Các
con cháu yêu dấu !
Người
xưa có câu: "Nhơn sanh tự cổ thuỳ vô tử ?" nghĩa là,
đã sanh làm kiếp con người, thì trên thế gian này, tự ngàn
xưa đến nay, ai mà chẳng phải chết? Nói như thế vẫn
chưa trọn hết ý-nghĩa của hai chữ thế gian, mà phải nói
là, trong cõi nhân quả này, tất thảy vạn vật hữu hình,
dù là hữu tình như con người, các loài cầm, thú, côn trùng
cho đến loài vô tình như cỏ cây, đất đá, sông biển, núi
non, nhật nguyệt, tinh tú v v….. hễ đã có hình tướng ắt
có lúc, theo thời gian, phải bị tiêu vong. Sanh, già, bệnh,
chết là luật tắc bất biến đối với các sinh vật hữu
tình như con người, muôn thú, côn trùng. Sanh, trụ, dị, diệt
là qui luật tự nhiên đối với lá hoa, thảo mộc. Thành,
trụ, hoại, không là nhơn duyên tụ tán của khoáng vật vô
tình. Nhứt thiết không một vật gì hiện diện trên đời
này, có hình tướng mà có thể thoát khỏi nhơn duyên sanh
diệt, cũng tức là không thể nào ở ngoài sự chi phối của
trạng thái biến dịch một cách tự nhiên, không ngừng nghỉ,
trong từng mỗi lúc và mỗi điểm nhỏ nhất của thời gian
và không gian. Hãy thử nhìn vạn sự, vạn vật trước mắt
và chung quanh chúng ta mà xem, có sự gì, vật gì luôn bất
biến, hay trường tồn mãi mãi chăng? Rõ ràng là không
có tướng trạng nào có thể vượt ra ngoài lẽ sanh thành,
biến đổi, hoại diệt. Thế mới biết, hễ đã có sanh ắt
phải có tử; ai đã một lần đến ắt có một lần phải
giã biệt cõi này. Cho nên, đến đi, tan hợp đều là nhơn
duyên cả, là chuyện thường tình trong cõi thế gian. Mà đã
biết đó là chuyện bình thường, chuyện ắt phải xảy ra
một cách tự nhiên, không thể cưỡng chống được, thì một
người trí sao lại phải tự khuấy động cái tâm vốn dĩ
an ổn, trong sáng, yên tịnh, để làm khởi sanh và trói buộc
với những cảm xúc buồn vui, mừng giận huyễn hoặc để
tự làm khổ đau chính mình, trái nghịch với cái lẽ ắt
phải, tất nhiên của thiên lý, của đạo thường?
Ta
may mắn được sinh ra trong một gia-tộc mà ông bà nhiều đời
chịu ảnh hưởng sâu đậm Triết-giáo làm người của Khổng
Mạnh, được làm con trong một gia đình mà hai bên nội ngoại
đều có truyền thống chuộng đạo-đức, trọng nhân hiếu,
mộ lễ nghĩa. Có lẽ vì ta là đứa con trai độc nhất của
gia đình nên gần như được ông bà, cha mẹ, chú bác trong
thân tộc đều hết lòng chăm sóc, uốn nắn, dạy dỗ và
yêu thương. Và một điều hết sức may mắn cho ta, trên tất
cả mọi sự may mắn mà ta có được, đó là cha mẹ ta thường
an ổn, mạnh khoẻ, trường thọ và minh mẫn cho đến tận
những giờ phút cuối cùng của cuộc đời. Ta đã cùng các
Người đi bên nhau gần như trọn vẹn cuộc đời ta. Cha ta
mệnh chung lúc Người 88 tuổi, ở cái tuổi mà, với những
bạn đồng trang lứa, có chung cùng một hoàn cảnh với Người,
thì hầu như đã ra đi từ nhiều năm về truớc. Và trong khi
ta viết những lời dặn dò này để lại cho con cháu của
mình, thì mẹ ta còn tại thế, Bà đang ở tuổi chín mươi
mốt. Cả cha mẹ ta, trong những năm tháng cuối đời, vẫn
không đánh mất cái tính hiền hoà, mẫu mực, bình dị, vui
vẻ dễ mến vốn có, tinh thần các Người vẫn sáng suốt,
an ổn, từ ngằn, không mịt mờ lẫn lộn như bao người cao
tuổi thường tình. Ngay lúc này đây mà bà cụ vẫn không
quên nhắc nhở ta về bài học đạo lý làm người, cũng
như thường hỏi han một cách tỉ mỉ việc ta dạy dỗ con
cháu của mình.
Nhờ
ảnh hưởng sâu đậm truyền thống lễ giáo Á-Đông, ngay
từ trong cái nôi là gia đình, mà trải dài suốt cuộc đời
mình, từ lúc mới có chút ít trí khôn cho đến tuổi bạc
đầu, ta đã may mắn được thừa hưởng từ các Người một
di sản quí báu, luôn tăng trưởng tịnh tiến theo thời gian,
và cũng chính nó là nhân tố quyết định vận mệnh và sự
nghiệp của cả một đời ta.
Gia
sản quí báu mà ông cha ta trong suốt nhiều đời không lúc
nào quên vun đắp, bổ sung rồi tuần tự trao truyền từ thế
hệ này đến thế hệ khác, liên tục gìn giữ không để
mai một, đó chính là bài học đạo đức làm người.
Bài
học đạo đức làm người, cũng tức là nền tảng đạo
lý cổ truyền của người Phương-Đông chúng ta. Bài học
đầu tiên và cơ bản “chính tâm, tu thân, tề gia”
đã ăn sâu vào tận tim óc, máu thịt của nhiều thế hệ
ông cha mình, dân tộc mình, được các Người coi như là khuôn
vàng thước ngọc, là chuẩn mực đạo đức, là thước đo
phẩm hạnh, nhân cách không thể thiếu được của một con
người. Nó được coi như kim chỉ nam để con người theo đó
đi tìm hạnh phúc. Bài học ấy lấy việc tu tâm sửa thân
làm căn cơ, được dạy dỗ và học tập từ lúc các thành
viên trong gia đình còn trong trứng nước cho mãi đến thuở
bạc đầu, không lúc nào ngưng học tập. Nhỏ có cái học
của bọn con trẻ, lớn thêm một chút có cái học của bọn
thanh thiếu niên, lớn hơn nữa thì có cái học dành cho người
trưởng thành. Cái học làm người thì vô cùng vô tận, cho
nên dẫu lớn tuổi đến đâu mà còn biết sống, biết thở,
còn biết mình đang làm người thì còn phải trau dồi bài
học đạo đức. Không phải lớn tuổi rồi, già rồi, con
cháu không ai dám nhắc nhở đụng chạm tới mình nữa thì
mình cứ tự do mặc sức buông thả thân tâm, muốn làm gì
thì làm, như thế là không được. Đành rằng hàng hậu bối
không dám can ngăn, nhắc nhở, nhưng nhân cách và đạo đức
làm người không cho phép thân tâm mình được buông tuồng
thả lỏng, vì như thế là tự đem ngọc báu chôn vào bùn
nhơ, cũng là làm ô danh chính mình, làm nhục lây tới ông
cha mình, là tự làm cái gương đen đúa, xấu xa cho hàng hậu
bối bắt chước, chẳng khác gián tiếp làm hại nhiều đời,
nhiều thế hệ con cháu của mình. Bài học đạo đức cơ
bản được áp dụng từ lúc con cháu còn ấu thơ, sống với
cha mẹ, ông bà và anh chị em trong gia đình, cho đến khi biết
ngồi trong trường học với chúng bạn, rồi tạo lập cuộc
sống riêng tư , học tập cách ăn ở trong gia đình, học đối
đãi giữa người với người ngoài xã hội, biết cách cư
xử hợp đạo trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, sao cho
lúc nào cũng thể hiện nhân cách của một người trượng
phu, quân tử. Bài học ấy luôn được ông cha ta dùng làm
cái gương để tự soi rọi, xét nét lấy chính mình, tự gọt
dũa thân tâm mình để ngày càng thanh cao trong sáng, cũng như
để biết đường răn dạy, uốn nắn, tập tành cho những
người thân yêu, máu mủ của mình, khiến ai nấy đều trở
thành những con người đúng nghĩa làm người, có phẩm chất
tốt đẹp, có ích cho tự thân, gia đình và xã hội.
Từ
khi có chút ít trí khôn cho tới hết bậc tiểu học,
ta sớm được các cụ khai tâm vỡ lòng bằng những bài học
rút ra từ những quyển sách học làm người như Ấu-học
Quỳnh-lâm, Hiếu kinh, Nhị thập tứ hiếu. Đến khi vào
Trung-học, chữ quốc ngữ ta đã rành, thì cha ta bắt đọc
những quyển sách có tính cách trau dồi trí tuệ và đạo
đức làm người như Minh-Tâm Bửu-giám, Đại-học, Luận-ngữ,
Trung-dung, Mạnh tử và sau này khi đã có gia đình, ông
thường khuyến khích ta đọc thêm Lão-tử Đạo-đức kinh
và Trang-tử Nam-hoa kinh. Có thể nói những quyển sách nêu
trên thuộc loại "gối đầu giường" của cha ta và sau này
ta được thừa hưởng, nên hễ cứ nằm xuống và mò lên
đầu giừơng là có đọc ngay, bất cứ cuốn nào cũng được,
đều có ích cho trí tuệ, tâm hồn và phép làm người.
Có
lẽ nhờ lúc nhỏ được gia đình uốn nắn để thích nghi
cho khuôn mẫu trong một trật-tự nhất định theo Triết-giáo
"nhập-thế" của Khổng-Mạnh, khi ra đời lại được tiếp
thu cái tư tưởng "xuất thế" để trở về lại cội nguồn
theo tinh thần "phản phục" của Lão-Trang, trong đó không biết
tại sao lại lảng-vảng một bóng hình của nghiệp thức nhơn
quả, nên về cuối đời, khi trực diện với cái cữa giải
thoát "không cữa" của nhà Phật, ta sớm nhận
ngay ra cốt tuỷ cái ý "bất ly thế gian giác"cũng
như biết chắc rằng không có con đường giải thoát sanh tử
nào ngoài con đường phải tự "giải thoát tri kiến giải
thoát". Không tự giải thoát được sự trói buộc của
tri kiến, dù là tri kiến giải thoát của bậc đã giải thoát
như đức Phật và các bậc Bồ-tát giải thoát môn, thì không
biết đến bao giờ mình mới có thể tự thăng hoa. Bỡi cớ
sao? Vì kiến văn giác tri (thức biết) cũng chính là một cái
tên gọi khác của nghiệp thức nhân quả .
Đến
bây giờ ta mới hiểu được rằng, nhờ tiếp thu hai bài học
làm người trong hai tinh thần khác nhau, mới nghe qua tưởng
như đối nghịch nhau là xử thế và xuất thế, nhưng thật
ra hai luồng tư tưởng ấy lại không hề ngăn ngại nhau hay
chống đối nhau mà luôn luôn bổ túc cho nhau tuỳ theo từng
thời điểm của cuộc sống để làm cho con người thêm tốt
hơn, đúng nghĩa một con người hơn, khiến cho việc ở hay
đi, tức "hành" và "tàng" được dung hoà, tốt đẹp và trọn
vẹn. Cũng nhờ hai bài học "xuất và xử" của hai tư
tưởng ấy đã theo ta đi vào thực tế của cuộc sống mà
về cuối đời, vừa gặp lúc tròn duyên, tỉnh giấc mộng
dài, ta thong thả buông tay, rơi tự do vào hố thẳm không đáy
của cội nguồn nguyên uỷ.
Nghĩ
về công ơn của ông bà, cha mẹ mình, ta nhớ ngày xưa, vừa
đọc sách ta vừa được các người dạy dỗ, uốn nắn từ
những điều nhỏ nhất, chi ly nhất trong cuộc sống thường
nhựt, cũng tức là đạo lý vi nhân xử thế của văn hoá
lễ giáo Phương-Đông. Bên cạnh đó, những việc làm hằng
ngày biểu hiện lòng hiếu thảo, tánh liêm khiết, nhân từ,
khoan dung, đức độ, và lòng tự trọng cũng như nhân cách
của các bậc bề trên mà từ nhỏ đến lớn ta đã được
tận thị kỳ mục, thiệt giống như soi gương thấy hình,
đã khiến bài học làm người mà ta đã tích góp được từ
khi còn để chỏm, ngày càng tăng trưởng, cần và đủ để
ta dùng làm kim chỉ nam đi tìm hạnh phúc ở cõi đời này.
Bài
học đạo lý làm người, theo quan niệm của riêng ta, quan
trọng số một, là công việc cần thiết nhất, cấp bách
nhất, là bài học trước tiên và cuối cùng trong cuộc đời
mình; bài học này thấm đượm nghĩa tình nồng nàn sâu nặng
của cha mẹ, gia đình và thế nhân, là mớ hành trang đã theo
ta đi hết kiếp người, cho đến tận cái ngày gần đất
xa trời hôm nay. Đối với ta, tinh ba góp nhặt được ở bài
học đạo lý làm người, là cái kết quả tốt đẹp nhất,
thành công nhất mà ta đã đạt được trong đời, là cái
vốn quí báu nhất, đáng nâng niu trân trọng nhất, thuộc
hẵn về ta, không thể tách rời và không sợ ai lấy mất.
Nhờ
lãnh hội và thấm nhuần bài học đạo lý làm người, mà
từ nhiều đời ông cha mình và ngay cả chính bản thân ta
đây, đã có được cái nhơn sinh quan khác thế thường, cảm
nhận được cuộc sống này mang nhiều ý nghĩa hơn, cao đẹp
hơn, ích lợi hơn, khiến tâm mình rộng mở hơn, dễ bắt
nhịp và tuỳ thuận thế gian hơn, dễ cùng nó gắn bó chan
hòa hơn, dễ làm "một" mình với cuộc đời như sữa với
nước, như hương với hoa, hơn là chúng ta nghĩ về nó như
một đối tượng hay đôi lúc có ý tưởng cùng nó đương
đầu, đấu tranh, giành giật. Sở dĩ như thế là vì, kinh
nghiệm từ những bài học làm người đã minh chứng cho ta
một sự thật rằng, muốn có được một cuộc sống hạnh
phúc trọn vẹn, thì một người sanh ra trong cõi này không
phải chỉ để sống cho những gì thuộc về riêng mình, mà
còn phải biết sống cho người khác và vì người khác nữa.
Hay có thể còn hơn thế nữa, nếu muốn nói một cách rạch
ròi, sòng phẳng, tách bạch và không ngoa dối, thì mỗi một
con người sinh ra là để học và tập làm người thiện lành
đúng như ý nghĩa vốn dĩ ban đầu của nó, là làm lợi ích
cho tất thảy muôn loài, khiến ai ai cũng được thông sáng,
diệu lạc như mình, vì chính mình thật sự là một mà cũng
là gồm trọn tất thảy. Tất thảy chỉ một, vạn pháp vũ
trụ chính thiệt là mình, mình là vạn pháp, là vũ trụ, tất
thảy cùng mình trong nhất lý chỉ một, bất khả phân ly.
Ai
học được, hiểu được, thấy được và làm được theo
cái chơn lý ngàn đời bất biến ấy thì cả thế gian này
sẽ thuộc về người ấy, thế gian này cũng chính là người
ấy, tất thảy thông lưu làm một, chẳng thể chia lìa. Và
thật tại trước mắt sẽ mang lại cho ngừơi ấy nguồn hạnh
phúc đích thực, tràn trề, vô biên, bất tận, không hư mất
và không gì sánh bằng. Bằng ngược lại, nếu ai tự
khởi phân biệt vì ích kỷ, tự tách riêng mình khỏi
"cái lớn" để bó rọ trong một thân tâm nhỏ nhoi, hèn mọn
và vô thường này, chỉ biết sống trong một giới hạn hẹp
hòi, đơn độc của bản thân mình, hay những gì được gọi
là của mình, thuộc về mình, thì kẻ ấy tức khắc tự biến
mình thành đối lập với cuộc đời, cũng là tự đặt mình
vào địa vị tranh đấu với thế gian; kết cục kẻ ấy sẽ
không bao giờ có được một cuộc sống bình ổn, an lạc,
hạnh phúc thật sự mà đáng lý họ phải đương nhiên được
thụ hưởng một cách bình đẳng, chan hoà, bao la, bất tận,
hoà "một" với cả thế gian này.
Không
lúc nào ta nghĩ về ông cha mình mà những bài học đầu đời
và cũng là bài học cuối cùng này lại không hiện ra. Nghĩa
là, mặc dù ông cha ta không còn nữa, nhưng tinh ba ẩn khuất
đằng sau cái bóng dáng mênh mông của lòng nhân hậu, đạo
đức, lễ nghĩa, thành tín cộng với sự an lạc, bình ổn
một cách tự nhiên như nhiên, lúc nào cũng hiển hiện, bao
trùm, trong trạng thái sâu lắng, diệu lạc khiến ta như được
khích lệ để an tâm thực hành trọn vẹn bài học làm người
mà các Cụ kỳ vọng nơi con cháu của mình.
Tục
ngữ ta có câu: "Gần mực thì đen gần đèn thì sáng".
Lại cũng có câu "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài".
Và quả thật ta rất may mắn cũng như rất đỗi tự hào được
sinh ra trong đời này và được làm con cháu của các Người.
Nhân phẩm, đạo đức và sự nghiệp học làm người của
ông cha mình chính là ngọn đèn sáng giúp ta mượn làm phương
tiện để soi rọi thấy được chính mình cần phải làm
gì để được như thế nào, cũng như thấy được con đường
phía trước mà mình phải vượt qua để thực hiện trọn
vẹn bài học làm người, trong khoảng thời gian ngắn ngủi
chưa tới trăm năm của kiếp nhân sanh.
Các
con cháu của ta chớ có hiểu lầm khi ta nói tới hai chữ sự
nghiệp của tiền nhân. Sự nghiệp của các Người mà ta muốn
đề cập ở đây, hoàn toàn không giống với hai chữ sự
nghiệp được hiểu theo nghĩa đen của thế gian, tức cái
đích danh vọng, địa vi, tiền bạc, lợi lộc mà đa phần
thế nhân ham thích đạt được. Sự nghiệp mà tiền nhân
ta đã nhiều đời nối tiếp dày công vun đắp trong cảnh
thanh bần, đó là sự nghiệp gieo trồng căn lành và hoàn thành
bài học làm người, không ngoài mục đích mưu cầu cho chính
mình trong hiện tại và cho các hàng hậu bối thân thương
của mình trong tương lai có được một cuộc sống bình ổn,
an lạc, thuận thiên lý, hợp nhơn luân, tức không ra ngoài
ý nghĩa của việc học và tập làm người đúng nghĩa con
người. Ngẩng đầu nhìn lên, ta thấy ông cha mình đã rất
có lý và thành công trong cuộc trần này, đó là thực hành
xuất sắc bài học làm người. Sự nghiệp mà cả đời các
Người theo đuổi, như ta đã được tận mắt chứng kiến,
đó là không ngừng đấu tranh với chính mình, không ngoài
mục đích duy nhất là chắt góp và loại bỏ để trở thành
một con người như đúng ý nghĩa của nó. Cuộc chiến dài
lâu trọn một đời và nhiều đời của các Người, không
phải để giành giật chắt góp danh lợi hão huyền mà là
cuộc đấu tranh không khoan nhượng với chính bản thân mình,
để tự thắng mình, cũng là loại bỏ những mầm móng xấu
xa do chính cái tâm tham dục, mê muội, vị kỷ và đầy trí
trá của mình, cũng là những cái nhân khổ đau trói buộc
con người trong hiện tại và ở vị lai. Ông cha ta đã luôn
cố gắng giành giật, chắt góp về mình cái tâm thiện lành,
chơn chánh mà trời đã phú cho con người, cũng là cái bổn
tánh trong sáng tự nhiên vốn dĩ "nó là" như thuở ấu thơ,
bằng cách học và tập cách sống không rời lìa thiên lý,
nhân luân. Ai có tự thắng được cái tâm học đòi trí trá,
giỏi che dấu, tham lam, mê muội, ích kỷ của chính mình thì
liền ngay đó cuộc sống tự thăng hoa, thân tâm liền cảm
thấy nhẹ nhõm, an nhàn, bình ổn, diệu lạc, thiên tánh tự
nhiên hiển lộ, liền tự biết thế nào là đủ, tự biết
an vui với cái đủ, cái thanh nhàn bình dị, mộc mạc, vô
cầu, thuận thiên lý, hợp nhơn luân mà hiếm người thật
sự có được.
Những
việc làm thuận thiên lý, hợp nhân luân, như thêm chỗ vơi
bớt chỗ đầy để củng cố tánh bình đẳng của đạo trời,
phải người phải ta, mà ông cha mình đã thể hiện, tuy các
Người không tự nói ra, nhưng tới giờ này, thì, với chút
ít hiểu biết và kinh nghiệm của tự thân, ta có thể xác
quyết với các hàng con cháu mình mà không sợ lầm lẫn, rằng,
những bài học đạo lý làm người “chính tâm, tu thân,
tề gia” chính là ngọn đèn soi lối, dẫn đường cho
chúng ta trực chỉ đến bến bờ hạnh phúc đích thực, ngay
trong hiện tại, ngay trong cuộc sống này.
Ta
lập lại, cái vốn quí mà ta đã được thừa hưởng từ
ông cha mình, tức bài học đạo lý làm người, là nhân tố
quyết định sự nghiệp của cả một đời ta. Và ta cũng
muốn nhắc lại một lần nữa, để con cháu ta hiểu một
cách minh bạch, không bị lệch lạc, rằng cái vốn quí ấy
chẳng phải là kim ngân, châu báu hay nhà cữa, ruộng vườn
mà nó là kết quả của một quá trình lao động và hành thiện
tích cực, lâu dài, thể hiện nếp sống đạo đức, gương
mẫu, đầy lòng nhân ái của ông bà, cha mẹ ta đó. Lại nữa,
đề cập tới sự nghiệp một đời của ta, thì con cháu cũng
phải hiểu rằng, đó chẳng phải là cái món hư danh huyễn
lợi nào trong cuộc trần này, mà đó chỉ là sự nghiệp chăm
chỉ học tập đạo đức để làm một con người đúng nghĩa
con người mà thôi.
Thế
nhưng, các con cháu hãy đừng tưởng học làm người và sống
cho ra con người đúng như ý nghĩa của nó, là dễ dàng đâu
nhé! Khó lắm, khó khăn lắm đấy! Bỡi vì đọc, nghe,
hiểu, biết những lời của các bậc cổ nhân Thánh- Đức
đã dạy, hay được ông cha răn bảo dạy dỗ, rằng phải
sống như thế này hay không được sống như thế nọ thì
chẳng khó, vì hễ đã có trí khôn thì ai ai cũng có thể phân
biệt được điều gì tốt đẹp, thuận hợp đạo lý, điều
gì xấu xa, trái với luân thường. Thế nhưng tự đem cái
tâm chấp ngã vốn dĩ khôn ngoan, trí trá khó lường và cái
thân ưa tham luyến vật dục ra thực hành bài học đạo đức
làm người, để sống sao cho tương thích đạo lý, thuận
hợp nhân luân, hầu làm một con người như ý nghĩa vốn dĩ
của nó, thì khó khăn vô cùng. Nếu chẳng phải như vậy thì
trước đây hơn hai ngàn rưởi năm, một bậc thầy vĩ đại
của loài người, Đức Khổng-phu-tử, đã không phải thốt
lên những lời than thở âu lo giùm cho thế nhân, rằng "Xử
thế nan ! xử thế nan !" đó ư ? . Bài học đạo lý
làm người khó học khó hành đến nỗi khiến Phu tử phải
ái ngại, thở than “xử thế khó thay ! làm người đúng
nghĩa một con người, khó thay ?”.
Một
con người toàn đức, toàn thiện, một bậc thánh nhân được
gần một nửa nhân loại xưa nay tôn làm "vạn thế sư biểu
- người thầy của vạn đời", mà cũng cho rằng việc
xử thế, cũng là thực hành và trải nghiệm bài học đạo
lý làm người là khó khăn, huống là thân phận phàm phu, tâm
lòng đen đúa, chật hẹp của chúng ta thì còn thấy phải
khó đến mức nào. Thế nhưng, nếu vì thấy khó mà trước
mắt tự thân chúng ta không lo trau dồi bài học đạo đức
làm người, không biết tự chỉnh sửa sao cho cái tâm trí
trá trở nên ngay thẳng, không biết mài rèn uốn nắn cái
thân trong ngoài sao cho thanh sạch, không biết dạy dỗ, sắp
xếp sao cho gia đình mình được trật tự, hoà hợp, hạnh
phúc thì thật khó ai tưởng tượng nổi nền tảng đạo đức
trong tương lai của con cháu chúng ta rồi sẽ ra sao? Thế
nên, ngay trong cuộc đời này, ngay giờ phút này mỗi người
chúng ta nếu không biết sống trong chừng mực, không biết
xử sự thuận hợp đạo lý làm người, không là tấm gương
đạo đức sáng láng để cho con cháu lấy đó mà soi rọi
tu sửa thân tâm chúng thì làm sao trong tương lai chúng có thể
trở thành những con người đúng nghĩa, làm sao chúng có thể
có được một cuộc sống hạnh phúc thực sự như mong ước
của chúng ta đối với hàng hậu bối thân thương của mình?
Bài
học đạo lý, hẵn nhiên là khó học khó hành, nhưng chẳng
phải là mỗi người trong chúng ta không thể sống thuận hợp
với đạo lý nhân sinh, không thể "một" với đạo trời và
đạo làm người được. Chỉ có điều, dấn bước vào con
đường thực hành bài học đạo đức làm người, một mặt
chúng ta tự cảm thấy lẻ loi, cô độc vì thiếu hiếm bạn
đường cùng chí hướng, cũng như thấy buồn chán vì nó khô
khan tẻ nhạt. Mặt khác, chúng ta có cảm giác như mình đang
đi nghịch lại với giòng đời hỗn độn đang ào ạt tuông
chảy về phía mình, cản bước đường mình đang đi tới,
nếu không muốn nói là chực chờ lôi hỏng chân mình, cuốn
hút mình vào giòng xoáy mãnh liệt, tối đen, vô vọng, không
bờ bến của thế giới xô bồ, ô trược, bất định và
không có một tương lai rõ ràng.
Phải
nói một điều chân thật rằng, bài học đạo lý làm người
rất cao xa và thực hành nó cũng là điều không phải dễ
dàng. Chẳng hạn, chỉ cần đề cập tới mỗi một việc
ở phần hình tướng mà người ta dễ nhận thấy nhất, là
khi nào tự đấu tranh với chính bản ngã và tự thắng mình,
thì bài học làm người kia cũng chỉ mới được tạm gọi
là có chút ít kết quả trong đạo làm người mà thôi. Có
thể có người hỏi, chế ngự và tự thắng được mình là
cả một vấn đề gian khổ, lắm nỗi hy sinh, thế mà lại
gọi thành công chỉ có chút ít là thế nào? Aáy bỡi
vì bài học làm người cũng có nhiều tầng nấc thứ lớp,
từ thấp tới cao, từ chỗ uốn nắn cái phần hình tướng
thô kệch của thân tâm đến chỗ tánh chất vi tế vô hình,
tức cũng là hai bậc học Hình nhi hạ và Hình nhi thượng
của đạo làm người theo triết giáo Đông-phương vậy. Nghĩa
là, học và hành đạo lý từ chỗ có thể dùng giác quan,
tri thức, kinh nghiệm mà nhận biết được qua hình tướng
và sự cảm xúc, tới chỗ vô vi vô tướng mà tri giác không
thể với tới được. Tới chỗ này, chỉ có tánh trí con
người, cũng còn gọi là thiên lương, hay thiên tánh tức tánh
trời mà con người thọ bẩm và được khai mở thì mới có
thể cảm nhận và cũng là tự hoà nhập làm một với đạo.
Cho nên nói tự thắng được mình, cũng là còn trong chỗ năng
thắng sở thắng, trong chỗ đối đãi hạn hẹp, còn mới
là kết quả bước đầu trong sự nghiệp học làm người.
Đó là sự thật vậy. Còn về sau nữa, muốn vượt lên khỏi
chính mình cũng là tự thăng hoa, thì các con cháu cần phải
nương mượn tới Phật pháp.
Tuỳ
căn cơ, trí tuệ, phúc đức của mỗi người, cũng là cái
quả của việc gieo trồng căn lành trong quá khứ, vun bồi
đạo đức và tu hành rèn luyện trí tuệ trong hiện tại,
mà trong việc học và hành bài học đạo lý làm người, có
người tiến tới bực Thánh, có kẻ trở thành hiền nhân,
quân tử, lại cũng có kẻ u u mê mê, chẳng rõ phương hướng,
khổ sở trăm đường, không một lần trong đời cảm nhận
được thế nào là hạnh phúc chân thật.
Ta
đã sống vượt qua một hoa giáp, tức quá sáu mươi năm hiện
diện trên cõi trần này. Tuy so với tuổi thọ của cha mẹ
thì mình còn non trẻ lắm, nhưng cứ tạm chấp nhận vì vẫn
được xếp vào cái khoảng thời-gian trung bình được cho
là phần số của một đời người. Gọi là phần số, tức
cái số phần thọ mệnh tự nhiên đã an bài sẵn cho một
kiếp nhân sinh, vì dẫu ai đó có muốn kéo dài cái thân xác
còn biết thở lâu thêm thì cũng chẳng được nào.
Ta
đã hiện diện chốn này trên sáu mươi năm, thế mà có lúc
ngoảnh đầu nhìn lại, chợt thấy thời gian như tia chớp,
thế sự như ảo ảnh, như giấc mộng trưa hè, thân xác mong
manh như bèo bọt, thoắt còn thoát mất chẳng khác mây nổi
mây tan.
Hôm
nay dường như sức khoẻ mách bảo cho ta biết rằng, ta không
còn ở lại lâu hơn với các con cháu được nữa, nhất là
sau khi cái tim ta có vấn đề phải can thiệp bằng phẫu thuật
nông lớn và đặt ống một số mạch máu tim bị nghẽn. Trong
một chừng mực nào đó mà sức lực và trí năng ta có thể
kham nổi, thì suốt trong thời gian làm người vừa qua ta cũng
đã thể hiện được một số việc có ích cho tự thân và
cho một số người cùng ta hữu duyên trong cuộc trần này.
Ta mong con cháu mình cũng như những người thân thiết chớ
ưu sầu khi thấy ta ra đi, mà phải biết rằng, đến và đi
là qui luật tự nhiên như nhiên, như hết ngày thì phải tới
đêm, hết sáng thì phải tới tối, như đông qua xuân lại,
luân chuyển vận hành trong một trật tự nhất định và bất
biến, thế thôi. Nghĩa là cuộc sống trong hiện tại chỉ
là sự chuẩn bị sẵn sàng để dành cho một ngày mai khác
hơn: vừa mới sanh ra cũng có nghĩa là thời gian khởi đầu
chuẩn bị cho cái chết, cũng như cái chết là sự chuẩn bị,
khởi đầu cho một cuộc sống trong tương lai, bỡi vì cõi
này là cõi nhân quả, luân hồi kia mà. Thế nên, sự đến
đi lâu mau, hay cuộc đời được cho là sướng hay khổ của
mỗi người trong thế gian này tuỳ thuộc vào từng mỗi biệt
nghiệp và cộng nghiệp, thiện nghiệp hay ác nghiệp mà người
ấy đã đeo mang theo từ trong quá khứ cũng như đang vun đắp
ngay trong hiện tại, tức nhân của cái quả trong tương lai.
Sở dĩ có sanh vì các duyên tụ hợp; duyên hết rồi là lúc
phải chia lìa. Đến đi là lẽ thường tình của thế gian
mà. Cho nên, không thể nói sống lâu là tốt, hay ngược lại,
mà lâu mau là tuỳ duyên nghiệp cũng là số phần của từng
mỗi chúng sanh đối với cuộc trần huyễn mộng, như có như
không, như hư như thật này mà thôi.
Trước
khi về lại chốn xưa, mặc dù học hành không ra gì, tri thức
kém cỏi, nhưng vì trót mang trọng trách của tổ tiên, ta cũng
ráng cố gắng nối chữ thành câu, ghi lại đôi lời thô thiển,
nhắn nhủ vài việc thế gian mà lúc sinh thời ta chưa kịp
nói với con cháu, mà đối với sự hạnh phúc, bình ổn, an
lạc của bọn trẻ sau này thì lại muôn phần hệ trọng.
Vì lỡ khi bất chợt sa sẩy vô thường mà chưa kịp dặn
dò khúc nôi cùng con cháu, cũng là tâm ý của ông cha ta, thì
ta thật có lỗi với các Người lắm lắm.
Ta
biết rất rõ rằng, mọi sự mọi vật trên thế gian đang
biến dịch, đổi thay trong từng giây từng phút và không ngưng
nghỉ. Cho nên, trong từng mỗi thời đại mà các thế hệ
của con cháu mình đang sống, mọi sự mọi vật khi đó chưa
chắc đã giống với cái thuở mà ông cha mình đã từng sống.
Cho nên, có thể những đạo lý mà ta đã nói ở trên, sẽ
rất khập khiễng đối với sự hiểu biết và tập quán của
từng mỗi nơi mỗi lúc mà các cháu đang sống, nhất là trong
thời đại bùng nổ thông tin và toàn cầu hoá này. Thế nhưng
các con cháu phải nên hiểu và chớ quên một điều tối quan
trọng là, dù ở xứ sở nào, thời đại nào, cuộc sống
đó văn minh tiến bộ vật chất tới đâu đi nữa, mà hễ
đã làm người, với bản chất mà trời đã phú cho, thì nhân
luân, thiên lý và đạo đức làm người cũng không bao giờ
sai khác. Nghĩa là nhân tâm là tánh vốn dĩ thiện lành mà
trời phú cho loài người; được làm người là một điều
vô cùng may mắn của tất thảy chúng sanh. Được sanh làm
người, tức mượn cái tánh huyền mầu của đạo trời thị
hiện ra cho có cái hình tướng bên ngoài và cái tánh trời
bên trong để học đạo làm người. Cho nên, con người ta,
phải khổ đau hay được hạnh phúc cũng chỉ do một thân
tâm này mà ra cả. Cho nên, dù ở đâu, lúc nào, muốn được
hạnh phúc, muốn được an ổn, diệu lạc tự nhiên như nhiên
như cái thể bất biến mà từ đó mình đã xuất sanh, thì
cả thân lẫn tâm phải biết sống trọn trong thể tánh chơn
chất, thật thà, ngay thẳng, sáng suốt ấy để mà cùng với
cái đạo sáng trong bất biến kia tuỳ duyên tương thích, khế
hợp, để được tự tại đến đi, mà lúc nào cũng vẫn
không rời lìa đạo cả. Một con người mà đã tự thấy
một cách chân thật mình cùng đạo không chia lìa thì việc
đến đi sống chết cũng không cần bàn tới nữa mà làm gì.
Vì tự thể của mình kia, cũng là thể tánh đạo trời, không
đến không đi, không còn không mất, cứ tuỳ duyên mà ẩn
mà xuất, làm bất cứ gì tự lợi và lợi tha mà vẫn vô
vi, vô sự, nhàn tản, an lạc. Bằng tự lìa bổn tánh
tự tại của chính mình, cũng là đánh mất chính mình, quên
mất thiên lương thiên tánh, thì con người không còn là con
người đúng nghĩa như cái thuở nguyên sơ của nó, thì kẻ
ấy trước mắt không bao giờ tìm thấy được hạnh phúc,
cũng như không thể làm cho kẻ khác hạnh phúc, và sẽ khó
mà tránh được cái khổ tử sanh luân hồi đeo đẳng, vì
không tự sáng suốt, lầm lẫn nhơn quả, quên mất nẻo về.
"Uống
nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là đạo
lý muôn thuở, bất biến, nhắc nhở chúng ta luôn luôn ghi
nhớ công đức của tiền nhân, là lòng biết ơn đối với
Cha mẹ, Ông bà, Tổ-tiên, mà hễ đã làm người thì ai ai
cũng phải biết điều này, ai ai cũng phải gắng hết sức
để báo đáp. Công cha to lớn ví như trời cao, nghĩa mẹ sâu
dày sánh như đất rộng. Không có đất trời thì làm sao có
vạn vật sản sinh, làm sao chúng ta có thể sống được. Không
có ông bà, tổ tiên, nội ngoại thì làm sao có cha mẹ mình.
Không có cha mẹ sinh đẻ, nuôi nấng, dạy dỗ mình thì làm
sao mình nên hình nên vóc. Phận làm con cháu không quên công
ơn trời biển đó, và biết trả hiếu cho cha mẹ, ông bà,
tổ tiên là đạo nghĩa bất di, bất dịch của kẻ làm người
vậy.
Cổ
nhơn có câu "Hiếu Đức Chi Bổn Giã", nghĩa là, trong
đạo làm người, thì đức hiếu được xếp làm đầu, là
cái gốc của muôn đức lành đó. Hiếu kính cha mẹ, ông bà,
tổ tiên, là cái gốc của đạo đức làm người vậy.
Đã
làm người thì ai mà chẳng phải do cha mẹ mình sinh ra. Cho
nên, chẳng những làm con cháu phải biết vâng lời, hiếu
kính, thuận thảo, biết ơn ông bà, cha mẹ lúc các Người
còn sống đã đành, mà còn phải chí thành chí hiếu, giữ
lễ cung kính, tri ân đối với ông bà cha mẹ của cha mẹ
mình đã khuất nữa, mà đó cũng là cái gương cho con cháu
nhiều đời noi dấu. Vì có làm được như thế thì trọn
kiếp này chúng ta mới mong đáp trả được một phần trong
muôn một ân đức sâu dày mà cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã
hy sinh, gầy dựng cho mình.
Và
mỗi con cháu chúng ta có cúc cung tận tuỵ làm được điều
hiếu kính ấy, thì vong linh người quá cố sẽ mỉm cười
vui sướng, hết lòng phù hộ cho chúng ta được nhiều sự
lành, cũng như từng mỗi người trong chúng ta tự làm tấm
gương sáng cho con cháu các đời sau noi theo mà hiếu nghĩa
với mình sau này, vì đó là qui luật của nhân quả vậy.
Ông
bà, Tổ tiên, Cha mẹ ví như cái gốc, cái thân cây cổ thụ.
Con cháu trải dài nhiều đời ví như cành nhánh của cây.
Gốc rễ có thường được vun xới, tưới nước bón phân,
chăm nom bảo vệ thì thân cây mới mạnh mẽ, cứng cáp. Thân
cây có cứng cáp vững vàng thì cành nhánh mới sum sê, chắc
chắn, khiến dễ đâm chồi nẩy lộc, kết trái đơm hoa, sản
sinh những mầm giống tốt đẹp cho các thế hệ tương lai.
Cứ
nhìn những cây đại thụ sừng sững kia thì biết, tuy gốc
rễ khuất lấp dưới đất, mắt người không thể trông thấy
nhưng chẳng phải là không có gốc rễ, vì nếu không có nó,
thân nhánh cành lá có còn được xanh tốt mãi chăng hay là
phải bị héo úa dẫn đến chết khô? Cũng vậy, đối
với thời hiện tại mà chúng ta đang sống, thì Ông bà, Tổ-tiên
đã khuất bóng, đã không còn, và con cháu nhiều đời cũng
không thể trông thấy các Ngài nữa. Thế nhưng, anh linh của
các Người chẳng phải là không hiện hữu, mà vẫn thường
còn, u ẩn, kín nhiệm, vương vấn bên cạnh để hộ trì con
cháu của mình. Thế mới biết, gốc rễ mà không được vun
đắp vững vàng, chắc chắn, không được thường xuyên chăm
sóc, tưới nước bón phân, thì cây kia cũng khó lòng sống
nổi, huống chi nói tới chuyện cành nhánh tươi tốt sum sê,
đơm hoa, kết trái được. Tổ-tiên tuy đã khuất bóng nhưng
ân đức của các Ngài vẫn luôn quyện mãi trong đời sống
của chúng ta. Làm con cháu của các Ngài, chúng ta không thể
nào quên được ơn đức ấy.
Chúng
ta may mắn hơn nhiều người khác là được sống đoàn tụ
và quây quần bên nhau. Tuy cuộc sống vật chất trước mắt
có khó khăn, nhưng tinh thần thì tràn trề ấm áp. Ngày cúng
giỗ ông, bà, cha, mẹ, tổ tiên là dịp để anh chị em, bà
con, nội ngoại gần xa trong thân tộc cùng họp mặt với nhau,
để cùng nhau ngồi lại kể chuyện và suy tụng công đức
người xưa và lễ bái trả hiếu Tổ-tiên. Những người cao
niên trong tộc họ, đã từng gần gũi ông bà, hãy ngồi lại
với nhau kể cho hàng hậu bối nghe biết cái hay cái đẹp
của tiền nhân mà bắt chước làm theo, biết cái xấu ác
mà người xưa lỡ làm để lấy đó làm bài học kinh nghiệm
mà tránh, mà sợ. Lại cũng phải hiểu rằng, ông cha mình
thuở trước có lỡ làm điều gì xấu quấy đi nữa cũng
là vì cái tình yêu thương, lo lắng cho tương lai con cháu mà
phải phạm, nay con cháu cũng phải biết rộng lượng, bao dung
mà tha thứ, cũng như thành tâm cầu sám hối tội lỗi cho
tiền nhân, để họ được siêu độ tịnh cảnh.
Đứa
cháu nào cũng từ một gốc mà ra. Chỉ cần mỗi đứa một
gáo nước, một nắm đất, một chút phân lạt bón cho gốc
cây thì cổ thụ kia ắc sẽ bền chắc, thân rễ có vững
vàng thì cành nhánh mới tốt tươi, mới thường xuyên đâm
chồi, nẩy lộc, sanh hoa, kết trái, không bị khô héo hay dứt
tuyệt.
Ngày
xưa thời của ông cha ta, việc hương khói, cúng kỵ ông bà,
cũng như bảo trì nhà thờ họ, tu bổ phần mộ tổ tiên thì
đã có ruộng đất hương hoả, có người trực tiếp chịu
trách nhiệm hành xử công việc này hằng năm với tính cách
truyền tử lưu tôn, mà thường là các con trai trưởng, cháu
đích tôn nắm giữ. Ngày nay, vì đất hẹp người đông, nhất
là những người sinh sống ở chốn thị thành đô hội, vấn
đề ruộng đất hương hoả ít người còn nhắc nhở, đề
cập tới. Tuy nhiên, không phải vì thế mà phận làm con cháu
chúng ta quên mất "Hiếu đạo" đối với cha mẹ, ông bà,
tổ tiên, cái hạnh lành cao tột thứ nhất trong đạo làm
người.
Cho
nên tuỳ khả năng từng đứa cháu, từng gia đình mỗi cháu
sau này có thu nhập khác nhau, gái cũng như trai, nội cũng như
ngoại mà ít nhiều tuỳ hỷ bày tỏ tấm lòng mình, đóng
góp để hương khói, cúng giỗ, tu bổ chỗ thờ phụng cũng
như phần mộ của ông bà tổ tiên. Ta nói tuỳ hỷ ở
đây có nghĩa là con cháu tự nguyện mà không ai bắt buộc,
trong khả năng của mình, đối với vong linh ông bà đã khuất,
cũng là cách tự tạo âm đức cho chính mình và con cháu mình
mai sau, nên những người sống, trong anh em bà con thân tộc
chớ có so bì, ganh tị nhau mà mất đoàn kết; để rồi ngày
thiêng liêng trong cuộc họp mặt gia tộc thể hiện lòng tri
ân và hiếu đạo của con cháu đối với ông bà tổ tiên
lại hoá thành cái ngày chửi mắng nhau, thù hiềm nhau, chia
rẽ nhau thì vong linh những người quá cố tất đau khổ lắm
lắm. Nếu có phải vì ông cha ta và chính bản thân ta
đây ăn ở bạc đức mà tất cả cháu chắt đều nghèo khổ,
cơ cực thì ngày cúng kỵ ông cha ta chỉ cần một nén nhang
thơm, một bình trà ngon, một lọ hoa tươi là đủ lễ. Điều
cốt yếu mà ta yêu cầu là, con con cháu cháu phải hoà thuận,
đoàn kết, tương trợ nhau, lá lành đùm lá rách, diù dắt
nhau, nâng đỡ nhau để cùng vượt qua những khó khăn bất
chợt trong cuộc sống, để mọi đứa cháu, chắt của ta đều
được chan hoà và hạnh phúc trong tình thương của gia tộc.
Con cháu của ta mà làm được như thế thì vong linh người
chết thoả nguyện, hả hê vui sướng lắm rồi, vì tất cả
chúng cũng đều từ một gốc là ông cha ta đây mà ra cả.
Ông
bà đã chết nên dẫu cho mâm cao cỗ đầy dâng hiến thì họ
cũng chẳng ăn uống được gì . Ngày cúng kỵ là để hàng
con cháu tưởng nhớ đến gốc rễ, nghĩ tưởng biết ơn công
đức của tiền nhân mà đến với tấm lòng thành kính và
tri ân. Vậy nên, nếu con cháu giàu có thì đóng góp chung,
cùng nhau ăn uống vui vẻ, nhược bằng không dư giả thì nhớ
ngày tưởng đến, kẻ nải chuối, người hộp bánh, gói trà,
rồi ngồi bên nhau hàn huyên ấm lạnh trong tình thân tộc,
cùng gốc rễ, bàn kế tương trợ cho những anh em bà con mình
đang trong cảnh bần hàn, neo đơn cần sự giúp đỡ, hay tháo
gỡ những vướng mắc, tị hiềm nhau mà trước đây chưa
có dịp cởi mở. Kẻ có giúp của, người nghèo góp công,
trải lòng mình ra để xoa dịu nỗi khổ của bà con thân tộc
cùng huyết thống của mình, thì đó chính là điều mà tiền
nhân hằng mong ước vậy. Vì tất cả đều là con cháu một
gốc của ông bà, tổ tiên đây vậy.
Người
xưa nói, chữ Hiếu có ba cách để con cháu tuỳ duyên thể
hiện đối với ông bà, cha mẹ mình:
1)
Đại Hiếu là làm cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên được thơm
danh rạng rỡ vì mình.
2)
Trung Hiếu là kế thừa được ý chí, sự nghiệp của ông
cha, giữ gìn giềng mối đạo đức của tổ tiên, cũng như
không làm điều gì để ông cha phải vì mình mà bị nhục
lây.
3)
Tiểu Hiếu là tận tình hiếu dưỡng, hầu hạ, chăm sóc ông
bà, cha mẹ lúc tuổi xế chiều và cúc cung thành kính, phụng
thờ vong linh ông bà, cha mẹ khi các người quá cố.
Hãy
tuỳ sức mà con con, cháu cháu cố gắng thể hiện đạo hiếu
với ông bà cha mẹ mình trong bổn phận. Hãy hết sức cẩn
thận, kính sợ, nhớ lấy, chớ quên!
Đối
với những bậc bề trên, dù còn hay đã khuất, nếu các con
cháu biết thương yêu nhau, nhường nhịn nhau, giúp đỡ đùm
bọc nhau, biết hối lỗi cũng như biết tha thứ lỗi lầm
cho nhau, thì đó là phần báo hiếu to lớn nhất, cao đẹp
nhất, hơn hết tất cả những gì mà các con cháu dành cho
cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình vậy.
Tóm
lại, việc cúng kiến, kỵ giỗ ông bà, cha mẹ chỉ cốt ở
sự thành kính, trang nghiêm và tinh sạch. Cái cốt lõi trong
những ngày này là bà con thân tộc xa gần chung một gốc có
dịp gặp gỡ để biết mặt nhau, cảm thông nhau, khiến tình
gia tộc ngày càng nảy nở chan hòa, tương thân, tương trợ
nhau, làm gương mẫu cho những thế hệ kế tiếp. Không ai
dám tự hào rằng mình suốt đời giàu có sung sướng, mà
cũng có lúc gặp phải khốn khó cơ cực. Chính vì thế, việc
che chở đùm bọc tương trợ nhau trong từng khả năng của
các con cháu đối với những người trong thân tộc là bổn
phận của mọi người chúng ta vậy.
Những
gì mà lòng của người ông, người cha muốn gởi gắm, dặn
dò con cháu ở đời sau thì nhiều lắm, không có bút mực
nào, không có lời nào nói lên cho hết được. Vậy nay ta
tóm gọn và yêu cầu mấy việc chính yếu.
Một
người con tốt, để được hữu ích cho tự thân và gia đình
cũng như là công dân tốt của xã hội, thì khi xuất lúc xử
không quên vun đắp các hạnh lành. Nay ta để lại 8 chữ dùng
làm thước đo đạo đức con người, và luôn ước mong con
cháu dùng nó mà tu sửa thân tâm để trở thành con người
đúng nghĩa trong đạo lý làm người. Tám chữ đó là:
Nhân,
Hiếu, Thành, Tín
Lễ,
Nghĩa, Liêm, Sỉ
Phải
biết luôn luôn trau dồi thân tâm, trí dục, đức dục lẫn
thể dục, để có được một tâm hồn trong sáng, đạo đức,
nhân ái trong một thân thể mạnh mẽ, cường tráng, khiến
cuộc sống lúc nào cũng thấy tươi đẹp, đáng yêu, đáng
sống.
Kẻ
sanh trước, đi trước bao giờ cũng phải luôn là tấm gương
tốt cho hàng hậu bối. Tránh xa 4 cái tệ hại nguy thân bại
gia là Cờ bạc, Rựơu chè, Hút hít, Gái trai. Phải biết làm
gương và giáo dục con cháu mình thành những đứa con cháu
tốt của gia đình, công dân tốt của xã hội, chứ đừng
đợi để cộng đồng, xã hội giáo dục chúng, thì khi ấy
đã quá muộn màng rồi.
Phải
biết đùm bọc yêu thương, tương thân tương trợ trong tình
gia tộc, nghĩa đồng bào từ một giòng huyết thống, một
gốc rễ mà ra.
Việc
giáo dục con cháu là bổn phận của tất cả mọi người
lớn trong tộc họ chứ chẳng phải của riêng từng gia đình,
để tất cả bọn trẻ đều trở thành những người tốt,
hữu ích, làm trụ cột vững chắc cho gia đình, làm chỗ dựa
cho gia tộc, làm rạng rỡ tổ tiên ngày sau.
Con
cháu nên cố gắng hết sức để thực hiện ước nguyện
của ông cha mình, cũng là cách để báo hiếu vậy.
Ta
viết ra những lời này trong trạng thái tinh thần rất minh
mẫn.