Tập
2
Cuốn
35
Chương
46
Giải
Thích: Phẩm Dâng Bát Thứ 2
(Bản
Cao-ly, bản chùa Thạch Sơn ghi “Phẩm Báo Ứng)
Kinh.
Phật bảo Xá-lợi-phất, nếu Bồ-tát ma-ha-tát tu hành Bát-nhã
ba-la-mật. Làm được công đức ấy, khi ấy bốn Thiên vương
đều rất hoan hỷ, nghĩ rằng: chúng ta sẽ lấy bốn chiếc
bát dâng lên Bồ-tát, như trước đây Thiên vương dâng bát
trước tiên cho Phật.
Luận.
Hỏi: Phẩm trước nói đã đầy đủ, nay cớ sao còn nói lại?
Đáp:
Trước tuy tán thán Bát-nhã ba-la-mật, việc chưa đầy đủ,
người nghe không chán, cho nên lại nói nữa.
Lại
nữa, phẩm đầu chỉ tán thán năng lực Bát-nhã ba-la-mật,
nay tán thán hành giả làm được công đức ấy, được bốn
Thiên vương hoan hỷ dâng bát.
Lại
nữa, Bồ-tát đủ được các nguyện hạnh, nên Phật an ủi
khuyên tấn nói có quả báo ấy, trọn không hư dối.
Lại
nữa, Bát-nhã ba-la-mật có hai thành quả: 1. Thành Phật độ
chúng sanh. 2. Là tuy chưa thành Phật được hưởng quả báo
thế gian, hoặc làm Chuyển luân thánh vương, Ðế-thích, Phạm
vương làm chủ ba ngàn thế giới, sự cúng dường phước
lạc của thế gian, đều được đầy đủ. Nay lấy quả báo
thế gian chỉ cho chúng sanh, cho nên nói việc ấy.
Lại
nữa, thế gian muốn thành nghiệp lớn, phần nhiều bị hoại
loạn, Bồ-tát thời không như vậy, nội tâm đã định ngoại
sử ứng theo. Do nhân duyên như vậy, nên nói Phẩm này.
Hỏi:
Khi Bồ-tát tăng ích sáu Ba-la-mật, chư thiên người đời
vì cớ sao vui mừng?
Đáp:
Chư thiên đều nhân nơi mười điều thiện, bốn thiền, bốn
vô lượng tâm mà được sanh ra, nhưng các công đức ấy lại
do chư Phật Bồ-tát mà có. Nếu Phật ra đời thời làm tăng
ích chúng chư thiên, tổn giảm chúng A-tu-la; nếu Phật không
ra đời, thời chúng A-tu-la nhiều, chúng chư thiên giảm ít,
vì tạo phước không thanh tịnh. Nếu chư Phật xuất thế,
có thể dứt lưới nghi cho chư thiên, có thể thành đại sự.
Như Thích-đề-hoàn nhân khi mạng chúng sắp chết, ôm tâm
sợ hãi, cầu Phật cứu, tìm khắp không biết chỗ, tuy thấy
người xuất gia ở giữa núi đầm, được người cúng dường,
cũng không thể dứt lưới nghi cho họ.
Khi
ấy, trời Tỳ-thủ-kiết-la thưa với Thích-đề-hoàn nhân
rằng: vua Thi-tỳ (Sibi) khổ hạnh kỳ đặc, đời rất hy hữu.
Các người trí nói: người ấy không bao lâu sẽ thành Phật.
Thích-đề-hoàn
nhân nói: việc ấy khó thành; sao biết được? như trứng
cá, bông xoài, và người phát tâm Bồ-đề, ba việc ấy khi
còn ở trong nhân thì nhiều, khi thành rất ít, nay hãy thử
xem.
Ðế-thích
tự hóa làm chim cắt, Tỳ-thủ-kiết-la hóa làm chim bồ câu,
bồ câu chui vào vua, vua tự cắt thịt mình, cho đến đem thân
lên cân để thế mạng chim bồ câu, đại địa chấn động.
Khi
ấy, Thích-đề-hoàn nhân, tâm rất hoan hỷ, rải các hoa trời,
tán thán việc chưa từng có.
Ðại
tâm quyết định như vậy, thành Phật không lâu.
Lại
nữa, người phàm mắt thịt, không có trí tuệ, khổ thân
tìm của, để nuôi sống, nghe nói Bồ-tát tăng ích sáu Ba-la-mật,
thành Phật không lâu, mà còn hoan hỷ, huống gì chư thiên!
Hỏi:
Trời Tứ thiên vương, trời Ba mươi ba còn bị nạn A-tu-la,
còn chư thiên trên đó không có nạn ấy, cớ sao hoan hỷ?
Đáp:
Chư thiên trên đó tuy không có nạn A-tu-la, nếu Phật không
ra đời, thì được sanh lên cõi ấy rất ít; giả sử có
được sanh, năm dục lạc không đẹp, vì cớ sao? Vì chỉ
tu phước bất tịnh. Cung điện, ánh sáng, thọ mạng của
chư thiên cõi Sắc cũng như vậy.
Lại
nữa, trong chư thiên, người có trí tuệ biết được thiền
vị, năm dục đều vô thường, chỉ có khi Phật ra đời mới
khiến được Niết-bàn thường vui. Vì vui thế gian, vui Niết-bàn,
đều do nơi Phật Bồ-tát mà được, cho nên hoan hỷ; ví như
cây trái ngon ngọt, thành tựu tốt tươi đầy đặn, thì người
rất hoan hỷ. Vì cây đó các thứ lợi ích, có người nhờ
bóng im của nó, có người dùng hoa, có người ăn quả. Bồ-tát
cũng như vậy. Hay lấy bóng im lìa pháp bất thiện ngăn che
khổ nóng của ba ác, hay cho trời người hoa giàu vui, khiến
các hiền thánh được quả Tam thừa, cho nên hoan hỷ?
Hỏi:
Chư thiên có nhiều việc cúng dường, cớ sao dâng bát?
Đáp:
Bốn thiên vương dâng bát, các trời khác cúng dường, đều
có pháp nhất định, như khi Phật mới sanh, Thích-đề-hoàn
nhân lấy áo trời nâng thân Phật, Phạm thiên vương đích
thân cầm lọng, bốn Thiên vương phòng hộ bốn bên. Chư thiên
Tịnh-cư muốn khiến Bồ-tát sanh tâm chán lìa, nên hóa làm
người già, bệnh, chết, và thân hình Sa-môn. Lại khi xuất
gia, bốn Thiên vương sắc lệnh sứ giả đỡ nổi chân ngựa,
tự mình hầu giúp bốn phía Bồ-tát. Thiên Ðế-thích lấy
tóc bỏ lót dựng tháp tóc ở ngoài cửa đông thành trên trời.
Lại lấy y báu của Bồ-tát dựng tháp y ở ngoài cửa nam
thành, lúc Phật đi đến dưới cây thì dâng cỏ tốt. Bồ-tát
Chấp Kim cang, thường cầm Kim cang hộ vệ, Phạm thiên vương
thỉnh Phật Chuyển pháp luân. Như vậy mỗi mỗi đều có
phép nhất định. Vì vậy nên bốn Thiên vương dâng bát. Ý
nghĩa bốn bát như trước đã nói.
Hỏi:
Phật một mình cớ sao lãnh thọ bốn bát?
Đáp:
Bốn vua lực bằng nhau, không thể lãnh thiên về một người.
Lại khiến thấy thần lực của Phật, hợp bốn bát làm một,
tâm mừng, lòng tin thanh tịnh, nghĩ rằng: từ khi Bồ-tát mới
sanh, đến nay thành Phật, chúng ta cúng dường, công đức
không hư dối.
Hỏi:
Bốn Thiên vương sống lâu 500 năm, Bồ-tát quá vô lượng
vô số kiếp sau mới thành Phật, bốn Thiên vương hiện nay
chẳng phải là bốn Thiên vương sau này, tại sao hoan hỷ?
Đáp:
Vì đồng một họ, ví như dòng họ sang, con cháu truyền trăm
đời, không vì xa mà cho là khác.
Hoặc
hành giả khi thấy Bồ-tát tăng ích sáu Ba-la-mật, tâm phát
nguyện rằng: Bồ-tát ấy khi thành Phật, ta sẽ dâng bát,
thế nên được sanh (bốn Thiên vương).
Lại
nữa, bốn Thiên vương sống 500 năm, nhân gian 50 năm bằng
một ngày một đêm ở bốn Thiên vương, và 30 ngày làm một
tháng, 12 tháng làm một năm. Lấy sự sống lâu 500 năm ấy
so bằng 900 vạn năm ở nhân gian Bồ-tát làm được công đức
ấy, hoặc gần thành Phật, bốn Thiên vương mới sanh, đủ
có thể gặp được Phật.
Hỏi:
Như trong kinh Ðại thừa nói: có đức Phật lấy hỷ làm món
ăn, không ăn đồ ăn bốc nắm. Giống như Thiên vương, y phục
nghi dung của Phật không khác với người đời, thời không
cần bát ăn, cớ sao nói bốn Thiên vương nhất định phải
dâng bát?
Ðáp:
Nhất định là vì dùng bát, nên không nói không dùng.
Lại
nữa, chư Phật dùng bát thí nhiều, không dùng bát ít, cho
nên lấy nhiều làm định lệ.
Kinh:
Trời Ba mươi ba cho đến trời Tha-hóa-tự-tại, cũng đều
hoan hỷ, ý nghĩ rằng: chúng ta sẽ hầu hạ cúng dường Bồ-tát,
tổn giảm chúng A-tu-la, tăng ích chúng chư thiên. Ba ngàn đại
thiên thế giới, bốn Thiên vương cho đến trời A-ca-ni-sắc,
đều rất hoan hỷ. Ý nghĩ rằng: chúng ta sẽ thỉnh Bồ-tát
ấy Chuyển pháp luân.
Luận:
Chư thiên ấy, lấy hương hoa anh lạc, lễ bái cung kính, nghe
pháp, tán thán cúng dường, cũng nghĩ rằng: người tu phước
thanh tịnh, thì A-tu-la chúng giảm, tăng ích trời Ba mươi ba.
Chư thiên chúng ta cũng được tăng ích.
Hỏi:
Trên đã nói sáu hạng trời, sao còn nói trong ba ngàn đại
thiên thế giới, cho đến trời A-ca-ni sắc đều hoan hỷ cúng
dường?
Đáp:
Trước nói hạng sáu trời ở trên một núi Tu-di, đây nói
chư thiên trong ba ngàn đại thiên thế giới, trước chỉ nói
cõi Dục, nay nói trời cõi Dục, cõi Sắc thỉnh Phật Chuyển
pháp luân. Trên tuy nói chu thiên Tịnh-cư cúng dường khuyến
trợ các thứ, nay thỉnh Phật Chuyển pháp luân là việc lớn.
Hỏi:
Trong ba tạng chỉ nói Phạm thiên thỉnh Chuyển pháp luân,
nay cớ sao bốn Thiên vương cho đến trời A-ca-ni sắc?
Đáp:
Trời cõi Dục gần, cho nên đến trước, trời cõi Sắc đều
gọi là Phạm. Nếu nói Phạm vương thỉnh là đã nói các
trời khác.
Lại
nữa, Phạm là cánh cửa đầu của cõi Sắc, nói đầu nên
sau cũng nói.
Lại
nữa, có Phật không Phật, chúng sanh thường biết Phạm thiên.
Vì Phạm thiên là tổ phụ của thế gian, vì người đời
tin như vậy, nên Phật nói Phạm thiên. Tướng Pháp luân như
trước đã nói.
Kinh:
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã ba-la-mật,
khi tăng ích sáu Ba-la-mật, các thiện nam tử, thiện nữ nhân,
đều hoan hỷ, ý nghĩ rằng: chúng ta sẽ vì người ấy làm
cha mẹ, vợ con, thân tộc, tri thức?
Luận.
Hỏi: Trước đã nói làm được công đức ấy, nay sao còn
nói tăng ích sáu Ba-la-mật?
Đáp:
Trước nói tướng chung, nay nói tướng riêng.
Lại
nữa, trước nói công đức có vô lượng thứ, người nghe
chán mệt, nay chỉ lược nghe nói sáu Ba-la-mật, thời thu nhiếp
hết các công đức.
Lại
nữa, vì trời nói làm được các công đức, vì người nói
tăng ích sáu Ba-la-mật, sao biết? Như sau nói: thiện nam tử,
thiện nữ nhân, do vậy nên biết.
Hỏi:
Bốn Thiên vương cho đến trời A-ca-ni-sắc, cớ sao không nói
là thiện thiên, mà chỉ đối với người thì nói là thiện
nam tử, thiện nữ nhân?
Đáp:
Chư thiên đều có Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm trí, biết
cúng dường Bồ-tát, nên không nói riêng chư thiện thiên,
còn người vì mắt thịt không biết thiện, mà biết cúng
dường, vì ít nói riêng thiện. Thiện là theo Phật nghe pháp,
hoặc theo đệ tử Phật và Bồ-tát nghe pháp. Hoặc nghe thọ
ký sẽ làm Phật, lại nghe Phật tán thán danh tự, cho nên
biết tu thiện.
Hỏi:
Cớ sao chỉ nói nam tử, nữ nhân thiện, mà không nói kẻ
hai căn (nam nữ), kẻ không căn là thiện?
Đáp:
Không căn là không có căn đắc đạo, cho nên không nói như
trong luật không cho xuất gia, vì người ấy mất tướng nam
nữ; tâm họ bất định, gặp chút nhân duyên đã nổi giận,
kiết sử nhiều, mê đắm thế sự, ôm lòng nghi ngờ, không
vui đạo pháp, tuy tu chút ít việc phước, trí tuệ cạn mỏng,
không thể thâm nhập, bản tánh thay đổi, cho nên không nói.
Ðó là trong pháp Thanh văn nói như vậy. Còn trong pháp Ðại
thừa, ví như biển lớn, không gì không dung, hạng không căn
ấy hoặc có khi cũng tu thiện, chỉ vì ít nên không nói. Gọi
rằng ít, vì trong số nam nữ, hạng người không căn ấy rất
ít, trong hạng không căn mà tu thiện, càng ít hơn. Ví như
người tại gia tuy tóc, râu, nốt ruồi đen mà không gọi là
người đen. Người hai căn kiết sử cấu tạp nhiều, cũng
làm việc nam, cũng làm việc nữ, tâm kia tà cong, khó có thể
tế độ, ví như ở rừng rậm kéo cây, cây cong khó ra. Lại
như A-tu-la, tâm nó không đoan chánh, thường nghi Phật, cho
Phật hỗ trợ trời. Phật dạy năm uẩn, họ cho là có sáu
uẩn, còn một uẩn Phật không nói, hoặc dạy bốn đế, họ
cho là có năm đế, còn một đế Phật không nói. Người hai
căn cũng như vậy. Vì tâm nhiều tà cong, không thể đắc đạo,
vì vậy nên chỉ nói thiện đối với nam tử nữ nhân.
Tướng
thiện là có tâm từ bi hay nhẫn lời mắng ác, như phẩm Mắng
trong kinh Pháp-cú nói: hay nhẫn lời mắng ác, là ở trên mọi
người; ví như ngựa lành tốt, có thể để vua cỡi.
Lại
nữa, năm thứ tà ngữ, roi, gậy, đánh hại, trói buộc...
không hủy hoại tâm kia được, ấy gọi là tướng thiện.
Lại
nữa, ba nghiệp không lỗi, vui với người thiện, không hủy
báng người khác thiện, không phô trương đức mình, tùy thuận
mọi người, không nói lỗi người, không đắm cái vui thế
gian, không cầu danh tự, tin ưa cái vui đạo đức, nghiệp
mình thanh tịnh, không não hại chúng sanh, tâm quý thật pháp,
khinh hèn thế sự, chỉ ưa lời thẳng, không theo người dối,
vì cái vui của tất cả chúng sanh, tự bỏ vui mình, làm cho
tất cả chúng sanh được lìa khổ, nên lấy mình thay thế.
Như vậy có vô lượng việc, gọi là tướng người lành.
Tướng này phần nhiều ở nam nữ, cho nên nói thiện nam tử,
thiện nữ nhân.
Hỏi:
Thiện nam tử, thiện nữ nhân, vì sao có thể phát lời nguyện
ấy?
Đáp:
Thiện nam tử, thiện nữ nhân, tự biết phước mỏng, trí
tuệ ít, tập gần Bồ-tát, cầu được vượt qua, ví như
trầm thạch tuy nặng nương thuyền được qua.
Lại
thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói “Bồ-tát không phải
từ một đời, hai đời mà được hành đạo, mà phải qua
lại sanh tử trong vô số kiếp, liền suy nghĩ ta sẽ cùng bồ-tát
làm nhân duyên.
Lại
nữa, Bồ-tát chứa đức sâu dày, nên ở chỗ sanh ra, chúng
sanh đều đến kính ngưỡng Bồ-tát, để mong nhờ lợi ích
sâu nặng. Nếu thấy Bồ-tát xả thọ mạng, thời nguyện
ta sẽ cùng Bồ-tát làm cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, vì cớ
sao? Vì biết tập gần người thiện, được tăng ích công
đức. Ví như chứa nhiều hương, hơi thơm càng nhiều: như
Bồ-tát đời trước làm thái tử của quốc vương, thấy
người cõi Diêm-phù-đề nghèo cùng, muốn tìm ngọc Như ý,
đi vào biển lớn, đi đến cung Long vương, rồng thấy thái
tử oai đức thù diệu, liền đứng dậy nghinh đón, mời đến
trước để cúng dường mà hỏi rằng: làm sao từ xa đến
được?
Thái
tử đáp: tôi thương xót chúng sanh cõi Diêm-phù-đề, nên
muốn tìm ngọc Như ý để cứu giúp.
Rồng
nói: hãy ở lại cung tôi thọ cúng dường một tháng, rồi
tôi sẽ cho.
Thái
tử liền ở một tháng, vì Long vương tán thán đa văn, rồng
liền cho ngọc. Ngọc như ý này, có thể mưa xuống một do
tuần (khoảng 12 km).
Rồng
nói: thái tử có tướng, không lâu sẽ làm Phật, tôi sẽ
làm đệ tử đa văn đệ nhất.
Khi
ấy, thái tử lại đi đến một cung rồng khác được ngọc,
mưa xuống hai do tuần. Hai tháng vì rồng tán thán năng lực
thần thông. Rồng nói Thái tử không bao lâu sẽ làm Phật,
tôi sẽ làm đệ tử thần túc đệ nhất.
Lại
đi đến một cung rồng khác được thứ ngọc, mưa xuống
ba do tuần. Ba tháng vì rồng tán thán trí tuệ. Rồng nói Thái
tử không bao lâu sẽ thành Phật, tôi sẽ làm đệ tử trí
tuệ đệ nhất.
Các
rồng cho ngọc xong nói: khi người hết thọ mạng, ngọc đem
trả lại ta, Bồ-tát hứa lời.
Thái
tử được ngọc, đi đến cõi Diêm-phù-đề, một ngọc mưa
đồ ăn uống, một ngọc mưa y phục, một ngọc mưa bảy báu,
lợi ích chúng sanh.
Lại
như Bồ-tát Tu-ma-đề, trông thấy Phật Nhiên Ðăng, Bồ-tát
liền đi theo người con gái tên Tu-la-bà hỏi mua năm cành hoa,
người con gái không chịu bán, bồ-tát liền đem năm trăm
tiền vàng, để được mua năm trăm cành hoa, người con gái
vẫn không bán mà lại giao ước rằng: nguyện tôi đời đời
làm vợ ông, rồi sẽ bán cho. Bồ-tát cần lấy hoa cúng dường
Phật, nên hứa lời.
Lại
Bồ-tát Diệu Quang, có người con gái ông trưởng giả thấy
thân Bồ-tát có 28 tướng, sanh tâm ái kính, đứng ở dưới
cửa. Bồ-tát đi đến, người con gái liền cỡi ngọc lưu
ly nơi cổ, để vào trong bình bát của Bồ-tát, tâm nguyện
rằng: tôi sẽ đời đời làm vợ người này. Người con gái
này trong 250 kiếp, nhóm các công đức, sau sanh ở giữa hoa
sen trong vườn của dâm nữa Hỷ kiến. Hỷ kiến nuôi làm
con gái (đặt tên là Hỷ đức), đến năm 14 tuổi, nữ công,
thế trí, đều đầy đủ.
Bấy
giờ có vua cõi Diêm-phù-đề, tên là Tài chủ, thái tử tên
là Ðức chủ, có tâm đại bi, thường ra khỏi cửa thành
vào vườn du ngoạn, các dâm nữ dẫn đạo ca tán, Thái tử
Ðức chủ rải các vật báu, y phục, ẩm thực, thí như rồng
mưa, không chỗ nào không khắp. Người con gái Hỷ đức thấy
thái tử, tự tạo ca kệ mà tán dương thái tử, con mắt ái
luyến chăm nhìn chưa từng nhấp nháy, tự phát nguyện rằng:
việc thế gian tôi đều biết hết, xin đem thân tôi dâng cấp
thái tử.
Thái
tử hỏi: người thuộc về ai? Nếu có thuộc về ai, thời
chẳng phải nên nhận.
Bấy
giờ dâm nữ Hỷ kiến đáp lời Thái tử: đứa con gái tôi
đây năm, tháng, ngày, giờ, nó sanh ra đồng với thái tử.
Ðứa con gái này chẳng phải từ trong bụng tôi sanh ra. Sáng
sớm tôi vào vườn, thấy trong hoa sen có bé gái này sanh ra,
tôi nhận nuôi làm con gái, chớ vì tôi mà khinh hèn đứa con
gái này. Ðứa con gái này giỏi 64 điều, không điều gì không
đầy đủ, nữ công, mỹ thuật, kinh thư, phương thuốc, thảy
đều thông suốt. Thường có lòng hổ thẹn, nội tâm trung
trực, không có tật đố, không ý tưởng tà dâm. Con gái tôi
đạo đức oai nghi như vậy, Thái tử hẳn nên nhận lấy!
Thái
tử Ðức chủ trả lời với người con gái: chị! Tôi phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tu đạo Bồ-tát, không
có yêu tiết gì, quốc tài vợ con, voi ngựa bảy báu, nếu
có ai đến xin, tôi không trái ý họ. Nếu con trai con gái của
người sanh ra, và chính thân người, nếu có người xin, tôi
sẽ cho họ, chớ sanh lo buồn hối hận. Hoặc có khi tôi bỏ
ngươi đi tu, làm đệ tử Phật, ở tịnh chỗ núi rừng, ngươi
cũng chớ sầu.
Người
con gái Hỷ đức đáp: giả sử lửa địa ngục thổi đến
cháy nát thân tôi, tôi không bao giờ hối hận. Tôi cũng không
phải vì dâm dục vui chơi mà đến làm thân hảo tôi chỉ
vì khuyến trợ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho nên
phụng sự chánh sĩ.
Người
con gái lại thưa với Bồ-tát rằng: đêm qua tôi mộng thấy
thân Phật Diệu Nhật ngồi dưới gốc đại thọ, nên cùng
nhau đến chiêm ngưỡng.
Thái
tử thấy người con gái đoan chánh, lại nghe nói đức Phật
xuất hiện. Vì hai lẽ đó nên lên một xe cùng đi đến chỗ
Phật.
Phật
thuyết pháp cho nghe, thái tử được vô lượng môn đà-la-ni,
người con gái được tâm chí điều phục.
Bấy
giờ thái tử lấy năm trăm hoa báu cúng dường Phật, để
cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thái
tử thưa với phụ vương rằng: con gặp được thân Phật
Diệu Nhật mà được thiện lợi lớn.
Phụ
vương nghe rồi, bỏ vật ái trọng đem cho thái tử, rồi cùng
với nội cung quan thuộc, nhân dân trong nước, đi đến chỗ
Phật.
Phật
thuyết pháp cho nghe, vua chứng được đà-la-ni. Ðèn hết thảy
pháp không tối.
Khi
ấy vua suy nghĩ: không thể lấy pháp thế tục nhiếp trị
quốc độ, hưởng thọ ngũ dục mà có thể đắc đạo.
Suy
nghĩ như vậy xong, lập Ðức chủ thái tử làm vua, để xuất
gia cầu đạo.
Bấy
giờ thái tử vào ngày rằm, có sáu thứ báo ứng đến. Người
vợ tên Hỷ đức biến làm nữ báu. Nhân duyên như vậy, trong
kinh Bất khả tư nghì có nói rộng.
Cho
nên biết thiện nam tử, thiện nữ nhân, nguyện đời đời
làm cha mẹ, vợ con, quyến thuộc Bồ-tát.
Kinh:
Bấy giờ trời Tứ thiên vương cho đến trời A-ca-ni-sắc,
đều rất hoan hỷ, ai nấy tự nghĩ rằng: chúng ta hãy làm
phương tiện, khiến Bồ-tát xa lìa dâm dục, từ khi mới phát
tâm, thường làm kẻ đồng chơn, đừng để cho chung hội
với sắc dục. Nếu hưởng thụ ngũ dục, còn chướng ngại
sanh cõi Phạm thiên, huống gì Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Vì vậy, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát diệt dâm dục
xuất gia nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chứ
chẳng phải không dứt.
Luận.
Hỏi: Chư thiên cớ sao nguyện như vậy?
Đáp:
Trong thế gian, ngũ dục là đệ nhất, không ai không ưa thích.
Trong lục dục, xúc dục là đệ nhất, nó trói buộc tâm người,
như người bị rớt xuống bùn sâu, khó thể vớt khỏi, vì
vậy chư thiên phương tiện khiến Bồ-tát xa lìa dâm dục.
Lại
nữa, nếu hưởng thụ các dục khác, vẫn không mất trí tuệ,
còn khi hội hiệp dâm dục, thân tâm hoan mê, không cón tỉnh
giác, tự chìm đắm sâu. Vì vậy chư thiên làm cho Bồ-tát
xa lìa.
Hỏi:
Làm sao khiến xa lìa?
Đáp:
Như Bồ-tát Thích-ca Văn ở trong cung vua Tịnh-phạn, muốn
ra ngoài thành đạo xem, chư thiên Tịnh cư, hóa làm người
già, bệnh, chết, khiến tâm kia chán. Lại khiến nửa đêm,
thấy các cung nhân kỷ nữ lộ hình xấu xí bất tịnh, nước
bọt mũi chảy ra, phân đãi bừa bãi, Bồ-tát thấy rồi liền
sanh ghê chán. Hoặc có khi chư thiên khiến người con gái sanh
ác tâm đố kỵ, chẳng biết ân đức, ác khẩu dối trá,
không biết tỉnh xét. Bồ-tát thấy rồi liền sanh niệm nghĩ
rằng: thân tuy tợ người mà tâm nó thật đáng ghét, liền
xa bỏ nó.
Muốn
khiến Bồ-tát từ khi mới phát tâm, thường làm hạnh đồng
chơn, không hội cùng sắc dục, vì cớ sao? Vì dâm dục là
gốc các thứ kiết sử. Phật dạy: thà lấy dao bén cắt đứt
thân thể, không nên hội cùng nữ sắc, dao cắt tuy khổ, không
đọa đường ác, còn nhân duyên dâm dục phải chịu khổ
địa ngục trong vô lượng kiếp số. Người hưởng thọ ngũ
dục còn không được sanh cõi Phạm thiên, huống gì được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hoặc
có người nói: Bồ-tát tuy hưởng thọ ngũ dục, tâm không
đắm trước, không chướng ngại đạo, vì vậy nên Kinh nói:
hưởng thọ ngũ dục, còn không được sanh cõi Phạm thế.
Phạm
thế là nơi vô thỉ chúng sanh đều được sanh đến đó,
song người hưởng thọ ngũ dục, chỗ thường đáng được
còn không được sanh, huống gì Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, là nơi vốn không được lại muốn được.
Vì
vậy Bồ-tát nên làm kẻ đồng chơn tu hành phạm hạnh, sẽ
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bồ-tát
phạm hạnh không nhiễm trước thế gian, nên mau thành Bồ-tát
đạo. Nếu người dâm dục, thí như keo sơn, khó thể lìa
được, vì cớ sao? Vì thân hưởng thọ dục lạc, rễ dâm
dục càng sâu. Cho nên trong pháp xuất gia, dâm dục đứng đầu,
lại cũng nặng.
Kinh:
Xá-lợi-phất bạch Phật răng: Thế Tôn! Bồ-tát ma-ha-tát
cần phải có cha mẹ, vợ con, thân tộc, tri thức chăng?
Phật
bảo Xá-lợi-phất: hoặc có Bồ-tát có cha mẹ, vợ con, thân
tộc, tri thức. Hoặc có Bồ-tát từ khi mới phát tâm đã
dứt dâm dục, tu phạm hạnh đồng chơn, cho đến khi chứng
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không phạm sắc
dục. Hoặc có Bồ-tát do lực phương tiện, thọ ngũ dục
rồi, xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Luận.
Hỏi: Ba hạng Bồ-tát ấy, hạng đầu như người thế gian,
thọ ngũ dục rồi sau mới lìa bỏ đi tu, chứng được giác
ngộ. Hạng thứ hai có đại công đức kiên cố, khi mới phát
tâm đã dứt dâm dục, cho đến khi thành Phật. Hạng Bồ-tát
này hoặc là pháp thân, hoặc là pháp thân, hoặc là nhục
thân, hoặc lìa dục, hoặc chưa lìa dục. Hạng thứ ba là
Bồ-tát pháp thân thanh tịnh, được vô sanh pháp nhẫn, trú
ở sáu thần thông, vì giáo hóa chúng sanh nên cùng với chúng
sanh đồng sự để nhiếp thủ họ. Hoặc làm Chuyển luân
thánh vương, hoặc làm vua Diêm-phù-đề, Trưởng giả, Sát-lợi,
tùy theo chỗ cần mà làm lợi ích.
Kinh:
Thí như huyễn sư, hoặc đệ tử huyễn sư, khéo biết cách
huyễn, huyễn làm ra ngũ dục, cùng nhau vui chơi trong đó, ý
ngươi nghĩ sao? Người ấy đối với ngũ dục, thật hưởng
thụ chăng?
Xá-lợi-phất
thưa: thưa không, bạch Thế Tôn.
Phật
bảo Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát dùng lực phương tiện
hóa làm ngũ dục, thọ vui trong đó, thành tựu chúng sanh, cũng
lại như vậy. Bồ-tát ma-ha-tát ấy không nhiễm nơi dục,
mà dùng đủ cách chê bai ngũ dục, dục là bừng cháy, dục
là uế ác, dục là hủy hoại, dục như là kẻ oán. Thế nên
Xá-lợi-phất, nên biết Bồ-tát vì chúng sanh mà hưởng thọ
ngũ dục.
Luận:
Hỏi: Trong ba hạng Bồ-tát, sao chỉ nêu riêng một hạng Bồ-tát
ra để ví dụ?
Đáp:
Hạng thứ nhất đồng như thông lệ con người, không dứt
dâm dục. Hạng thứ hai thường dứt dâm dục, tu tịnh hạnh.
Hạng thứ ba cũng tu tịnh hạnh mà hiện thọ dâm dục. Vì
người không hiểu nên nêu làm ví dụ.
Hỏi:
Cớ sao không lấy chuyện mộng, biến hóa... làm ví dụ?
Đáp:
Cảnh mộng chẳng phải do năm căn biết được, chỉ nội
tâm nhớ tưởng sanh ra, người do năm căn trông thấy biến
mất vô thường, có thể hiểu được, cảnh biến hóa, tuy
năm căn biết được, mà người trông thấy rất ít. Phật
vì độ chúng sanh có thể độ và sự huyễn là điều chúng
sanh tin cho nên nêu làm thí dụ: như huyễn sư dùng huyễn thuật
hiện ra việc hy hữu giữa mọi người, khiến họ hoan hỷ.
Bồ-tát huyễn sư cũng như vậy; dùng thuật năm thần thông
hóa làm ra ngũ dục ở giữa chúng sanh, cùng nhau vui chơi mà
hóa độ chúng sanh.
Chúng
sanh có hai hạng: tại gia và xuất gia. Vì độ hạng xuất
gia nên hiện thân Thanh văn, Bích-chi Phật và các thầy ngoại
đạo xuất gia. Hạng tại gia hoặc có người thấy người
xuất gia mà đắc độ, hoặc thấy người tại gia đồng thọ
ngũ dục mà được hóa độ.
Bồ-tát
thường lấy các nhân duyên chê bai ngũ dục như: dục là bừng
cháy. Khi nó chưa mất thì lửa ba độc cháy, khi nó mất thì
lửa vô thường cháy. Hai lửa đều cháy, nên gọi là bừng
cháy, chẳng lúc nào vui.
Dục
là uế ác: chư Phật, Bồ-tát, A-la-hán, các người lìa dục,
đều cho là uế hèn. Ví như người thấy chó ăn phân, khinh
hèn mà thương xót, nó không được đồ ăn ngon, mà ăn đồ
bất tịnh. Người hưởng thọ ngũ dục cũng như vậy. Không
được cái vui nội tâm lìa dục, mà cầu cái vui nơi sắc
dục bất tịnh.
Dục
là hủy hoại: vì đắm mê ngũ dục, vua trời, vua người,
những người giàu sang mất nước nguy thân đều do nơi đó.
Dục
như kẻ oán, làm mất thiện lợi của người, cũng như kẻ
thứ khách, bề ngoài như thân thiện mà trong tâm thì ôm hại.
Ngũ dục như vậy làm tan mất thiện tâm, cướp tuệ mạng
người. Ngũ dục sanh ra, chính là phá hoại các thiện, hủy
bại đức nghiệp.
Lại
biết ngũ dục như lưỡi câu giết cá, như bẩy hại nai, như
đèn đốt cháy con thiêu thân, cho nên nói dục như kẻ oán.
Cái
khổ của kẻ oan gia, không quá một đời, vì mê đắm ngũ
dục, đọa ba đường ác, chịu khổ độc vô lượng.
Kinh:
Xá-lợi-phất bạch Phật: Bồ-tát ma-ha-tát làm sao hành Bát-nhã
ba-la-mật?
Phật
bảo Xá-lợi-phất: Bồ-tát ma-ha-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật,
không thấy Bồ-tát, không thấy danh tự Bồ-tát, không thấy
Bát-nhã ba-la-mật, cũng không thấy ta hành Bát-nhã ba-la-mật,
cũng không thấy ta không hành Bát-nhã ba-la-mật, vì cớ sao?
Vì Bồ-tát, danh tự Bồ-tát tánh không, trong không, không sắc,
thọ, tưởng, hành, thức cũng không có không. Không tức là
sắc, sắc tức là không; không tức là thọ, tưởng, hành,
thức; thọ, tưởng, hành, thức tức là không, vì cớ sao?
Xá-lợi-phất chỉ có danh tự gọi là Bồ-đề, chỉ có danh
tự gọi là Bồ-tát, chỉ có danh tự gọi là không, vì cớ
sao? Vì thật tánh các pháp, không sanh, không diệt, không nhơ,
không sạch, Bồ-tát ma-ha-tát hành như vậy, cũng không thấy
sanh, cũng không thấy diệt, cũng không thấy nhơ, cũng không
thấy sạch, vì cớ sao? Vì danh tự là pháp do nhân duyên hòa
hợp làm ra, chỉ phân biệt ức tưởng giả danh nói.
Thế
nên Bồ-tát ma-ha-tát, khi hành Bát-nhã ba-la-mật, không thấy
tất cả danh tự, không thấy nên không đắm.
Luận:
Hỏi: Việc ấy, trên kia Xá-lợi-phất đã hỏi, sao nay còn
hỏi lại?
Đáp:
Trước kia nhân Phật dạy “muốn đem nhất thiết chủng biết
nhất thiết pháp, thời nên học Bát-nhã ba-la-mật" cho nên
hỏi, chứ chẳng phải tự ý hỏi.
Lại
nữa, Xá-lợi-phất nghe trên kia tán thán công đức Bát-nhã,
tâm hoan hỷ tôn trọng Bát-nhã cho nên hỏi làm sao có thể
tu hành, như người bệnh nghe tán thán thuốc hay, liền hoi
làm thế nào có thể uống.
Hỏi:
Trước đã hỏi trú pháp không trú. Hành Ðàn ba-la-mật, người
cho, người nhận, tài vật đều không thể có được, như
vậy là hành Bát-nhã, sao nay còn hỏi hành?
Đáp:
Trên hỏi chung các Ba-la-mật, ở đây chỉ hỏi Bát-nhã, trên
rộng tán thán Bát-nhã là chủ, ở đây hỏi thẳng sự tu
hành Bát-nhã.
Lại
nữa, trên tuy tán thán rộng Bát-nhã ba-la-mật, hội chúng
đương thời khát ngưỡng muốn được. Cho nên Xá-lợi-phất
vì chúng sanh nên hỏi cách hành Bát-nhã ba-la-mật.
Công
đức Bát-nhã ba-la-mật vô lượng vô tận, trí tuệ Phật
cũng vô lượng vô tận, nếu Xá-lợi-phất không hỏi thời
Phật tán thán không ngừng, nếu Xá-lợi-phất không hỏi,
thời không có lý do, nên không thể ngừng.
Hỏi:
Công đức Bát-nhã tôn trọng, nếu Phật tán thán rộng rãi,
có gì không được?
Đáp:
Tán thán Bát-nhã, người nghe hoan hỷ tôn trọng tăng trưởng
phước đức, nếu nghe nói Bát-nhã thời tăng trưởng trí
tuệ. Không chỉ do phước đức có thể thành Phật đạo,
còn phải có trí tuệ mới được thành. Thế nên không phải
chỉ tán thán mà thôi, người nghe tán thán, tâm đã được
thanh tịnh, khát ngưỡng muốn được Bát-nhã, như vì người
khát mà tán thán đồ uống ngon, không giải được khát, bèn
phải cho uống.
Do
các nhân duyên như vậy, Xá-lợi-phất nay hỏi làm sao hành
Bát-nhã.
Hỏi:
Như người có mắt thấy, mới biết chỗ đi đến, vậy sau
mới có thể đi, Bồ-tát cũng như vậy, trước niệm Phật
đạo, biết Bát-nhã, thấy rồi vậy sau thân mới có thể
làm, nay cớ sao nói không thấy Bồ-tát và Bát-nhã. Nếu không
thấy thì sao hành được?
Đáp:
Trong đây không nói thường không thấy, chỉ nói rõ khi vào
Bát-nhã quán, không thấy Bồ-tát và Bát-nhã ba-la-mật. Bát-nhã
ba-la-mật vì làm cho chúng sanh biết thật pháp nên xuất hiện
và danh tự Bồ-tát chỉ là tên giả do các nhân duyên hòa
hợp, như trong phẩm sau nói rộng. Danh tự Bát-nhã ba-la-mật
cũng như vậy, do các nhân duyên hòa hợp nên giả danh gọi
là Bát-nhã ba-la-mật.
Bát-nhã
ba-la-mật là giả danh, nhưng có thể phá các hý luận, vì
nó không có tự tánh nên nói chẳng thể thấy, như lửa từ
các duyên hòa hợp giả danh là lửa, tuy không có thật mà
thể đốt vật.
Hỏi:
Nếu vào trong Bát-nhã ba-la-mật không thấy, khi ra liền thấy,làm
sao tin được?
Đáp:
Trên kia nói Bát-nhã vì thật pháp mà xuất hiện, ấy là có
thể tin, ra khỏi Bát-nhã ba-la-mật thì không thật, nên không
thể tin.
Hỏi:
Nếu vào trong Bát-nhã không thấy, ra khỏi thời thấy, nên
biết như vậy chẳng phải thường không, chỉ vì do lực Bát-nhã
cho nên không?
Đáp:
Vì theo pháp thế tục nên nói hành giả vào Bát-nhã ba-la-mật,
vì hý luận về các pháp quán dứt, nên không ra không vào.
Nếu các hiền thánh không dùng danh tự để nói, thời không
thể giáo hóa phàm phu. Nên nhận ý nghĩa, chứ chẳng nên chấp
vào ngữ ngôn.
Hỏi:
Nếu trong Bát-nhã quí “hết thảy pháp không”, cớ gì trong
đây trước nói “chúng sanh không “ để phá ngã?
Đáp:
Ðối với người mới đầu nghe Bát-nhã không được nói
hết thảy không. Ngã, không dùng năm căn tìm được, chỉ
do ức tưởng phân biệt sanh ý tưởng ngã, không mà bảo có.
Lại trong ý căn, không có duyên nhất định, chỉ do ức tưởng
phân biệt điên đảo nên đối với năm uẩn trống không,
sanh ra ý tưởng ngã, nếu nghe nói vô ngã, thời dễ hiểu
được.
Các
pháp sắc... chính mắt hiện thấy, nếu lúc đầu mà nói sắc
không, không có, thời khó có thể tin. Nay trước tiên phá
ngã, tiếp phá ngã sở; phá ngã, ngã sở rồi, thời hết thảy
pháp đều không, như vậy lìa dục, gọi là đắc đạo.
Lại
nữa, Bát-nhã ba-la-mật, không có pháp nhất định, nên không
thấy ta hành Bát-nhã, không thấy ta không hành Bát-nhã. Như
phàm phu không được Bát-nhã, nên gọi là không hành. Bồ-tát
thời không như vậy, chỉ hành không Bát-nhã, cho nên không
thấy không hành.
Lại
nữa, Phật là vua pháp, xem thấy trí các Bồ-tát khác rất
ít, xen lẫn các kiết sử, không gọi là hành, ví như quốc
vương tuy được một vật ít, không gọi là được. Phật
cũng như vậy, dạy các Bồ-tát tuy có hành chút ít không gọi
là hành.
Lại
nữa, người tu hành Bát-nhã ba-la-mật, thì sanh tâm kiêu mạn
nói ta có Bát-nhã ba-la-mật, thủ lấy tướng ấy. Nếu không
hành thì tâm sanh giải đãi mà ôm lòng ưu não. Thế nên không
thấy ta hành cùng không hành.
Lại
nữa, không thấy ta hành Bát-nhã ba-la-mật thời phá chấp
trước hữu kiến, không thấy ta không hành Bát-nhã ba-la-mật,
thời phá chấp trước vô kiến.
Lại
nữa, không thấy ta hành Bát-nhã ba-la-mật thời ngưng hý luận
các pháp, không thấy ta không hành thời ngưng tâm giải đãi;
ví như cỡi ngựa, mau thời gò lại, chậm thời roi đánh.
Như vậy phân biệt hành cùng không hành.
Lại
nữa, Phật tự nói nhân duyên rằng, Bồ-tát danh tự, Bồ-tát
tánh không, trong đây tuy chỉ nói danh tự Bồ-tát không, mà
năm uẩn cũng không. Trong không không sắc, lìa sắc cũng không
không; không là pháp không, trong pháp không, không có một mảy
may pháp, huống gì có sắc thô. Không cũng chẳng lìa sắc,
vì cớ sao? Vì phá sắc nên có không, làm sao nói lìa sắc
được! Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy, vì cớ sao?
Vì Phật lại tự nói nhân duyên rằng, chỉ có danh tự gọi
là Bồ-đề, chỉ có danh tự gọi là Bồ-tát, chỉ có danh
tự gọi là không.
Hỏi:
Trước kia đã nói việc ấy, nay sao còn nói lại?
Đáp:
Trước kia nói không thấy Bồ-tát, không thấy danh tự Bồ-tát,
không thấy Bát-nhã ba-la-mật, nay nói không thấy nhân duyên
ấy, nghĩa là nói chỉ có danh tự gọi là Bồ-đề, chỉ có
danh tự gọi là Bồ-tát, chỉ có danh tự gọi là không. Nghĩa
chữ Bồ-tát trên kia và Bồ-tát ở đây đồng. Danh tự Bồ-tát
thời như trong chương Bồ-tát đã nói.
Bát-nhã
ba-la-mật chia làm hai phần: thành tựu gọi là Bồ-đề, chưa
thành tựu gọi là không. Thật tướng của sanh là không thể
có được nên gọi là vô sanh, vì cớ sao? Vì hoặc trước
“sanh” sau có “pháp”, hoặc trước “pháp” sau “sanh”,
hoặc sanh và pháp cùng một lúc, đều không thể có được.
Như trước đã nói: không sanh nên không diệt, nếu pháp không
sanh không diệt như hư không, thì làm sao có nhơ có sạch,
ví như hư không, muôn năm mưa không ướt, lửa đốt không
cháy, khói không dính, vì cớ sao? Vì vốn tự vô sanh. Bồ-tát
quán được như vậy, không thấy lìa pháp chẳng sanh chẳng
diệt ấy, lại có pháp sanh diệt, nhơ sạch, vì cớ sao? Vì
Phật tự nói nhân duyên rằng hết thảy pháp đều do ức
tưởng phân biệt nhân duyên hòa hợp nên cưỡng nói danh tự.
Bất khả thuyết là thật nghĩa, còn khả thuyết đều là
danh tự.
Bồ-tát
hành Bát-nhã ba-la-mật, không thấy hết thảy danh tự, trước
chỉ lược nói danh tự là, Bồ-tát, danh tự Bồ-tát, Bát-nhã
ba-la-mật, danh tự Bồ-đề. Nay nói rộng hết thảy danh tự,
đều không thể thấy, không thấy nên không đắm, không đắm
vì không thể có được. Như trong các con mắt, con mắt trí
tuệ đệ nhất. Bồ-tát dùng tuệ nhãn tìm khắp không thấy,
cho đến không thấy một pháp vi tế, thế nên không đắm.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát không đắm hết thảy pháp, tại sao không được
vào Niết-bàn?
Đáp:
Việc ấy đã nói ở nhiều nơi, nay trong đây lược nói: vì
tâm đại bi, vì mười phương Phật hộ niệm, vì bổn nguyện
chưa tròn, vì lực Tinh tấn ba-la-mật, vì Bát-nhã ba-la-mật
và phương tiện hai sự hòa hợp, được gọi là không đắm
nơi không đắm.
Có
các nhân duyên như vậy, nên nói Bồ-tát tuy không đắm pháp
mà chẳng vào Niết-bàn.
(Hết
Phẩm Dâng bát thứ 2)