Cuốn
18
CHƯƠNG
27
GIẢI
THÍCH: BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
KINH:
Ðối với hết thảy pháp, tâm không trụ trước, nên đầy
đủ Thiền Ba-la-mật.
LUẬN:
Hỏi: Thế nào là Bát-nhã Ba-la-mật?
Ðáp:
Chư Bồ-tát từ khi mới phát tâm cầu trí Nhất thiết chủng,
ở giữa khoảng thời gian ấy tuệ biết rõ thật tướng các
pháp, ấy là Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Nếu như vậy, không nên gọi là Ba-la-mật, vì cớ sao?
Vì chưa đến bên bờ trí tuệ?
Ðáp:
Trí tuệ của Phật chứng được thật là thật Ba-la-mật.
Nhân nơi Ba-la-mật ấy mà sở hành của Bồ-tát cũng gọi
là Ba-la-mật; vì là trong nhân nói quả vậy. Bát-nhã
Ba-la-mật ấy, ở trong tâm Phật thì đổi tên là trí Nhất
thiết chủng. Bồ-tát thực hành trí tuệ cầu đến bờ
kia, nên gọi là Ba-la-mật; Phật đã đến bờ kia, nên
gọi trí của Phật là Nhất thiết chủng.
Hỏi:
Hết thảy phiền não và tập khí Phật đã đoạn, con mắt
trí tuệ thanh tịnh, nên đúng như thật chứng được thật
tướng các pháp; thật tướng các pháp tức là Bát-nhã Ba-la-mật.
Bồ-tát chưa diệt tận các lậu, mắt tuệ chưa thanh tịnh,
làm sao có thể biết được thật tướng các pháp?
Ðáp:
Nghĩa ấy sẽ nói rộng ở trong chương sau, nay chỉ lược
nói. Như người vào biển, có người mới vào, có người
tận thấu đáy nguồn, cạn sâu tuy khác mà đều gọi là vào.
Phật và Bồ-tát cũng như thế. Phật thời cùng tận
đáy nguồn, còn Bồ-tát chưa dứt phiền não và tập khí,
thế lực ít ỏi, không thể sâu vào. Như ở trong phẩm
sau có nói thí dụ: Như người ở trong nhà tối đốt
đèn chiếu các vật, mỗi mỗi đều rõ ràng, lại có thêm
đèn lớn nữa thì lại càng rõ hơn, thời biết bóng tối
của ngọn đèn sau chiếu phá cùng với bóng tối của ngọn
đèn trước chiếu phá cùng ở trong một chỗ. Ngọn đèn
trước tuy cùng bóng tối ở chung, mà cũng chiếu sáng được
các vật. Nếu ngọn đèn trước không có bóng tối ở
chung, thời ngọn đèn sau không ích thêm gì. Trí tuệ
của Phật và Bồ-tát cũng như vậy. Trí tuệ của Bồ-tát
tuy cùng với phiền não và tập khí hợp một chỗ, mà vẫn
có thể biết được thật tướng các pháp, cũng như ngọn
đèn trước có thể soi được vật; còn trí tuệ của Phật
dứt hết các phiền não tập khí và cũng biết được thật
tướng các pháp; như ngọn đèn sau lại càng sáng rõ gấp
bội.
Hỏi:
Thế nào là thật tướng các pháp?
Ðáp:
Mọi người đều nói đến thật tướng các pháp, tự
cho là phải. Trong đây nói thật tướng là không thể
phá họai, thường trú không đổi khác, không ai làm ra được.
Như trong chương sau Phật nói với Tu-bồ-đề: “Nếu
Bồ-tát quán hết thảy pháp chẳng phải thường, chẳng phải
vô thường, chẳng phải khổ chẳng phải lạc, chẳng phải
ngã chẳng phải vô ngã, chẳng phải có chẳng phải không
v.v... cũng không tác ý về quán ấy, ấy gọi là Bồ-tát
thực hành Bát-nhã Ba-la-mật. Theo nghĩa này là bỏ hết
thảy quán, dứt hết thảy ngôn ngữ, lìa các tâm hành, từ
xưa lại nay bất sanh bất diệt như tướng Niết-bàn.
Tướng hết thảy pháp cũng như vậy, ấy là thật tướng
các pháp. Như bài kệ khen ngợi Bát-nhã Ba-la-mật rằng:
“Bát-nhã
Ba-la-mật,
Thật
pháp không điên đảo,
Niệm,
tưởng, quán đã trừ,
Ðường
ngữ ngôn cũng dứt.
Vô
lượng tội trừ hết,
Tâm
thường nhất thanh tịnh.
Người
tôn diệu như vậy,
Thời
thấy được Bát-nhã,
Như
hư không vô nhiễm,
Vô
hý, vô văn tự,
Nếu
quán được như vậy,
Ấy
tức là thấy Phật,
Ðúng
như pháp quán Phật,
Bát-nhã
và Niết-bàn,
Ba
điều ấy một tướng,
Ðúng
thật không sai khác.
Chư
Phật và Bồ-tát,
Lợi
ích cho tất cả,
Bát-nhã
chính là mẹ,
Hay
xuất sanh nuôi nấng,
Phật
là cha chúng sanh,
Bát-nhã
sanh ra Phật,
Bát-nhã
là tổ mẫu,
Của
hết thảy chúng sanh.
Bát-nhã
là một pháp,
Phật
nói ra nhiều tên.
Tùy
sức các chúng sanh,
Lập
ra danh tự khác.
Nếu
người được Bát-nhã,
Tâm
nghị luận đều dứt.
Như
khi mặt trời mọc,
Sương
sớm biến tan liền.
Oai
đức của Bát-nhã,
Lay
động hai hạng người:
Kẻ
vô trí sợ hãi,
Người
có trí hoan hỷ.
Nếu
người được Bát-nhã,
Thời
là chủ Bát-nhã,
Ðối
Bát-nhã không vướng,
Huống
gì đối pháp khác.
Bát-nhã
không đâu đến,
Cũng
lại không đi đâu,
Người
trí khắp mọi nơi,
Tìm
cầu không thấy được.
Nếu
không thấy Bát-nhã,
Ấy
là thời bị buộc.
Nếu
người thấy Bát-nhã,
Ấy
cũng là bị buộc.
Nếu
người thấy Bát-nhã,
Ấy
thời được giải thoát.
Nếu
không thấy Bát-nhã,
Ấy
cũng được giải thoát.
Việc
ấy rất hy hữu,
Sâu
xa có đại danh,
Thí
như vật huyễn hóa,
Thấy
mà không thể thấy.
Chư
Phật và Bồ-tát,
Thanh-văn,
Bích-chi Phật,
Ðạo
giải thoát Niết-bàn,
Ðều
từ Bát-nhã được.
Ngôn
thuyết là thế tục,
Vì
thương xót hết thảy,
Giả
danh nói các pháp,
Tuy
nói mà chẳng nói.
Bát-nhã
Ba-la-mật,
Thí
như ngọn lửa lớn,
Bốn
phía không thủ được,
Không
lấy cũng chẳng lấy,
(Vô
thủ diệc bất thủ).
Một
chấp thủ đã xả,
Ấy
gọi không thể thủ.
Không
thể thủ mà thủ,
Ấy
tức gọi là thủ.
Tướng
Bát-nhã không hoại,
Vượt
qua mọi ngôn ngữ,
Vưà
không nương tựa đâu,
Ai
khen được đức nó,
Bát-nhã
chẳng thể khen.
Tôi
nay được tán thán,
Tuy
chưa khỏi đất chết,
Thì
cũng đã được ra”.
CHƯƠNG
28
GIẢI
THÍCH: TƯỚNG BÁT-NHÃ
Hỏi:
Sao chỉ gọi riêng Bát-nhã Ba-la-mật là Ðại (Ma ha) mà không
gọi năm Ba-la-mật kia?
Ðáp:
Ma ha, Trung hoa dịch là Ðại, Bát-nhã dịch là Tuệ. Bát-nhã
Ba-la-mật dịch là Ðáo bỉ ngạn. Vì đến được bờ
kia của biển cả trí tuệ, đến bờ mé của hết thảy trí
tuệ, đến chỗ cùng tột nên gọi là đáo bỉ ngạn.
Chư Phật trong ba đời mười phương lớn bậc nhất, thứ
đến là Bồ-tát, Bích-chi Phật, Thanh-văn; bốn bậc đại
nhân ấy đều từ Bát-nhã Ba-la-mật xuất sanh nên gọi là
Ðại.
Lại
nữa, nó hay đem lại cho chúng sanh quả báo lớn, vô lượng
vô tận, thường không biến khác, gọi là Niết-bàn.
Còn năm Ba-la-mật kia không được như vậy. Bố thí v.v...
mà lìa Bát-nhã Ba-la-mật thì chỉ đem lại cho chúng sanh quả
báo thế gian, cho nên không được gọi là Ðại.
Hỏi:
Cái gì là trí tuệ?
Ðáp:
Bát-nhã Ba-la-mật thu nhiếp tất cả trí tuệ; vì cớ sao,
vì Bồ-tát cầu Phật đạo nên phải học tất cả pháp, được
tất cả trí tuệ; đó là tất cả trí tuệ của Thanh-văn,
Bích-chi Phật, Phật. Trí tuệ ấy có ba thứ: Học,
vô học, phi học phi vô học. Trí phi học phi vô học
là như càn huệ địa, bất tịnh quán, an-na-bát-na, tứ niệm
xứ thuộc Dục giới, noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế
đệ nhất pháp v.v... Trí học là khổ pháp trí, nhẫn, tuệ
cho đến hướng A-la-hán, Kim-cang tam-muội tuệ trong vô ngại
đạo (vô gián đoạn) thứ chín. Trí vô học là A-la-hán
với trí giải thoát thứ chín (giải thoát đạo). Từ
đó về sau, hết thảy trí vô học như Tận trí, Vô sanh trí
v.v... Trí tuệ cầu đạo Bích-chi Phật cũng như vậy.
Hỏi:
Nếu Bích-chi Phật đạo cũng như vậy, thời làm sao phân biệt
giữa Thanh-văn và Bích-chi Phật?
Ðáp:
Ðạo tuy một thứ mà dụng trí có khác. Nếu lúc chư
Phật không xuất hiện, hoặc lúc Phật pháp đã diệt, người
ấy do nhân duyên đời trước, tự xuất phát trí tuệ, không
theo người khác nghe, do tự trí tuệ đắc đạo. Như
một Quốc vương đi dạo chơi ở trong vườn, ban mai trong sáng
trông thấy rừng cây hoa quả tốt tươi, rất đáng ưa vui.
Vua ăn xong nằm nghỉ, các đại phu thể nữ của vua, chung
nhau hái hoa, bẻ phá cây rừng, vua thức dậy, thấy cây bị
hủy hoại, mà tự giác ngộ: “Tất cả thế gian vô
thường, biến hoại, đều cũng như vậy!” Suy nghĩ như
vậy, tâm vô lậu phát sanh, dứt hết kiết sử, chứng đắc
đạo Bích-chi Phật, đủ sáu thần thông, liền bay đến giữa
rừng yên vắng. Nhân duyên như vậy, do phước đức,
nguyện hạnh, quả báo đời trước, đời nay thấy được
một ít nhân duyên mà chứng thành đạo Bích-chi Phật.
Như vậy là sai khác.
Lại
nữa, Bích-chi Phật có hai hạng: Một gọi là Ðộc giác,
hai gọi là Duyên giác như trên đã nói. Ðộc giác là
người này trong đời này thành đạo, tự mình giác ngộ không
theo người khác nghe, ấy gọi là Ðộc giác Bích-chi-ca Phật.
Ðộc
giác Bích-chi-ca Phật có hai hạng: 1- Vốn là học
nhân, sanh trong loài người, lúc bấy giờ không có Phật, Phật
pháp đã diệt, vị Tu-đà-hoàn này đã mãn bảy phen sanh, không
còn phải sanh phen thứ tám, tự được thành đạo. Người
này không gọi là Phật, không gọi là A-la-hán, chỉ gọi là
Tiểu Bích-chi-ca Phật, cùng với A-la-hán không khác. Hoặc
có vị không bằng Ðại A-la-hán Xá-lợi-phất v.v... 2-
Là Ðại Bích-chi-ca Phật, trong một trăm kiếp tạo công đức,
tăng trưởng trí tuệ, được phần ba mươi hai tướng, hoặc
được ba mươi mốt tướng, ba mươi tướng, hai mươi chín
tướng, cho đến một tướng trong chín hạng A-la-hán, trí
tuệ thông lợi hơn, vào được trong tổng tướng, biệt tướng
của các pháp thậm thâm, lâu ngày tu tập định, thường ưa
ở một mình. Tướng trạng như vậy, gọi là Ðai Bích-chi
Phật, vì thế mà có sai khác.
Người
cầu Phật địa, từ khi mới phát tâm khởi nguyện: “Nguyện
tôi làm Phật độ thoát chúng sanh, được hết thảy Phật
pháp, thực hành sáu Ba-la-mật; phá chúng Ma quân và các phiền
não, được Nhất thiết trí, thành tựu Phật đạo, cho đến
vào Vô-dư Niết-bàn. Tùy theo bản nguyện bản hạnh,
từ trung gian ấy có được trí tuệ, hết thảy tổng tướng,
biệt tướng đều biết hết; ấy gọi là trí tuệ của Phật
đạo. Ba thứ trí tuệ ấy đều biết cả, đến tận
cùng bờ mé nó; do vậy nên nói là đến bờ trí tuệ.
Hỏi:
Nếu như đã nói hết thảy trí tuệ đều nên vào, hoặc thế
gian, hoặc xuất thế gian; sao chỉ nói trí tuệ của ba thừa
đến tận cùng bờ nó, mà không nói các trí khác?
Ðáp:
Trí tuệ của ba thừa là thật trí tuệ, các trí khác đều
là hư vọng. Bồ-tát tuy biết mà không chuyên làm.
Như trừ núi Ma-lê, các núi khác không sản xuất cây hương
Chiên-đàn. Hoặc ở chỗ khác có lời nói hay, đều từ
trong Phật pháp mà có được. Từ nơi phi Phật pháp,
mới nghe tuy hay ho, mà lâu thời không đẹp; thí như sữa bò
sữa lừa, sắc nó tuy giống nhau, mà sữa bò thời thành váng
sữa, sữa lừa thời thành phân. Lời Phật pháp và lời
của ngoại đạo đều nói: “Không giết, không trộm,
từ mẫn chúng sanh, nhiếp tâm lìa dục; và quán “không”
tuy đồng, nhưng lời ngoại đạo nói lúc đầu tuy in tuồng
đẹp, mà cùng tột chỗ về thời là hư dối. Tất cả
ngoại đạo đều mắc vào ngã kiến. Nếu thật có ngã
thời nó phải rơi vào hai chỗ làtướng hủy hoại; hoặc
là tướng không hủy hoại; nếu làtướng hủy hoại thời
phải như da bò, nếu là tướng không hủy hoại thời phải
như hư không. Ở hai chỗ ấy không có tội sát, không
có phước bất sát. Nếu như hư không, mưa móc không
thể thấm, gió nóng không thể làm khô, thế thời rơi vào
tướng thường; nếu thường thời khổ không thể não hại,
lạc không thể làm vui. Nếu không chịu khổ lạc, thời
không nên tránh khổ tìm phước. Nếu như da Bò, bị gió
mưa làm hư hoại, thời rơi vào vô thường; nếu vô thường
thời không tội phước. Lời ngoại đạo nói nếu đúng
thật như vậy, thời đâu có việc không sát là phước, sát
sanh là tội?
Hỏi:
Phước đức trì giới của ngoại đạo có lỗi như vậy,
còn thiền định và trí tuệ thì thế nào?
Ðáp:
Ngoại đạo lấy tâm chấp ngã chạy theo thiền cho nên phần
nhiều còn ái, kiến, mạn, không xả hết thảy pháp nên không
có trí tuệ thật.
Hỏi:
Ông có ngoại đạo quán “không”, quán “không” thời xả
hết thảy pháp, tại sao nói ngoại đạo không xả hết
thảy pháp, nên không có trí tuệ thật?
Ðáp:
Ngoại đạo tuy quán “không”, mà lại chấp thủ tướng
không, tuy biết các pháp không mà không tự biết ta không;
vì ái trước theo trí tuệ quán không vậy.
Hỏi:
Ngoại đạo có định vô tưởng, ở đó tâm tâm số pháp
đều diệt; vì đều diệt nên không có lỗi thủ tướng ái
trước trí tuệ?
Ðáp:
Do định lực vô tưởng cưỡng làm cho tâm diệt, chẳng phải
do sức của thật trí tuệ; lại ở trong đó sanh tưởng cho
đó là Niết-bàn, không biết đó có được là chỉ do hòa
hợp làm ra, do vậy rơi vào trong điên đảo; trong đó tâm
tuy tạm diệt, sau khi gặp nhân duyên thì sanh trở lại; ví
như người ngủ say không mộng, tâm tưởng không hoạt động,
nhưng đến khi thức thời có trở lại.
Hỏi:
Ðịnh vô tưởng có lỗi như vậy, còn có Ðịnh phi hữu tưởng
phi vô tưởng, ở đó không hết thảy vọng tưởng, cũng chẳng
giống như cưỡng làm cho tưởng diệt như ở định vô tưởng;
mà ở trong đây do sức trí tuệ, nên không còn tưởng?
Ðáp:
Trong ấy có tưởng, vì tế vi nên không biết; nếu là vô
tưởng thì Phật đệ tử còn vì lẽ gì lại cầu được
trí tuệ thật? Trong Phật pháp, thức của trong Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng
ấy, nương nơi ba uẩn (thọ, tưởng, hành) mà trụ. Bốn
uẩn này thuộc nhân duyên cho nên vô thường, vô thường nên
khổ, vô thường khổ nên không, không nên vô ngã, không vô
ngã nên có thể xả bỏ. Các ông ưa đắm trí tuệ nên
không được Niết-bàn; ví như con sâu đo, co để chân sau
an ổn mới cất chân trước, nếu chỗ tựa hết, không còn
tiến tới được nữa mà trở lui. Ngoại đạo nương
Sơ thiền để xả tham dục hạ địa, cho đến nương phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ,
để xả vô sở hữu xứ, trên đó không còn chỗ nương nữa,
thời không thể xả phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ.
Vì không còn chỗ nương, nên lo sợ mất ngã, sợ rơi vào
trong chỗ vô sở đắc.
Lại
nữa, trong kinh ngoại đạo có cho phép sát, đạo, dâm, vọng
ngữ, uống rượu, nói rằng vì tế trời nên chú nguyện mà
giết không tội. Vì hành đạo, nếu gặp cấp nạn,muốn
toàn thân mà giết người nhỏ, không tội. Lại gặp
cấp nạn mà vì hành đạo, trừ vàng, ngoài ra được phép
trộm lấy để tự cứu toàn, sau sẽ trừ ương tội ấy.
Trừ vợ của Thầy, phu nhân của Quốc vương, vợ của thiện
tri thức, đồng nữ, ngoài ra những nữ nhân khác vì bức
bách cấp nạn, được phép tà dâm. Vì thầy, vì cha mẹ,
vì bò, vì thân, vì làm môi giới, được phép nói dối.
Ở xứ lạnh cho phép uống rượu thạch mật, trong khi tế
trời cho phép nếm một hai giọt rượu. Trong Phật pháp
thì không như vậy. Ðối với hết thảy chúng sanh, tâm
từ xem bình đẳng, cho đến một con kiến cũng không cướp
mạng nó, huống gì giết người? Một cây kim, một sợi
chỉ không lấy huống gì nhiều vật? Ðối với kẻ dâm
nữ vô chủ không lấy tay đụng, huống gì là vợ con người?
Ðùa giỡn còn không được nói dối, huống chi cố ý nói
dối. Tất cả rượu hết thảy thời không được uống,
huống chi ở xứ lạnh, khi tế trời? Ngoại đạo
các ông so với Phật pháp khác xa nhau như trời với đất.
Pháp ngoại đạo các ông là chỗ sanh ra các phiền não, còn
Phật pháp thời là chỗ diệt các phiền não. Ðó là
chỗ khác nhau lớn.
Pháp
của Phật vô lượng, giống như biển lớn, tùy ý dục của
chúng sanh mà thuyết ra mỗi mỗi pháp; hoặc nói có, hoặc
nói không; hoặc nói thường, hoặc nói vô thường; hoặc nói
khổ, hoặc nói vui; hoặc nói ngã, hoặc nói vô ngã; hoặc
nói siêng làm ba nghiệp, thu nhiếp các thiện pháp; hoặc nói
hết thảy các pháp không có tác tướng. Như vậy mỗi
mỗi nói sai khác. Người vô trí nghe đến là cho trái
nghịch sai lầm, còn người trí nhập vào ba pháp môn, quán
hết thảy lời Phật nói đều là thật pháp, không trái nghịch
nhau.
Những
gì là ba pháp môn? 1- Côn-lặc-môn, 2- A-tỳ-đàm
môn, 3- Không môn?
Hỏi:
Sao gọi là Côn-lặc-môn? Sao gọi là A-tỳ-đàm môn?
Sao gọi là Không môn?
Ðáp:
Côn-lặc có ba triệu hai trăm ngàn lời. Lúc Phật còn
tại thế, Ðại Ca-chiên-diên viết ra. Sau khi Phật diệt
độ, tuổi thọ con người giảm dần, sức nhớ biết ít,
không thể đọc tụng rộng, các vị đắc đạo soạn làm
ba trăm tám mươi bốn ngàn lời. Nếu người nào vào
Côn-lặc-môn, thời luận nghị sẽ vô cùng, trong đó có các
môn tùy tướng, môn đối trị v.v...
Tùy
tướng môn như Phật nói kệ:
“Các
việc ác chớ làm,
Các
việc lành vâng làm,
Tự
thanh tịnh ý mình,
Ấy
là chư Phật dạy”.
Trong
đó nói đủ các tâm số pháp, nay chỉ nói tự thanh tịnh
ý mình, thời nên biết đã nói đủ các tâm số pháp.
Sao vậy? Vì hành tướng và sở duyên đồng nhau vậy.
Như Phật nói bốn niệm xứ, trong ấy không rời bốn chánh
cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, vì sao? Trong
bốn niệm xứ, bốn tinh tấn là bốn chánh cần, bốn định
tức là bốn như ý túc, năm thiện pháp tức là năm căn lực.
Phật tuy không nói các pháp môn khác mà chỉ nói bốn niệm
xứ, nên biết đã nói các pháp môn khác. Như Phật ở
trong bốn đế, hoặc nói một đế, hoặc nói hai, hoặc nói
ba. Như Mã-tinh Tỳ-kheo (Assaji – A-thuyết-thị: Mã-
thắng, Mã-sư) nói kệ cho Xá-lợi-phất:
“Các
pháp từ duyên sanh,
Pháp
ấy duyên đến, diệt,
Thầy
tôi Ðại Thánh chủ,
Nói
nghĩa ấy như vậy”.
Bài
kệ này chỉ nói đến ba đế, nên biết đạo đế đã có
ở trong đó, vì không rời nhau. Ví như một người phạm
lỗi, cả nhà chịu tội. Như vậy v.v... gọi là tùy tướng
môn.
Ðối
trị môn là, như Phật chỉ nói bốn điên đảo, thường điên
đảo, lạc điên đảo, ngã điên đảo, tịnh điên đảo.
Trong ấy tuy không nói bốn niệm xứ, song nên biết đã có
nghĩa bốn niệm xứ; ví như nói thuốc là đã biết bệnh
nó, nói bệnh là biết thuốc nó. Nếu nói bốn niệm
xứ thời biết đã nói bốn đảo. Bốn đảo là tướng
tà; nếu nói bốn đảo là đã nói các kiết sử, vì cớ sao?
Vì nói cội gốc thời biết đủ cành lá nó. Như Phật
nói hết thảy thế gian có ba độc; nói ba độc nên biết
đã nói ba phần, tám chánh đạo. Nếu nói ba độc, nên
biết là đã nói hết thảy các phiền não độc. Mười
lăm thứ ái là tham dục độc, năm thứ sân là sân nhuế độc,
mười lăm thứ vô minh là ngu si độc; các tà kiến, kiêu mạn,
nghi thuộc về vô minh. Như vậy tất cả các kiết sử
đều thu vào ba độc. Lấy gì để diệt nó? Lấy
ba phần, tám chánh đạo. Nếu nói ba phần, tám chánh
đạo, nên biết đã nói ba mươi bảy trợ đạo phẩm.
Các tướng như vậy, gọi là đối trị môn. Những pháp
tùy tướng môn, đối trị môn như vậy, gọi là Côn-lặc-môn.
Sao
gọi là môn A-tỳ-đàm? Hoặc Phật tự nói nghĩa các
pháp, hoặc Phật tự nói danh tự các pháp, các đệ tử
tập họp thuật giải nghĩa lý của nó. Như Phật nói:
Có Tỳ-kheo đối với các pháp hữu vi, không chánh ức niệm,
mà muốn được đệ nhất pháp của thế gian (thế đệ nhất),
không có lẽ đó. Nếu không được đệ nhất pháp của
thế gian mà muốn vào trong chánh vị, không có lẽ đó.
Nếu không vào trong chánh vị mà muốn được quả Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, không có lẽ đó.
Nếu có Tỳ-kheo đối với các pháp hữu vi, chánh ức niệm,
muốn được pháp đệ nhất của thế gian, việc ấy có được.
Nếu được pháp đệ nhất của thế gian, nên được vào
chánh vị, vào chánh vị nên được quả vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, thì chắc chắn có lẽ ấy. Như Phật
nói đi thẳng đến pháp đệ nhất của thế gian mà không
nói các nghĩa tướng của nó như nó hệ thuộc giới nào,
nhân duyên gì, quả báo gì? Từ pháp đệ nhất của thế
gian, các pháp sở hành của hàng Thanh-văn, cho đến Vô-dư
Niết-bàn, mỗi mỗi phân biệt nghĩa tướng của nó, ấy gọi
là A-tỳ-đàm môn.
Không
môn là Sanh không, Pháp không; như trong kinh Tần-bà-ta-la Vương
Nghinh Phật nói: “Phật bảo Ðại vương: “Khi
sắc sanh chỉ là ”không” sanh, khi sắc diệt chỉ là “không”
diệt, khi các hành sanh chỉ là “không” sanh. Khi diệt
chỉ là “không” diệt, trong ấy không có tự ngã, không
người, không thần ngã, không có người từ đời này đến
đời sau, trừ nhân duyên hòa hợp danh tự là chúng sanh; kẻ
phàm phu ngu si chạy theo danh để cầu thật”. Trong các
kinh như vậy, Phật nói về sanh không.
Pháp
không là, như Phật nói ở trong kinh Ðại Không: Mười
hai nhân duyên từ vô minh cho đến già chết, nếu người nói
đó là già chết , hoặc nói ai già chết? đều là tà
kiến. Sanh, hữu, thủ, thọ, ái, xúc, lục nhập, danh
sắc, thức, hành, vô minh cũng như vậy. Hoặc có người
nói thân tức là thần ngã, hoặc nói thân khác thần ngã;
hai lời đó tuy khác nhau, song đồng là tà kiến. Phật
nói: Thân tức là thần ngã, tà kiến như vậy, chẳng
phải đệ tử Ta. Hoặc nói thân khác thần ngã,
cũng là tà kiến, chẳng phải đệ tử Ta. Trong kinh
ấy Phật nói về pháp không. Nếu nói: “ai già
chết”, nên biết đó là lời hư vọng, ấy gọi là sanh không.
Nếu nói: “ấy là già chết”, nên biết đó là lời
hư vọng, ấy gọi là pháp không. Cho đến vô minh
cũng như vậy.
Lại
nữa, Phật nói về sáu mươi hai kiến trong kinh Phạm
Võng: Nếu có người nói “thần ngã thường, thế gian
cũng thường”, ấy là tà kiến. Nếu nói:
“thần ngã vô thường, thế gian vô thường” ấy cũng là
tà kiến. Nếu nói: “thần ngã và thế gian cũng
thường cũng vô thường, thần ngã và thế gian chẳng phải
thường và chẳng phải vô thường” đều là tà kiến.
Do vậy, biết các pháp đều là không, ấy mới là thật.
Hỏi:
Nếu nói thần ngã thường, nên là tà kiến vì cớ sao? vì
tánh thần ngã không có. Nếu nói thần ngã thường cũng
phải là tà kiến, vì cớ sao? vì thế gian thật vô thường,
vì điên đảo cho nên nói thường. Nếu nói thần ngã
vô thường, cũng là tà kiến, vì cớ sao? vì tánh thần ngã
không có, không nên nói là vô thường. Còn nếu nói thế
gian là vô thường thì chẳng phải là tà kiến, vì cớ sao?
vì tánh hết thảy pháp hữu vi, thật đều vô thường?
Ðáp:
Nếu hết thảy pháp thật đều vô thường, sao Phật nói:
“nói thế gian vô thường, ấy gọi là tà kiến.
Thế cho nên biết thế gian chẳng phải thật là vô thường.
Hỏi:
Nơi nơi Phật đều nói: Quán pháp hữu vi vô thường,
khổ, không, vô ngã, khiến người ta đắc đạo; sao đây nói
vô thường bị rơi vào tà kiến?
Ðáp:
Phật nơi nơi thuyết vô thường, nơi nơi thuyết bất diệt.
Như Ma-ha-nam Thích vương đi đến Phật, bạch Phật rằng:
“Ở thành Ca-tỳ-la này dân chúng đông nhiều, có khi tôi
gặp họ rong xe, ruổi ngựa, voi cuồng, đấu sức, bèn mất
tâm niệm Phật. Khi ấy tôi tự nghĩ: Nếu nay tôi
chết, sẽ sanh về đâu?” Phật bảo Ma-ha-nam: “Ngươi
chớ sợ hãi. Ngươi bấy giờ không sanh vào ác thú mà sanh
đến thiện thú; ví như cây thường nghiêng về hướng đông,
nếu có bị đốn, chắc ngã về hướng đông; người lành
cũng như vậy. Nếu khi thân tử hoại, thiện tâm ý thức
thường lấy tín, giới, văn, thí, huệ huân tâm, nên chắc
chắn được lợi ích, được sanh lên cõi trời. Nếu
hết thảy pháp niệm niệm sanh diệt vô thường, sao Phật
nói có các công đức huân tập, cho nên mới chắc chắn được
sanh lên cõi trời. Do vậy nên biết chẳng phải tánh
vô thường.
Hỏi:
Nếu vô thường là không thật, sao Phật nói vô thường?
Ðáp:
Phật tùy chỗ thích ứng của chúng sanh mà thuyết pháp.
Vì phá điên đảo chấp thường cho nên Phật nói vô thường.
Vì người không biết không tin có đời sau nên Phật nói tâm
đi đến đời sau, sanh lên cõi trời do nghiệp tội phước,
trăm ngàn vạn kiếp không mất. Ðây là Ðối trị Tất-đàn,
chẳng phải Ðệ nhất nghĩa Tất-đàn. Thật tướng các
pháp, chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. Nhiều
nơi Phật cũng nói các pháp không, trong các pháp không, cũng
không vô thường. Do vậy nên nói thế gian vô thường
là tà kiến. Thế nên gọi là pháp không.
Lại
nữa, Phạm-chí ở thành Tỳ-gia-ly tên Luận Lực. Những
người có tài lợi hưng thịnh đem nhiều vật báu thuê Luận
Lực đến tranh luận với Phật. Nhận vật thuê xong,
ngay đêm ấy soạn năm trăm nạn vấn, sáng sớm cùng các người
tài lực đi đến chỗ Phật, hỏi Phật rằng: “Một
đạo cứu kính hay nhiều đạo cứu kính?” Phật nói:
“Một đạo cứu kính chứ không nhiều”. Phạm-chí
nói: “Phật nói một đạo, các thầy ngoại đạo đều
có đạo cứu kính. Thế là nhiều chứ không phải một?”.
Phật nói: “Tuy tên có nhiều mà đều chẳng phải thật
đạo, vì cớ sao? Vì hết thảy đều mắc vào tà kiến,
nên không gọi là đạo cứu kính”. Phật hỏi Phạm-chí:
“Lộc Ðầu Phạm-chí đắc đạo chăng?” Ðáp:
“Trong hết thảy người đắc dạo, đây là đệ nhất”.
Khi ấy Tỳ-kheo Trưởng lão Lộc Ðầu Phạm-chí, đang ở sau
lưng Phật hầu quạt cho Phật, Phật hỏi Phạm-chí: “Ông
biết Tỳ-kheo này chăng?” Phạm-chí thưa biết, rồi
hổ thẹn cúi đầu. Bấy giờ Phật nói nghĩa phẩm kệ:
“Mỗi
mỗi cho cứu kính,
Mà
mỗi tự ưa đắm,
Cho
mình phải người trái,
Ấy
đều chẳng cứu kính.
Người
ấy vào luận chúng,
Khi
biện minh nghĩa lý,
Mỗi
mỗi thị phi nhau,
Hơn
thua ôm lo mừng.
Người
hơn rơi hầm kiêu,
Kẻ
thua sa ngục lo.
Cho
nên người có trí,
Không
theo hai pháp ấy.
Luận
Lực ông nên biết,
Pháp
của đệ tử Ta,
Không
hư cũng không thật.
Ông
muốn cầu việc gì?
Ông
muốn hoại luận tôi,
Trọn
đã không hoại được,
Khó
thắng bậc đại trí,
Chỉ
đủ tự hủy hoại”.
Như
vậy, nhiều nơi trong các kinh Thanh-văn, Phật thuyết các pháp
không.
Ðại
thừa Không môn là, hết thảy các pháp, tánh thường tự không,
không do trí tuệ phương tiện quán cho nên không. Như
Phật nói với Tu-bồ-đề: ”Sắc, sắc tự không, thọ, tưởng,
hành, thức, thức tự không. Mười hai nhập, mười tám
giới, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy đạo phẩm, mười
lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cọng, đại từ
đại bi, Tát-bà-nhã, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác đều tự không.
Hỏi:
Tất cả các pháp tánh thường tự không, không có gì, sao
không đọa vào tà kiến? Tà kiến gọi là không tội,
không phước, không đời này đời sau, cùng với đây nói
“không” không khác nhau?
Ðáp:
Người nói không tội, không phước, họ không nói không có
đời này, chỉ nói không có đời sau; như loài cây cỏ tự
sanh tự diệt. Hoặc người sanh, hoặc người giết, chỉ
ở trong đời hiện tại, không còn có sanh ở đời sau, mà
họ không biết quán trong thân ngoài thân tự tướng đều
không. Do đó mà có khác.
Lại
nữa, người tà kiến, làm nhiều việc ác, dứt các việc
lành, còn người quán không, đối với thiện pháp còn không
muốn làm, huống chi làm ác?
Hỏi:
Tà kiến có hai thứ: thứ phá nhân phá quả, có thứ
phá quả không phá nhân. Như lời ông nói là phá quả
không phá nhân. Phá quả phá nhân là nói không nhân không
duyên, không tội không phước; ấy là phá nhân. Nói không
đời này, đời sau, tội phước quả báo; ấy là phá quả.
Người quán không nói “đều không” thời tội phước nhân
quả đều không, thời cùng với tà kiến đây có gì khác?
Ðáp:
Người tà kiến, đối với các pháp đoạn diệt làm cho không;
còn người Ðại thừa biết các pháp thật không, không phá
không hoại.
Hỏi:
Ba thứ tà kiến: 1- Phá quả báo tội phước, không phá
tội phước; phá quả báo nhân duyên, không phá nhân duyên;
phá đời sau, không pháđời này. 2- Phá quả báo
tội phước; cũng phá tội phước; phá quả báo nhân duyên,
cũng phá nhân duyên; phá đời sau, cũng pháđời này, không
phá hết thảy pháp. Phá hết thảy pháp, đều làm cho
không có gì. Người quán không, cũng nói chơn không không
có gì, cùng với người tà kiến thứ ba này có gì khác?
Ðáp:
Người tà kiến phá các pháp làm cho không; còn người quán
không biết các pháp thật không, không phá không hoại.
Lại
nữa, người tà kiến nói các pháp đều không, không có gì,
chấp thủ hý luận về tướng không của các pháp; còn người
quán không, biết các pháp không, không thủ tướng, không hý
luận.
Lại
nữa, người tà kiến tuy miệng nói hết thảy không, nhưng
ở chỗ ưa thời sanh ưa, ở chỗ giận thì sanh giận, ở chỗ
kiêu mạn thời sanh kiêu mạn, ở chỗ ngu si thời sanh ngu si,
tự dối gạt mình. Còn như đệ tử Phật thật biết
không, tâm không lay động; hết thảy chỗ kiết sử sanh không
còn sanh; ví như hư không, khói lửa không thể làm nhơ, mưa
lớn không thể ướt. Quán không như vậy, các thứ phiền
não không còn dính vào tâm.
Lại
nữa, người tà kiến nói không có gì, không từ ái (thạch
bản ghi là chữ thọ?) làm nhân duyên xuất sanh; còn chơn không
là từ ái làm nhân duyên xuất sanh, thế là khác. Bốn
vô lượng tâm, các pháp thanh tịnh, vì sở duyên của nó không
thật nên còn không bằng với trí tuệ chơn không, huống là
tà kiến này?
Lại
nữa, kiến ấy gọi là tà kiến, còn chơn không kiến gọi
là chánh kiến. Người hành tà kiến, đời này gọi là
người tệ ác, đời sau sẽ rơi vào địa ngục. Người
hành trí tuệ chơn không, đời này được khen ngợi, đời
sau được làm Phật; ví như nước khác với lửa; cũng như
cam lồ với độc dược; là phân hôi so với vị tô-đà, thức
ăn của trời.
Lại
nữa, trong chơn không có Không không tam muội, tà kiến thấy
không, tuy có không mà không có Không không tam muội.
Lại
nữa, người quán chơn không; trước hết bố thí, trì giới,
thiền định vô lượng, tâm kia dịu mềm , các kiết sử mỏng,
sau mới đắc chơn không. Người tà kiến không có
các việc ấy, chỉ muốn lấy ức tưởng phân biệt, tà tâm
thủ không; ví như người ở nông điền, lúc đầu không
biết muối, thấy người ta lấy muối bỏ vào rau thịt mà
ăn. Hỏi rằng: “Vì sao làm như vậy?” Trả
lời rằng: “Vì muối ấy có thể làm cho đồ ăn ngon
lành”. Người kia bèn nghĩ rằng, muối ấy có thể làm
cho đồ ăn ngon thì chất vị nó phải nhiều, liền bốc toàn
muối bỏ vào miệng mà ăn, muối mặn rách miệng, mới hỏi
lại rằng: “Sao ông nói muối có thể làm cho ngon?
Người kia nói: “Ðồ ngu! Phải trù lượng nhiều
ít hòa vào mới ngon được, cớ sao ăn toàn cả muối”, không
thực hành các công đức, mà chỉ muốn được không, ấy
là tà kiến, dứt các thiện căn.
Các
nghĩa như vậy gọi là Không môn. Nếu người nào vào
ba môn (Côn-lặc, A-tỳ-đàm, Không môn) này thời hiểu nghĩa
Phật pháp không hề trái nghịch nhau. Biết được việc
ấy tức là năng lực của Bát-nhã Ba-la-mật, đối với hết
thảy pháp không gì quái ngại. Nếu không được Bát-nhã
Ba-la-mật, mà vào A-tỳ-đàm môn thời rơi trong chấp hữu,
vào Không môn thời rơi trong chấp vô; nếu vào Côn-lặc môn
thời rơi trong chấp cả hữu cả vô.
Lại
nữa, Bồ-tát Ma-ha Tát thực hành Bát-nhã Ba-la-mật, tuy biết
các pháp nhất tướng, cũng biết được hết thảy pháp chủng
chủng tướng. Tuy biết các pháp chủng chủng tướng,
cũng biết được hết thảy pháp nhất tướng. Trí tuệ
như vậy của Bồ-tát, gọi là Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Bồ-tát Ma-ha Tát làm sao biết hết thảy pháp chủng chủng
tướng? Làm sao biết hết thảy pháp nhất tướng?
Ðáp:
Bồ-tát quán các pháp nhất tướng, đó là tướng có; nhân
tướng có ấy, trong các pháp có tâm sanh, như vậy hết thảy
có.
Hỏi:
Trong pháp không sao cũng có tâm sanh?
Ðáp:
Nếu nói “không”, sự ấy tức là có.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp nhất tướng, đó là vô
tướng; như tướng trâu không có tướng dê, nơi dê không
có tướng trâu. Như vậy trong các pháp, mỗi mỗi không
có tướng của pháp khác; như trước đã nói, nhân có nên
có tâm sanh, pháp ấy khác với có, vì khác cho nên không.
Nếu pháp “có” là trâu thì dê cũng nên là trâu, vì sao?
Vì pháp “có” không khác nhau vậy. Nếu khác với có
thời là không, như vậy hết thảy là không.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp là một, nhân pháp một
ấy mà trong các pháp chỉ một tâm sanh. Các pháp mỗi
mỗi có tướng một, hợp các một nên gọi là hai, gọi là
ba .... Một là thật; hai, ba ... là hư.
Lại
nữa, Bồ-tát quán các pháp có sở nhân nên có, như thân người
vô thường; vì sao? Vì là tướng sanh diệt. Hết
thảy pháp đều như vậy, có sở nhân nên có.
Lại
nữa, hết thảy pháp không sở nhân nên có, như thân người
vô thường sanh diệt; nhân sanh diệt nên biết vô thường.
Nhân ấy lại nên có nhân. Như vậy thì vô cùng, nếu
vô cùng thời vô nhân. Nếu nhân ấy lại không có
nhân, thời nhân vô thường ấy cũng không phải nhân.
Như vậy, hết thảy không có nhân.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp có tướng, không có pháp
gì không tướng; như đất có tướng cứng nặng, nước có
tướng lạnh ướt; lửa có tướng nóng, chiếu sáng; gió có
tướng nhẹ, động; hư không có tướng dung chứa; phân biệt
giác tri là tướng của thức; có đây có kia là tướng của
phương; có lâu có mau là tướng của thời; tâm trược ác
não loạn chúng sanh là tướng của tội; tâm tịnh thiện thương
xót chúng sanh là tướng của phước; đắm trước các pháp
là tướng của trói buộc; không đắm trước các pháp
là tướng của giải thoát. Hiện tiền hết thảy pháp,
không bị chướng ngại là tướng của Phật. Như
vậy, hết thảy đều có tướng.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp đều không tướng, các
tướng ấy do nhân duyên hòa hợp sanh, không có tự tánh cho
nên không. Như đất; do hương, vị, xúc bốn pháp hòa
hợp lại gọi là đất. Không phải chỉ có sắc mà gọi
là đất; cũng không phải chỉ vị, xúc mà gọi là đất;
vì cớ sao, nếu chỉ có sắc là đất, còn ba thứ kia không
phải là đất, vậy là đất không có hương, vị, xúc?
Hương, vị, xúc cũng như vậy.
Lại
nữa, bốn pháp ấy sao làm một pháp? Sao một pháp làm
bốn pháp? Vì thế không được lấy bốn thứ làm đất,
cũng thế không được lìa bốn thứ làm đất.
Hỏi:
Tôi không cho bốn pháp là đất, chỉ nhân bốn pháp cho nên
có pháp đất sanh; đất ấy trụ ở giữa bốn pháp?
Ðáp:
Nếu từ bốn pháp sanh ra đất, thời đất với bốn pháp
khác nhau; như cha mẹ sanh ra con, thời con khác với cha mẹ.
Nếu như vậy, nay con mắt thấy sắc, mũi biết hương, lưỡi
biết vị, thân biết xúc; đất nếu khác với bốn pháp đó,
thời phải nên có căn khác, thức khác để biết đất.
Nếu không có căn khác, thức khác để biết đất, thời không
có đất.
Hỏi:
Nếu trên kia nói về tướng đất có lỗi, phải nên như A-tỳ-đàm
nói về tướng đất: Ðất gọi là sắc do bốn đại
tạo ra, trong đó chỉ địa chủng là tướng cứng. Ðất
là sắc có thể thấy?
Ðáp:
Nếu đất chỉ là sắc, trước kia đã nói lỗi. Lại
đất là tướng cứng, nhưng con mắt chỉ thấy sắc, như thấy
trăng dưới nước, tượng trong gương, bóng của cây cỏ thời
không có tướng cứng, tướng cứng là do thân căn xúc chạm
mà biết.
Lại
nữa, nếu con mắt thấy sắc ấy là đất, còn tướng cứng
là địa chủng; con mắt thấy sắc ấy là nước, lửa, còn
tướng ướt là thủy chủng, tướng nóng là hỏa chủng.
Nếu như vậy, thì gió và phong chủng, cũng nên phân biệt,
nhưng mà không phân biệt được. Như nói: “Thế
nào là gió, thế nào là phong chủng? Thế nào là phong
chủng? Thế nào là gió? Nếu gió và phong chủng
là một vật, thời không nên đáp hai cách. Nếu gió và
phong chủng không khác thời đất và địa chủng cũng không
thể khác.
Hỏi:
Bốn đại, mỗi mỗi không lìa nhau; như trong đất có nước,
lửa, gió bốn thứ. Nhưng trong đất thì đất nhiều
hơn hết, nên gọi là đất; trong nước, lửa, gió cũng như
vậty?
Ðáp:
Không phải, vì sao? Vì nếu trong lửa có bốn đại, thì
phải nên đều nóng cả, vì không có lửa gì không nóng; nếu
ba đại kia ở trong lửa mà không nóng, thời không gọi là
lửa. Nếu nóng thời đất, nước, gió bỏ mất tự tánh,
đều gọi là lửa. Nếu cho là nó vi tế nên không thể
biết, thời không khác gì với không có. Nếu có thô
có thể biết được, thời biết có vi tế; nếu không thô
thời cũng không tế. Vì các nhân duyên như vậy, biết
tướng đất không thể có được. Nếu tướng đất
không thể có được thời tướng của hết thảy pháp cũng
không thể có được. Thế nên hết thảy pháp đều một
tướng.
Hỏi:
Chẳng nên nói vô tướng, vì sao, vì đối với các pháp vô
tướng tức là tướng, Nếu không có vô tướng thời
không thể phá tướng hết thảy pháp, vì sao, vì không có
vô tướng. Nếu có vô tướng ấy, thời không thể nói
hết thảy pháp vô tướng.
Ðáp:
Lấy vô tướng để phá tướng các pháp; nếu có tướng vô
tướng, thời đọa vào trong tướng các pháp. Nếu không
đọa vào trong tướng các pháp, thời không nên hạn hỏi.
Vô tướng phá hết tướng các pháp, cũng là tướng tự diệt;
ví như que củi mồi lửa, sau khi đốt hết củi, cũng lại
tự đốt. Thế nên Thánh nhân thực hành Vô tướng vô
tướng tam muội, để phá vô tướng.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp không hợp, không tan, không
sắc, không hình, không đối, không bày, không nói, chỉ có
một tướng, đó là vô tướng. Như vậy các pháp một
tướng,
Làm
sao quán chủng chủng tướng? Hết thảy các pháp thu nhiếp
vào hai pháp là danh, sắc; sắc, vô sắc; có thể thấy, không
thể thấy; có đối, không đối; hữu lậu, vô lậu; hữu
vi, vô vi v...v... Hai trăm pháp môn hai phần, như trong phẩm
Thiên Nạn nói.
Lại
nữa, có hai pháp, là nhẫn nhục và nhu hòa. Lại có hai
pháp là thân kính và cúng dường. Hai thí là tài thí
và pháp thí. Hai lực là lực tuệ phân biệt và lực
tu đạo. Hai cụ túc là giới cụ túc và chánh kiến cụ
túc. Hai tướng là tướng chất trực và tướng nhu nhuyến.
Hai pháp là định và trí. Hai pháp là minh và giải thoát.
Hai pháp là thế gian pháp và đệ nhất nghĩa pháp. Hai
pháp là niệm và xảo tuệ. Hai đế là thế đế và đệ
nhất nghĩa đế. Hai giải thoát là đãi thời giải thoát
và bất hoại tâm giải thoát. Hai Niết-bàn là Hữu-dư
Niết-bàn và Vô-dư Niết-bàn. Hai cứu cánh là sự cứu
cánh và nguyện cứu cánh. Hai kiến là tri kiến và đoạn
kiến. Hai cụ túc là nghĩa cụ túc và ngữ cụ túc.
Hai pháp là thiểu dục và tri túc. Hai pháp là dễ nuôi
và dễ đủ. Hai pháp là pháp tùy và pháp hành.
Hai trí là tận trí và vô sanh trí. Như vậy ... vô lượng
pháp môn hai phần.
Lại
nữa, biết ba đạo là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo.
Ba tánh là đoạn tánh, ly tánh, diệt tánh. Ba tu là giới
tu, định tu, tuệ tu. Ba Bồ-đề là Phật Bồ-đề, Bích-chi-ca
Phật Bồ-đề, Thanh-văn Bồ-đề. Ba thừa là Phật thừa,
Bích-chi-ca Phật thừa, Thanh-văn thừa. Ba quy y là Phật,
Pháp, Tăng. Ba trú là phạm trú, thiên trú, thánh trú.
Ba tăng thượng là tự tăng thượng, tha tăng thượng, pháp
tăng thượng. Chư Phật ba thứ bất hộ là thân nghiệp
bất hộ, khẩu nghiệp bất hộ, ý nghiệp bất hộ. Ba
phước xứ là thí, giới, thiện tâm. Ba gậy khí (cụ)
là gậy khí nghe, gậy khí ly dục, gậy khí tuệ. Ba luân
là biến hóa luân, thị tha tâm luân, giáo hoá luân. Ba
giải thoát môn là Không giải thoát môn, Vô tướng giải thoát
môn, Vô tác giải thoát môn. Như vậy ... vô lượng pháp
môn ba phần.
Lại
biết bốn pháp là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như
ý túc, bốn Thánh đế, bốn Thánh chủng, bốn sa môn quả,
bốn tri, bốn tín, bốn đạo, bốn nhiếp pháp, bốn y, bốn
thông đạt thiện căn, bốn đạo, bốn thiên nhân luân, bốn
kiên pháp, bốn vô sở úy, bốn vô lượng tâm. Như vậy
... vô lượng pháp môn bốn phần.
Lại
biết năm vô học chúng, năm xuất tánh, năm giải thoát xứ,
năm căn, năm lực, năm đại thí, năm trí, năm A-na-hàm, năm
chỗ Tịnh-cư thiên, năm trị đạo, năm trí tam muội, năm
Thánh phần chi tam muội, năm ngữ đạo như pháp. Như
vậy ... vô lượng pháp môn năm phần.
Lại
biết sáu xả pháp, sáu ái kỉnh pháp, sáu thần thông, sáu
hạng A-la-hán, sáu địa kiến đế đạo, sáu tùy thuận niệm,
sáu tam muội, sáu Ba-la-mật. Như vậy ... vô lượng pháp
môn sáu phần.
Lại
biết bảy giác ý, bảy tài, bảy y chỉ, bảy tưởng định,
bảy diệu pháp, bảy tri, bảy chỗ thiện nhân đi, bảy
tịnh, bảy tài phước, bảy phi tài phước, bảy trợ định
pháp. Như vậy ... vô lượng pháp môn bảy phần.
Lại
biết tám Thánh đạo phần, tám bội xả, tám thăng xứ, tám
đại nhân niệm, tám thứ tinh tấn, támtrượng phu, tám A-la-hán
lực. Như vậy ... vô lượng pháp môn tám phần.
Lại
biết chín thứ đệ định, chín danh sắc (từ danh đến sanh
tử là chín) vv... diệt, chín vô lậu trí, chín vô lậu địa,
chín địa tư duy đạo. Như vậy ... vô lượng pháp môn
chín phần.
Lại
biết mười vô học pháp, mười tưởng, mười trí, mười
nhất thiết nhập, mười đại địa thiện, Phật mười lực.
Như vậy ... vô lượng pháp môn mười phần.
Lại
biết mười một trợ Thánh đạo pháp. Lại biết mười
hai nhân duyên pháp. Lại biết mười ba xuất pháp, mười
bốn biến hóa tâm, mười lăm tâm kiến đế đạo, mười
sáu An-na-ban-na hạnh, mười bảy Thánh hạnh (nên nói mười
sáu), mười tám pháp bất cọng, mười chín ly địa.
Một trăm sáu mươi hai đạo trong tư duy đạo, tư duy đạo
có khả năng phá giặc phiền não. Một trăm bảy mươi
tám Sa-môn quả gồm tám mươi chín hữu vi quả, tám mươi
chín vô vi quả. Như vậy các thứ vô lượng pháp tướng
sai khác; sanh, diệt, tăng, giảm, đắc, thất, cấu, tịnh đều
biết được cả. Bồ-tát Ma-ha-tát biết các pháp ấy
xong, có thể khiến cho các pháp nhập vào tự tánh không, mà
đối với các pháp không dính mắc; vượt quá địa vị Thanh-văn,
Bích-chi Phật, mà vào địa vị Bồ-tát. Vào địa vị
Bồ-tát xong, lấy đại bi tâm thương xót, lấy sức phương
tiện phân biệt chủng chủng danh tự các pháp, độ chúng
sanh khiến chứng được tam thừa. Ví như người công
xảo, dùng sức thuốc có thể biến bạc thành vàng, biến
vàng thành bạc.
Hỏi:
Nếu các pháp tánh chơn không, sao còn phân biệt chủng chủng
danh tự? Sao không chỉ nói là tánh chơn không?
Ðáp:
Bồ-tát Ma-ha-tát không nói “không” là có thể đắc, có
thể trước, thì không nên nói các pháp có chủng chủng tướng
sai khác. Không bất khả đắc là không có gì quái ngại;
nếu có quái ngại ấy là khả đắc chứ chẳng phải bất
khả đắc không. Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát biết bất khả
đắc không, lại còn phân biệt được các pháp, thương xót
độ thoát chúng sanh, ấy là sức của Bát-nhã Ba-la-mật,
Lấy chỗ cốt yếu mà nói: Thật tướng các pháp là
Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Hết thảy kinh sách thế tục và chín mươi sáu thứ kinh của
xuất gia ngoại đạo đều nói có thật tướng các pháp?.
Lại trong tam Tạng pháp của Thanh-văn, cũng có nói thật tướng
các pháp, sao không gọi đó là Bát-nhã Ba-la-mật, mà chỉ
riêng thật tướng các pháp nói ở trong kinh này, được gọi
là Bát-nhã Ba-la-mật?
Ðáp:
Trong kinh sách thế tục, vì để làm an nước toàn gia, thân
mạng thọ vui, cho nên chẳng phải thật. Ngoại đạo
xuất gia đọa trong pháp tà kiến, tâm ưa đắm, cho nên cũng
chẳng phải thật. Trong pháp Thanh-văn tuy có bốn đế,
lấy vô thường, khổ, không, vô ngã quán thật tướng các
pháp; vì trí tuệ không đầy đủ, không thông lợi, không
thể vì độ hết thảy chúng sanh; không vì cầu được Phật
pháp, nên tuy có thật trí tuệ mà không gọi Bát-nhã Ba-la-mật.
Như nói: Phật vào và ra các tam muội, Xá-lợi-phất còn
không nghe được tên nó huống là có thể biết được, vì
cớ sao? Vì các A-la-hán, Bích-chi Phật khi mới phát tâm,
không có nguyện lớn, không đại từ đại bi, không cầu hết
thảy các công đức, không cúng dường hết thảy ba đời
mười phương Phật, không cứu xét cầu biết thật tướng
các pháp, mà chỉ cầu thoát khỏi khổ già bệnh chết.
Còn các Bồ-tát từ khi mới phát tâm đã có thệ nguyện rộng
lớn, có đại từ bi, cầu hết thảy các công đức, cúng
dường hết thảy ba đời mười phương Phật, có lợi trí
lớn, cầu thật tướng các pháp, trừ các thứ quán là
tịnh quán, bất tịnh quán, thường quán, vô thường quán,
lạc quán, khổ quán, không quán, thật quán, ngã quán, vô ngã
quán. Xả bỏ các quán theo tâm lực vọng kiến như vậy,
mà chỉ quán thật tướng của ngoại duyên là phi tịnh, phi
bất tịnh, phi thường, phi vô thường, phi lạc, phi khổ,
phi không, phi thật, phi ngã, phi vô ngã. Ðối các quán
như vậy, không chấp trước, không thủ đắc, vì là pháp
thế tục, không phải đệ nhất nghĩa. Thanh tịnh cùng
khắp, không phá không hoại là chỗ các Thánh nhân hành, ấy
gọi là Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Ðã biết thể tướng Bát-nhã là pháp vô tướng, vô đắc;
vậy hành giải làm sao có thể đắc pháp ấy?
Ðáp:
Phật dùng phương tiện thuyết pháp, hành giả hành đúng như
Phật nói thời đắc; ví như đường hiểm bờ cao, nhờ thang
mà lên được. Lại như nước sâu nhờ thuyền mà qua
được. Bồ-tát mới phát tâm, nếu theo Phật nghe, hoặc
theo đệ tử Phật nghe, hoặc nghe trong kinh nói: “hết
thảy pháp rốt ráo không, không có tánh nhất định khả thủ
khả trước, là pháp đệ nhất thật, diệt trừ các hý luận”.
Tướng Niết-bàn là rất an ổn, tôi muốn độ thoát hết
thảy chúng sanh, làm sao riêng lấy Niết-bàn? Tôi nay phước
đức, trí tuệ, thần thông lực chưa đầy đủ, nên không
thể dẫn dắt chúng sanh, phải đầy đủ các nhân duyên ấy,
thực hành năm Ba-la-mật là bố thí, v.v... Do tài thí nên được
giàu lớn, do pháp thí nên được trí tuệ, có thể do hai thí
ấy mà dẫn dắt chúng sanh nghèo cùng vào tam thừa đạo.
Do trì giới nên được sanh vào cõi người cõi trời tôn quý,
tự thoát khỏi ba đường ác; cũng khiến chúng sanh thoát khỏi
ba đường ác. Do nhẫn nhục, nên ngăn được thứ độc
nóng giận, mà được thân sắc đoan chánh, oai đức đệ nhất,
ai thấy đều hoan hỷ, tâm phục kính tin, huống còn thuyết
pháp nữa? Do tinh tấn nên có thể phá sự giải đãi
đối với phước đức, đạo pháp, mà được thân kim cang,
tâm bất động. Dùng thân tâm ấy phá tâm kiêu mạn của
phàm phu khiến được Niết-bàn. Do thiền định, phá
tâm tán loạn, lìa cái vui tội lỗi theo ngũ dục, hay vì chúng
sanh nói về pháp ly dục. Thiền là chỗ y chỉ của Bát-nhã
Ba-la-mật, y nơi thiền mà Bát-nhã Ba-la-mật tự nhiên pháp
sanh. Như trong kinh nói: “Tỳ-kheo nhất tâm chuyên
định, có thể quán thật tướng các pháp.
Lại
nữa, biết ở trong Dục giới phần nhiều do tội nghiệp xan
và tham, đóng cửa các thiện. Khi thực hành Bố-thí Bát-nhã
Ba-la-mật thì phá hai việc ấy, mở cửa các thiện.
Vì muốn được thường mở, nên thực hành giới Ba-la-mật
về mười thiện đạo. Vì chưa đầy đủ thiền định,
trí tuệ, chưa ly dục nên phá giới Ba-la-mật. Do vậy
nên thực hành nhẫn nhục, biết ba việc trên có khả năng
mở cửa phước. Lại biết phước đức quả báo ấy
là vô thường, thọ hết vui ở cõi trời người, trở lại
đọa vào đường khổ. Vì nhàm đủ phước đức vô
thường ấy, nên cầu thật tướng Bát-nhã Ba-la-mật.
Việc
ấy làm sao được? Chắc chắn phải do nhất tâm mới
có thể được. Như xâu ngọc báu của Long vương, nhất
tâm quán sát mà không chạm đến rồng thì giá trị bằng
Diêm-phù-đề. Nhất tâm thiền định thì trừ bỏ năm
dục, năm cái; muốn được tâm vui phải dùng tinh tấn; cho
nên tiếp sau nhẫn nhục là nói tinh tấn Ba-la-mật. Như
trong kinh nói hành giả thân ngồi ngay thẳng, buộc niệm ở
trước, chuyên tinh cầu định, dầu cho thịt xương khô mục,
trọn không giải đãi thối lui, cho nên tinh tấn tu thiền.
Nếu có tài vật mà bố thí không đủ khó; vì sợ đọa đường
ác, sợ mất tiếng tốt mà trì giới, nhẫn nhục cũng không
là khó. Do vậy nên ở ba độ đầu không nói đến tinh
tấn. Nay vì thật tướng Bát-nhã Ba-la-mật, mà từ tâm
cầu định, việc ấy mới khó, cho nên phải cần đến tinh
tấn. Thực hành như vậy, có thể đắc Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Phải thực hành năm Ba-la-mật, sau mới đắc Bát-nhã Ba-la-mật,
hay cũng có thể thực hành một, hai Ba-la-mật cũng có thể
đắc Bát-nhã ư?
Ðáp:
Các Ba-la-mật có hai thứ: 1. Trong một Ba-la-mật
có đủ các Ba-la-mật tương ưng tùy hành. 2. Tùy
thời thực hành riêng từng Ba-la-mật. Hễ Ba-la-mật nào
nhiều thì theo đó gọi tên ấy. Ví như bốn đại chung
hợp, tuy không lìa nhau, song theo đại nào nhiều mà được
gọi tên.
Tương
ưng tùy hành là, trong một Ba-la-mật có đủ năm Ba-la-mật.
Ấy là không lìa năm Ba-la-mật mà đắc Bát-nhã Ba-la-mật.
Tùy
thời đắc danh là, hoặc nhân một, nhân hai Ba-la-mật mà đắc
Bát-nhã Ba-la-mật. Nếu người phát tâm Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác mà bố thí, bấy giờ tìm tướng bố thí
thấy chẳng một chẳng khác, phi thường, phi vô thường, phi
hữu, phi vô v.v... Như trong đoạn nói về bố thí ở trước.
Nhân thật tướng bố thí mà hiểu hết thảy pháp cũng như
vậy. Ấy gọi là nhân bố thí mà đắc Bát-nhã Ba-la-mật.
Hoặc
có người trì giới, không não hại chúng sanh, tâm không có
hối tiếc. Nếu thủ tướng rồi sanh chấp trước thời
nổi lên cạnh tranh, người ấy tuy không sân não chúng sanh,
song đối với pháp có tâm ưa ghét cho nên lại sân não chúng
sanh. Thế cho nên muốn không sân não chúng sanh, hãy thực
hành quán chư pháp bình đẳng. Nếu phân biệt là tội
là vô tội, thời chẳng phải thực hành Giới Ba-la-mật; vì
cớ sao, vì ghét tội, yêu không tội, thời tâm sanh tự cao,
trở lại trong con đường não hại chúng sanh. Thế cho
nên Bồ-tát quán người có tội, người không tội, tâm không
ghét yêu. Quán như vậy là chỉ thực hành Giới Ba-la-mật
mà đắc Bát-nhã Ba-la-mật.
Bồ-tát
suy nghĩ rằng: Nếu không được pháp nhẫn, thời không
thể thường nhẫn. Hết thảy chúng sanh khi chưa có gì
bức bách thời nhẫn được; khi có sự khổ bức thiết rồi
thời không thể nhẫn được. Ví như người tù sợ gậy
đánh phải đến chết khổ. Do nhân duyên ấy nên sanh
pháp nhẫn: Không có người đánh, người mắng, cũng
không có người chịu; chỉ do nhân duyên quả báo điên đảo
đời trước nên gọi là chịu. Khi ấy không phân biệt,
ấy gọi là sự nhẫn. Pháp nhẫn là thâm nhập tất cánh
không, ấy gọi là pháp nhẫn. Ðược pháp nhẫn ấy,
thường không còn sân não chúng sanh . Tuệ tương ứng
với pháp nhẫn là Bát-nhã Ba-la-mật.
Tinh
tấn thường ở trong hết thảy thiện pháp, thành tựu được
hết thảy thiện pháp. Nếu có trí tuệ trù lượng phân
biệt các pháp, thông đạt pháp tánh, khi ấy tinh tấn giúp
cho thành trí tuệ.
Lai
như thật tướng của tinh tấn là thân lìa tâm, như thật
bất động. Tinh tấn như vậy, hay sanh ra Bát-nhã Ba-la-mật.
Ngoài ra các sự tinh tấn khác là như huyễn, như mộng, hư
dối phi thực, cho nên không nói. Nếu thâm tâm nhiếp
niệm, thời như thật thấy thật tướng các pháp. Thật
tướng các pháp là không thể dùng thấy, nghe, suy nghĩ mà
biết được; vì cớ sao, vì sáu căn, sáu trần đều là nhân
duyên quả báo hư dối. Những điều thấy biết trong
ấy cũng là hư dối. Cái biết hư dối ấy, hoàn toàn
không thể tin. Ðiều có thể tin là chỉ có thật tướng
trí tuệ của chư Phật trải A-tăng-kỳ kiếp chứng được.
Vì trí tuệ ấy dựa nơi thiền định nhất tâm, quán thật
tướng các pháp; ấy gọi là trong thiền định phát sanh Bát-nhã
Ba-la-mật. Hoặc có khi lìa năm Ba-la-mật, chỉ nghe, đọc
tụng, tư duy, trù lượng thông đạt thật tướng các pháp;
ấy là trong phương tiện trí phát sanh Bát-nhã Ba-la-mật.
Hoặc từ hai, ba, bốn Ba-la-mật phát sanh Bát-nhã Ba-la-mật;
như nghe một đế mà được thành đạo quả. Hoặc có
khi nghe hai, ba, bốn đế mà thành được thành đạo quả.
Có
người đối với khổ đế còn mê lầm nhiều, nhờ nghe nói
khổ đế mà đắc đạo. Ba đế kia cũng như vậy.
Hoặc có người mê cả bốn đế, nhờ nghe nói bốn đế mà
đắc đạo. Như Phật nói với Tỳ-kheo: Nếu ngươi
dứt được tham dục, Ta bảo nhậm ngươi chứng được đạo
quả A-na-hàm. Nếu dứt được tham dục, thì nên biết
sân, si cũng dứt. Trong sáu Ba-la-mật cũng như vậy.
Vì phá tâm xan tham nhiều nên nói pháp bố thí, nên biết các
ác khác cũng bị phá. Vì phá các tạp ác nên nói đủ
sáu Ba-la-mật cho nên hoặc mỗi mỗi thực hành riêng, hoặc
hợp lại thực hành. Khắp vì mọi người nên nói đủ
sáu Ba-la-mật, chứ không phải vì một người.
Lại
nữa, nếu Bồ-tát không hành hết thảy pháp, không thủ đắc
hết thảy pháp nên đắc Bát-nhã Ba-la-mật, vì cớ sao?
Vì các hành đều hư vọng không thật; hoặc gần có lỗi,
hoặc xa có lỗi; như pháp bất thiện là gần có tội lỗi,
còn pháp thiện lâu về sau, khi biến đổi thì người đắm
trước nó hay sanh lo khổ, ấy là xa có tội lỗi. Ví
như đồ ăn ngon, đồ ăn dở đều có tạp độc, mà ăn đồ
ăn dở liền không vui, ăn đồ ăn ngon tức thời ngon vui; song
lâu về sau, cả hai đều cướp mạng sống, nên không nên
ăn cả hai. Các hành thiện, ác cũng như vậy.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao Phật nói có ba hành là Phạm hành, Thiên
hành, Thánh hành?
Ðáp:
Hành vô hành gọi là Thánh hành, vì cớ sao? Vì hết thảy
Thánh hành, không ngoài ba môn giải thoát. Trong Phạm hành,
Thiên hành, nhân thủ tướng chúng sanh mà sanh, tuy khi hành
không có lỗi, nhưng về sau đều có lỗi. Lại chính
ngay đây tìm tánh thật, thì đều là hư vọng. Nếu Hiền
Thánh đem tâm vô trước thực hành hai hành đó, thời không
có lỗi. Nếu được như vậy, hành pháp vô hành, hoàn
toàn không có gì đắc, thời phiền não điên đảo hư vọng
rốt ráo không sanh. Như hư không thanh tịnh, nên đắc
thật tướng chư pháp, do vô sở đắc là đắc; như trong đoạn
vô sở đắc Bát-nhã đã nói.
Sắc
pháp v.v... không phải không cho nên không, mà từ xưa đến
nay thường tự không. Sắc pháp v.v... không phải
vì trí tuệ hiểu không thấu, cho nên nói không có gì được,
mà chính từ xưa đến nay thường tự không có gì được.
Thế không nên hỏi thực hành mấy Ba-la-mật thì đắc Bát-nhã!
Các đức Phật thương xót chúng sanh, theo nghĩa thế tục mà
nói hành, chứ không phải đệ nhất nghĩa.
Hỏi:
Nếu không có gì được, không có gì hành, sao hành giả cầu
tìm nó?
Ðáp:
Không có gì được (vô sở đắc) có hai thứ: 1.
Thế gian có chỗ mong cầu mà không được như ý, ấy là không
có gì được (vô sở đắc). 2. Trong thật tướng
các pháp, không có gì là tướng quyết định, nên gọi là
không có gì được (vô sở đắc), chứ không phải không có
phước đức trí tuệ tăng ích thiện căn; như người phàm
phu phân biệt pháp trên thế gian nên có sở đắc. Các
công đức thiện cũng như vậy, tùy theo tâm thế gian nên nói
có sở đắc, còn trong tâm chư Phật thời không sở đắc.
Ấy
là lược nói nghĩa Bát-nhã Ba-la-mật. Sau sẽ rộng nói.
(Hết
cuốn 18 theo bản Hán)