðàn đầu Hòa thượng tại Ðại giới đàn Báo
Quốc, quy tụ hơn 500 giới tử.
Mậu
Ngọ, 1978: Hòa thượng viết thư cho nhà cầm quyền Cọng sản
phản đối "Những vụ bắt bớ, giam cầm nhiều vị Thượng
tọa trong Hội đồng lãnh đạo cao cấp của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất và trong các Ban Ðại diện Tỉnh"
trong suốt 2 năm qua, mà không được trả tự do, cũng không
xét xử vì tội trạng gì họ bị giam giữ. Ðặc biệt vụ
công an bắt giam và tra tấn Thượng tọa Thích Thiện Minh đến
chết.
Kỷ
Mùi, 1978: Ðại lão Hòa thượng Trừng Thùy Giác Nhiên, Ðệ
nhị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
viên tịch. Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất cung thỉnh Hòa thượng kiêm nhiệm chức vụ
Xử lý Viện Tăng Thống.
Hòa
thượng biên soạn bài "Giảng Về Ýù Nghĩa Chữ Tư”, chưa
xuất bản.
Tân
Dậu, 1981: Hòa thượng gởi Thông Ðiệp Phật Ðản, Phật
lịch 2525. Làm Ðàn đầu Hòa thượng cho Ðại giới đàn tổ
chức tại chùa Báo Quốc, Huế, quy tụ hơn 700 giới tử. Hòa
thượng làm lễ quy y và truyền giới cho hơn 1000 phật tử
tại chùa Sắc Tứ Tịnh Quang ở Quảng Trị.
Hòa
thượng biên soạn tác phẩm ”Giảng Phẩm Tựa Kinh Bảo Ðàn",
chưa xuất bản.
Ban
tổ chức Ðại hội Thống nhất Phật giáo của Nhà nước
gởi thư mời Hòa thượng tham dự đại hội, tổ chức tại
chùa Quán Sứ, Hà Nội, từ ngày 4 đến 7.11 dương lịch. Nhưng
Hoà thượng từ chối không tham dự. Mặc dù vắng mặt, Ðại
hội này vẫn cung cử Hòa thượng vào chức Ðệ nhất phó
Pháp chủ kiệm Giám luật Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà
nước). Hoà thượng lại viết thư từ khước, vì lý do Hòa
thượng "còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất, trong cương vị Chánh Thư ký kiêm
Xử lý Viện Tăng Thống".
Nhâm
Tuất, 1982: Hòa thượng gởi Thông Ðiệp Phật Ðản,
Phật lịch 2526. Hòa thượng bắt đầu lặng lẽ một mình
trong liêu, tự mình điều chỉnh máy ghi âm, và tự thuật
khoảng đời giông tố vừa qua vào hai cuốn băng từ, dài
135 phút. Các câu chuyện kể trong "Lời tự thuật" này là
sử liệu quan trọng và vô giá cho dân tộc và Phật giáo Việt
Nam ở hậu bán hế kỷ XX.
Nhân
danh Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng ký công văn số 02-82/Viện
Tăng Thống, đề ngày 14.7 dương lịch, gởi cho Hòa thượng
Thích Trí Thủ, Chủ tịch Hội đồng Tri sự Trung ương Giáo
hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước), cực lực phản đối
việc Ban Tri sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ chí Minh
ngang nhiên đến đoạt thủ Trụ sở Trung ương của Hội đồng
Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại
chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
Quý
Hợi, 1983: Làm Ðàn đầu Hòa thượng cho Ðại giới đàn Bi
giới tại chùa Trúc Lâm, Huế. Hòa thượng cảm thán bài Kệ,
theo thể cổ phong ngũ ngôn tứ tuyệt:
Hành
thâm tỳ ni tạng
Giới
thể tịnh trang nghiêm
Ðịnh
lực tồi ma đạo
Tuệ
quang chiếu giác viên
Giáp
Tý, 1984: Hoà thượng biên soạn tác phẩm ”Khóa Nghi Diễn
Giảng Ðàn Bạt Ðộ Giải Oan", chưa xuất bản.
Ất
Sửu, 1985: Ngày 10.12 dương lịch, Hòa thượng viết thư cho
Bộ trưởng Bội Nội vụ, CHXHCNVN, Mai chí Thọ, yêu cầu trả
tự do cho các Ðại đức Tâm Phật Trí Siêu (Lê Mạnh Thát),
Nguyên Chứng Tuệ sỹ và Nguyên Giác.
Bính
Dần, 1986: Hòa thượng cho đại trùng tu chùa Long an, ngôi chùa
do thân phụ Hòa thượng xây dựng tại tỉnh Quảng Trị.
Hòa
thượng cho kết tập những bài biên soạn và giảng dạy tại
các Phật học viện, ấn hành thành tác phẩm "Luật Tứ Phần
Tỷ Khưu Ni Sao". Ðến giữa mùa xuân, Hòa thượng lâm trọng
bệnh, thất chúng đệ tử tưởng rằng Hòa thượng không
qua khỏi. Nhưng nhờ sự tận tâm chăm sóc của các y, bác
sĩ Phật tử, trong đó có Bác sĩ Lê Văn Bách, nên sau 3 tháng
chữa trị Hòa thượng bình phục. Tuy để lại di chứng, nên
thể trạng Hoà thượng không còn
được
như trước.
Mậu
Thìn, 1988: Ngày mồng 3 tháng giêng âm lịch, tức 19.2 dương
lịch, Hòa thượng ban lời Di huấn cho thất chúng đệ tử,
gồm 6 điều, điều nào cũng thể hiện nỗi ưu tư, lo lắng
của Hòa thượng về việc nghiêm trì giới luật của chư
Tăng, và sự hưng vong của Ðạo pháp.
Tân
Mùi, 1991: Ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch, tức 19.2 dương lịch,
Hòa thượng gởi bức "Tâm Thư" đến chư Tôn Hòa thượng,
Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni Việt Nam ở Hải ngoại, kêu
gọi sự đoàn kết hòa hiệp, thể hiện tinh thần tương kính,
tương thuận, tương giáo, tương sám như Luật dạy, để hoằng
dương và bảo vệ Ðạo pháp.
Ngày
29.9 âm lịch, tức ngày 31.10 dương lịch, nhân danh Chánh Thư
ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất, Hòa thượng ký gởi bức "Thông Ðiệp" đến
chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni và Ðồng
bào Phật tử Việt Nam ở Hải ngoại gồm 4 điều. Qua đó,
Hòa thượng khuyến thỉnh thành lập một Giáo hội hợp nhất,
lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại
Hải ngoại. Nguyên tắc tổ chức căn bản dựa theo Hiến chương
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã ban hành
ngày 04.1.1964 và đặt dưới sự điều hành của Hội đồng
Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại
quê nhà.
Bức
Thông Ðiệp của Hòa thượng đã được sự hưởng ứng nồng
nhiệt của tất cả mọi tổ chức Phật giáo Việt Nam trên
thế giới.
Ngày
10.10 âm lịch, tức ngày 15.11 dương lịch, nhân danh Chánh Thư
ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất, Hòa thượng ký gởi bản "Chúc Thư" đến
chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa trong Hội đồng Lưỡng
viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Bản Chúc
thư gồm 5 điều, thể hiện quyết tâm cao cả của Ngài, là
mong quý Hòa thượng, Thượng tọa trong Hội đồng Lưỡng
viện đặc biệt lưu tâm đến những vấn đề quan trọng
của Giáo hội, dù ở hoàn cảnh khó khăn nào cũng phải bảo
vệ và phát huy cho được sự toàn vẹn và lớn mạnh của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vì Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất là Giáo hội duy nhất được sự
truyền thừa của chư Lịch đại Tổ sư, qua suốt dòng lịch
sử huy hoàng 2000 năm của Phật giáo Việt Nam. Ngài trao quyền
điều hành Giáo hội cho các Hòa thượng Thích Huyền Quang,
Thích Pháp Tri và Thích Quảng Ðộ, cùng tiến hành tổ chức
Ðại hội VIII, và đặc việt lưu tâm đến Giáo ở Hải ngoại.
Nhâm
Thân, 1992: Vào lúc 20 giờ, ngày 21.3 âm lịch, tức ngày 23.4
dương lịch, Hòa thượng được tôn trí trang nghiêm trong phương
trượng, nơi thường trú của Hòa thượng tại chùa Linh Mụ.
Tang lễ được Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất cùng Ban tổ chức tang lễ cử hành đúng
theo lời Di huấn tha thiết của Ngài là đơn giản, trang nghiêm,
đạo vị, nhưng yêu cầu "các cơ quan, đoàn thể công tư có
lòng đến thăm viếng, phúng điếu, xin mời giữ yên lặng
tưởng niệm là đủ. Miễn tất cả sớ ai, điệp ai, tiểu
sử hoặïc tuyên dưong công đức... trái với tinh thần vô
ngã, vô tướng của Phật Pháp. Hãy nhường những việc làm
ấy cho lịch sử mai hậu".Lễ cung nghinh kim quan Hoà thượng
nhập bảo tháp được tổ chức trọng thể và trang nghiêm
vào lúc 6 giờ sáng ngày mồng 1 tháng 4 âm lịch, tức ngày
3.5 dương lịch. Ðến dự lễ nhập tháp có đông đủ chư
Tôn đức lãnh đạo trong Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội
Phật giáo Việt Nam thống nhất - trừ chư vị đang bị nhà
cầm quyền Cộng sản giam giữ hay quản thúc - cùng với chư
Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni và hai vạn
tín đồ Phật giáo, hàng ngàn Huynh trưởng, Ðoàn sinh, đại
diện Gia Ðình Phật tử về từ khắp các tỉnh miền Nam cũ.
Bảo
tháp của Hòa thượng được xây dựng phía hậu tẩm điện
thờ Ðức Quán Thế AÂm Bồ tát trong khuôn viện chùa Linh
Mụ.
Nghĩa
Hành, ngày 20 tháng 7 năm Canh Thìn,
Nhằm
19 tháng 8 Tây lịch 2000
Văn
phòng Viện Tăng Thống soạn thảo