ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007

BBC PHỎNG VẤN THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
Lê Quỳnh thực hiện
31-5-2007

Một trong những sự kiện gây chú ý nhiều nhất ở Việt Nam trong nửa đầu năm nay là chuyến về nước của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. 

Thiền sư cùng tăng đoàn Làng Mai đã có ba tháng về quê, với nhiều hoạt động, mà tâm điểm là tổ chức ba lễ cầu siêu giải oan tai ba miền đất nước. 

Vào ngày 9-5, phái đoàn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chính thức rời Việt Nam, nhưng dư âm và ảnh hưởng của lần trở về này còn được bàn luận nhiều. 

Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC với Thiền sư Thích Nhất Hạnh vào tháng Tư, tại Hà Nội, ngay trước khi tổ chức đại Trai đàn Chẩn tế lần ba, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã cho biết quan điểm của ông về nhiều vấn đề mà Việt Nam đối diện trong thế kỷ 21.

Nghe phỏng vấn của BBC với Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thích Nhất Hạnh: Tôi thấy Đại trai đàn chẩn tế giải oan đã rất được hưởng ứng, đáp ứng đúng nhu cầu của người dân Việt Nam lúc này. Trong chiến tranh Việt Nam đã có biết bao khổ đau, oan ức cho người dân Việt, nhưng chưa bao giờ được chính thức công nhận. Chưa bao giờ có một lễ mà tất cả chúng ta, không phân biệt Nam Bắc, đảng phái chính trị, tới chung với nhau cùng cầu nguyện cho người đã mất.

Lần này đã có nhiều người cả xuất gia và tại gia, đem hết tâm lực, để tổ chức lễ cầu siêu. Khi những khổ đau, oan ức bị dồn nén, nó có thể gây tác hại. Có khi ta nói năng, hành xử thô bạo với người thân mà ta không biết vì sao. Theo nguyên tắc của tâm lý trị liệu, nếu ta cho phép những năng lượng tiêu cực trong tâm được hiển hiện, công nhận nó, làm cho nó lắng dịu lại, đó là sự thực tập rất quan trọng. 

Nếu không chuyển hóa những năng lượng tiêu cực ấy, mình sẽ truyền lại cho các thế hệ tương lai. Sau này họ sẽ hành xử thô bạo với con cháu mà họ không hiểu vì sao. Khi chúng ta tới với nhau như đồng bào, không phân biệt Nam Bắc, cộng sản hay chống cộng sản, thuyền nhân hay không thuyền nhân, thì ta có một cơ hội hiểu nhau hơn, gần nhau hơn. Vì thế mà ở trai đàn chẩn tế ở chùa Vĩnh Nghiêm, chúng tôi thấy có rất nhiều người Công giáo. Họ tới không phải với tư cách tôn giáo, mà với tư cách người đồng bào. Trong buổi lễ, nhiều người đã khóc; những giọt nước mắt đó có khả năng làm lắng dịu nỗi khổ niềm đau lâu nay chứa chất trong lòng mình. 
 

Khi tới với nhau như đồng bào, không phân biệt cộng sản hay chống cộng sản, thuyền nhân hay không thuyền nhân, ta có cơ hội hiểu nhau hơn, gần nhau hơn
Thiền sư Thích Nhất Hạnh 

BBC: Trong buổi nói chuyện về quyền lực và hạnh phúc ở Huế, khi trả lời một câu hỏi, thầy nói đại ý là muốn đất nước tiến nhanh, phải chuyển hóa người có quyền lực. Cụ thể là như thế nào, thưa thầy?

Người có quyền lực mà không có hạnh phúc, nguy hiểm lắm. Chúng ta có thể có nhiều quyền lực nhưng cùng lúc ta có thể đang làm khổ người thương trong gia đình, trong cộng đồng. 

Tôi không tin những ai đang làm khổ người thương lại có thể đem lại hạnh phúc cho dân, cho nước. Vì vậy, khi mình bỏ phiếu cho một đại biểu, mình có quyền biết về đời tư của người đó. Người đó có hạnh phúc không? Có khả năng làm cho con, cho vợ, cho chồng hạnh phúc hay không? Nếu họ không có khả năng đó, riêng tôi, tôi không thể bỏ phiếu cho người đó được. Có tài mà không có đức, có thể đưa tới khổ đau.

Người có quyền lực càng nhiều, càng phải có chiều hướng tâm linh. Mình phải làm sao giúp họ tốt hơn, bằng phương tiện này hay phương tiện khác. Nhưng không phải bằng căm thù, hờn giận mà bằng lòng từ bi.

BBC:Trong những điều dạy của thầy, ví dụ trong 14 giới tiếp hiện, có phần nói về tự do nhận thức. Trong đó có ý là “con nguyện chấp nhận sự khác biệt của người khác về tư tưởng. Đồng thời dùng sự đối thoại để thuyết phục những người cố chấp.” Nếu những người cố chấp lại ở trong thế mạnh, sử dụng đối thoại liệu có thuyết phục được họ không?
 

Nhiều người dân đến dự ba lễ cầu siêu giải oan ở ba miền Việt Nam 

Mình đối thoại, không phải chỉ đối thoại với đương sự mà thôi, mà là cả với quần chúng. Đó là vấn đề giáo dục quần chúng. Nếu quần chúng thấy được sự thật, họ sẽ trở thành thế lực rất mạnh. Và người kia phải thay đổi thôi. Nếu không thay đổi thì không ngồi ở chỗ đó được. 

Đối thoại với một vị tổng thống, mình phải dùng phương tiện làm thế nào để nhiều người được tham gia cuộc đối thoại đó. Thành ra, thay đổi một dư luận, đó là quá trình của một cuộc đối thoại. Vì mục đích của đối thoại là thay đổi cách nhìn, cách hành xử. Mà trong thời đại hiện nay, ta có thể dùng những phương tiện truyền thông để có thể thay đổi nhận thức tập thể của nhiều người, chứ không chỉ một người.

BBC:Giấc mơ của thầy về tương lai của Việt Nam là một giấc mơ như thế nào? Và hiện tại có đáp ứng cho một tương lai như thế hay không?

Tương lai có thể có trong hiện tại. Chỉ khi mình biết mình đi đâu, muốn đi đâu, ước muốn đó cần phải rõ ràng, chính xác, thì hiện tại mới có thể là viên đá để xây đắp tương lai. Còn nếu mình không biết rõ mình muốn cái gì trong tương lai, thì viên đá hiện tại không đưa tới tương lai. 

Chúng ta hiện có nhiều khả năng tiêu thụ hơn, có xe, có nhà, nhưng tôi thấy chúng ta không hạnh phúc hơn. Ngày xưa ta tiêu thụ ít, không có xe hơi, nhà lớn, nhưng ta có thì giờ để nhìn nhau, chăm sóc cho nhau. Hiện ta không có thì giờ để tự chăm sóc cho mình. 

Văn minh, theo chúng tôi, là đời sống trong đó mình có thì giờ tiếp xúc với những màu nhiệm của sự sống, như trời xanh, mây trắng. Văn minh là có thì giờ để thương yêu. Mà mình đâu có thì giờ để thương yêu! Thì giờ là để đầu tư, lo lắng cho doanh nghiệp, cho sự nghiệp chính trị. Không sống được sâu sắc những giờ phút hiện tại, thì làm sao trong tương lai mình có thể có hạnh phúc được.

Vai trò đạo Phật

BBC:Vậy thì thầy có hy vọng là đạo Phật có thể trở thành một ý thức hệ mới để lấp đầy khoảng trống tinh thần trong nhiều người Việt Nam?

Đạo Phật không phải là một ý thức hệ. Nếu là một ý thức hệ, nó sẽ loại trừ các ý thức hệ khác. Đạo Phật là nguồn tuệ giác, những điều Phật dạy phải là phương tiện giúp mình đạt đến trí tuệ và mơ ước từ bi, chứ không phải là những giáo điều. 

Đạo Phật là một phần của gia sản tinh thần của người Việt. Nếu ta biết sử dụng tiềm năng của đạo Phật, ta có thể xây dựng rất nhiều hạnh phúc. Ví dụ trong các trường học, nên thế nào để các thầy cô giáo biết có cái nhìn từ bi với học trò, làm thế nào để lớp học trở thành một gia đình? Khi một thầy giáo, cô giáo biết thực tập đạo Phật, người đó có hạnh phúc và có thể làm cho những đứa trẻ trong lớp hạnh phúc. Cũng như vậy, mình làm chủ một doanh nghiệp, nếu mình có hạnh phúc, từ bi, tha thứ, bao dung, mình có thể biến doanh nghiệp thành một gia đình. Ở đó có tình gia đình, huynh đệ, và lợi nhuận cũng sẽ tăng bởi vì ai cũng hết lòng.

BBC: Ở Việt Nam, số người đi lễ chùa càng lúc càng đông. Nhưng trong số ấy, bao nhiêu thực sự là Phật tử chân chính, bao nhiêu người đến chỉ để cầu lễ, cầu tài. Theo thầy, làm thế nào để đạo Phật với ý nghĩa chân chính của nó đến được sâu hơn với con người?

Nó tùy thuộc vào người hướng dẫn. Người ta có thể tới cầu lộc cầu tài, nhưng nếu mình hướng dẫn khéo, người đó có thể thực tập để chạm tới hạt giống của sự thương, tha thứ trong họ. 

Khi mình chào cờ, mảnh vải nhiều màu đó chỉ là biểu tượng. Phải nhìn qua hình thức để tiếp nhận nội dung. Ví dụ, khi mình đốt vàng mã, đó là hành động mê tín. Nếu tin rằng đốt những đồng đôla bằng giấy mà người dưới cõi âm có thể tiêu xài, đúng là chuyện mê tín. Nhưng nhìn cho kỹ, ta thấy hành động đó phát xuất từ tình thương của người sống dành cho người chết. Thành ra đó là hành động văn hóa. Nếu mình chưa thể thay thế bằng những hành động khoa học hơn, hãy khoan lên án những hành động kia.

Nếu mình khéo léo, mình có thể dắt dẫn họ từ chỗ mê tín đến sự thực tập sâu sắc hơn. Và khi tìm ra được phương tiện mới để diễn bày cùng một tình cảm đó, mình mới có thể bỏ được tập tục cũ. Nhưng trước đó thì mình phải cẩn thận. 

BBC: Thầy rất quan tâm đến một đạo Phật 'dấn thân'. Với giới trẻ Việt Nam hiện nay, giáo pháp của Làng Mai có thể giúp gì cho họ?

Chúng tôi tin nếu phương pháp tu tập của chúng tôi đã giúp được tuổi trẻ và người trí thức Tây phương, nó cũng giúp được cho người Việt Nam. 

Với đà phát triển, những tệ nạn xã hội đi lên khá nhiều. Nếu có phương pháp giúp người chồng nói chuyện lại với người vợ, người cha truyền thông được với người con, sẽ rất có ích. Những pháp môn chúng tôi hiến tặng cho người thiền sinh, trước hết là làm lắng dịu những căng thẳng, khổ đau, tiếp đó giúp họ tái lập truyền thông với những người trong gia đình.

Một đạo Phật cần thiết cho xã hội bây giờ là một đạo Phật giúp cho đơn vị gia đình được tổ chức trở lại, vì cấu trúc gia đình của mình đang lung lay. Nhà nước có chương trình lập các khu phố văn hóa, ý hướng đó rất tốt. Nhưng kiểm soát và trừng phạt không đủ để cải hóa. Phải có những biện pháp cụ thể đến từng gia đình, thì thanh niên mới không ra ngoài tìm sự khuây khỏa trong rượi chè, ma túy…

Trong những khóa tu dành riêng cho người xuất gia mà chúng tôi tổ chức trong chuyến về kỳ trước và kỳ này, chúng tôi luôn nói về chuyện đó. Người xuất gia phải phục vụ thôn xóm, khu phố, làm sao để có an lạc, tình thương ở đó. Chúng tôi nói điều này dựa trên kinh nghiệm. Ở Tây phương, chúng tôi cũng đã có ba bốn chục năm đào tạo cách tu tập như vậy. Sự thực tập của chúng tôi căn cứ trên kinh nghiệm chứ không phải chỉ là những lý thuyết học từ sách vở.

'Kiên nhẫn, bao dung'

BBC: Trong đạo pháp của thầy luôn nhấn mạnh đến chân, thiện, mỹ, đến sự dung thứ. Mặt khác, cuộc đời thầy đã chứng kiến nhiều biến cố của lịch sử, gặp cả những ý kiến trái ngược về bản thân thầy. Đã có một giai đoạn rất khó có sự đồng thuận giữa các bên. Trong bối cảnh hiện tại, thầy có hy vọng dễ tìm kiếm hơn một sự đồng thuận giữa các khối trong xã hội, ví dụ giữa các phái trong cùng Phật giáo, giữa người trong và ngoài nước?

Tôi thấy kiên nhẫn, bao dung là những chất liệu cần thiết của tình thương. Mình phải cho người kia đủ không gian, thời gian để thay đổi. Mình phải lắng nghe và cho họ cơ hội.

Trong đạo Phật, tinh thần bao dung đó rất rộng lớn. Đức Thế tôn đưa ra một hình ảnh rất hay. Ngài nói nếu mình có một nắm muối trong tay, mình thả nắm muối đó xuống bát và khuấy, bát nước đó sẽ mặn quá, không uống được. Nhưng nếu mình liệng nắm muối xuống dòng sông, nó không đủ để làm dòng sông mặn. Trái tim mình cũng vậy. Nếu tim mình lớn, nếu tình yêu của mình không có biên giới, thì những điều gây hận thù, khổ đau không đủ để làm mình đau khổ. Nên vấn đề là làm sao để lòng mình lớn rộng hơn. 

Có những người nghĩ và hành động rất khác với chúng tôi. Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi lên án, trách móc họ. 

Đạo Phật có danh từ “tứ vô lượng tâm” – từ, bi, hỉ và xả - nghĩa là tình thương không có biên giới. Người kia có thể nói ra những điều gây khổ đau, nhưng vì mình có tình thương, mình không khổ đau, mình vẫn tiếp tục nhìn, lắng nghe người đó bằng tâm từ bi. Sớm muộn gì người đó cũng thấy. Nên theo tôi, kiên nhẫn và bao dung rất quan trọng. Nếu mình cứ tranh chấp “tôi đúng, anh sai”, sẽ chẳng đi đến đâu. 

BBC: Nhưng có ý kiến cho rằng Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 20, đã chịu chi phối của quá nhiều ý thức hệ. Trong chiến tranh đã là như thế. Hay bây giờ, những vị trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tin là mình có chính nghĩa, còn những người không đồng ý với quan điểm kia cũng tin là chính nghĩa thuộc về mình. Không biết thầy có tin vào khả năng tự chuyển hóa của con người hay không?

Riêng tôi, tôi vẫn tiếp tục đối thoại với tất cả mọi thành phần trong Phật giáo. Cố nhiên có những người nghĩ và hành động rất khác với chúng tôi. Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi lên án, trách móc họ. 

Chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ họ nói và hành động như vậy, là vì nhận thức của họ như vậy. Nếu mình có thể làm được gì mà thay đổi nhận thức của họ, thì mình làm. Nếu chưa làm được, mình sẽ kiếm cách để làm. Nếu mình thực tập đạo giỏi, ít nhất mình cũng gây được ảnh hưởng tới người khác. Ví dụ, người kia chửi mắng, lên án mình, nếu mình cũng chửi mắng lại, thì mình đâu có hơn gì người kia. Nếu mình mỉm cười được, nhìn người kia bằng con mắt thương yêu được, hành xử với tâm từ bi, đó đã là một sự đóng góp của mình cho người kia rồi. Đó là thông điệp không lời mình gửi đến họ.

Tôi nghĩ, làm như thế, chính là đạo Phật. Đó là đạo Phật từ bản chất, chứ không phải chỉ là ngôn từ. Những người kia họ cũng chịu ảnh hưởng xung quanh. Vì vậy, sự tu tập của mình có thể thay đổi hoàn cảnh, môi trường của những người kia. Những người trong xã hội họ có quan sát, cách nhìn của họ. Khi mình nói và làm theo chính pháp, thế nào người ta cũng thấy chứ. Ví dụ, mình không bao giờ nói xấu ai, ban đầu người ta chưa thấy, nhưng sau một năm, hai năm hay năm năm, người ta sẽ thấy. 

Nếu chuyển hóa trực tiếp người đó chưa được, mình chuyển hóa những người xung quanh. Từ từ mình giúp cho người đó chuyển hóa.

BBC: Và câu hỏi cuối xin đặt cho thầy. Trong thời đại toàn cầu hóa, theo thầy, Việt Nam có thể thu nhận bài học gì của thế giới. Và có sợ đánh mất cái gọi là bản sắc Việt Nam hay không?

Đây là ưu tư của tất cả: làm thế nào duy trì được những châu báu của nền văn hóa dân tộc. Hiện bây giờ rất đông đang hướng về phía tiêu thụ, làm thế nào để có nhiều tiền. Chúng ta vẫn tin càng có nhiều tiền, nhiều quyền, thì càng hạnh phúc. Nhưng ta cũng nên có thì giờ để nhìn chung quanh để thấy rất nhiều người đầy quyền uy, tiền bạc mà đau khổ vô cùng.

Trong sự hối hả làm giàu, hưởng thụ, ta có thể hy sinh những giá trị tâm linh, văn hóa mà ta có. Ví dụ, nói về tình yêu nam nữ, bây giờ nhiều người nhấn mạnh đến tình yêu xác thịt mà thôi. Tây phương họ có danh từ “empty sex”, tình dục trống rỗng. Người thanh niên vội vàng đi vào tính dục mà không biết tình yêu là gì. Rất tội nghiệp. 

Trong khi đó, trong văn hóa Việt Nam, cái thân của mình cũng linh thiêng như cái tâm. Ta có những nỗi niềm riêng tư, chỉ nói được cho những người thân nhất. Trên phương diện hình hài cũng vậy, có những vùng linh thiêng, cấm kị trong cơ thể mà ta chỉ có thể chia sẻ với người mà ta tin tưởng nhất. Đó là văn hóa Việt Nam: thân và tâm linh thiêng như nhau. 

Vì thế, ta phải có những người thanh niên sống được những giá trị đạo đức, để làm mẫu mực cho người khác. Làm thế nào giữ lại được châu báu của nền văn hóa dân tộc trước tư trào toàn cầu hóa, đó là câu hỏi rất lớn. Nếu chúng ta ngồi lại với nhau, ta sẽ tìm ra con đường. Còn nếu ta cũng bận rộn như những người khác, sẽ không có cơ hội nữa.

05-31-2007 12:12:34
 

.

THƯỢNG TOẠ THÍCH NHẬT TỪ 
CHIA SẺ KẾT QUẢ CHUYẾN HOẰNG PHÁP 
CỦA TS. THÍCH NHẤT HẠNH VÀ TĂNG THÂN LÀNG MAI

Phụ lục: Thư của bà Đoàn Thanh Hương, 
Phó chủ nhiệm khoa năng lượng sinh học, Viện Vật lý Hà Nội gửi thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Chơn Thuyên : Kính thưa thầy, Sư ông làng Mai và tăng đoàn đã hoàn tất chuyến về Việt Nam lần thứ hai. Sư ông đã diển thuyết tại rất nhiều chùa viện từ Nam ra Bắc. Và đặc biệt thực hiện ba Đại trai đàn bình đẳng giải oan với tầm vóc quốc gia tại Sài Gòn, Huế và Hà Nội, để cầu siêu cho tất cả nạn nhân của cuộc chiến đã qua tại Việt Nam. Là người đã đóng góp nhiều công sức cho chuyến về của Sư ông lần này và hơn nữa là một giảng sư Phật giáo, thường xuyên tiếp xúc với nhiều tầng lớp quần chúng. Xin Thầy cho biết:  1. Những cảm nhận của Thầy về chuyến hoằng hóa tại Việt Nam lần thứ hai của Sư ông làng Mai. 2. Hiệu quả thật sự của ba đại trai đàn chẩn tế giải oan?

Thượng tọa Thích Nhật Từ : Chuyến về Việt Nam lần thứ hai này Sư ông và Tăng đoàn đã thực hiện ba đại trai đàn chẩn tế giải oan chính thức tại Sài Gòn, Huế, Hà Nội và một trai đàn phụ tại Bà Rịa - Vũng Tàu dành cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biển năm xưa. 

Lần về  thứ hai này đã diễn ra trong bối cảnh khá thuận lợi. Từ hai năm trở lại đây, vấn đề ngoại cảm là một lưu tâm hàng đầu tại Việt Nam. Giới Phật tử thì không ngạc nhiên, nhưng đối với người từ lâu sống với ý tưởng vô thần thì đây là một sự thật lớn lao làm họ phải cải đổi hẳn quan niệm nhân sinh. Chết không phải là hết và trong cõi chết nhất là chết vì oan ức con người vẫn  đau khổ vì oan ức.

Các nhà ngoại cảm(*) đã tìm ra được trên 10.000 trường hợp chết oan trong chiến trận, nơi đồng nội, trên rừng núi, bãi sông, bờ suối. Họ đối thoại được với người đã chết, biết được tên tuổi, sinh quán, chết trong trường hợp nào. Những ghi chép tên tuổi sinh quán có độ chính xác cao, khó có thể hồ nghi được. Những oan hồn uổng tử này đã chết trên dưới bốn chục năm rồi vẫn còn khổ đau oan ức, không có ai lo lắng đoái hoài cho họ. Cho nên việc tổ chức trai đàn giải oan là một đánh động lương tâm của cả dân tộc. Và việc cầu siêu hóa giải oan ức cho những người chết này là cần thiết vô cùng. Chỉ tiếc là các nhà lãnh đạo chưa thấy hết giá trị tâm linh và đạo đức trong văn hóa dân tộc, cũng như tuệ giác của đạo Phật, mà các ngành khoa học hiện đại đã và đang dựa vào nó để mở ra những thế giới mới đầy lý thú, chẳng hạn như việc áp dụng môn Duy thức học của Phật giáo vào khoa tâm lý trị liệu, v.v...  Do đó các vị chưa sẳng sàng bước lên trên con đường hóa giải mang tính trị liệu này. 

Việc  khó làm nhưng phải làm, để cho vết thương của dân tộc được chữa lành, để cõi âm được siêu thì cõi dương (tức lòng người) mới được thới (Lời của những người đang sống, nói với những người đã chết). Và từ đây dân tộc sẽ được lành mạnh mà bước về tương lai.

Về câu hỏi thứ hai, hiệu quả thật sự của ba đại trai đàn chẩn tế giải oan. 

Năm 2005 lần về thứ nhất, qua các bài giảng Sư ông đã gieo hạt, thời gian hai năm đã tưới tẫm những hạt giống nảy mầm.

Lần về này, nổi bật là phương pháp hành trì, Sư ông đã dùng kinh Quán Niệm hơi thở, một kinh hành trì căn bản của tăng đoàn thời Phật tại thế. Sư ông dùng kinh này làm nền cho rất nhiều  bài giảng.

Thính chúng từ Nam Trung Bắc đã được Sư ông hướng dẫn thực tập trực tiếp. Cách giảng dạy của Sư ông vừa rõ rệt, vừa đơn giản vừa chính xác với một định lực tuyệt hảo của người đã hành trì thành công. Chỉ trong một thời thực tập nghiêm chỉnh, thính chúng đã nếm được thế nào là pháp lạc, thế nào là định, thế nào là tuệ. Càng thực tập với Sư ông càng như thấy khai thông, vén được mây mù ở lòng mình.

Chủ đề Ngồi Giữa Gió Xuân rất hay, gió xuân cũng có thể là tám thứ gió làm mê hoặc con người (Bát phong). Nhưng với định và tuệ vững vàng thì tám thứ gió độc đã trở thành gió mùa xuân mát mẽ của cực lạc hiện tiền. Sư ông không những giải oan cho người sống mà còn mở cả nút thắc căn bản vô minh của kiếp người. Cho nên những chống phá đầy chất sân hận và u tối ở Sài Gòn, ở Huế đã bị phản ứng ngược. 

Thật ra từ lúc chuẩn bị chuyến đi cho đến khi ba trai đàn hoàn tất, tăng đoàn làng Mai đã phải vượt qua nhiều bế tắc khó khăn. Ông Vụ trưởng vụ Tôn Giáo Bùi Hữu Dược đã nói:

1. Không thể có bình đẳng đối với vong linh lính tráng chết trận của đế quốc Pháp Mỹ, họ đáng bị trừng trị. 2. Nghĩa sĩ hy sinh cho đất nước đã chết trong vinh quang chứ không oan ức. 

Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã yêu cầu làng Mai rút bỏ từ giải oan trong cụm từ “Đại trai đàn bình đẳng giải oan”. 

Tại ba đàn tràng Sài Gòn, Huế và Sóc Sơn Hà Nội, số lượng người tham dự rất đông, vượt ngoài mọi dự đoán. Có nhiều người đến từ rất xa với lòng dạ chí thành xin ghi tên cho thân nhân của mình đã chết oan khuất từ lâu, được nương nhờ cửa Phật mà siêu sanh hóa kiếp.

Nhờ Phật Pháp nhiệm mầu, nhờ niệm lực hùng hậu của Tăng bảo và lòng người khẩn thiết, lời khấn nguyện của vị sám chủ  đại trai đàn đã vang động hư không, đi vào lòng người, thông suốt cả cỏi âm. Đất trời đã cảm ứng hiển linh.  Sau mỗi đại trai đàn là mưa lớn, mát cả không gian trời đất. Giọt nước từ bi tịnh thủy của bồ tát Quan Thế Âm đã  rưới mát mọi tâm hồn và rửa sạch hết oan khiên của người đã khuất .

Cõi âm được nhẹ nhàng siêu thoát, cõi Dương tức lòng người cũng thư thới. Ở Đà Nẵng người tham dự khóa tu đông như trẩy hội, giới thương gia địa phương đã tổ chức hai buổi cúng dường trai tăng với đầy đủ nét thanh lịch và hoành tráng của kỷ nguyên mới, để khoản đãi Tăng đoàn. 

Chúng ta đã thấy rõ một trình tự từ bế tắc buổi đầu cho đến hiện tượng khai thông sau mỗi đại trai đàn. Nhưng quan trọng nhất là những oan khuất của hàng triệu người chết đã được nói lên một cách rạch ròi. Và những bế tắt tâm lý của người sống do oan trái lịch sử của thời qua đã bắt đầu được khai thông. 

Chơn Thuyên : Xin cảm ơn Thầy đã trả lời câu hỏi.

Chơn Thuyên
Phái viên PSN thực hiện tại chùa Giác Ngộ, Sài Gòn 16/05/2007 
(http://www.phusa.info/)
Phụ lục:
Thư của bà Đoàn Thanh Hương, 
Phó chủ nhiệm khoa năng lượng sinh học, 
viện Vật lý Hà Nội gửi thiền sư Thích Nhất Hạnh

LTS: Đây là một vấn đề siêu hình chưa được giới  khoa học thực nghiệm công nhận nhưng lại là sự thật 100% đã gây nhiều phân vân trong xã hội, nhất là những thành phần marxite của Việt Nam. PSN phổ biến với tất cả thận trọng.

Hà Nội ngày 26.4.2007

Kính thưa thầy Thích Nhất Hạnh,

Con kính trọng thầy rất nhiều. Ánh sáng trí tuệ và tình thương của thầy đã tỏa rộng bao trùm lên những đau thương khốn khổ. Thầy có dòng nước mát cam lồ của Đức Quan Thế Âm, có trí tuệ sắc bén của Đức Phật. Đất nước Việt Nam suốt bao nhiêu thế kỷ chiến tranh nội chiến, ngoại xâm, có bao nhiêu đau thương và ngần ấy vong linh chết mà vẫn còn nỗi niềm khúc mắc. Thầy đã có đủ tình thương vỗ về nỗi đau ấy giúp cho họ giải thoát. Con đã chứng kiến những tâm tư rất tình người của các liệt sĩ. Sở dĩ con biết được vì con có một chuyến đi làm việc cùng các nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, Thẩm Thúy Hoàn, những người có năng lực nhìn thấy và nghe được tiếng nói người âm, con là người có nhiệm vụ ghi chép và nghiên cứu. 

Năm 2002 từ việc giúp một gia đình liệt sĩ mà thành ra một sự kiện lớn, có hai vợ chồng thượng tướng Nguyễn Nam Khánh 80 tuổi cùng hành trình tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, có sự giúp đỡ cơ quan quân sự địa phương, của trung ương. Câu chuyện trong một cánh rừng già Tây Nguyên năm 1965 đã xãy ra một trận đánh lớn, gần một ngàn người tham chiến. Nơi đây giữa rừng, xa thành phố, dân cư thưa thớt, không có điều kiện thu dọn hậu chiến như các chỗ khác. Có lẽ đây là trận đánh thất bại đẫm máu, nên các tướng lĩnh muốn quên đi tất cả. Tới gần 40 năm sau đoàn chúng con tới đây, mới biết nhiều tâm sự của các liệt sĩ. Tất cả đều nói lên ước nguyện được quan tâm. Nhiều câu chuyện trong cõi vô hình xúc động về các liệt sĩ, con kể cho thầy nghe một chuyện trong chuyến đi ấy, có liên quan lễ trai đàn của thầy.

Hôm đó là ngày tìm kiếm thứ tư. Tại một cánh ruộng khô chúng con tiếp xúc với một anh tiểu đội trưởng liệt sĩ Sơn, người Quảng Nam, Đà Nẵng. Anh nói rằng thay mặt gần bốn mươi liệt sĩ nằm ở đây nói lên nguyện vọng muốn về nghĩa trang liệt sĩ. Nhìn đồng đội phơi xương trắng đồng thế này tôi đau lòng lắm. Đừng bỏ chúng tôi ở đây. Nếu đưa tên tuổi chúng tôi lên tượng đài, mà chúng tôi vẫn phơi xác ở đây thì có nghĩa lý gì? Gần 40 người nằm rãi trên ruộng này, không có ai gom lại. Tôi nhìn anh em đồng đội ở đây rất là thương, rất trẻ, 17, 18 tuổi. Các đồng chí phơi xương ở đây không một nén hương thắp. Tôi đau lòng lắm …

Anh bảo chúng con chờ đợi thêm các anh em đi vắng chưa kịp về. Trong lúc chờ đợi anh kể về gia đình của anh: Nhà tôi ngày xưa ở thành phố, bây giờ không còn ai. Có 5 anh em đều hy sinh cả, bố cũng hy sinh. Còn một mình mẹ đau thương quá cũng mất sớm. Có một chị gái cũng hy sinh cả hai vợ chồng. Bây giờ tôi muốn về nghĩa trang. Không riêng mình tôi, có nhiều người không quê quán như tôi. Tôi đấu tranh cho các anh em được về nghĩa trang. Biết đoàn vào đây mục đích chính không phải là tìm chúng tôi, nhưng vì tình nghĩa đối với liệt sĩ mà đến đây với chúng tôi. Khi đoàn vào đây mọi người mừng lắm, vì trước đây tưởng rằng không có ai biết tới, một nén hương cũng không có. Cảm ơn đoàn.

Mãi cho đến năm nay 2007 vẫn chưa giải quyết xong nguyện vọng của các anh ấy, vì rất nhiều tiếng nói bị rơi vào vô vọng. Rất nhiều công sức và quyết tâm của một tập thể tự nguyện đã tìm dược hơn 150 hài cốt. Còn lại gấp 3 lần. Lúc đó con hiểu hoàn cảnh có những khó khăn không đáp ứng được nguyện vọng của các liệt sĩ, nên con nghĩ tới khả năng tâm linh giúp các anh về với Phật. Con lựa lời nói: Việc về nghĩa trang rất khó khăn, các anh nằm rải trên vùng rộng lớn, mà kinh phí của huyện, Kbang quá eo hẹp, họ không làm nổi. Có một duyên lành em có mặt ở đây, có thể giúp các anh đi tu học hoặc đi tái kiếp. Vậy các anh hãy quyết định ngay vì khó có dịp nào em trở lại đây.

-  đi tái kiếp thì tôi không muốn nữa, cuộc sống trên đó và dưới này chẳng khác gì nhau. Còn đi tu học là cái gì?

- Là về nơi có Phật, nơi toàn là tình thương, các đức Phật sẽ giúp các anh học hỏi, trút bỏ tất cả những nặng nề khổ đau của kiếp sống này,

- Biết đâu đi tu học chúng tôi có thêm tài năng để quay lại trở lại đây giúp đỡ các anh em khác. Thế thì tôi đồng ý đi tu học. Còn các anh em trẻ, họ không biết gì đâu, chị đợt tôi nói với họ.

- Mọi người muốn hỏi chị một câu: Nếu khi nào muốn quay trở lại có được không?

- Các anh có thể quay lại khi có người cần gọi các anh về.

- Vậy tất cả chúng tôi đi tu học. Xin chị giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi thật mai mắn không ngờ, xin cảm ơn. Chị có thể giúp cho những người khác nữa không?

- Em giúp được, anh đi gọi mọi người về đây, chỉ cần chạm vào hào quang của em, cùng một lời cầu nguyện, thì sở nguyện của các anh sẽ thành. Xin chúc mừng các anh đã có sự lựa chọn tốt đẹp nhất.

Thẩm Thúy Hoàn nói rằng: Em thấy rất đông liệt sĩ reo mừng lao về phía chị, nhanh quá không còn thấy ai nữa.

Chúng con đi tiếp nhiều cánh ruộng quanh đấy không thấy liệt sĩ. Đi quãng xa nữa bên vệ đường có 6 liệt sĩ đứng chờ, sau khi ghi tên họ, các anh nói: Xin chị giúp chúng tôi đi tu học, vì biết chị vừa giúp cho các anh em ở đằng kia.

Buổi tối con hẹn Thẩm Thúy Hoàn tiếp tục hợp tác việc này với con để gặp liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, là người lãnh đạo các liệt sĩ ở đây, thêm một tình huống nữa xãy ra, liệt sĩ Đãi cũng nói rằng: Đi tái kiếp thì tôi hiểu,còn tu học là gì? Sau khi được giải đáp, chú nói rằng: Thế thì tốt quá, tôi sẽ vận động anh em … Tôi còn về quê, và tôi phải ở lại đây để đấu tranh đưa anh em ra khỏi khu rừng. Bây giờ chị cứ cho anh em ở đây, có người muốn tái kiếp, có người muốm đi tu. Con nói: Chú Đãi thật cao thượng, chú luôn hy sinh và lo lắng cho đồng đội, vậy cũng là một đức tu lớn, cảm ơn chú rất nhiều.

Câu chuyện tâm linh này không có trong chương trình của đoàn, con làm âm thầm, nếu nói ra thêm phiền vì không có người ủng hộ. Trong lòng con canh cánh nỗi niềm về các liệt sĩ đã hy sinh, tìm kiếm không xuể. Hàng bao nhiêu thế kỷ đổ máu, còn có những câu chuyện tương tự. Các anh ấy đau khổ, tìm cách đấu tranh để có một nấm mộ, nhưng vẫn đùm bọc lo lắng cho nhau với đức hy sinh cao thượng, muốn tu học theo Phật để còn trở về giúp đỡ các anh em khác. Còn những người đã chết trong thù hận, họ ai oán đến đâu. Nhiều người không tin nổi có những câu chuyện như thế, hoặc là họ không muốn ai biết. Nhưng thầy đã biết, thầy đã lo lắng vượt tất cả khó khăn lập được lễ trai đàn lớn, lớn nhất của bao nhiêu trăm năm. Có những lời dèm pha vô nghĩa vì họ không hiểu sự vĩ đại trong trái tim của thầy đã qui tụ về đây những sức mạnh yêu thương hóa giải gánh nặng của đất nước, cởi trói cho dân tộc Việt Nam. Thầy đã chọn địa điểm khu đền Sóc Sơn là vô cùng chuẩn xác. Con đã dự lễ trai đàn 3 ngày, con không mang theo máy di động để tránh nhiểu sóng, con nghe thấy thầy khuyên các hương linh quy y Phật. Thầy nói thế nào con làm như thế. 

Sáng sớm ngày thứ 4 một mình con leo lên đỉnh núi Sóc Sơn. Con cảm ơn trời đất đã phù hộ để cho thầy tổ chức thành công lễ trai đàn chẩn tế, mở đường cho đất nước Việt Nam được lớn mạnh. Con nhặt một viên đá tại nơi đức Thánh Gióng thăng lên trời, để tặng thầy làm kỷ niệm Sóc Sơn. Viên đá này mang tất cả tâm tư của con kính tặng thầy. Cách đây 7 năm con có ý định làm cuốn phim tư liệu khoa học về tiềm năng trí tuệ Việt Nam, con đã chọn đức Thánh Gióng là biểu tượng sức mạnh tinh thần Việt Nam, đang thai nghén một cậu bé không nói được, nhưng sẽ vụt lớn thành khổng lồ Thánh Gióng. Con đã viết bản nháp này cho đến nay chưa thực hiện được. Việt Nam có rất nhiều người tài giỏi, nhưng ở thầy còn có tình thương lớn của trí huệ tỉnh thức. Khi ở trên đỉnh núi Sóc Sơn con chợt nghĩ ra thầy chính là người đang khai thông trí tuệ Việt Nam, từ người dân đến lãnh đạo, soi sáng đến toàn cầu được sống thanh bình, lùi dần bóng tối khổ nạn chiến tranh. Thầy đã chạm tới đỉnh cao sức mạnh Thánh Gióng xua tan giạc tối tăm. Cả đức khiêm tốn của thầy và bước chân tự tại của thầy chúng con theo học mãi.

Con kính ơn thầy.
Con kính chúc thầy luôn mạnh khỏe, tăng đoàn làng Mai có khắp toàn cầu.

Đoàn Thanh Hương
 

(*) 
Phần 1 : http://files.myopera.com/maihome/files/PhanThiBichHang1.wma
Phần 2: http://files.myopera.com/maihome/files/PhanThiBichHang2.wma
Phần 4 : http://files.myopera.com/maihome/files/PhanThiBichHangVanDap.wma
 

06-03-2007 05:23:13
 

.
 

NHÀ NGOẠI CẢM PHAN THỊ BÍCH HẰNG
[12.04.2007 20:17]
  
Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Năm 1990, khi vừa tròn 17 tuổi, Hằng bị chó dại cắn, sau 3 ngày đêm mê man bất tỉnh, bỗng sống lại và từ đó Hằng phát hiện mình có khả năng đặc biệt kỳ lạ: “Tiếp xúc với người cõi âm”. Tính đến nay, sau 17 năm nghe, thấy và nói chuyện với người bên kia thế giới, Bích Hằng đã tham gia tìm được trên 8.000 hài cốt liệt sĩ và hơn 1.000 hài cốt khác của bà con bị thất lạc mộ phần, trong đó có mộ liệt sĩ Vũ Thị Kính, em gái giáo sư Trần Phương (tên thật Vũ Văn Dung), Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Chúng tôi đã có dịp phỏng vấn nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng nhân “Trai đàn Chẩn tế bạt độ” cuối tháng 3 vừa qua tại chùa Linh Thắng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

-  Hiện nay chị đang công tác ở cơ quan nào? Trước khi có khả năng “tiếp xúc với người cõi âm”, chị có theo tôn giáo nào không? 

- Bích Hằng: Tôi hiện đang công tác tại Trường Đại học Quản trị kinh doanh Hà Nội và cũng là một trong những cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Việt Nam. Gia đình tôi theo Nho giáo, cha là sĩ quan quân đội, mẹ là giáo viên. Từ khi phát hiện khả năng thấy, nghe và nói chuyện được với người cõi âm, qua tâm nguyện của các hương linh nhắn gởi, tôi có nhiều cơ hội đến với đạo Phật. Chính sự thanh lương, thánh thiện của quý thầy qua công năng tu tập và lời kinh tiếng kệ đã giúp cho các linh hồn nhẹ nhàng thảnh thơi, trút bỏ những giận hờn phiền não, dễ tha thứ cho nhau và mau siêu thoát. 

- Cảm nhận của chị khi tham dự Trai đàn chẩn tế bạt độ?

- Bích Hằng: Tôi thật sự xúc động trước cái tâm và sự thánh thiện của chư tôn đức Tăng Ni cùng Phật tử nơi đây, đã khai mở pháp hội lớn như thế này để cho các hương linh được hưởng lộc Phật. Giá mà quý vị cũng được nhìn thấy “người cõi âm” như chúng tôi (phái đoàn có 7 nhà ngoại cảm cùng đi - NV), chắc chắn rằng quý vị cũng sẽ vô cùng xúc động bởi sau lễ “Nghinh phan sơn thủy”, tôi đã phải bật khóc khi trông thấy hàng trăm hương linh trong đó có cả cụ già, trẻ em, phụ nữ, người cụt cả chân tay, đui mù, tàn tật do nhiều nguyên nhân. Ai mạnh thì dìu kẻ yếu, trước sau lũ lượt vào đàn tràng ăn mày công đức nơi cửa Phật.

-  Theo chị “người cõi âm” cần gì ở chúng ta? 

- Bích Hằng: “Tấm lòng”. Vâng! Tôi nhấn mạnh, người cõi âm rất cần ở chúng ta những tấm lòng và họ rất sợ bị người thân quên lãng. Có ai đó cho rằng chết là hết cho nên người “âm” dễ dàng bị lãng quên. Thực tế, hương linh rất sợ sự cô quạnh hẩm hiu, họ luôn trông chờ tình cảm tưởng nhớ của người thân nghĩ về họ. “Người cõi âm” không xài tiền, không ăn mặc như chúng ta, nhưng họ lại nhận ở chúng ta đầy đủ cả tấm lòng. Khi chăm sóc mộ phần, hài cốt, lo hương khói cúng giỗ v.v… thì “người âm” sẽ nhận được sự thành tâm của người dâng cúng. 

- Giáo lý đạo Phật nói rất rõ về nghiệp lực của mỗi người. Theo chị, những hương linh mà chị đã từng gặp (trên 8.000 hương linh) là ai? Chị có bao giờ thấy địa ngục của người cõi âm chưa?

- Bích Hằng: Thế giới người âm rất phong phú, đa dạng, chia ra làm nhiều giai tầng chứ không chỉ có những người giác ngộ về đạo Phật. Còn số mạng ư? Làm gì có số mạng cho hàng ngàn chiến sĩ, nhân dân phải tử nạn trong chiến tranh gây ra! Chính vì vậy mà các oan hồn uổng tử vật vờ đau khổ khi bị chết oan, thậm chí có người thân xác đã không còn nguyên vẹn mà hài cốt lại bị chôn vùi trong rừng sâu, khe suối… không ai hay biết.

Tôi chưa thấy địa ngục của người cõi âm bao giờ, nhưng đã thấy rất nhiều các hương linh đau khổ vì nói không được do họ luôn bị canh giữ. Điển hình như trong chuyến tìm mộ liệt sĩ, khi đi ngang qua làng Thành Mỹ, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, tôi trông thấy một hương hồn thanh niên đầu cạo trọc, anh ấy muốn nhắn gởi tôi điều gì nhưng không nói được, bởi sau lưng anh có 2 bóng đen luôn ngăn cản không cho anh nói. Bên cạnh mộ anh thanh niên này, còn có mộ của một cụ già bê bết máu, cụ khóc và nhờ tôi nhắn với người thân hãy làm nhiều điều phước thiện mà cầu xin cho con trai, nó đang bị quỷ sứ canh giữ khổ sở lắm, hỏi ra mới biết cậu con trai đã giết cha và sau đó bị tử hình, hai cha con chôn chung một chỗ. 

Còn có trường hợp, hương linh cụ bà thọ 80 tuổi rồi, nhưng cụ cứ về kêu gia đình lên chùa cầu siêu cho cụ. Gia đình đã lập 4 đàn tràng mà cụ vẫn cứ kêu khóc hoài, người nhà liên lạc với cơ quan quản lý tiềm năng con người và xin gặp tôi. Sau khi tiếp xúc với hương linh của cụ, tôi được biết trước đây gia đình cụ có nuôi một cô cháu gái (mồ côi) gọi cụ bằng dì, hồi nhỏ cụ thường xuyên đánh đập và cho cô cháu gái ăn cơm nguội “trộn với phân của con gián”. Bây giờ muốn cho cụ được thảnh thơi thì đứa cháu gái phải thắp nhang tha thứ cho cụ và trên bàn thờ phải cúng cho cụ 1 bát cơm trộn với phân của con gián thì cụ mới mong được siêu thoát. 

-  Chị đã nhắc đến rất nhiều hai từ "cầu siêu"; vậy theo chị, phương tiện cầu siêu trong đạo Phật giúp ích gì cho các hương linh?

- Bích Hằng: Tôi rất tin vào sự siêu độ của nhà Phật, bằng sự thanh tịnh và cả một tấm lòng từ bi của quý thầy qua lời kinh của Phật dạy, các hương linh nghe hiểu và sẽ xả bỏ được oan nghiệt, từ đó họ mới mong được sám hối và siêu thoát. Đó là những điều mà các hương linh thường nhờ tôi nhắn với gia đình nên cầu siêu cho họ; âm siêu thì thế giới cõi dương mới bình an (thái bình thịnh trị). Tôi mong sao một số tỉnh thành trên cả nước, tại những nơi mà chiến tranh xảy ra ác liệt nhất như: Quảng Trị, Quảng Nam, Điện Biên Phủ, các tỉnh Tây Nguyên, nhà tù Côn Đảo v.v…, những nơi chưa có chùa thì nên lập chùa và có nhiều trai đàn chẩn tế như thế này để cầu nguyện cho các anh linh, anh hùng tử nạn, các hương linh oan hồn chết oan ức vì nhiều lý do, để họ được nương nhờ công đức Phật mà mau siêu thoát.

Thú thật, thầy cúng thì rất nhiều nhưng tôi vẫn cứ nhờ đến nhà chùa bởi tôi tin vào sự đức độ và lòng từ bi thương xót chúng sinh bằng cái tâm trong sáng của quý thầy. Theo tôi, dù ở thế giới nào đi nữa thì chúng ta cũng phải đối xử với nhau bằng cái tâm thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp và dễ dàng hơn. Tất cả mọi nét vẽ đều rất đẹp nếu chúng ta đặt bút xuống bằng một cái tâm, và chính cái tâm của người con Phật sẽ đem lại an lạc cho mọi cảnh giới.

- Cảm ơn chị đã dành cho bạn đọc cuộc trò chuyện thú vị này.

Linh Toàn (thực hiện) 
(Giác Ngộ)

 
Nghe thêm audio: 
Bài nói chuyện của cô Phan Thị Bích Hằng tại chùa Hoằng Pháp (MP3)
Bài phát biểu của Phan Thị Bích Hằng: (Phần 1) (Phần 2) (Phần 3) (Vấn đáp) (Phần 4
Phát biểu của Giáo sư Trần Phương (WMA)
     (http://www.phattuvietnam.net/)


 
 

.