Cuốn
20
CHƯƠNG
30
GIẢI
THÍCH: BA TAM MUỘI, BỐN THIỀN,
BỐN
VÔ LƯỢNG TÂM, BỐN VÔ SẮC ĐỊNH
KINH:
Không tam muội, Vô tướng tam muội, Vô tác tam muội, Bốn
thiền, Bốn vô lượng tâm, Bốn vô sắc định; Tám bội xả,
Tám thắng xứ; Chín thứ đệ định, Mười nhất thiết xứ.
LUẬN:
Hỏi: Vì sao sau Ba mươi bảy đạo phẩm nói tám loại
pháp?
Đáp:
Ba mươi bảy đạo phẩm là con đường đi đến Niết-bàn.
Đi trọn con đường ấy là được đến thành Niết-bàn.
Thành Niết-bàn có 3 cửa là Không, Vô tướng, Vô tác.
Đã nói con đường thì tiếp theo phải nói cửa vào đến
nơi. Bốn thiền v.v... là pháp giúp mở cửa.
Lại
nữa, Ba mươi bảy đạo phẩm là pháp thượng diệu; tâm ở
Dục giới tán loạn, hành giả phải nương đất nào, phương
tiện nào mới được? Phải nương các thiền định
Sắc giới, Vô sắc giới. Đối với trong Bốn vô lượng
tâm, Bốn vô sắc định, Tám bội xả, Tám thắng xứ, Chín
thứ đệ định, Mười nhất thiết xứ, thử nghiệm tâm để
biết đã được nhu nhuyến tự tại tùy ý chăng? Ví
như người cầm cương thử Ngựa chạy quanh co tùy ý, vậy
sau mới vào trận chiến đấu. Mười nhất thiết xứ
cũng như vậy, quán lấy một vật có sắc xanh, rồi đem hết
thảy vật đều khiến xanh cả, hết thảy vàng cả, hết thảy
đỏ cả, hết thảy trắng cả, đều như vậy. Lại đối
trong các duyên của Tám thắng xứ được tự tại. Sơ
và nhị bội xả là quán thân bất tịnh, đệ tam bội xả
là quán thân trở lại tịnh. Bốn vô lượng tâm, từ
vô lượng thì quán chúng sanh đều vui; bi vô lượng thì quán
chúng sanh đều khổ; hỷ thì quán chúng sanh đều mừng.
Xả ba tâm ấy, chỉ quán chúng sanh mà không có tâm thương
ghét.
Lại
nữa, có hai thứ quán: 1- Được liễu giải quán.
2- Thật quán. Thật quán là Ba mươi bảy đạo phẩm.
Vì thật quán khó được nên lần lượt nói được liễu
giải quán. Trong liễu giải quán thì tâm được nhu nhuyến,
dễ được thật quán. Dùng thật quán được vào ba cửa
Niết-bàn.
Hỏi:
Thế nào là cửa không của Niết-bàn?
Đáp:
Quán các pháp không có ngã, ngã sở. Các pháp do nhân
duyên hoà hợp sanh, không có ai làm, không có ai chịu; ấy
gọi là cửa không.
Lại
nữa, cửa không như trong chương Nhẫn Trí đã nói.
Biết
là vô ngã, ngã sở; tại sao chúng sanh đối với các pháp
sanh tâm ưa đắm? Hành giả suy nghĩ rằng: Các pháp
do nhân duyên sanh, không có pháp thật, chỉ có tướng; các
chúng sanh thủ lấy tướng ấy chấp là ngã, ngã sở.
Nay ta hãy quán tướng ấy là có thể có thật hay chăng?
Quán xét kỹ càng đều thấy không thể có được. Hoặc
tướng nam, tướng nữ, tướng nhất, dị v.v... các tướng
ấy thật sự đều không thể có, vì cớ sao? Vì các
pháp vô ngã, ngã sở cho nên không; không cho nên không có pháp
nam, nữ, nhất dị. Trong ngã ngã sở có danh tự là nhất
là dị. Vì thế pháp nam, nữ, nhất, dị thật sự không
thể có được.
Lại
nữa, bốn đại và bốn đại sở tạo sắc (là sắc, hương,
vị, xúc) bao bọc chỗ trống không nên gọi là thân.
Trong ấy do nhân duyên của nội nhập và ngoại nhập hòa hiệp
sanh thức chủng, thân được hòa hiệp với thức chủng ấy
mà làm mọi công việc, nói năng, ngồi đứng, đi lại.
Nói trong chỗ hư không có sáu đại chủng (đất, nước, gió,
lửa, không, thức) hòa hiệp, miễn cưỡng gọi là nam, miễn
cưỡng gọi là nữ. Nếu sáu đại chủng là nam, thời
phải có sáu nam chứ không thể lấy một làm sáu, sáu làm
một; trong địa chủng cũng không có tướng nam nữ, cho đến
trong thức chủng cũng không có tướng nam nữ. Nếu trong
mỗi địa chủng không có tướng nam nữ, thời trong khi hòa
hiệp cũng không thể có. Ví như sáu con chó, mỗi con
không thể sanh ra sư tử; sáu con hợp lại cũng không thể
sanh, vì vô tự tánh.
Hỏi:
Vì sao không có nam nữ? Tuy thần ngã không có phân biệt,
nhưng chính thân thì có phân biệt nam nữ khác nhau. Thân
ấy không thể lìa thân phần, thân phần cũng không thể lìa
được thân; như thấy phần chân của thân, là biết có pháp
để có phần ấy (hữu phần pháp); pháp ấy gọi là thân.
Phần chân v.v... của thân khác với thân; thân tức là tướng
nam nữ?
Đáp:
Thần ngã đã bị phá trước kia, thì thân tướng cũng bị
hoại, nay sẽ nói lại: Nếu có pháp hữu phần ấy gọi
là thân, thân ấy có đủ ở trong các phần (của nó) hay là
thân phần chia ở khắp các phần? Nếu trong các phần
đầy đủ các thân, thời trong phần đầu phải có phần chân,
vì cớ sao? Vì trong phần đầu đầy đủ có thân vậy.
Nếu thân phần chia ở khắp trong các phần, thời thân và
từng phần không có khác nhau. Thân hữu phần tùy thuộc
theo các phần vậy.
Hỏi:
Nếu phần chân của thân v.v... với pháp có ra phần đó khác
nhau, thời có lỗi. Còn nay phần chân của thân v.v...
với thân có ra phần ấy không khác nhau, nên không có lỗi?
Đáp:
Nếu phần chân của thân v.v... với thân có ra phần ấy không
khác nhau, thì đầu tức là chân, vì cớ sao? Vì hai thứ
đó là thân không khác nhau. Lại từng phần của thân
có nhiều, mà thân có ra từng phần đó chỉ có một, không
thể nhiều làm một, một làm nhiều được.
Lại
nữa, vì nhân không có nên quả không có, chẳng phải quả
không có nên nhân không có. Nếu từng phần của thân
với thân có ra phần ấy không khác nhau, thì có thể quả
không có nên nhân không có, vì cớ sao? Vì nhân quả là
một vậy. Trong hoặc một, hoặc khác, tìm thân đều
không thể có được. Thân đã không có, thời ở chỗ
nào có nam nữ? Nếu có nam nữ, thì nam nữ ấy là thân,
hay khác thân? Là thân thời không thể có được.
Nếu cho nó ở nơi pháp khác, thời pháp khác chẳng phải là
sắc, nên không có tướng nam nữ sai khác. Chỉ do nhân
duyên hai đời hòa hiệp, vì tâm điên đảo cho nên gọi là
nam nữ, như kệ nói:
“Cúi,
ngưỡng, co, duỗi, đứng, đi, lại,
Trong,
xem, ngó, nói năng, không thật.
Gió
nghiệp nương thức có tạo tác,
Thức
ấy diệt mất, niệm niệm không.
Kia
dây nam nữ khởi tâm ta,
Vì
không trí tuệ vọng thấy có,
Xương
móc liền nhau da thịt phủ,
Máy
móc động tác như người gỗ.
Trong
tuy không thật, ngoài tợ người ,
Ví
như nấu vàng rót trong nước,
Cũng
như lửa đồng đốt rừng tre,
Do
nhân duyên hợp phát ra tiếng”.
Các
tướng như vậy, như trước đã nói rồi, ở đây nói rộng
thêm, ấy gọi là môn Vô tướng.
Vô
tác là đã biết vô tướng đều vô tác, ấy gọi là môn
Vô tác.
Hỏi:
Ba thứ ấy, do trí tuệ quán Không, Vô tướng, Vô tác.
Trí tuệ ấy vì sao gọi là Tam muội?
Đáp:
Ba thứ trí tuệ ấy, nếu không ở trong định, thời là cuồng
tuệ, phần nhiều rơi vào tà nghi, không thể làm được gì.
Nếu ở trong định thời có thể phá các phiền não, ngộ
được thật tướng các pháp.
Lại
nữa, đạo lý này khác với thế gian, trái ngược thế gian.
Các thánh nhân ở trong định, chứng được thật tướng mà
nói ra, chẳng phải do cuồng tâm nói ra.
Lại
nữa, trong các thiền định mà không có ba pháp này, thời
không gọi là Tam muội, vì cớ sao? Vì còn thối thất,
đọa vào sanh tử, như kệ nói:
“Hay
trì tịnh giới, gọi Tỳ-kheo,
Hay
quán không, gọi người tu định,
Người
nhất tâm thường siêng tinh tấn,
Gọi
là người chân thật hành đạo.
Vui
nhất ở trong các thứ vui,
Đoạn
hết khát ái dứt pháp cuồng,
Bỏ
thân ngũ uẩn vào đạo pháp,
Ấy
là thường vui được Niết-bàn”.
Do
vậy Phật nói ba môn giải thoát là Tam muội.
Hỏi:
Sao gọi là giải thoát môn?
Đáp:
Thực hành pháp ấy thì được giải thoát, vào Vô-dư Niết-bàn;
do vậy gọi là cửa giải thoát. Vô-dư Niết-bàn
là chơn giải thoát, thoát khỏi khổ nơi thân tâm, lấy Hữu-dư
Niết-bàn làm cửa. Ba pháp này tuy chẳng phải là Niết-bàn,
song là nhân của Niết-bàn, nên gọi là Niết-bàn. Thế
gian trong nhân nói quả, trong quả nói nhân. Không, Vô
tướng, Vô tác này là tánh định, là tâm tâm số pháp tương
ưng với định, thân nghiệp khẩu nghiệp hành động theo;
trong đây khởi lên các tâm bất tương ưng hành hoà hiệp,
đều được gọi là Tam muội. Ví như vua đến, chắc
chắn có đại thần và kẻ hầu hạ đi theo. Tam muội
như vua, trí tuệ như đại thần, các pháp khác như kẻ hầu
hạ. Tên các pháp khác tuy không nói ra, nhưng chắc chắn
phải có, vì cớ sao? Vì định lực không đơn độc phát
sanh, không thể đơn độc làm gì được. Đây là
do các pháp cọng sanh, cọng trụ, cọng diệt, cọng thành;
làm lợi ích cho nhau.
- Không
Tam muội có hai hành tướng: 1- Quán năm thọ uẩn không
có nhất tướng, dị tướng cho nên không. 2- Quán ngã,
ngã sở pháp, không thể có được nên vô ngã.
- Vô
tướng Tam muội có bốn hành tướng là tận, diệt, diệu,
xuất. Quán Niết-bàn hết sạch tất cả khổ, nên gọi
là tận. Lửa ba độc phiền não v.v... diệt hết, nên
gọi là diệt; thứ nhất trong hết thảy pháp nên gọi là
diệu; lìa khỏi thế gian nên gọi là xuất.
- Vô
tác Tam muội có mười hành tướng: Quán năm thọ uẩn
do nhân duyên sanh nên vô thường: thân tâm bị phiền
não nên khổ. Quán nhân của năm thọ uẩn có bốn hành
tướng: Phiền não và nghiệp hữu lậu hoà hiệp sanh
ra khổ quả, nên gọi là tập; do sáu nhân sanh khổ quả, nên
gọi là nhân; do bốn duyên sanh khổ quả, nên gọi là duyên;
nhân duyên bằng nhau không nhiều không ít sanh ra khổ quả,
nên gọi là sanh. Quán năm bất thọ uẩn có bốn hành
tướng: Tám thánh đạo phần có thể đưa đến Niết-bàn;
nên gọi là đạo; không điên đảo nên gọi là Chánh.
Chỗ đi của hết thảy Thánh nhân nên gọi là tích. Phiền
não ái và kiến không ngăn trở được nên gọi là đáo.
Ba
giải thoát môn này ở trong chín địa là bốn thiền, vị
đáo địa, trung gian thiền và ba vô sắc định, nó thuộc
tánh vô lậu. Hoặc có người nói: Ba giải thoát
môn, một mực vô lậu, còn ba Tam muội thì hoặc hữu
lậu hoặc vô lậu; do vậy nên có hai tên là Tam muội và Giải
thoát. Nói như vầy: Trong Mười một địa là Sáu
địa đầu, Ba vô sắc, Dục giới và Hữu đảnh địa.
Nếu là hữu lậu thì buộc vào ở cả mười một địa; nếu
là vô lậu thì không bị buộc mà có hỷ căn, lạc căn, xả
căn tương ưng. Khi Sơ học thì ở tại cõi Dục, thành
tựu thì ở tại trong cõi Sắc và Vô sắc. Như vậy,
thành tựu không thành tựu, tu không tu; như trong A-tỳ-đàm
nói rộng.
Lại
nữa, có hai nghĩa “không” để quán hết thảy pháp không;
đó là chúng sanh không và pháp không. Chúng sanh không
như trên đã nói, còn Pháp không là các pháp tự tướng không.
Như Phật nói với Tu-bồ-đề: “Sắc, sắc tướng không;
thọ, tưởng, hành, thức, thức tướng không”.
Hỏi:
Nói chúng sanh không, pháp chẳng không là có thể tin được,
còn nói pháp tự tướng không là không thể tin được, vì
cớ sao? Vì nếu pháp tự tướng không, thời không sanh,
không diệt; không sanh không diệt nên không tội không phước;
không tội không phước cho nên cần gì học đạo?
Đáp:
Có pháp “không” nên mới có tội phước, nếu không có
pháp “không” thì không thể có tội phước, vì cớ sao?
Vì nếu các pháp thật có tự tánh, thời không thể biến
hoại. Tướng của tánh không từ nhân duyên sanh; nếu
từ nhân duyên sanh, bèn là pháp có tạo tác. Nếu pháp
tánh là pháp có tạo tác, thời có thể phá hoại; nếu nói
pháp tánh pháp có tạo tác có thể phá hoại, việc ấy không
đúng! Tánh gọi là pháp không tạo tác, không chờ nhân
duyên mới có. Các pháp tự tánh vốn có, vốn có thì
không sanh, vì tánh đã có trước rồi vậy. Nếu không
sanh thì không diệt, sanh diệt không có nên không có tội phước.
Vì không có tội phước nên cần gì học đạo? Nếu
chúng sanh có chơn tánh, thời không ai hại được, không ai
làm lợi được, vì tự tánh cố định vậy. Những người
như vậy thời không biết ân nghĩa, phá hoại nghiệp nhân
và quả báo. Trong pháp “không” cũng không có tướng
pháp không. Ông biết pháp không mà ông mang tâm nhiễm
trước, nên mới nạn vấn như vậy. Pháp không này, chính
chư Phật vì lòng lân mẫn, nên mới nói ra để dứt ái kiết,
trừ tà kiến cho chúng sanh.
Lại
nữa, thật tướng của các pháp hay dứt hết các khổ và
là chỗ chơn thật hành của các Thánh nhân. Nếu pháp
không này có tự tánh, thì khi nói hết thảy pháp không, làm
sao nó cũng tự không? Nếu không có tự tánh của pháp
không, thời ông nạn cái gì?
Do
hai không ấy có thể quán các pháp đều không, tâm lìa được
các pháp, biết thế gian hư dối như huyễn.
Quán
không như vậy, nếu còn chấp thủ tướng không của các pháp,
do nhân duyên ấy mà sanh ra các kiết sử kiêu mạn v.v... nói
rằng “Ta biết được thật tướng của các pháp”.
Lúc này nên phải học môn Vô tướng, để dứt tâm chấp
thủ tướng không ấy đi. Nếu trong vô tướng mà còn
sanh tâm hý luận, muốn phân biệt có sự tạo tác, chấp trước
vào vô tướng ấy thì khi này phải tự suy nghĩ rằng:
“Ta bị sai lầm rồi, trong các pháp không vô tướng, làm
sao có tướng được, mà chấp thủ tướng nổi lên hý luận?”
Lúc này, nên phải hành theo không và vô tướng. Thân,
khẩu, ý, không nên có sự tạo tác gì; chỉ nên quán tướng
vô tác, diệt ba độc, không nên khởi thân nghiệp ý nghiệp,
không nên cầu sanh thân trong ba cõi. Khi tư duy như vậy,
trở lại vào môn Vô tác giải thoát.
Ba
môn giải thoát này, ở trong Đại thừa chỉ là một pháp,
vì nhân duyên thực hành, nên mới có ba thứ.
Quán
các pháp không, ấy gọi là không, ở trong không không thể
thủ tướng. Bấy giờ “Không” chuyển lại gọi là
“Vô tướng”. Trong Vô tướng không nên có tạo tác
để sanh vào ba cõi. Bấy giờ “Vô tướng” chuyển
lại gọi là Vô tác”; ví như thành có ba cửa, một người
không thể một lúc từ cả ba cửa đi vào, nếu vào thời
chỉ từ một cửa. Thật tướng các pháp là thành Niết-bàn,
thành có ba cửa là Không, Vô tướng, Vô tác. Nếu người
vào cửa không, mà không thủ đắc Không ấy, cũng không thủ
tướng, người ấy đi thẳng vào. Sự việc xong, không cần
đến hai cửa kia nữa. Nếu người vào cửa Không này,
mà còn thủ tướng đắc, thời Không ấy, đối với người
này không được là cửa; vì đường thông thương đã bị
bít lại. Hoặc trừ tướng Không, bấy giờ theo cửa
Vô tướng mà vào, nếu đối với tướng Vô tướng mà tâm
còn chấp thủ, sanh hý luận, bấy giờ hãy trừ tâm chấp
thủ tướng Vô tướng mà vào cửa Vô tác.
Trong
nghĩa của A-tỳ-đàm thì Không giải thoát môn này duyên Khổ
đế, gồm năm uẩn; Vô tướng giải thoát môn duyên một pháp,
đó là thường thường duyên Diệt đế; Vô tác giải thoát
môn duyên ba đế gồm năm uẩn.
Trong
nghĩa của Đại thừa, ba giải thoát môn này duyên thật tướng
các pháp, vì ba giải thoát môn này xem thế gian tức là Niết-bàn;
vì cớ sao, vì Niết-bàn là Không, Vô tướng, Vô tác.
Thế gian cũng như vậy.
Hỏi:
Như kinh nói: “Một cửa Niết-bàn”; sao nay nói có ba?
Đáp:
Trên kia đã nói, pháp tuy một mà nghĩa có ba. Lại nữa,
người đáng được độ có ba hạng: Hạng tham ái nhiều,
hạng chấp kiến nhiều, hạng ái và kiến ngang nhau.
Hạng
chấp kiến nhiều thì nói Không giải thoát môn cho họ thấy
hết thảy các pháp do nhân duyên sanh, không có tự tánh.
Không tự tánh nên không; không cho nên các chấp kiến diệt.
Hạng
tham ái nhiều thì nói Vô tác giải thoát môn cho họ thấy
hết thảy pháp là vô thường, khổ, do nhân duyên sanh.
Thấy rồi thì tâm sẽ nhàm chán mà lìa ái, liền được vào
đạo.
Hạng
ái và kiến ngang nhau thì nói Vô tướng giải thoát môn cho
họ nghe biết tướng nam nữ là không có, cho nên dứt ái;
tướng nhất dị là không có, cho nên dứt kiến.
Phật
hoặc một lúc nói hai môn, hoặc một lúc nói ba môn.
Hàng Bồ-tát nên phải học khắp, biết hết thảy đạo, cho
nên Phật nói ba môn. Lại có khi vì muốn thực hành các
việc khác, cho nên chỉ nói lược nghĩa của ba môn.
Tứ
thiền có hai thứ: 1- Tịnh thiền. 2- Vô
lậu thiền. Sao gọi là tịnh? Là năm uẩn hữu lậu
thiện. Sao gọi là vô lậu? Là năm uẩn vô lậu.
Khẩu nghiệp nhiếp vào trong Tứ thiền là sắc pháp, phần
nghiệp còn lại là vô sắc pháp. Hết thảy đều không
thể thấy, không đối ngại; hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.
Hữu lậu là năm uẩn thiện hữu lậu; vô lậu là năm uẩn
vô lậu, đều là hữu vi. Hữu lậu thì bị trói buộc
vào sắc, vô lậu thì không bị trói buộc. Thân nghiệp
khẩu nghiệp và các tâm bất tương hành nhiếp vào trong thiền,
là chẳng phải tâm, chẳng phải tâm số, chẳng phải tâm
tương ưng.
Thọ
uẩn, tưởng uẩn và tương ưng hành uẩn nhiếp vào trong thiền
là tâm sở pháp, cũng là tâm tương ưng. Tâm, ý, thức
nhiếp vào trong thiền chỉ là tâm.
Tứ
thiền hoặc theo tâm hành chẳng phải thọ uẩn tương ưng,
hoặc thọ uẩn tương ưng chẳng phải theo tâm hành; hoặc
theo tâm hành cũng thọ uẩn tương ưng; hoặc chẳng phải tâm
hành chẳng phải thọ uẩn tương ưng.
Tứ
thiền theo tâm hành chẳng phải thọ uẩn tương ưng là, thân
nghiệp, khẩu nghiệp, các tâm bất tương ưng hành theo tâm
hành và thọ uẩn nhiếp trong Tứ thiền.
Tứ
thiền thọ uẩn tương ưng chẳng phải theo tâm hành là, tâm
ý thức nhiếp trong Tứ thiền.
Tứ
thiền theo tâm hành cũng thọ uẩn tương ưng là hành uẩn,
tưởng uẩn tương ưng hành ấm nhiếp trong Tứ thiền.
Tứ
thiền chẳng phải theo tâm hành cũng chẳng phải thọ uẩn
tương ưng là, phần các tâm bất tương ưng hành còn lại
ngoài theo tâm hành, các tâm tương ưng hành nhiếp trong Tứ
thiền.
Tưởng
ấm, hành ấm tương ưng cũng như vậy.
Trong
Tứ thiền, ba thiền sau chẳng phải theo giác hành cũng chẳng
phải quán tương ưng. Còn Sơ thiền thì hoặc có khi theo giác
hành chẳng phải quán tương ưng; hoặc có khi quán tương ưng
chẳng phải theo giác hành; hoặc có khi theo giác hành cũng
quán tương ưng; hoặc có khi chẳng phải theo giác hành chẳng
phải quán tương ưng.
Sơ
thiền theo giác hành chẳng quán tương ưng là thân nghiệp
khẩu nghiệp và các tâm bất tương ưng hành theo giác hành
và quán.
Sơ
thiền có quán tương ưng chẳng phải theo giác hành đó là
giác.
Sơ
thiền theo giác hành cũng có quán tương ưng là các tâm tâm
số pháp có giác và quán tương ưng.
Sơ
thiền chẳng phải theo giác hành cũng chẳng phải quán tương
ưng là trừ các tâm bất tương ưng hành theo giác hành,
phần các tâm bất tương ưng hành còn lại.
Tứ
thiền đều có nhân duyên và cũng cho nhân duyên.
Trong
Tứ thiền, Sơ thiền hoặc là thứ đệ duyên, chẳng cho thứ
đệ duyên; hoặc là thứ đệ duyên cũng cho thứ đệ duyên;
hoặc chẳng phải thứ đệ duyên cũng chẳng cho thứ đệ
duyên. Sơ thiền là thứ đệ duyên chẳng cho thứ
đệ duyên là tâm tâm số pháp sắp muốn sanh trong đời vị
lai. Sơ thiền là thứ đệ duyên cũng cho thứ đệ duyên
là tâm tâm số pháp trong quá khứ, hiện tại. Sơ thiền
chẳng phải thứ đệ duyên cũng chẳng cho thứ đệ duyên
là trừ tâm tâm số pháp sắp muốn sanh trong đời vị lai;
phần còn lại của tâm tâm số pháp, thân nghiệp, khẩu nghiệp
và các tâm bất tương ưng hành trong đời vị lai.
Đệ
Nhị, đệ Tam thiền cũng như vậy.
Đệ
Tứ thiền là thứ đệ duyên chẳng cho thứ đệ duyên là
tâm tâm số pháp sắp muốn sanh vào vô tưởng định hoặc
sanh hoặc sắp muốn sanh trong đời vị lai. Đệ Tứ thiền
là thứ đệ duyên cũng cho thứ đệ duyên là tâm tâm số
pháp trong quá khứ, hiện tại. Đệ Tứ thiền chẳng
phải thứ đệ duyên cũng chẳng cho thứ đệ duyên là trừ
tâm tâm số pháp sắp muốn sanh trong đời vị lai, phần còn
lại của tâm tâm số pháp trong đời vị lai, và trừ tâm
thứ đệ, các tâm bất tương ưng hành; phần còn lại của
các tâm bất tương ưng hành và thân nghiệp, khẩu nghiệp.
Thân
nghiệp, khẩu nghiệp, và các tâm bất tương ưng hành nhiếp
thuộc trong Tứ thiền là cho duyên và chẳng phải duyên; phần
còn lại cũng là duyên cũng cho duyên.
Tứ
thiền cũng là tăng thượng duyên cũng cho tăng thượng duyên.
Những nghĩa như vậy đã phân biệt rộng trong A-tỳ-đàm.
Thiền
phương tiện, thiền tướng, thiền chi của Bồ-tát đạt được
đều đã nói rõ ở trong Thiền Ba-la-mật.
Hỏi:
Trong phần luận nghị về Bát-nhã Ba-la-mật, chỉ nói các
pháp tướng không; Bồ-tát làm sao ở nơi không pháp
lại có thể khởi lên thiền định?
Đáp:
Bồ-tát biết các năm dục và năm thứ ngăn che do nhân duyên
sanh không có tự tánh, là không, không có gì, nên xả bỏ
nó rất dễ. Chúng sanh vì nhân duyên điên đảo đắm
say chút ít thứ vui tệ xấu của năm dục, năm thứ ngăn che,
nên xa lìa thứ vui thâm diệu của trong thiền. Bồ-tát
vì hạng chúng sanh đó, khởi tâm đại bi, tu hành thiền định,
buộc tâm trong quán duyên, lìa năm dục, trừ năm thứ ngăn
che mà vào Sơ thiền rất mừng. Diệt giác quán, nhiếp
tâm vào sâu thanh tịnh bên trong, được sự mừng vi diệu
mà vào đệ Nhị thiền. Vì sự mừng thâm diệu làm tán
loạn định cho nên lìa hết thảy mừng, được cái vui biến
khắp viên mãn mà vào đệ Tam thiền. Lìa hết thảy khổ
vui, trừ hết thảy ưu hỷ và hơi thở ra vào; lấy tâm xả
thanh tịnh vi diệu để tự trang nghiêm mà vào đệ Tứ thiền.
Ấy
là Bồ-tát tuy biết các pháp là không, vô tướng, mà vì chúng
sanh không biết, nên lấy thiền tướng để giáo hóa chúng
sanh. Nếu thật có “các pháp không” thì không gọi
là không; cũng không thể xả bỏ được năm dục mà đắc
thiền. Và không có gì bỏ không có gì được, nên không
tướng của các pháp cũng bất khả đắc, cho nên không nên
nạn rằng “nếu các pháp không thì làm sao mà đắc thiền”.
Lại
nữa, Bồ-tát không phải do chấp thủ tướng, ái trước mà
hành thiền; ví như người uống thuốc, cốt để trừ bệnh,
chứ không phải vì ngon. Do giới thanh tịnh, trí tuệ
thành tựu cho nên hành thiền. Bồ-tát trong mỗi mỗi
thiền, thực hành tâm đại từ quán không; đối với thiền
không nương tựa gì. Do năm dục thô trọng, dối trá
điên đảo cho nên dùng pháp thâm tế vi diệu hư vọng để
đối trị, cũng như lấy độc trị độc.
Bốn
vô lượng tâm là từ, bi, hỷ, xả. Từ là ái niệm chúng
sanh; thường tìm việc vui thích an ổn làm lợi ích cho chúng
sanh. Bi là mẫn nhiệm chúng sanh phải chịu mọi sự thân
khổ tâm khổ ở trong năm đường. Hỷ là muốn làm cho
chúng sanh từ sự vui được hoan hỷ. Xả là xả bỏ
ba thứ tâm trên, chỉ nghĩ đến chúng sanh mà không ghét không
thương. Tu từ tâm để trừ giác tưởng sân hận đối
với chúng sanh; tu bi tâm để trừ giác tưởng não hại đối
với chúng sanh; tu hỷ tâm để trừ sự không vui vẻ đối
với chúng sanh; tu xả tâm để trừ sự yêu ghét đối với
chúng sanh.
Hỏi:
Trong Tứ thiền đã có bốn vô lượng tâm, cho đến mười
nhất thiết xứ; sao nay còn nói riêng?
Đáp:
Tuy trong Tứ thiền đều có các pháp đó, song nếu không nói
riêng danh tự thời không nói rõ được công đức của nó;
cũng như bảo vật ở trong đãy, nếu không mở ra thời người
ta không biết. Nếu người muốn được đại phước
đức thì nói cho họ bốn vô lượng tâm; nếu người lo sợ
nhàm chán sắc như ở trong lao ngục thì nói cho họ bốn vô
sắc định; nếu người đối với các cảnh duyên không được
tự tại, muốn quán cảnh duyên theo ý mình thì nói cho họ
tám thắng xứ; nếu người có bị ngăn đạo không được
thấu suốt thì nói cho họ tám bội xả; nếu người tâm không
điều hòa nhu nhuyến không thể từ thiền khởi dậy thứ
lớp nhập thiền, thì nói cho họ chín thứ đệ định; nếu
người không được hết thảy cảnh duyên soi khắp để tùy
ý được hiểu rõ, thì nói cho họ mười nhất thiết xứ
.
Nếu
trong khi nghĩ tới mười phương chúng sanh, muốn làm cho họ
được an vui; trong tâm tâm số pháp phát sanh một pháp gọi
là từ. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn tương ưng với
từ; ấy gọi là tâm số pháp. Từ đó khởi lên thân
nghiệp khẩu nghiệp và các tâm bất tương ưng hành, các pháp
này hòa hợp, đều gọi là từ. Do từ mà các pháp ấy
sanh; lấy từ làm chủ, cho nên được gọi là từ. Cũng
như hết thảy tâm tâm số pháp, tuy đều là nghiệp làm nhân
duyên cho đời sau, nhưng chỉ có tâm sở tư được gọi là
nghiệp; vì trong sự tạo nghiệp, tâm sở tư có sức
mạnh hơn cả. Bi, hỷ, xả cũng như vậy.
Tâm
từ này ở tại Sắc giới hoặc hữu lậu hoặc vô lậu; hoặc
có thể đoạn hoặc không thể đoạn. Từ cũng có trong
căn bản thiền, cũng có trong trung gian thiền.
Từ
tương ưng với ba căn hỷ, lạc, xã, trừ khổ căn, ưu căn.
Các nghĩa như vậy trong A-tỳ-đàm có phân biệt nói rõ.
Chấp
thủ tướng chúng sanh nên tâm từ thành hữu lậu; thủ tướng
rồi đi vào thật tướng của các pháp, nên từ thành vô lậu.
Do vậy trong câu hỏi của Vô Tận Ý Bồ-tát nói từ có ba
thứ là chúng sanh duyên từ, pháp duyên từ và vô duyên từ.
Hỏi:
Bốn vô lượng tâm này làm sao thực hành?
Đáp:
Như Phật nói trong các kinh: Có vị Tỳ-kheo do tâm tương
ưng với từ: không sân không hận, không oán không não,
quảng đại vô lượng, khéo tu. Tâm từ rải khắp chúng
sanh thế giới phương đông; tâm từ rải khắp chúng sanh mười
phương thế giới, phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên dưới.
Tâm tương ưng với bi, hỷ, xả cũng rải khắp như vậy.
Tâm
tương ưng với từ, từ là tâm số pháp, có thể trừ sự
rối rắm ô trược trong tâm; đó là các phiền não sân hận
xan tham v.v...; ví như viên ngọc tịnh thủy bỏ vào nước,
nước liền trong.
Không
sân hận là, đối với chúng sanh hoặc có nhân duyên hoặc
không có nhân duyên mà nổi sân; hoặc muốn ác khẩu mắng
nhiếc, sát hại cướp đoạt; ấy gọi là sân. Chờ thời
tiết, được nơi chốn, có thế lực thì sẽ làm hại; ấy
gọi là hận. Lấy tâm từ trừ hai sự ấy, gọi là vô
sân vô hận.
Không
oán không não là, hận tức là oán, khi mới hiềm khích là
hận, hận lâu thành oán, khởi thân khẩu nghiệp làm hại
gọi là não.
Lại
nữa, khi mới sanh sân kết gọi là sân, sân tăng trưởng,
tính toán, ôm giữ trong lòng chưa được giải quyết, gọi
là hận; cũng gọi là oán. Nếu tâm đã quyết định,
không còn úy kỵ gì, thì gọi là não. Lấy sức của
tâm từ trừ bỏ, xa lìa ba việc ấy; ấy gọi là không sân
không hận. Phật lấy sự không sân không hận, không
oán không não ấy mà tán thán tâm từ.
Hết
thảy chúng sanh đều sợ khổ mà tham vui; sân là nhân duyên
của khổ, từ là nhân duyên của vui. Chúng sanh nghe được
Từ tam muội này có công năng trừ khổ, có công năng cho vui,
nên nhất tâm siêng tinh tấn, thực hành Tam muội ấy.
Do vậy nên không sân không hận, không oán không não.
Quảng,
đại, vô lượng là, một tâm từ mà phân biệt có ba tên:
Quảng là một phương, đại là cao xa, vô lượng là hạ phương
và chín phương kia.
Lại
nữa, hạ phương là quảng, trung phương là đại, thượng
phương là vô lượng.
Lại
nữa, duyên đến tâm chúng sanh trong bốn phương gọi làquảng,
duyên đến tâm chúng sanh ở bốn góc gọi là đại; duyên
đến tâm của chúng sanh ở thượng hạ phương gọi là vô
lượng.
Lại
nữa, phá tâm sân hận gọi là quảng, phá tâm oán gọi là
đại, phá tâm não gọi là vô lượng.
Lại
nữa, hết thảy tâm phiền não, kẻ tiểu nhân thi hành thì
sanh tiểu sự, nên gọi là nhỏ. Lại nhỏ hơn thế nên
gọi là sân hận, oán não. Phá cái nhỏ trong cái nhỏ
ấy, gọi là quảng đại vô lượng; vì cớ sao? Vì đại
nhân duyên thường phá được tiểu sự.
Quảng
tâm là sợ tội, sợ đọa địa ngục nên trừ bỏ ác pháp
trong tâm.
Đại
tâm là tin ưa quả báo phước đức nên trừ bỏ điều ác
trong tâm.
Vô
lượng tâm là vì muốn được Niết-bàn nên trừ bỏ điều
ác trong tâm.
Lại
nữa, hành giả giữ giới thanh tịnh, ấy là tâm rộng; thiền
định đầy đủ ấy là tâm lớn; trí tuệ thành tựu ấy
là tâm lượng. Lấy từ tâm này nghĩ đến bậc Thánh
nhân đắc đạo; ấy gọi là vô lượng tâm. Dùng vô
lượng pháp phân biệt bậc Thánh nhân, nghĩ tới chỗ tôn
qúy của chư thiên và loài người nên gọi là đại tâm.
Nghĩ đến các nơi hạtiện khác và chúng sanh trong ba ác đạo;
ấy gọi là quảng tâm. Lấy tâm từ nghĩ đến chúng
sanh được thương yêu rộng hơn nghĩ đến mình; gọi là quảng
tâm. Tâm từ nghĩ đến người không yêu không ghét; gọi
là đại tâm. Đem tâm từ nghĩ đến kẻ oán ghét, công
đức ấy rất nhiều nên gọi là vô lượng tâm.
Lại
nữa, vì đối với tâm duyên cảnh hạn hẹp, nên gọi là
quảng; vì đối với tâm duyên cảnh nhỏ nên gọi là đại;
vì đối với tâm có lượng nên gọi là vô lượng. Phân
biệt các nghĩa như vậy.
Khéo
tu là tâm từ bền chắc. Khi mới có được tâm
từ, không gọi là tu. Chẳng phải chỉ đối với chúng
sanh mình thương yêu; chẳng phải chỉ đối với chúng sanh
tốt; chẳng phải chỉ đối với chúng sanh có ích cho mình;
chẳng phải đối với chúng sanh trong một phương mà gọi
là khéo tu. Nhưng thực hành lâu ngày được sâu xa ưa
thích; đối với ba hạng chúng sanh thương, ghét và không thương
không ghét, xem bình đẳng không khác. Đối với mười
phương chúng sanh trong năm đường, lấy một tâm từ xem đó
như cha như mẹ, như anh em, chị em con cháu, tri thức; thường
cầu sự tốt đẹp cho họ; muốn làm cho họ được lợi ích
an ổn.
Tâm
như vậy biến khắp chúng sanh trong mười phương. Tâm
từ như vậy, gọi là chúng sanh duyên từ. Tâm từ này
phần nhiều hạng phàm phu, hạng hữu học chưa dứt hết
lậu thực hành.
Pháp
duyên từ là hàng A-la-hán lậu tận, Bích-chi Phật và chư
Phật. Các bậc Thánh nhân phá hết tướng tự ngã, diệt
hết tướng nhất dị; chỉ quán tất cả đều do nhân duyên
tương tục sanh các dục. Khi bậc Thánh thường nghĩ đến
chúng sanh, thấy đều do nhân duyên hòa hợp tương tục sanh,
chỉ là không. Năm uẩn tức là chúng sanh, nghĩ đến
năm uẩn ấy, nên đem từ tâm nghĩ đến chúng sanh vì không
biết pháp không ấy nên thường một mặt mong muốn được
vui. Thánh nhân thương xót làm cho được vui theo ý muốn.
Đây là vì theo phép thế tục, nên gọi là pháp duyên từ.
Vô
duyên từ là tâm từ chỉ chư Phật mới có, vì cớ sao?
Vì tâm chư Phật không trụ trong tánh hữu vi, vô vi; không
nương tựa vào đời quá khứ, vị lai, hiện tại; biết các
duyên không thật, đều là điên đảo hư dối, nên tâm không
duyên gì. Song vì thấy chúng sanh không biết thật tướng
của các pháp, mà phải bị qua lại năm đường, tâm đắm
theo các pháp, phân biệt lấy, bỏ; nên Phật đem trí tuệ
biết về thật tướng các pháp, khiến cho chúng sanh ngộ được;
ấy gọi là vô duyên từ. Cũng như cấp thí cho người
nghèo hoặc tài vật, hoặc vàng bạc bảo vật, hoặc như ý
trân châu. Tâm từ duyên chúng sanh, duyên pháp, duyên vô
duyên cũng như vậy. Ấy là lược nói nghĩa của tâm
từ. Tâm bi cũng như vậy, đem tâm lân mẫn xem thấy mười
phương chúng sanh chịu khổ, suy nghĩ rằng: Chúng sanh
thật đáng thương, chớ để chúng sanh chịu các khổ ấy,
cho nên tâm không sân không hận, không oán không não; cho đến
khắp cả mười phương cũng như vậy.
Hỏi:
Có ba hạng chúng sanh: Có hạng thọ vui, như chư thiên
và một phần loài người; có hạng thọ khổ, như chúng sanh
ở ba đường ác và một phần loài người; có hạng thọ
không khổ không vui, như một ít trong năm đường. Tại
sao người thực hành tâm từ xem thấy chúng sanh đều thọ
vui; người thật hành tâm bi xem thấy hết thảy chúng sanh
đều thọ khổ?
Đáp:
Hành giả khi muốn học tâm từ vô lượng thì trước tiên
phát nguyện rằng: Nguyện chúng sanh được thọ các thứ
vui. Nắm lấy tướng người thọ vui, nhiếp tâm vào thiền,
tướng ấy dần dần tăng rộng; tức thấy chúng sanh đều
thọ vui; ví như cọ lửa, trước tiên lấy cỏ mịn, phân
bò khô, khi thế lửa càng lớn có thể đốt cây tươi lớn,
Từ tam muội cũng như thế, khi mới phát sanh tâm nguyện từ
thì chỉ cập đến thân tộc, tri thức; đến khi tâm từ càng
rộng lớn, thì kẻ oán người thân đồng đẳng đều thấy
họ được vui; ấy là thiền định về tâm từ được tăng
trưởng thành tựu vậy. Bi, hỷ, xả cũng như vậy.
Hỏi:
Trong tâm bi nắm lấy tướng người thọ khổ, trong tâm hỷ
nắm lấy tướng người thọ mừng; còn trong tâm xả thì nắm
lấy tướng gì?
Đáp:
Nắm lấy tướng người thọ không khổ không vui. Hành
giả do tâm ấy dần dần lớn rộng thì thấy hết thảy đều
thọ không khổ không vui.
Hỏi:
Trong ba thứ tâm từ, bi, hỷ đều phải có phước đức; còn
tâm xả đối với chúng sanh thọ không khổ không vui thì có
được lợi ích gì?
Đáp:
Hành giả nghĩ rằng: Hết thảy chúng sanh khi hết vui
thời bị khổ; khi đang khổ thời là khổ; nếu được không
khổ không vui thời an ổn. Đó là lợi ích. Hành
giả thực hành tâm từ tâm hỷ, thì hoặc có khi tâm tham đắm
phát sanh; thực hành tâm bi, thì hoặc có khi tâm u sầu phát
sanh, vì tham và ưu nên tâm loạn. Nhập vào tâm xả này
thì trừ tâm tham và ưu ấy, tâm tham và ưu trừ nên gọi là
tâm xả.
Hỏi:
Tâm bi, tâm xả khác nhau có thể biết được; còn tâm từ
làm cho chúng sanh vui, tâm hỷ làm cho chúng sanh mừng; vui và
mừng có gì sai khác?
Đáp:
Thân vui gọi là vui, tâm vui gọi là mừng. Vui tương ưng
với năm thức gọi là vui, vui tương ưng với ý thức gọi
làmừng. Trong năm trần sanh vui gọi là vui, trong pháp
trần sanh vui gọi là mừng. Trước tiên cầu vui, nguyện
cho chúng sanh đều được; từ nhân của vui làm cho chúng sanh
được mừng; như người thương kẻ nghèo, trước cho bảo
vật, gọi là vui, sau dạy cho buôn bán được thọ năm dục
lạc gọi là mừng.
Lại
nữa, nguyện cho chúng sanh được cái vui cõi Dục gọi là
vui; nguyện cho chúng sanh được cái vui cõi Sắc gọi là mừng.
Lại
nữa, cái vui tương ưng với năm thức ở cõi Dục gọi là
vui, cái vui tương ưng với ba thức ở Sơ thiền, tất cả
cái vui trong Tam thiền gọi là vui; cái vui tương ưng với ý
thức ở cõi Dục và Sơ thiền, tất cả cái vui ở Nhị thiền
gọi là mừng.
Vui
thô gọi là vui, vui tế gọi là mừng. Khi ở trong nhân
gọi là vui, khi ở trong quả gọi là mừng. Khi mới được
vui gọi là vui; tâm hân hoan phát ra bên trong, tướng vui hiện
ra bên ngoài, ca múa nhảy nhót, gọi là mừng. Ví như
khi mới uống thuốc gọi là vui, khi thuốc ngấm khắp thân
gọi là mừng.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không hoà hiệp hai tâm làm một vô lượng,
mà lại chia ra làm hai pháp?
Đáp:
Hành giả sơ tâm chưa nhiếp phục được, chưa có thể thương
chúng sanh một cách sâu xa, nên chỉ cho vui. Khi tâm nhiếp
phục, thương chúng sanh một cách sâu xa, cho nên mới
cho mừng. Do vậy nên trước vui rồi sau mừng.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không theo thứ lớp “từ” tiếp đến
“hỷ”??
Đáp:
Khi thực hành tâm từ, yêu chúng sanh như con đẻ, nguyện cho
nó vui; ra khỏi từ Tam muội nên thấy chúng sanh chịu đủ
thứ khổ, mới phát tâm thâm ái thương xót chúng sanh làm
cho nó được cái vui sâu xa; ví như cha mẹ tuy thương yêu
con, nếu con bị bệnh nguy cấp, khi ấy tâm thương yêu càng
nặng. Bồ-tát cũng như vậy. Nhập vào tâm bi xem thấy
chúng sanh khổ, sanh lòng thương xót bèn cho cái vui sâu xa.
Do lẽ đó, tâm bi ở chặng giữa.
Hỏi:
Nếu thâm ái chúng sanh như vậy, sao lại còn thực hành tâm
xả?
Đáp:
Hành giả thuờng quán sát như vậy: Thường không xả
bỏ chúng sanh, mà chỉ xả bỏ ba tâm ấy; vì cớ sao, vì để
phòng việc bỏ rơi các pháp môn khác. Cũng là do tâm
từ muốn làm chúng sanh vui, mà thực tế không làm cho vui được;
tâm bi muốn làm chúng sanh lìa khổ, mà thực tế không làm
cho được lìa khổ. Khi thực hành tâm xả cũng không
thể làm cho chúng sanh được đại hỷ. Đây mới chỉ
là nhớ tưởng, chứ chưa có thật sự. Muốn làm cho
chúng sanh được thật sự lìa khổ được vui, thì phải phát
tâm làm Phật, thực hành sáu Ba-la-mật, đầy đủ Phật pháp,
mới làm cho chúng sanh được thật sự vui. Do vậy nên
bỏ ba tâm ấy, mà vào tâm xả này. Từ, bi, hỷ có tâm
yêu thương sâu xa nên bỏ chúng sanh khó, còn tâm xả này dễ
rời bỏ được.
Hỏi:
Bồ-tát thực hành sáu Ba-la-mật cho đến khi thành Phật, cũng
không thể làm cho hết thảy chúng sanh lìa khổ được vui;
vậy tại sao chỉ nói ba tâm từ, bi, hỷ ấy chỉ là sanh tâm
nhớ tưởng mà không có thật sự?
Đáp:
Vị Bồ-tát khi được làm Phật, tuy không thể làm cho hết
thảy chúng sanh được vui, nhưng Bồ-tát phát thệ nguyện
rộng lớn, từ đại nguyện ấy được quả báo phước đức
lớn; nhờ được quả báo lớn nên có thể làm lợi ích lớn.
Hàng phàm phu, Thanh-văn thực hành bốn vô lượng tâm, chỉ
vì tự điều phục, tự lợi ích, cũng chỉ nhớ suông đến
chúng sanh; còn các Bồ-tát thực hành tâm từ là muốn làm
cho chúng sanh lìa khổ được vui. Do nhân duyên của tâm
từ ấy, cũng tự được phước đức, cũng giáo hoá người
khác
làm
phước đức. Khi thọ quả báo, hoặc Chuyển luân Thánh
vương, làm được nhiều việc lợi ích. Bồ-tát
hoặc xuất gia hành thiền, dẫn đạo chúng sanh, dạy cho hành
thiền, được sanh vào thế giới thanh tịnh, thọ tâm vui vô
lượng; hoặc khi làm Phật, cùng với vô lượng vô số chúng
sanh, vào Vô-dư Niết-bàn. So với sự lợi ích của tâm
nguyện suông, thì đây là lợi ích lớn; cho đến còn lưu
lại Xá-lợi và pháp cũng làm lợi ích rất nhiều.
Lại
nữa, nếu một đức Phật độ hết tất cả chúng sanh, thời
các đức Phật khác không còn độ ai; thế là không có Phật
vị lai, là dứt giống phật. Có các lỗi như vậy, do
đó có một đức Phật không độ hết tất cả chúng sanh.
Lại
nữa, tính của chúng sanh từ ngu si mà có, không có thật pháp
nhất định; các đức Phật trong ba đời mười phương tìm
tính chúng sanh thật không thể có được, làm sao độ hết
tất cả.
Hỏi:
Nếu chúng sanh là trống không, không thể độ hết, thời
một ít chúng sanh cũng đều là không; làm sao có thể độ
phần ít ấy?
Đáp:
Tôi nói các đức Phật trong ba đời mười phương tìm thật
tánh của hết thảy chúng sanh không thể được, nên không
có độ; mà ông thì nạn hỏi rằng sao Phật không độ hết,
thế là ông bị thua. Ông bị thua không tự cứu được,
mà còn nạn hỏi rằng trong chỗ không có chúng sanh, thì nhiều
và ít cùng một loại, cớ sao độ phần ít; thế là ông bị
thua thêm một lần nữa.
Lại
nữa, trong thật tướng đệ nhất nghĩa của các pháp thời
không có chúng sanh cũng không có độ; chỉ vì theo pháp thế
tục mà nói là có độ. Ông ở trong pháp thế tục tìm
đệ nhất nghĩa, việc ấy không thể được; cũng như trong
ngói đá tìm trân bảo là không thể được.
Lại
nữa, chư Phật từ khi mới phát tâm, cho đến khi pháp
tận, ở khoảng trung gian ấy, có công đức gì đều là pháp
có tạo tác, có hạn có lượng, có trước có sau; cho nên
có độ chúng sanh cũng phải có lượng. Không thể đem
pháp theo nhân duyên quả báo có lượng mà độ hết vô lượng
chúng sanh; như đại lực sĩ, thế mạnh của cây cung tuy lớn
mà mũi tên bay xa thì phải rớt; cũng như ngọn lửa lớn lúc
kiếp tận, đốt cháy ba ngàn thế giới, sáng rực vô lượng,
nhưng lâu cũng phải tắt. Bồ-tát thành Phật cũng như
vậy. Từ khi mới phát tâm, cầm cây cung tinh tấn, dùng
mũi tên trí tuệ, găm sâu vào Phật pháp, làm Phật sự to
lớn cũng sẽ phải dứt. Khi Bồ-tát được Nhất thế
chủng trí, thân phóng ra ánh sáng, chiếu soi vô lượng thế
giới; mỗi mỗi ánh sáng biến hóa làm vô lượng thân, độ
mười phương vô lượng chúng sanh. Sau khi nhập Niết-bàn,
Xá-lợi và tám vạn bốn ngàn pháp tu hóa độ chúng sanh; ví
như ngọn lửa lúc kiếp tận chiếu ra, lâu cũng phải dứt.
Hỏi:
Ông tự nói ánh sáng biến hóa làm vô lượng thân, để độ
mười phương vô lượng chúng sanh; nay sao lại nói vì nhân
duyên có lượng nên độ chúng sanh cũng có lượng?
Đáp:
Vô lượng có hai thứ: 1- Thật vô lượng. Các
thánh nhân không thể lượng được; ví như hư không, Niết-bàn,
tính chúng sanh; đó là không thể lường. 2- Pháp
có thể lượng nhưng vì sức kém không lường được; như
núi Tu-di, nước biển cả, cân lượng, số giọt nhiều ít,
chư Phật Bồ-tát biết được; còn chư thiên và người đời
không thể biết được. Phật độ chúng sanh cũng như
vậy. Các đức Phật biết được nhưng chẳng phải
các ông biết được, cho nên nói là vô lượng.
Lại
nữa, các pháp nhân duyên hòa hiệp sanh, không có tự tánh;
tự tánh không có cho nên thường không; trong thường không,
không thể có chúng sanh được, như Phật nói:
“Khi
ta ngồi đạo tràng,
Trí
tuệ không thể được,
Tay
không gạt trẻ nhỏ,
Để
độ thoát hết thảy.
Thật
tướng của các pháp,
Là
tướng của chúng sanh,
Nếu
nắm tướng chúng sanh,
Thời
xa lìa thật đạo.
Thường
niệm tướng “thường không”,
Người
ấy chẳng hành đạo,
Trong
pháp không sanh diệt,
Mà
khởi tướng phân biệt,
Nếu
phân biệt nhớ tưởng,
Ấy
chính là lưới Ma,
Không
động, không nương tựa,
Ấy
chính là pháp ấn”.
Hỏi:
Nếu vui có hai phần là tâm từ và tâm hỷ. Tâm bi quán
khổ sao không có hai phần?
Đáp:
Vui là chỗ yêu trọng của chúng sanh nên làm hai phần; còn
khổ thì chúng sanh không yêu không nhớ. Lại khi thọ
vui, tâm mềm; khi thọ khổ, tâm cứng. Như Vi-đà-du em
của vua A-dục, được phép làm vua cõi Diêm-phù-đề trong
bảy ngày, với năm dục thượng diệu tùy ý thụ hưởng.
Qua khỏi bảy ngày, vua A-dục hỏi: “vua Diêm-phù-đề
hưởng vui sung sướng chăng?” Em không thấy, không nghe,
không biết, vì cớ sao? Tên Chiên-đà-la cứ mỗi ngày
rung linh hô lớn: “Trong bảy ngày đã qua đi một, hai
v.v... ngày, quá bảy ngày thì ông phải chết”. Em nghe
âm thanh ấy nên tuy làm vua Diêm-phù-đề có đầy đủ năm
dục thượng diệu, nhưng vì nỗi lo khổ sâu xa mà không nghe
không thấy gì cả.
Do
đó nên biết thế lực của khổ nhiều, thế lực của vui
yếu. Nếu người toàn thân thọ vui, mà chỉ bị đâm
một chỗ, là sự vui đều biến mất, chỉ còn thấy khổ;
vì thế lực của vui yếu vậy. Sự vui có hai phần là
mạnh; nhưng thế lực của khổ nhiều, nên chỉ một chỗ
khổ cũng đủ thấy rõ ràng.
Hỏi:
Thực hành bốn vô lượng tâm ấy được quả báo gì?
Đáp:
Phật nói: Vào Từ tam muội, hiện tại được năm công
đức là: Vào lửa không cháy, trúng độc không chết,
binh đao không tổn thương, trọn đời không bị hoạnh tử
và thiện thần ủng hộ; do làm lợi ích cho vô lượng chúng
sanh nên được vô lượng phước đức ấy. Do tâm hữu
lậu vô lượng duyên theo chúng sanh ấy nên được sanh chỗ
thanh tịnh; đó là Sắc giới.
Hỏi:
Sao Phật nói quả báo của tâm từ được sanh vào cõi Phạm-thiên?
Đáp:
Vì Phạm-thiên là chỗ chúng sanh tôn qúy, ai nấy đều
nghe đều biết. Phật ở nước Thiên Trúc, tại nước
Thiên Trúc thường có nhiều Bà-la-môn; mà pháp của Bà-la-môn
hễ có phước đức gì đều nguyện sanh cõi Phạm-thiên.
Nếu chúng sanh nghe nói hành từ tâm được sanh cõi Phạm-thiên,
thì đa số theo thực hành pháp từ. Do vậy Phật nói
hành từ sanh Phạm-thiên.
Lại
nữa, vì trời dứt bỏ dâm dục đều gọi là Phạm vậy,
và nói Phạm là gồm cả Sắc giới. Do vậy nên đoạn
dâm dục gọi là phạm hạnh. Lìa dục cũng gọi là Phạm.
Nếu nói Phạm thời gồm cả Tứ thiền, Tứ vô sắc định.
Lại
nữa, giác và quán khó dứt nên không nói theo tên cõi trên;
ví như trong năm giới, về giới miệng chỉ có nói một điều
bất vọng ngữ, là đã gồm cả ba điều kia.
Hỏi:
Tâm từ có năm công đức: tâm, bi, hỷ, xả sao không nói có
công đức?
Đáp:
Như trên đã ví dụ, nói một là gồm cả ba. Đây cũng
như vậy, nếu nói từ là đã nói bi, hỷ, xả.
Lại
nữa, từ là chơn vô lượng, từ ví như vua; ba sự kia là
tùy tùng như nhân dân, vì cớ sao? Vì trước lấy tâm
từ muốn làm cho chúng sanh được vui; khi thấy có kẻ không
được vui mới sanh tâm bi muốn làm cho chúng sanh lìa khổ;
tâm được pháp lạc, cho nên sanh tâm mừng. Đối với
ba việc không ghét không yêu, không tham không ưu, cho nên sanh
tâm xả.
Lại
nữa, Từ là đem vui cho chúng sanh, nên trong kinh Tăng-nhất
A-hàm nói Từ có năm công đức. Tâm bi như trong kinh Đại
thừa, nơi nơi đều nói công đức của Bi; như trong KinhVõng
Minh Bồ-tát nói rằng: Bồ-tát ở giữa chúng sanh thực
hành ba mươi hai thứ bi, dần dần lớn rộng chuyển thành
đại bi. Đại bi là cội gốc công đức của hết thảy
chư Phật, Bồ-tát; là mẹ của Bát-nhã Ba-la-mật; là tổ
mẫu của chư Phật. Bồ-tát do tâm đại bi nên được
Bát-nhã Ba-la-mật; được Bát-nhã Ba-la-mật nên được làm
Phật. Như vậy nhiều cách tán thán tâm đại bi.
Tâm hỷ, tâm xả các chỗ khác cũng có tán thán. Hai tâm
từ, bi biến khắp to lớn nên tán thán công đức nó; vì từ
là công đức khó có, vì bi là có khả năng thành tựu đại
nghiệp.
Hỏi:
Phật nói bốn công đức vô lượng, từ tâm giỏi tu, khéo
tu, được phước cùng tột đến Biến-tịnh-thiên; bi tâm
giỏi tu, khéo tu, được phước cùng tột đến Hư-không-vô-biên-xứ;
hỷ tâm giỏi tu, khéo tu, được phước cùng tột đến Thức-vô-biên-xứ;
xả tâm giỏi tu, khéo tu, được phước cùng tột đến Vô-sở-hữu-xứ.
Sao đây nói quả báo của từ tâm được sanh cõi trời Phạm-thiên?
Đáp:
Pháp của chư Phật không thể tư nghì, tùy mỗi chúng sanh
đáng được độ như thế nào thì nói như thế ấy.
Lại
nữa, từ nơi từ định khởi dậy hồi hướng đến đệ
Tam thiền dễ; từ nơi bi định khởi dậy hồi hướng đến
Hư-không-vô-biên-xứ dễ; từ nơi hỷ định khởi dậy mà
nhập vào Thức-vô-biên-xứ dễ; từ nơi xả định khởi dậy
hồi hướng mà nhập vào Vô-sở-hữu-xứ dễ.
Lại
nữa, tâm từ nguyện làm cho chúng sanh được vui, quả báo
ấy tự nhiên được thọ vui. Trong ba cõi, cõi trời Biến
tịnh là rất vui vậy, nên nói phước cùng tột đến Biến
tịnh thiên. Bi tâm quán thấy chúng sanh bị khổ sanh già
bệnh chết, tàn hại; hành giả sanh tâm thương xót, làm thế
nào để họ được lìa khổ? Nếu trừ nội khổ, thì
ngoại khổ lại đến. Hành giả suy nghĩ: “Có thân
là có khổ; chỉ có vô thân mới là không khổ”. Hư
không có thể phá sắc, cho nên phước cùng tột là đến Hư-không-vô-biên-xứ.
Tâm hỷ muốn cho chúng sanh tâm thức được vui, người tâm
thức được vui là tâm được lìa thân; như chim ra khỏi lồng.
Tâm ở Hư-không-xứ, tuy được lìa khỏi thân mà tâm còn
buộc nơi hư không. Thức xứ vô lượng, ở trong hết
thảy pháp đều có tâm thức, thức được tự tại vô biên;
do vậy nên phước cùng tột của hỷ tâm là ở tại Thức-vô-biên-xứ.
Xả
tâm là xả khổ lạc trong chúng sanh. Khổ lạc đã xả
nên được chơn xả pháp; đó là Vô-sở-hữu-xứ. Do
vậy nên phước của tâm xả cùng tột đến Vô-sở-hữu-xứ.
Bốn vô lượng tâm như vậy, chỉ Thánh nhân có được; chẳng
phải phàm phu có được.
Lại
nữa, Phật biết các đệ tử đời vị lai vì căn độn nên
phân biệt chấp trước các pháp, nói sai về tướng của bốn
vô lư ợng như vầy: “Bốn vô lượng tâm này duyên
theo chúng sanh nên chỉ là hữu lậu; chỉ duyên theo Dục giới
nên không có ở trong Vô sắc giới, vì cớ sao? Vì Vô
sắc giới không duyên Dục giới”. Để dứt vọng kiến
của hạng người ấy, nên Phật nói bốn vô lượng tâm ở
trong Vô sắc giới. Phật nói vì bốn vô lượng tâm duyên
khắp mười phương chúng sanh nên cũng phải duyên Vô sắc
giới; như trong lời hỏi của Vô-tận-ý Bồ-tát nói:
“Từ có ba thứ là chúng sanh duyên, pháp duyên và vô duyên”.
Người viết luận nói: “Chúng sanh duyên là hữu lậu,
vô duyên là vô lậu”. Pháp duyên hoặc hữu lậu hoặc
vô lậu. Các nghĩa như vậy, được nói về Bốn vô lượng
tâm.
Bốn
vô sắc định là Hư-không-xứ, Thức-xứ, Vô-sở-hữu-xứ,
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ. Bốn vô sắc này có
ba loại: 1- Có cấu nhiễm, 2- Sanh ra đã có được,
3- Thực hành mà có được. Có cấu nhiễm là
trong Vô-sắc giới gồm có ba mươi mốt kiết sử, và tâm
bất tương ưng hành pháp từ kiết sử ấy khởi lên.
Sanh ra có được là thực hành vô sắc định; do nhân duyên
của nghiệp báo ấy, nên khi sanh vào vô sắc giới, được
có bốn uẩn vô ký không ẩn mất. Thực hành mà có được
là quán sắc ấy thô xấu, khổ trọng, già bệnh, sát hại
v.v... là nhân duyên của các khổ não; như trọng bệnh, như
ung nhọt, như mũi độc, đều là vọng ngữ hư dối, nên phải
trừ bỏ. Suy nghĩ như vậy rồi, vượt qua hết thảy
các sắc tướng, dứt hết thảy tướng có đối ngại; không
nghĩ nhớ đến hết thảy tướng sai khác, mà nhập vào định
Vô biên hư không xứ.
Hỏi:
Làm sao diệt được ba loại tướng ấy?
Đáp:
Ba loại tướng ấy đều do nhân duyên hoà hợp sanh, nên không
có tự tánh; tự tánh không có nên ba loại tướng ấy hư
dối không thật, dễ có thể diệt được.
Lại
nữa, sắc ấy phân biệt từng phần phá tan, sau đó hoàn toàn
không có; do sau không có nên nay cũng không. Chúng sanh
vì điên đảo nên đối với sắc hòa hiệp chấp thủ tướng
nhất tướng dị, tâm nhiễm trước theo sắc tướng; ta nay
không nên học theo người ngu, mà nên tìm sự thật; trong sự
thật không có tướng nhất, tướng dị.
Lại
nữa, suy nghĩ rằng: Nếu ta trừ khước, xa lìa các pháp,
thời được lợi ích sâu xa. Trước hết ta xả bỏ tài
vât, vợ con mà xuất gia, trì giới thanh tịnh, tâm được
an ổn không sợ không hãi, lìa các dục, các pháp ác bất
thiện. Lìa dục sanh hỷ lạc, được vào Sơ thiền; lìa
giác quán, bên trong thanh tịnh mà được vui mừng lớn trong
đệ Nhị thiền, lìa thứ mừng của Nhị thiền mà ở vào
đệ Tam thiền, được thứ vui đệ nhất trong các thứ vui.
Bỏ thứ vui này mà được xả niệm thanh tịnh trong đệ Tứ
thiền. Nay xả bốn thiền ấy nên lại được diệu định.
Do vậy, vượt qua tướng sắc, diệt tướng có đối ngại,
không niệm đến tướng sai khác.
Phật
nói có ba thứ sắc: Có thứ sắc có thể thấy và có
đối ngại, có thứ sắc không thể thấy và có đối ngại,
có thứ sắc không thể thấy và không đối ngại Vượt
qua tướng sắc là chỉ cho sắc có thể thấy và có đối
ngại; diệt tướng có đối ngại là chỉ cho sắc không thể
thấy có đối ngại; không niệm tướng khác là chỉ cho sắc
không thể thấy không đối ngại.
Lại
nữa, mắt thấy sắc biến hoại, gọi là vượt qua sắc; tai
nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc biến
hoại, gọi là vượt qua tướng sắc có đối ngại. Các
sắc còn lại ngoài hai sắc trên, và vô giáo sắc (vô biểu
sắc) các thứ phân biệt, gọi là tướng sắc sai khác.
Quán như vậy thì xa lìa phần ô nhiễm trong sắc giới mà
được vào Hư-không-vô-biên-xứ. Phương tiện nhân duyên
để được ba vô sắc ấy, như trong Thiền Ba-la-mật nói rõ.
Bốn
cõi định vô sắc ấy, một thường là hữu lậu (chỉ Phi-phi-tưởng-xứ),
ba định kia cần phân biệt: Hư-không-xứ hoặc hữu lậu
hoặc vô lậu. Hữu lậu là bốn uẩn hữu lậu nhiếp
thuộc Hư-không-xứ; vô lậu là bốn uẩn vô lậu nhiếp thuộc
Hư-không-xứ, Thức-xứ, Vô-sở-hữu-xứ cũng như vậy.
Tất cả đều là hữu vi.
Hư-không-xứ
thiện hữu lậu là hữu báo; Hư-không-xứ vô ký và vô lậu
là vô báo; Thức-xứ, Vô-sở-hữu-xứ cũng như vậy.
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ;
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ thiện là hữu báo; Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ
vô ký là vô báo.
Bốn
vô sắc định thiện là khả tu; bốn vô sắc định vô ký
là không khả tu.
Ẩn
mất là có cấu nhiễm, không ẩn mất là không có cấu nhiễm.
Một Phi-phi-tưởng-xứ là có cấu nhiễm; trong ba xứ kia, nếu
hữu lậu thì có cấu nhiễm, vô lậu thì không có cấu nhiễm.
Tâm
tâm số pháp nhiếp thuộc bốn vô sắc định, là tương ưng
nhân. Các tâm bất tương ưng hành là chẳng phải tương
ưng nhân.
Có
thiện pháp chẳng ở trong bốn định vô sắc, có trong
bốn định vô sắc chẳng phải thiện pháp, cũng có thiện
pháp cũng ở trong bốn định vô sắc, có chẳng thiện pháp
cũng chẳng phải ở trong bốn định vô sắc.
Có
thiện pháp không ở trong bốn định vô sắc là, tất cả
sắc uẩn thiện và bốn uẩn thiện, và trí duyên tận đế
không nhiếp thuộc bốn định vô sắc.
Có
thứ ở trong bốn định vô sắc chẳng phải thiện pháp là
bốn vô sắc vô ký.
Có
thiện pháp cũng có bốn định vô sắc là bốn định vô sắc
thiện.
Có
thứ chẳng phải thiện pháp cũng chẳng phải bốn định vô
sắc là, tất cả năm uẩn bất thiện; và sắc uẩn vô ký;
và bốn uẩn vô ký nhiếp thuộc bốn định vô sắc; và hư
không, và chẳng phải trí duyên tận đế.
Bốn
định vô sắc và phép bất thiện không nhiếp thuộc nhau.
Có
pháp vô ký chẳng phải bốn định vô sắc; có bốn định
vô sắc chẳng phải vô ký pháp; có cũng vô ký pháp cũng bốn
định vô sắc; có chẳng phải vô ký pháp chẳng phải bốn
định vô sắc.
Có
vô ký pháp chẳng phải bốn định vô sắc là sắc uẩn vô
ký và bốn uẩn vô ký không nhiếp thuộc bốn định vô sắc;
và hư không; và chẳng phải trí duyên tận đế.
Có
bốn định vô sắc chẳng phải vô ký pháp là bốn định
vô sắc thiện.
Có
cũng vô ký pháp cũng bốn định vô sắc là, bốn định vô
sắc vô ký.
Có
chẳng phải vô ký pháp cũng chẳng phải bốn định vô sắc
là, năm uẩn bất thiện, sắc uẩn thiện; bốn uẩn thiện
không nhiếp thuộc vô sắc và trí duyên tận đế.
Hoặc
lậu mà chẳng phải bốn định vô sắc; hoặc bốn định
vô sắc chẳng phải lậu; hoặc lậu và cũng bốn định vô
sắc; hoặc chẳng phải lậu cũng chẳng phải bốn định vô
sắc.
Lậu
mà chẳng phải bốn định vô sắc là, một lậu (chỉ dục
lậu) và một phần của hai lậu (hữu lậu, vô minh lậu).
Bốn
định vô sắc chẳng phải lậu là, bốn định vô sắc không
nhiếp thuộc về lậu.
Cũng
lậu mà cũng bốn định vô sắc là, một phần của hai lậu
(hữu lậu, vô minh lậu).
Chẳng
phải lậu chẳng phải bốn định vô sắc là, sắc uẩn và
bốn uẩn không nhiếp thuộc bốn định vô sắc lậu, và pháp
vô vi.
Hoặc
hữu lậu mà chẳng phải bốn định vô sắc; hoặc bốn định
vô sắc mà chẳng phải hữu lậu; hoặc hữu lậu cũng bốn
định vô sắc; hoặc chẳng phải hữu lậu chẳng phải bốn
định vô sắc.
Hữu
lậu mà chẳng phải bốn định vô sắc là, sắc uẩn hữu
lậu và bốn uẩn hữu lậu không nhiếp thuộc vô sắc.
Bốn
định vô sắc mà chẳng phải hữu lậu là, một phần của
ba vô sắc.
Cũng
hữu lậu cũng bốn định vô sắc là, một vô sắc và một
phần của ba vô sắc.
Cũng
chẳng phải hữu lậu cũng chẳng phải bốn định vô sắc
là, sắc uẩn vô lậu và bốn uẩn vô lậu không nhiếp thuộc
vô sắc, và ba vô vi pháp (hư không vô vi, trạch diệt vô vi,
phi trạch diệt vô vi).
Hoặc
vô lậu mà chẳng phải bốn cõi định vô sắc; hoặc bốn
định vô sắc mà chẳng phải vô lậu; hoặc cũng vô lậu
cũng bốn định vô sắc; hoặc chẳng phải vô lậu chẳng
phải bốn định vô sắc.
Vô
lậu mà chẳng phải bốn định vô sắc là, sắc uẩn vô lậu
và bốn uẩn vô lậu không nhiếp thuộc vô sắc, và ba pháp
vô vi.
Bốn
định vô sắc mà chẳng phải vô lậu là, một định vô sắc
và một phần của ba định vô sắc kia.
Cũng
vô lậu mà cũng bốn định vô sắc là, một phần của ba
định vô sắc.
Chẳng
phải vô lậu chẳng phải bốn định vô sắc là, sắc uẩn
hữu lậu và bốn uẩn hữu lậu không nhiếp thuộc vô sắc.
Hư
không xứ hoặc kiến đế đoạn; hoặc tư duy đoạn;
hoặc chẳng đoạn.
Kiến
đế đoạn là người hành theo lòng tin vàngười hành
theo chỗ biết pháp, dùng kiến đế nhẫn (khổ pháp trí nhẫn,
tập pháp trí nhẫn v.v...) mà đoạn, là thế nào? Là
hai mươi tám sử và Hư-không-xứ tương ưng với hai mươi
tám sử; và các tâm bất tương ưng hành khởi lên từ nó.
Tư
duy đoạn là, học theo kiến đạo và dùng tư duy mà đoạn
là thế nào? Là tư duy đoạn ba sử và Hư-không-xứ tương
ưng với ba sử và các tâm bất tương ưng hành khởi lên từ
nó; và Hư-không-xứ vô cấu, vô lậu (không ẩn mất), hữu
lậu.
Chẳng
đoạn là Hư-không-xứ vô lậu, Thức-xứ, Vô-sở-hữu-xứ
cũng như vậy
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ
hoặc kiến đế đoạn, hoặc tư duy đoạn. Kiến
đế đoạn, là người hành theo lòng tin vàngười hành
theo chỗ hiểu pháp, dùng kiến đế đoạn mà đoạn là thế
nào? Là hai mươi tám sử và Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ
tương ưng với hai mươi tám sử , và các tâm bất tương ưng
hành khởi lên từ nó.
Tư
duy đoạn là, học theo kiến đạo và dùng tư duy mà đoạn
là thế nào? Là tư duy đoạn ba sử, và phi hữu tưởng
phi vô tưởng xứ tương ưng với ba sử , và các tâm
bất tương ưng hành khởi lên từ nó, và phi hữu tưởng phi
vô tưởng xứ vô cấu.
Các
tâm bất tương ưng hành nhiếp thuộc bốn định vô sắc là,
chẳng phải tâm, chẳng phải tâm số pháp, chẳng phải tâm
tương ưng.&