THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 

 

c
NIÊN BIỂU ÐẠI LÃO THÍCH ÐÔN HẬU
(1905-1992)
LỜI GIỚI THIỆU

Viện Tăng Thống kính gởi đến toàn thể Tăng Ni Phật tử Việt Nam, cùng đồng bào trong và ngoài nước, bản Tiểu sử cố Ðại Lão Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu, Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, từ PL. 2522-2530 (1978-1992). Tiểu sử được viết dưới dạng niên biểu, do các đệ tử của Ngài kể, vào những ngày cuối cùng của đời Ngài.

Ðối với đồng bào, trong và ngoài nước, bản niên biểu này không chỉ là tiểu sử của một vị Cao Tăng của Phật giáo Việt Nam mà còn là tấm gương phản chiếu để các thế hệ hiện tại, và nhiều thế hệ tương lai, nhìn thấy trong đó những bước thăng trầm, vinh nhục của dân tộc qua những khúc quanh lịch sử nghiêm trọng đầy nguy hiểm, những lựa chọn sáng suốt hay sai lầm đã và sẽ đưa đất nước chìm đắm trong tối tăm, nghèo nàn, lạc hậu; hay 
tiến lên ngang tầm thời đại văn minh của loài người giàu nhân ái, bao dung, khát khao tự do, như là những điều kiện tất yếu để tự khẳng định và thể hiện giá trị nhân bản của từng cá nhân.

Ðối với Phật Tử Việt nam, đây là tiểu sử hóa thân Bồ tát đã hiến thân cho đời, dấn bước trên những đoạn đường dẫy đầy ma chướng, gánh chịu vô vàn thống khổ của nhân sinh. Chiếc áo nâu sòng thấm màu đất khổ, lặn lội suốt dãy Trường Sơn, trong bom đạn của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn; nhẫn nhục bằng tất cả sức mạnh vô úy dưới áp lực khống chế của bạo lực chuyên chính. Uy vũ không khuất phục. Danh vọng không thể quyến rũ. Quyền lực thế gian chỉ là tập hợp của khối cộng nghiệp đen tối. Chân lý mầu nhiệm của pháp tính là niềm không lay chuyển. Ánh sáng trí tuệ phát sinh từ tư duy quán chiếu là ngọn đuốc soi đường. Bi nguyện là nguồn năng lượng không hề vơi cạn để vượt qua sa mạc sinh tử mênh mông. Ðấy là tất cả giá trị nhân bản hàm tàng nội dung Phật tính dựng lên hình ảnh của bậc đại nhân, là vị Lãnh đạo tinh thần cao cả của Phật Giáo Việt nam, đã hướng dẫn Phật tử học đạo và hành đạo đúng theo chánh Pháp, chỉ rõ ý nghĩa chân thật của lẽ sống, phân biệt rõ ràng  đường tà, nẻo chánh, để Phật tử Việt nam sống và hành động chân chính, thể hiện phẩm chất trong sáng, thuần tịnh của người Phật tử, hành đạo vì ích lợi cho mình và cho mọi người, trong dời này và đời sau.

Ðối với Tăng Ni Việt Nam, cuộc đời đạo hạnh và hy sinh của Ngài là nhân cách lý tưởng luôn luôn được chiêm ngưỡng và noi theo. Ðó là nhân cách và khi dấn thân vào chợ đời trược loạn nhưng tâm tư không hề bị ô nhiễm và nhiễu loạn; khi bị vây khốn trong vòng vây quyền lực thế gian nhưng vẫn an nhiên tự tại tiến bước theo đường hướng đã tự mình chọnï lựa, mặc dù con đường chênh vênh giữa sống và chết, vinh và nhục. Ðó là bậc 
Thượng sỹ xuất trần mà vẫn không bỏ rơi trần gian khổ lụy, Ngài đã dày công kết dệt sợi dây điều ngự của Ba-la-đề-mộc-xoa, làm giềng mối cho Tăng luân; duy trì và quảng diễn Tì-ni tạng để cho mạng mạch của Chánh pháp trường tồn.

Thế gian có thành, có hoại; triều đại có hưng có phế; hóa sinh của Bồ tát có sinh có diệt. Nhưng tâm nguyện của bậc Ðại Sỹ như hư không, chẳng hề giao động, và không có chỗ tận cùng. Nguyện cho gương sáng của Ngài mãi mãi được ngời sáng trong ánh sáng từ bi và trí tuệ mười phương Chư Phật, Bồ tát, vô lượng Thánh chúng.

Nghĩa Hành, ngày 20 tháng 7 năm Canh Thìn,
Nhằm ngày 19 tháng 8 Tây lịch 2000

Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
Tỳ kheo Thích Huyền Quang (ấn ký)
 

NIÊN BIỂU
ÐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ÐÔN HẬU

Chánh Thư ký, Xử lý Viện Tăng Thống
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

Ất Tỵ, 1905: Hòa Thượng sinh giờ Tý (từ 23 giờ đến 1 giờ), ngày Hợi, 13 tháng Giêng (16-02 dương lịch), niên hiệu Thành Thái năm thứ 17, tại làng Xuân an, tổng An Ðôn, phủ Triệu phong, tỉnh Quảng Trị.

Canh Tuất, 1910: Bắt đầu học chữ Hán với cụ đồ Nho trong làng.

Giáp Dần, 1914: Thân mẫu mất, Hòa thương thọ tang mẹ lúc lên 9 tuổi.

Bính Thìn, 1916: Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh về thăm nhà, ghé thăm thân phụ Hòa thượng và đoán tướng cho Hòa thượng năm lên 11 tuổi.

Ðinh Tỵ, 1917: Hòa thượng vừa học chữ Hán với các sĩ phu, vừa được thân phụ cho lên trường huyện học thêm chữ Quốc ngữ.

Tân Dậu, 1921: Ðậu bằng tiểu học (Certificat d’études primaires) chương trình Pháp Việt.

Nhâm Tuất, 1922: Ngày 19.9 âm lịch (tức 07.11 dương lịch), niên hiệu Khải Ðịnh năm thứ 8, Hòa thượng xuất gia, vào chùa Tây Thiên đầu sư với Tổ khai sơn Thanh Ninh Tâm Tịnh. Năm đó Hòa thượng lên 17 tuổi (tính tròn 17 năm 8 tháng 22 ngày).

Qúy Hợi, 1923: Ngày 10.6 âm lịch (tức 23.7 dương lịch), Hòa thượng thọ Sa di giới tại giới đàn Thuyền tôn, Huế, được Bổn sư đặt pháp danh TRÙNG NGUYÊN, pháp hiệu ÐÔN HẬU.

Giáp Tý, 1924: Ngày 15.6 âm lịch (tức 16.7 dương lịch), niên hiệu Khải Ðịnh năm thứ 9, Hòa thượng thọ Tam đàn Cụ túc giới tại Ðại giới đàn chùa Từ Hiếu, Huế.

Bính Dần, 1926: Ngày 06 tháng 3 âm lịch (tức 17.4 dương lịch), Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh viên tich. Sau lễ chung thất Bổn sư, Hòa thượng được nhị vị pháp huynh, là Hòa Thượng Trừng Văn Giác Nguyên và Trừng Thùy Giác Nhiên, gởi qua chùa Thệ Ða Lâm (tức chùa Hồng Khê ngày nay) tiếp tục tu học với pháp huynh là Hòa thượng Trừng Huệ Giác Viên.

Ðinh Mão, 1927: Hòa thượng lại được Hòa thượng Trừng Huệ Giác Viên gởi vào chùa Thập Tháp, ( tỉnh Bình Ðịnh) tham học với Hòa thượng Quốc sư Phước Huệ.

Nhâm Thân, 1932: Sau 5 năm chuyên cần theo học chùa Thập Tháp, Hòa thượng trở về Huế và được An Nam Phật học Hội mời vào làm giảng sư nòng cốt của hội.

Giáp Tuất, 1934: Hòa thượng bắt đầu công việc trước tác và biên soạn. Bài đầu tiên Hòa thượng biên soạn là bài “Giảng Giải Danh Từ Phật”, giảng tại Hội quán Phật học Hội, chùa Từ Quang, Huế, ngày 15.1 và sau đó đăng trên tạp chí Viên AÂm, cơ quan hoằng pháp của An Nam Phật học Hội, số 14 năm 1935.

Ất Hợi, 1935: An Nam Phật học Hôi bắt đầu khai giảng Phật học viện với 3 trường Sơ đẳng, Trung đẳng, và Cao đẳng tại chùa Tây Thiên. Hòa thượng tiếp tục học chương trình Cao đẳng. Vừa học Cao đẳng, vừa được mời dạy cho các lớp học sinh trường Trung đẳng của Viện.

Bính Tý, 1936: Hòa thượng biên soạn bài “Chánh Tín và Mê Tín”, giảng tại Hội quán Phật học Hội, chùa Từ  Quang, Huế vào 05.5 dương lịch, đăng trên tạp chí Viên AÂm số 20, năm thứ 2, tháng 3 và 4. Hòa thượng phỏng thuật theo Kinh Pháp Cú “Chuyện Nàng Liên Hoa”, đăng trên tạp chí Viên Âm số 21, năm thứ 2, số tháng 5 và 6.

Ðinh Sửu, 1937: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Ðâu Là Con Ðường Hạnh Phúc”, đăng trên tạp chí Viên AÂm số 27 và 28.

Mậu Dần, 1938: Hòa thượng tốt nghiệp văn bằng Ðại học Phật giáo với hạng ưu. Hòa thượng được An Nam Phật học Hội cử đi thuyết pháp tại Ðà Nẵng, Quảng Nam, khắp 17 tỉnh miền Trung và một số tỉnh ở miền Nam.

Canh Thìn, 1940: Hội Phật tử Việt kiều tại Savanakhet, Vương quốc Lào, mời Hòa thượng sang dự lễ khánh thành chùa Diệu Giác và thuyết pháp.

Nhâm Ngọ, 1942: Hội Phật tử Việt kiều tại Savanakhet, Vương quốc Lào, lại mời Hòa thượng sang thuyết pháp. Lần nầy Hòa thượng có dịp diện kiến Ðức Vua Sãi tại thủ phủ Vạn tượng.

Ất Dậu, 1945: An Nam Phật học Hội đổi danh hiệu thành Việt Nam Phật học Hội. Ðại hội đồng thường niên năm thứ XIII công cử Hòa thượng giữ chức vụ Chánh Hội trưởng Việt Nam Phật học Hội, thay thế Bác sĩ Lê Ðình Thám. Hội đồng Sôn môn Tăng già công cử Hòa thượng lên trú trì chùa Linh Mụ.

Bính Tuất, 1946: Ðại hội bất thường của các Hội đoàn Phật giáo miền Trung mời Hòa thượng kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội Phật giáo Liên hiệp Trung bộ.

Ðinh Hợi, 1947: Hòa thượng tháp tùng nhị vị Hòa thượng Trừng Văn Giác Nguyên và Trừng Thùy Giác Nhiên chạy tản cư về làng An Xuân. Tại đây, Hòa thượng bị thực dân Pháp bắt giam 3 ngày rồi thả. Trở về chùa Linh Mụ một thời gian ngắn, Hòa thượng lại bị thực dân Pháp bắt. Lần nầy, Hòa thượng bị tra trấn dã man trên 10 ngày, rồi bị bắt tự mình đào huyệt để bắn mà chôn. Hòa thượng an nhiên tự tại vừa đào huyệt, vừa trì chú Ðại Bi. Nhờ có Sư bà Tâm Hảo Diệu Không và Cư sĩ Tâm Huệ Tráng Ðinh can thiệp kịp thời với bà Hoàng Thái hậu Từ Cung và Hoàng hậu Nam Phương, nên được trả tự do vào giờ phút sắp bị đưa ra hành hình.

Cũng trong năm nầy, sau khi dân chúng Huế hồi cư, Hòa thượng bắt đầu lo việc đại trùng tu chùa Linh Mụ lần thứ nhất.

Mậu Tý, 1948: Ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch, kỷ niệm Ðức Phật Thích Ca xuất gia, cũng là ngày Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Ðức tái khai giảng, Hòa thượng được mời làm Giáo thọ cho cả hai trường. Hòa thượng lại luân chuyển đảm nhận các chức vụ quan trọng như Yết ma, Giáo thọ, Tuyên luật sư trong các Ðại giới đàn được tổ chức tại các chùa Báo Quốc, Từ Hiếu, Huế; chùa Long Sơn, Nha Trang; chùa Ấn Quang, Sài 
Gòn. 

Canh Dần, 1950: Vì có nhiều Phật sự quan trọng rất cần đến Hòa thượng, nên Ðại hội đồng thường niên lần thứ XIX đã công cử Cư sĩ Chơn An Lê Văn Ðịnh lên giữ chức Chánh Hội trưởng Hội Việt Nam Phật học thay thế Hòa thượng. Hòa thượng lên đảm nhận trọng trách Cố vấn Giáo hạnh. Hòa thượng biên sọan bài “Ý Nghĩa Ngày Từ Thiện Phật Giáo”, giảng giải tại nhà Ðại chúng, Huế, hôm 4.4 âm lịch.

Tân Mão, 1951: Hòa thượng là thành viên Ban Tổ chức Ðại hội Thống nhất Phật giáo Việt Nam gồm 6 tập đoàn Tăng già vá Cư sĩ thuộc ba miền Bắc – Trung – Nam Việt Nam, họp tại chùa Từ Ðàm, Huế. Ðại hội Giáo hội Tăng già Trung Việt công cử Hòa thượng lên giữ chức Giám luật Giáo hội Tăng già Trung Việt.

Nhâm Thìn, 1952: Ðại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc họp tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, công cử Hòa thượng lên chức vụ Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc.

Bính Thân, 1956: Hòa thượng sáng lập và làm Chủ nhiệm Liên Hoa Văn Tập, cơ quan hoằng pháp của Giáo hội Tăng già Trung phần, tòa soạn đặt tại Huế. Hòa thượng cùng với Hòa thượng Tâm Phật Thiện Siêu trích dịch và biên soạn bộ “Nghi Tụng Giới của Tại Gia Bồ Tát”, Giáo hội Tăng già Trung phần ấn hành. Hòa thượng viết bài “Ðịnh Hướng” đăng trên Liên Hoa Văn Tập số 2; và bài “Nhiệm Vụ Phật Tử Trước Tình Thế Hiện Tại” 
đăng trên Liên Hoa Văn Tập bộ mới, số 6.

Ðinh Dậu, 1957: Hòa thượng lo việc đại trùng tu chùa Linh Mụ lần thứ hai. Ðây là lần trùng tu có tính quy mô và bền bỉ nên Hòa thượng cho thay thế cột kèo, đòn tay gỗ bằng bê tông cốt thép rất kiên cố, hóa trang như gỗ, nhờ thế vẫn giữ các đường nét mỹ thuật của kiến trúc Á đông cổ.

Mậu Tuất, 1958: Liên Hoa Văn Tập đổi tên ra Liên Hoa Nguyệt San, nâng lên thành cơ quan Hoằng pháp của Giáo hội Tăng già toàn quốc. Hòa thượng vẫn giữ trọng trách Chủ nhiệm. Hòa thượng viết bài “Kiểm Ðiểm” đăng trên Liên Hoa Nguyệt San số 1. Hòa thượng viết lời giới thiệu cho tác phẩm “Thảo Luận Với Bác Sĩ Ba-khắc-sum” do Thượng tọa Nguyên Tánh Ðức Tâm dịch, tòa soạn Liên Hoa Nguyệt San ấn hành.

Kỷ Hợi, 1959: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Nhiệm Vụ Cần Thiết của Một Phật Tử”; viết bài “Tôn Ý” đăng trong tập Kỷ yếu của Ðại hội kỳ II Giáo hội Tăng già toàn quốc họp tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.

Canh Tý, 1960: Hòa thượng viết bài “Cảm Ứng Tự Nhiên” đăng trong đặc san kỷ niệm Ðức Quán Thế AÂm Bồ tát, ngày 19.9 âm lịch, tại chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Tứ Nhiếp Pháp”, nhà xuất bản Liên Hoa ấn hành.

Tân Sửu, 1961: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Cách Thức Sám Hối Các Tội Ðã Phạm”, do Giáo hội Tăng già Trung phần ấn hành.

Nhâm Dần, 1962: Hòa thượng biên soạn tác phẩm “Phương Pháp Tu Quán”, do Giáo hội Tăng già Trung phần ấn hành.

Qúy Mão, 1963: Hòa thượng là thành viên Ban lãnh đạo Phong trào tranh đấu của Phật giáo Việt Nam chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô đình Diệm.

Nhận giáo chỉ của Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Trừng Thông Tịnh Khiết, Hòa thượng ra chỉ đạo cuộc tranh đấu tại tỉnh Quảng Trị. Sau đó, trở về Huế chỉ đạo phong trào tranh đấu ở chùa Diệu Ðế. Ðêm 20.8 dương lịch, chính quyền Ngô Ðình Diệm tấn công chùa Diệu Ðế, bắt Hòa thương về giam tại Ty Cảnh sát Thừa Thiên. Nhờ sự trầm tĩnh và khôn khéo cùng sự hỗ trợ của Phật giáo đồ Huế, nên một thời gian ngắn Hòa thượng cùng nhiều Hòa thượng, Thượng tọa khác được trả tự do. Sau đó, Hòathượng bị bệnh dạ dày nên phải vào điều trị ở bệnh viện Ngô Quyền, Huế.

Hòa thượng viết đơn xin tự thiêu để cúng dường Phật Pháp, nhưng không thực hiện được đại nguyện, vì nhị vị Sư bà Tâm Luân Thể Quán và Tâm Ðịnh Cát Tường đã cung kính đảnh lễ xin Hòa thượng không nên thực hiện ý định ấy, vì sẽ mất đi một người lãnh đạo trong lúc Phật giáo đang ở vào giai đoạn cam go và quyết liệt như sợi chỉ mành treo chuông.

Hòa thượng tiếp xúc và phê bình sự sai trái của “Uûy ban Phật giáo thuần túy”, do chính quyền Ngô Ðình Diệm dựng lên với mưu đồ ly gián và làm suy yếu cuộc đấu tranh của Phật giáo.

Hòa thượng tiếp kiến và trả lời những câu hỏi của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tại khách sạn Thuận Hóa, Huế (nay là khách sạn Hương Giang 

1) về việc chính quyền Ngô Ðình Diệm đàn áp dã man Phật giáo đồ Việt Nam.

Ngày 3.11 dương lịch, sau khi chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, nhân danh Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc, Hòa thượng gởi “Lời kêu gọi” khẩn thiết đến chư Tăng Ni và Phật giáo đồ trên toàn quốc.

Giáp Thìn, 1964: Ngày 30.12 dương lịch, Hòa thượng tham dự Ðại hội nghị của 11 giáo phái và Hội đoàn Phật giáo Việt Nam, tổ chức tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn, để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ðại hội công cử Hòa thượng vào chức vụ Chánh Ðại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Thừa Thiên.

Ất Tỵ, 1965: Hòa thượng làm Yết ma cho Ðại giới đàn Vạn Hạnh, tổ chức tại chùa Từ Hiếu, Huế, quy tụ 1000 giới tử.

Bính Ngọ, 1966: Nhân danh Chánh Ðại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất niền Vạn Hạnh, Hòa thượng lãnh đạo cuộc đấu tranh bất bạo động chống đàn áp Phật giáo của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ – một chế độ được mệnh danh là chế độ “Diệm không có Diệm”.

Ðinh Mùi, 1967: Hòa thượng viết lời giới thiệu cho tác phẩm “Ðại Cương Thiền Quán” của Ðại đức Nguyên Chứng Tuệ Sỹ, viết lời giới thiệu cho tác phẩm “Pháp Môn Tịnh Ðộ” của Sư bà Tâm Luân Thể Quán.

Mậu Thân, 1968: Lúc 23 giờ ngày 19.01 âm lịch (tức ngày 12.02 dương lịch), nhà cầm quyền Cọng sản Việt Nam, dưới danh nghĩa Mặt trận Dân tộc Giải phóng, ra lệnh cho một toán người võ trang đến chùa Linh Mụ “mời” Hòa thượng lên Trường Sơn. Lúc ấy, thời tiết đang giá lạnh, bệnh xuất huyết dạ dày của Hòa thượng tái phát trầm trọng, cọng thêm bao trọng trách Giáo hội giao phó, Hòa thượng viện dẫn nhiều lý do để từ khước lời 
“mời”. Nhưng nhóm võ trang nại cớ “có lệnh trên”, cưỡng ép đặt Hòa thượng lên cáng khiêng đi.

Ất Mão, 1975: Trở lại Huế, nhưng bị giữ chân tại viện Ðại học Huế. Một thời gian sau mới được phép về chùa Linh Mụ. Sau đó, Hòa thượng vào Sài Gòn thăm và phát biểu về con đường hoằng pháp ở thời nghịch chướng trước Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại chùa Ấn Quang. Hội đồng Lưỡng viện cung thỉnh Hòa thượng vào Hội đồng Trưởng lão và công cử Hòa thượng giữ chức vụ Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Bính Thìn, 1976: Hòa thượng bắt đầu đi giảng dạy Kinh, Luật, Luận cho nhiều lớp Tăng Ni ở các chùa Báo Quốc, Linh Quang, Linh Mụ.

Ðinh Tý, 1977: Hòa thượng biện soạn "Ðồng Mông Chỉ Quán", quay ronéo. Làm Ðàn đầu Hòa thượng tại Ðại giới đàn Báo Quốc, quy tụ hơn 500 giới tử.

Mậu Ngọ, 1978: Hòa thượng viết thư cho nhà cầm quyền Cọng sản phản đối "Những vụ bắt bớ, giam cầm nhiều vị Thượng tọa trong Hội đồng lãnh đạo cao cấp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong các Ban Ðại diện Tỉnh" trong suốt 2 năm qua, mà không được trả tự do, cũng không xét xử vì tội trạng gì họ bị giam giữ. Ðặc biệt vụ công an bắt giam và tra tấn Thượng tọa Thích Thiện Minh đến chết.

Kỷ Mùi, 1978: Ðại lão Hòa thượng Trừng Thùy Giác Nhiên, Ðệ nhị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, viên tịch. Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cung thỉnh Hòa thượng kiêm nhiệm chức vụ Xử lý Viện Tăng Thống.

Hòa thượng biên soạn bài "Giảng Về Ýù Nghĩa Chữ Tư”, chưa xuất bản.

Tân Dậu, 1981:  Hòa thượng gởi Thông Ðiệp Phật Ðản, Phật lịch 2525. Làm Ðàn đầu Hòa thượng cho Ðại giới đàn tổ chức tại chùa Báo Quốc, Huế, quy tụ hơn 700 giới tử. Hòa thượng làm lễ quy y và truyền giới cho hơn 1000 phật tử tại chùa Sắc Tứ Tịnh Quang ở Quảng Trị.

Hòa thượng biên soạn tác phẩm ”Giảng Phẩm Tựa Kinh Bảo Ðàn", chưa xuất bản.

Ban tổ chức Ðại hội Thống nhất Phật giáo của Nhà nước gởi thư mời Hòa thượng tham dự đại hội, tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, từ ngày 4 đến 7.11 dương lịch. Nhưng Hoà thượng từ chối không tham dự. Mặc dù vắng mặt, Ðại hội này vẫn cung cử Hòa thượng vào chức Ðệ nhất phó Pháp chủ kiệm Giám luật Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước). Hoà thượng lại viết thư từ khước, vì lý do Hòa thượng "còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trong cương vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống".

Nhâm Tuất, 1982:  Hòa thượng gởi Thông Ðiệp Phật Ðản, Phật lịch 2526. Hòa thượng bắt đầu lặng lẽ một mình trong liêu, tự mình điều chỉnh máy ghi âm, và tự thuật khoảng đời giông tố vừa qua vào hai cuốn băng từ, dài 135 phút. Các câu chuyện kể trong "Lời tự thuật" này là sử liệu quan trọng và vô giá cho dân tộc và Phật giáo Việt Nam ở hậu bán hế kỷ XX.

Nhân danh Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng ký công văn số 02-82/Viện Tăng Thống, đề ngày 14.7 dương lịch, gởi cho Hòa thượng Thích Trí Thủ, Chủ tịch Hội đồng Tri sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước), cực lực phản đối việc Ban Tri sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ chí Minh ngang nhiên đến đoạt thủ Trụ sở Trung ương của Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.

Quý Hợi, 1983: Làm Ðàn đầu Hòa thượng cho Ðại giới đàn Bi giới tại chùa Trúc Lâm, Huế. Hòa thượng cảm thán bài Kệ, theo thể cổ phong ngũ ngôn tứ tuyệt:

Hành thâm tỳ ni tạng
Giới thể tịnh trang nghiêm
Ðịnh lực tồi ma đạo
Tuệ quang chiếu giác viên

Giáp Tý, 1984: Hoà thượng biên soạn tác phẩm ”Khóa Nghi Diễn Giảng Ðàn Bạt Ðộ Giải Oan", chưa xuất bản.

Ất Sửu, 1985: Ngày 10.12 dương lịch, Hòa thượng viết thư cho Bộ trưởng Bội Nội vụ, CHXHCNVN, Mai chí Thọ, yêu cầu trả tự do cho các Ðại đức Tâm Phật Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), Nguyên Chứng Tuệ sỹ và Nguyên Giác.

Bính Dần, 1986: Hòa thượng cho đại trùng tu chùa Long an, ngôi chùa do thân phụ Hòa thượng xây dựng tại tỉnh Quảng Trị.

Hòa thượng cho kết tập những bài biên soạn và giảng dạy tại các Phật học viện, ấn hành thành tác phẩm "Luật Tứ Phần Tỷ Khưu Ni Sao". Ðến giữa mùa xuân, Hòa thượng lâm trọng bệnh, thất chúng đệ tử tưởng rằng Hòa thượng không qua khỏi. Nhưng nhờ sự tận tâm chăm sóc của các y, bác sĩ Phật tử, trong đó có Bác sĩ Lê Văn Bách, nên sau 3 tháng chữa trị Hòa thượng bình phục. Tuy để lại di chứng, nên thể trạng Hoà thượng không còn 
được như trước.

Mậu Thìn, 1988: Ngày mồng 3 tháng giêng âm lịch, tức 19.2 dương lịch, Hòa thượng ban lời Di huấn cho thất chúng đệ tử, gồm 6 điều, điều nào cũng thể hiện nỗi ưu tư, lo lắng của Hòa thượng về việc nghiêm trì giới luật của chư Tăng, và sự hưng vong của Ðạo pháp.

Tân Mùi, 1991: Ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch, tức 19.2 dương lịch, Hòa thượng gởi bức "Tâm Thư" đến chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni Việt Nam ở Hải ngoại, kêu gọi sự đoàn kết hòa hiệp, thể hiện tinh thần tương kính, tương thuận, tương giáo, tương sám như Luật dạy, để hoằng dương và bảo vệ Ðạo pháp.

Ngày 29.9 âm lịch, tức ngày 31.10 dương lịch, nhân danh Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng ký gởi bức "Thông Ðiệp" đến chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni và Ðồng bào Phật tử Việt Nam ở Hải ngoại gồm 4 điều. Qua đó, Hòa thượng khuyến thỉnh thành lập một Giáo hội hợp nhất, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hải ngoại. Nguyên tắc tổ chức căn bản dựa theo Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã ban hành ngày 04.1.1964 và đặt dưới sự điều hành của Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại quê nhà.

Bức Thông Ðiệp của Hòa thượng đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt của tất cả mọi tổ chức Phật giáo Việt Nam trên thế giới.

Ngày 10.10 âm lịch, tức ngày 15.11 dương lịch, nhân danh Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng ký gởi bản "Chúc Thư" đến chư Tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa trong Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Bản Chúc thư gồm 5 điều, thể hiện quyết tâm cao cả của Ngài, là mong quý Hòa thượng, Thượng tọa trong Hội đồng Lưỡng viện đặc biệt lưu tâm đến những vấn đề quan trọng của Giáo hội, dù ở hoàn cảnh khó khăn nào cũng phải bảo vệ và phát huy cho được sự toàn vẹn và lớn mạnh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Vì Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là Giáo hội duy nhất được sự truyền thừa của chư Lịch đại Tổ sư, qua suốt dòng lịch sử huy hoàng 2000 năm của Phật giáo Việt Nam. Ngài trao quyền điều hành Giáo hội cho các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Pháp Tri và Thích Quảng Ðộ, cùng tiến hành tổ chức Ðại hội VIII, và đặc việt lưu tâm đến Giáo ở Hải ngoại.

Nhâm Thân, 1992: Vào lúc 20 giờ, ngày 21.3 âm lịch, tức ngày 23.4 dương lịch, Hòa thượng được tôn trí trang nghiêm trong phương trượng, nơi thường trú của Hòa thượng tại chùa Linh Mụ. Tang lễ được Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cùng Ban tổ chức tang lễ cử hành đúng theo lời Di huấn tha thiết của Ngài là đơn giản, trang nghiêm, đạo vị, nhưng yêu cầu "các cơ quan, đoàn thể công tư có lòng đến thăm viếng, phúng điếu, xin mời giữ yên lặng tưởng niệm là đủ. Miễn tất cả sớ ai, điệp ai, tiểu sử hoặïc tuyên dưong công đức... trái với tinh thần vô ngã, vô tướng của Phật Pháp. Hãy nhường những việc làm ấy cho lịch sử mai hậu".Lễ cung nghinh kim quan Hoà thượng nhập bảo tháp được tổ chức trọng thể và trang nghiêm vào lúc 6 giờ sáng ngày mồng 1 tháng 4 âm lịch, tức ngày 3.5 dương lịch. Ðến dự lễ nhập tháp có đông đủ chư Tôn đức lãnh đạo trong Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất - trừ chư vị đang bị nhà cầm quyền Cộng sản giam giữ hay quản thúc - cùng với chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni và hai vạn tín đồ Phật giáo, hàng ngàn Huynh trưởng, Ðoàn sinh, đại diện Gia Ðình Phật tử về từ khắp các tỉnh miền Nam cũ.

Bảo tháp của Hòa thượng được xây dựng phía hậu tẩm điện thờ Ðức Quán Thế AÂm Bồ tát trong khuôn viện chùa Linh Mụ.

Nghĩa Hành, ngày 20 tháng 7 năm Canh Thìn,
Nhằm 19 tháng 8 Tây lịch 2000
Văn phòng Viện Tăng Thống soạn thảo

Trở Về Mục Lục Danh Tăng Tập I
TVHS
 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap