|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CHIỀU
THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
|
|
TU
VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẾN
VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
TIN
TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
NỘI
DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
TIN TỨC
& chuyến đi
Việt Nam của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
 |
 |
BBC PHỎNG VẤN
THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
Lê
Quỳnh thực hiện
31-5-2007
Một
trong những sự kiện gây chú ý nhiều nhất ở Việt Nam trong
nửa đầu năm nay là chuyến về nước của Thiền sư Thích
Nhất Hạnh.
Thiền
sư cùng tăng đoàn Làng Mai đã có ba tháng về quê, với nhiều
hoạt động, mà tâm điểm là tổ chức ba lễ cầu siêu giải
oan tai ba miền đất nước.
Vào
ngày 9-5, phái đoàn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chính
thức rời Việt Nam, nhưng dư âm và ảnh hưởng của lần
trở về này còn được bàn luận nhiều.
Trong
cuộc phỏng vấn của đài BBC với Thiền sư Thích Nhất Hạnh
vào tháng Tư, tại Hà Nội, ngay trước khi tổ chức đại
Trai đàn Chẩn tế lần ba, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã
cho biết quan điểm của ông về nhiều vấn đề mà Việt
Nam đối diện trong thế kỷ 21.
Nghe
phỏng vấn của BBC với Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Thích
Nhất Hạnh: Tôi thấy Đại trai đàn chẩn tế giải oan
đã rất được hưởng ứng, đáp ứng đúng nhu cầu của
người dân Việt Nam lúc này. Trong chiến tranh Việt Nam đã
có biết bao khổ đau, oan ức cho người dân Việt, nhưng chưa
bao giờ được chính thức công nhận. Chưa bao giờ có một
lễ mà tất cả chúng ta, không phân biệt Nam Bắc, đảng phái
chính trị, tới chung với nhau cùng cầu nguyện cho người
đã mất.
Lần
này đã có nhiều người cả xuất gia và tại gia, đem hết
tâm lực, để tổ chức lễ cầu siêu. Khi những khổ đau,
oan ức bị dồn nén, nó có thể gây tác hại. Có khi ta nói
năng, hành xử thô bạo với người thân mà ta không biết
vì sao. Theo nguyên tắc của tâm lý trị liệu, nếu ta cho phép
những năng lượng tiêu cực trong tâm được hiển hiện, công
nhận nó, làm cho nó lắng dịu lại, đó là sự thực tập
rất quan trọng.
Nếu
không chuyển hóa những năng lượng tiêu cực ấy, mình sẽ
truyền lại cho các thế hệ tương lai. Sau này họ sẽ hành
xử thô bạo với con cháu mà họ không hiểu vì sao. Khi chúng
ta tới với nhau như đồng bào, không phân biệt Nam Bắc, cộng
sản hay chống cộng sản, thuyền nhân hay không thuyền nhân,
thì ta có một cơ hội hiểu nhau hơn, gần nhau hơn. Vì thế
mà ở trai đàn chẩn tế ở chùa Vĩnh Nghiêm, chúng tôi thấy
có rất nhiều người Công giáo. Họ tới không phải với
tư cách tôn giáo, mà với tư cách người đồng bào. Trong
buổi lễ, nhiều người đã khóc; những giọt nước mắt
đó có khả năng làm lắng dịu nỗi khổ niềm đau lâu nay
chứa chất trong lòng mình.
Khi
tới với nhau như đồng bào, không phân biệt cộng sản hay
chống cộng sản, thuyền nhân hay không thuyền nhân, ta có
cơ hội hiểu nhau hơn, gần nhau hơn
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh
BBC:
Trong buổi nói chuyện về quyền lực và hạnh phúc ở Huế,
khi trả lời một câu hỏi, thầy nói đại ý là muốn đất
nước tiến nhanh, phải chuyển hóa người có quyền lực.
Cụ thể là như thế nào, thưa thầy?
Người
có quyền lực mà không có hạnh phúc, nguy hiểm lắm. Chúng
ta có thể có nhiều quyền lực nhưng cùng lúc ta có thể đang
làm khổ người thương trong gia đình, trong cộng đồng.
Tôi
không tin những ai đang làm khổ người thương lại có thể
đem lại hạnh phúc cho dân, cho nước. Vì vậy, khi mình bỏ
phiếu cho một đại biểu, mình có quyền biết về đời tư
của người đó. Người đó có hạnh phúc không? Có khả năng
làm cho con, cho vợ, cho chồng hạnh phúc hay không? Nếu họ
không có khả năng đó, riêng tôi, tôi không thể bỏ phiếu
cho người đó được. Có tài mà không có đức, có thể đưa
tới khổ đau.
Người
có quyền lực càng nhiều, càng phải có chiều hướng tâm
linh. Mình phải làm sao giúp họ tốt hơn, bằng phương tiện
này hay phương tiện khác. Nhưng không phải bằng căm thù,
hờn giận mà bằng lòng từ bi.
BBC:Trong
những điều dạy của thầy, ví dụ trong 14 giới tiếp hiện,
có phần nói về tự do nhận thức. Trong đó có ý là “con
nguyện chấp nhận sự khác biệt của người khác về tư
tưởng. Đồng thời dùng sự đối thoại để thuyết phục
những người cố chấp.” Nếu những người cố chấp lại
ở trong thế mạnh, sử dụng đối thoại liệu có thuyết
phục được họ không?
Nhiều
người dân đến dự ba lễ cầu siêu giải oan ở ba miền
Việt Nam
Mình
đối thoại, không phải chỉ đối thoại với đương sự
mà thôi, mà là cả với quần chúng. Đó là vấn đề giáo
dục quần chúng. Nếu quần chúng thấy được sự thật, họ
sẽ trở thành thế lực rất mạnh. Và người kia phải thay
đổi thôi. Nếu không thay đổi thì không ngồi ở chỗ đó
được.
Đối
thoại với một vị tổng thống, mình phải dùng phương tiện
làm thế nào để nhiều người được tham gia cuộc đối
thoại đó. Thành ra, thay đổi một dư luận, đó là quá trình
của một cuộc đối thoại. Vì mục đích của đối thoại
là thay đổi cách nhìn, cách hành xử. Mà trong thời đại
hiện nay, ta có thể dùng những phương tiện truyền thông
để có thể thay đổi nhận thức tập thể của nhiều người,
chứ không chỉ một người.
BBC:Giấc
mơ của thầy về tương lai của Việt Nam là một giấc mơ
như thế nào? Và hiện tại có đáp ứng cho một tương lai
như thế hay không?
Tương
lai có thể có trong hiện tại. Chỉ khi mình biết mình đi
đâu, muốn đi đâu, ước muốn đó cần phải rõ ràng, chính
xác, thì hiện tại mới có thể là viên đá để xây đắp
tương lai. Còn nếu mình không biết rõ mình muốn cái gì trong
tương lai, thì viên đá hiện tại không đưa tới tương lai.
Chúng
ta hiện có nhiều khả năng tiêu thụ hơn, có xe, có nhà, nhưng
tôi thấy chúng ta không hạnh phúc hơn. Ngày xưa ta tiêu thụ
ít, không có xe hơi, nhà lớn, nhưng ta có thì giờ để nhìn
nhau, chăm sóc cho nhau. Hiện ta không có thì giờ để tự chăm
sóc cho mình.
Văn
minh, theo chúng tôi, là đời sống trong đó mình có thì giờ
tiếp xúc với những màu nhiệm của sự sống, như trời xanh,
mây trắng. Văn minh là có thì giờ để thương yêu. Mà mình
đâu có thì giờ để thương yêu! Thì giờ là để đầu tư,
lo lắng cho doanh nghiệp, cho sự nghiệp chính trị. Không sống
được sâu sắc những giờ phút hiện tại, thì làm sao trong
tương lai mình có thể có hạnh phúc được.
Vai
trò đạo Phật
BBC:Vậy
thì thầy có hy vọng là đạo Phật có thể trở thành một
ý thức hệ mới để lấp đầy khoảng trống tinh thần trong
nhiều người Việt Nam?
Đạo
Phật không phải là một ý thức hệ. Nếu là một ý thức
hệ, nó sẽ loại trừ các ý thức hệ khác. Đạo Phật là
nguồn tuệ giác, những điều Phật dạy phải là phương tiện
giúp mình đạt đến trí tuệ và mơ ước từ bi, chứ không
phải là những giáo điều.
Đạo
Phật là một phần của gia sản tinh thần của người Việt.
Nếu ta biết sử dụng tiềm năng của đạo Phật, ta có thể
xây dựng rất nhiều hạnh phúc. Ví dụ trong các trường học,
nên thế nào để các thầy cô giáo biết có cái nhìn từ
bi
với học trò, làm thế nào để lớp học trở thành một
gia đình? Khi một thầy giáo, cô giáo biết thực tập đạo
Phật, người đó có hạnh phúc và có thể làm cho những đứa
trẻ trong lớp hạnh phúc. Cũng như vậy, mình làm chủ một
doanh nghiệp, nếu mình có hạnh phúc, từ bi, tha thứ, bao dung,
mình có thể biến doanh nghiệp thành một gia đình. Ở đó
có tình gia đình, huynh đệ, và lợi nhuận cũng sẽ tăng bởi
vì ai cũng hết lòng.
BBC:
Ở Việt Nam, số người đi lễ chùa càng lúc càng đông. Nhưng
trong số ấy, bao nhiêu thực sự là Phật tử chân chính, bao
nhiêu người đến chỉ để cầu lễ, cầu tài. Theo thầy,
làm thế nào để đạo Phật với ý nghĩa chân chính của
nó đến được sâu hơn với con người?
Nó
tùy thuộc vào người hướng dẫn. Người ta có thể tới
cầu lộc cầu tài, nhưng nếu mình hướng dẫn khéo, người
đó có thể thực tập để chạm tới hạt giống của sự
thương, tha thứ trong họ.
Khi
mình chào cờ, mảnh vải nhiều màu đó chỉ là biểu tượng.
Phải nhìn qua hình thức để tiếp nhận nội dung. Ví dụ,
khi mình đốt vàng mã, đó là hành động mê tín. Nếu tin
rằng đốt những đồng đôla bằng giấy mà người dưới
cõi âm có thể tiêu xài, đúng là chuyện mê tín. Nhưng nhìn
cho kỹ, ta thấy hành động đó phát xuất từ tình thương
của người sống dành cho người chết. Thành ra đó là hành
động văn hóa. Nếu mình chưa thể thay thế bằng những hành
động khoa học hơn, hãy khoan lên án những hành động kia.
Nếu
mình khéo léo, mình có thể dắt dẫn họ từ chỗ mê tín
đến sự thực tập sâu sắc hơn. Và khi tìm ra được phương
tiện mới để diễn bày cùng một tình cảm đó, mình mới
có thể bỏ được tập tục cũ. Nhưng trước đó thì mình
phải cẩn thận.
BBC:
Thầy rất quan tâm đến một đạo Phật 'dấn thân'. Với
giới trẻ Việt Nam hiện nay, giáo pháp của Làng Mai có thể
giúp gì cho họ?
Chúng
tôi tin nếu phương pháp tu tập của chúng tôi đã giúp được
tuổi trẻ và người trí thức Tây phương, nó cũng giúp được
cho người Việt Nam.
Với
đà phát triển, những tệ nạn xã hội đi lên khá nhiều.
Nếu có phương pháp giúp người chồng nói chuyện lại với
người vợ, người cha truyền thông được với người con,
sẽ rất có ích. Những pháp môn chúng tôi hiến tặng cho người
thiền sinh, trước hết là làm lắng dịu những căng thẳng,
khổ đau, tiếp đó giúp họ tái lập truyền thông với những
người trong gia đình.
Một
đạo Phật cần thiết cho xã hội bây giờ là một đạo Phật
giúp cho đơn vị gia đình được tổ chức trở lại, vì cấu
trúc gia đình của mình đang lung lay. Nhà nước có chương
trình lập các khu phố văn hóa, ý hướng đó rất tốt. Nhưng
kiểm soát và trừng phạt không đủ để cải hóa. Phải có
những biện pháp cụ thể đến từng gia đình, thì thanh niên
mới không ra ngoài tìm sự khuây khỏa trong rượi chè, ma túy…
Trong
những khóa tu dành riêng cho người xuất gia mà chúng tôi tổ
chức trong chuyến về kỳ trước và kỳ này, chúng tôi luôn
nói về chuyện đó. Người xuất gia phải phục vụ thôn xóm,
khu phố, làm sao để có an lạc, tình thương ở đó. Chúng
tôi nói điều này dựa trên kinh nghiệm. Ở Tây phương, chúng
tôi cũng đã có ba bốn chục năm đào tạo cách tu tập như
vậy. Sự thực tập của chúng tôi căn cứ trên kinh nghiệm
chứ không phải chỉ là những lý thuyết học từ sách vở.
'Kiên
nhẫn, bao dung'
BBC:
Trong đạo pháp của thầy luôn nhấn mạnh đến chân, thiện,
mỹ, đến sự dung thứ. Mặt khác, cuộc đời thầy đã chứng
kiến nhiều biến cố của lịch sử, gặp cả những ý kiến
trái ngược về bản thân thầy. Đã có một giai đoạn rất
khó có sự đồng thuận giữa các bên. Trong bối cảnh hiện
tại, thầy có hy vọng dễ tìm kiếm hơn một sự đồng thuận
giữa các khối trong xã hội, ví dụ giữa các phái trong cùng
Phật giáo, giữa người trong và ngoài nước?
Tôi
thấy kiên nhẫn, bao dung là những chất liệu cần thiết của
tình thương. Mình phải cho người kia đủ không gian, thời
gian để thay đổi. Mình phải lắng nghe và cho họ cơ hội.
Trong
đạo Phật, tinh thần bao dung đó rất rộng lớn. Đức Thế
tôn đưa ra một hình ảnh rất hay. Ngài nói nếu mình có một
nắm muối trong tay, mình thả nắm muối đó xuống bát và
khuấy, bát nước đó sẽ mặn quá, không uống được. Nhưng
nếu mình liệng nắm muối xuống dòng sông, nó không đủ
để làm dòng sông mặn. Trái tim mình cũng vậy. Nếu tim mình
lớn, nếu tình yêu của mình không có biên giới, thì những
điều gây hận thù, khổ đau không đủ để làm mình đau
khổ. Nên vấn đề là làm sao để lòng mình lớn rộng hơn.
Có
những người nghĩ và hành động rất khác với chúng tôi.
Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi lên án, trách móc họ.
Đạo
Phật có danh từ “tứ vô lượng tâm” – từ, bi, hỉ và
xả - nghĩa là tình thương không có biên giới. Người kia
có thể nói ra những điều gây khổ đau, nhưng vì mình có
tình thương, mình không khổ đau, mình vẫn tiếp tục nhìn,
lắng nghe người đó bằng tâm từ bi. Sớm muộn gì người
đó cũng thấy. Nên theo tôi, kiên nhẫn và bao dung rất quan
trọng. Nếu mình cứ tranh chấp “tôi đúng, anh sai”, sẽ
chẳng đi đến đâu.
BBC:
Nhưng có ý kiến cho rằng Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ
20, đã chịu chi phối của quá nhiều ý thức hệ. Trong chiến
tranh đã là như thế. Hay bây giờ, những vị trong Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất tin là mình có chính nghĩa,
còn những người không đồng ý với quan điểm kia cũng tin
là chính nghĩa thuộc về mình. Không biết thầy có tin vào
khả năng tự chuyển hóa của con người hay không?
Riêng
tôi, tôi vẫn tiếp tục đối thoại với tất cả mọi thành
phần trong Phật giáo. Cố nhiên có những người nghĩ và hành
động rất khác với chúng tôi. Nhưng không phải vì thế mà
chúng tôi lên án, trách móc họ.
Chúng
tôi nghĩ rằng sở dĩ họ nói và hành động như vậy, là
vì nhận thức của họ như vậy. Nếu mình có thể làm được
gì mà thay đổi nhận thức của họ, thì mình làm. Nếu chưa
làm được, mình sẽ kiếm cách để làm. Nếu mình thực tập
đạo giỏi, ít nhất mình cũng gây được ảnh hưởng tới
người khác. Ví dụ, người kia chửi mắng, lên án mình, nếu
mình cũng chửi mắng lại, thì mình đâu có hơn gì người
kia. Nếu mình mỉm cười được, nhìn người kia bằng con
mắt thương yêu được, hành xử với tâm từ bi, đó đã
là một sự đóng góp của mình cho người kia rồi. Đó là
thông điệp không lời mình gửi đến họ.
Tôi
nghĩ, làm như thế, chính là đạo Phật. Đó là đạo Phật
từ bản chất, chứ không phải chỉ là ngôn từ. Những người
kia họ cũng chịu ảnh hưởng xung quanh. Vì vậy, sự tu tập
của mình có thể thay đổi hoàn cảnh, môi trường của những
người kia. Những người trong xã hội họ có quan sát, cách
nhìn của họ. Khi mình nói và làm theo chính pháp, thế nào
người ta cũng thấy chứ. Ví dụ, mình không bao giờ nói xấu
ai, ban đầu người ta chưa thấy, nhưng sau một năm, hai năm
hay năm năm, người ta sẽ thấy.
Nếu
chuyển hóa trực tiếp người đó chưa được, mình chuyển
hóa những người xung quanh. Từ từ mình giúp cho người đó
chuyển hóa.
BBC:
Và câu hỏi cuối xin đặt cho thầy. Trong thời đại toàn
cầu hóa, theo thầy, Việt Nam có thể thu nhận bài học gì
của thế giới. Và có sợ đánh mất cái gọi là bản sắc
Việt Nam hay không?
Đây
là ưu tư của tất cả: làm thế nào duy trì được những
châu báu của nền văn hóa dân tộc. Hiện bây giờ rất đông
đang hướng về phía tiêu thụ, làm thế nào để có nhiều
tiền. Chúng ta vẫn tin càng có nhiều tiền, nhiều quyền,
thì càng hạnh phúc. Nhưng ta cũng nên có thì giờ để nhìn
chung quanh để thấy rất nhiều người đầy quyền uy, tiền
bạc mà đau khổ vô cùng.
Trong
sự hối hả làm giàu, hưởng thụ, ta có thể hy sinh những
giá trị tâm linh, văn hóa mà ta có. Ví dụ, nói về tình yêu
nam nữ, bây giờ nhiều người nhấn mạnh đến tình yêu xác
thịt mà thôi. Tây phương họ có danh từ “empty sex”, tình
dục trống rỗng. Người thanh niên vội vàng đi vào tính dục
mà không biết tình yêu là gì. Rất tội nghiệp.
Trong
khi đó, trong văn hóa Việt Nam, cái thân của mình cũng linh
thiêng như cái tâm. Ta có những nỗi niềm riêng tư, chỉ nói
được cho những người thân nhất. Trên phương diện hình
hài cũng vậy, có những vùng linh thiêng, cấm kị trong cơ
thể mà ta chỉ có thể chia sẻ với người mà ta tin tưởng
nhất. Đó là văn hóa Việt Nam: thân và tâm linh thiêng như
nhau.
Vì
thế, ta phải có những người thanh niên sống được những
giá trị đạo đức, để làm mẫu mực cho người khác. Làm
thế nào giữ lại được châu báu của nền văn hóa dân tộc
trước tư trào toàn cầu hóa, đó là câu hỏi rất lớn. Nếu
chúng ta ngồi lại với nhau, ta sẽ tìm ra con đường. Còn
nếu ta cũng bận rộn như những người khác, sẽ không có
cơ hội nữa.
05-31-2007
12:12:34
|
.
THƯỢNG TOẠ
THÍCH NHẬT TỪ
CHIA
SẺ KẾT QUẢ CHUYẾN HOẰNG PHÁP
CỦA
TS. THÍCH NHẤT HẠNH VÀ TĂNG THÂN LÀNG MAI
Phụ
lục: Thư của bà Đoàn Thanh Hương,
Phó
chủ nhiệm khoa năng lượng sinh học, Viện Vật lý Hà Nội
gửi thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Chơn
Thuyên : Kính thưa thầy, Sư ông làng Mai và tăng đoàn đã
hoàn tất chuyến về Việt Nam lần thứ hai. Sư ông đã diển
thuyết tại rất nhiều chùa viện từ Nam ra Bắc. Và đặc
biệt thực hiện ba Đại trai đàn bình đẳng giải oan với
tầm vóc quốc gia tại Sài Gòn, Huế và Hà Nội, để cầu
siêu cho tất cả nạn nhân của cuộc chiến đã qua tại Việt
Nam. Là người đã đóng góp nhiều công sức cho chuyến về
của Sư ông lần này và hơn nữa là một giảng sư Phật giáo,
thường xuyên tiếp xúc với nhiều tầng lớp quần chúng.
Xin Thầy cho biết: 1. Những cảm nhận của Thầy về
chuyến hoằng hóa tại Việt Nam lần thứ hai của Sư ông làng
Mai. 2. Hiệu quả thật sự của ba đại trai đàn chẩn tế
giải oan?
Thượng
tọa Thích Nhật Từ : Chuyến về Việt Nam lần thứ hai
này Sư ông và Tăng đoàn đã thực hiện ba đại trai đàn
chẩn tế giải oan chính thức tại Sài Gòn, Huế, Hà Nội
và một trai đàn phụ tại Bà Rịa - Vũng Tàu dành cho những
thuyền nhân đã chết trên đường vượt biển năm xưa.
Lần
về thứ hai này đã diễn ra trong bối cảnh khá thuận
lợi. Từ hai năm trở lại đây, vấn đề ngoại cảm là một
lưu tâm hàng đầu tại Việt Nam. Giới Phật tử thì không
ngạc nhiên, nhưng đối với người từ lâu sống với ý tưởng
vô thần thì đây là một sự thật lớn lao làm họ phải
cải đổi hẳn quan niệm nhân sinh. Chết không phải là hết
và trong cõi chết nhất là chết vì oan ức con người vẫn
đau khổ vì oan ức.
Các
nhà ngoại cảm(*)
đã tìm ra được trên 10.000 trường hợp chết oan trong chiến
trận, nơi đồng nội, trên rừng núi, bãi sông, bờ suối.
Họ đối thoại được với người đã chết, biết được
tên tuổi, sinh quán, chết trong trường hợp nào. Những ghi
chép tên tuổi sinh quán có độ chính xác cao, khó có thể
hồ nghi được. Những oan hồn uổng tử này đã chết trên
dưới bốn chục năm rồi vẫn còn khổ đau oan ức, không
có ai lo lắng đoái hoài cho họ. Cho nên việc tổ chức trai
đàn giải oan là một đánh động lương tâm của cả dân
tộc. Và việc cầu siêu hóa giải oan ức cho những người
chết này là cần thiết vô cùng. Chỉ tiếc là các nhà lãnh
đạo chưa thấy hết giá trị tâm linh và đạo đức trong
văn hóa dân tộc, cũng như tuệ giác của đạo Phật, mà các
ngành khoa học hiện đại đã và đang dựa vào nó để mở
ra những thế giới mới đầy lý thú, chẳng hạn như việc
áp dụng môn Duy thức học của Phật giáo vào khoa tâm lý
trị liệu, v.v... Do đó các vị chưa sẳng sàng bước
lên trên con đường hóa giải mang tính trị liệu này.
Việc
khó làm nhưng phải làm, để cho vết thương của dân tộc
được chữa lành, để cõi âm được siêu thì cõi dương
(tức lòng người) mới được thới (Lời của những người
đang sống, nói với những người đã chết). Và từ đây
dân tộc sẽ được lành mạnh mà bước về tương lai.
Về
câu hỏi thứ hai, hiệu quả thật sự của ba đại trai đàn
chẩn tế giải oan.
Năm
2005 lần về thứ nhất, qua các bài giảng Sư ông đã gieo
hạt, thời gian hai năm đã tưới tẫm những hạt giống nảy
mầm.
Lần
về này, nổi bật là phương pháp hành trì, Sư ông đã dùng
kinh Quán Niệm hơi thở, một kinh hành trì căn bản của tăng
đoàn thời Phật tại thế. Sư ông dùng kinh này làm nền cho
rất nhiều bài giảng.
Thính
chúng từ Nam Trung Bắc đã được Sư ông hướng dẫn thực
tập trực tiếp. Cách giảng dạy của Sư ông vừa rõ rệt,
vừa đơn giản vừa chính xác với một định lực tuyệt
hảo của người đã hành trì thành công. Chỉ trong một thời
thực tập nghiêm chỉnh, thính chúng đã nếm được thế nào
là pháp lạc, thế nào là định, thế nào là tuệ. Càng thực
tập với Sư ông càng như thấy khai thông, vén được mây
mù ở lòng mình.
Chủ
đề Ngồi Giữa Gió Xuân rất hay, gió xuân cũng có thể là
tám thứ gió làm mê hoặc con người (Bát phong). Nhưng với
định và tuệ vững vàng thì tám thứ gió độc đã trở thành
gió mùa xuân mát mẽ của cực lạc hiện tiền. Sư ông không
những giải oan cho người sống mà còn mở cả nút thắc căn
bản vô minh của kiếp người. Cho nên những chống phá đầy
chất sân hận và u tối ở Sài Gòn, ở Huế đã bị phản
ứng ngược.
Thật
ra từ lúc chuẩn bị chuyến đi cho đến khi ba trai đàn hoàn
tất, tăng đoàn làng Mai đã phải vượt qua nhiều bế tắc
khó khăn. Ông Vụ trưởng vụ Tôn Giáo Bùi Hữu Dược đã
nói:
1.
Không thể có bình đẳng đối với vong linh lính tráng chết
trận của đế quốc Pháp Mỹ, họ đáng bị trừng trị. 2.
Nghĩa sĩ hy sinh cho đất nước đã chết trong vinh quang chứ
không oan ức.
Giáo
hội Phật giáo Việt Nam cũng đã yêu cầu làng Mai rút bỏ
từ giải oan trong cụm từ “Đại trai đàn bình đẳng giải
oan”.
Tại
ba đàn tràng Sài Gòn, Huế và Sóc Sơn Hà Nội, số lượng
người tham dự rất đông, vượt ngoài mọi dự đoán. Có
nhiều người đến từ rất xa với lòng dạ chí thành xin
ghi tên cho thân nhân của mình đã chết oan khuất từ lâu,
được nương nhờ cửa Phật mà siêu sanh hóa kiếp.
Nhờ
Phật Pháp nhiệm mầu, nhờ niệm lực hùng hậu của Tăng
bảo và lòng người khẩn thiết, lời khấn nguyện của vị
sám chủ đại trai đàn đã vang động hư không, đi vào
lòng người, thông suốt cả cỏi âm. Đất trời đã cảm
ứng hiển linh. Sau mỗi đại trai đàn là mưa lớn, mát
cả không gian trời đất. Giọt nước từ bi tịnh thủy của
bồ tát Quan Thế Âm đã rưới mát mọi tâm hồn và rửa
sạch hết oan khiên của người đã khuất .
Cõi
âm được nhẹ nhàng siêu thoát, cõi Dương tức lòng người
cũng thư thới. Ở Đà Nẵng người tham dự khóa tu đông như
trẩy hội, giới thương gia địa phương đã tổ chức hai
buổi cúng dường trai tăng với đầy đủ nét thanh lịch và
hoành tráng của kỷ nguyên mới, để khoản đãi Tăng đoàn.
Chúng
ta đã thấy rõ một trình tự từ bế tắc buổi đầu cho
đến hiện tượng khai thông sau mỗi đại trai đàn. Nhưng
quan trọng nhất là những oan khuất của hàng triệu người
chết đã được nói lên một cách rạch ròi. Và những bế
tắt tâm lý của người sống do oan trái lịch sử của thời
qua đã bắt đầu được khai thông.
Chơn
Thuyên : Xin cảm ơn Thầy đã trả lời câu hỏi.
Chơn
Thuyên,
Phái
viên PSN thực hiện tại chùa Giác Ngộ, Sài Gòn 16/05/2007
(http://www.phusa.info/)
Phụ lục:
Thư của bà
Đoàn Thanh Hương,
Phó chủ nhiệm
khoa năng lượng sinh học,
viện Vật
lý Hà Nội gửi thiền sư Thích Nhất Hạnh
LTS:
Đây là một vấn đề siêu hình chưa được giới khoa
học thực nghiệm công nhận nhưng lại là sự thật 100% đã
gây nhiều phân vân trong xã hội, nhất là những thành phần
marxite của Việt Nam. PSN phổ biến với tất cả thận trọng.
Hà
Nội ngày 26.4.2007
Kính
thưa thầy Thích Nhất Hạnh,
Con
kính trọng thầy rất nhiều. Ánh sáng trí tuệ và tình thương
của thầy đã tỏa rộng bao trùm lên những đau thương khốn
khổ. Thầy có dòng nước mát cam lồ của Đức Quan Thế Âm,
có trí tuệ sắc bén của Đức Phật. Đất nước Việt Nam
suốt bao nhiêu thế kỷ chiến tranh nội chiến, ngoại xâm,
có bao nhiêu đau thương và ngần ấy vong linh chết mà vẫn
còn nỗi niềm khúc mắc. Thầy đã có đủ tình thương vỗ
về nỗi đau ấy giúp cho họ giải thoát. Con đã chứng kiến
những tâm tư rất tình người của các liệt sĩ. Sở dĩ con
biết được vì con có một chuyến đi làm việc cùng các nhà
ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, Thẩm Thúy Hoàn, những
người có năng lực nhìn thấy và nghe được tiếng nói người
âm, con là người có nhiệm vụ ghi chép và nghiên cứu.
Năm
2002 từ việc giúp một gia đình liệt sĩ mà thành ra một
sự kiện lớn, có hai vợ chồng thượng tướng Nguyễn Nam
Khánh 80 tuổi cùng hành trình tìm kiếm hài cốt liệt sĩ,
có sự giúp đỡ cơ quan quân sự địa phương, của trung ương.
Câu chuyện trong một cánh rừng già Tây Nguyên năm 1965 đã
xãy ra một trận đánh lớn, gần một ngàn người tham chiến.
Nơi đây giữa rừng, xa thành phố, dân cư thưa thớt, không
có điều kiện thu dọn hậu chiến như các chỗ khác. Có lẽ
đây là trận đánh thất bại đẫm máu, nên các tướng lĩnh
muốn quên đi tất cả. Tới gần 40 năm sau đoàn chúng con
tới đây, mới biết nhiều tâm sự của các liệt sĩ. Tất
cả đều nói lên ước nguyện được quan tâm. Nhiều câu
chuyện trong cõi vô hình xúc động về các liệt sĩ, con kể
cho thầy nghe một chuyện trong chuyến đi ấy, có liên quan
lễ trai đàn của thầy.
Hôm
đó là ngày tìm kiếm thứ tư. Tại một cánh ruộng khô chúng
con tiếp xúc với một anh tiểu đội trưởng liệt sĩ Sơn,
người Quảng Nam, Đà Nẵng. Anh nói rằng thay mặt gần bốn
mươi liệt sĩ nằm ở đây nói lên nguyện vọng muốn về
nghĩa trang liệt sĩ. Nhìn đồng đội phơi xương trắng đồng
thế này tôi đau lòng lắm. Đừng bỏ chúng tôi ở đây. Nếu
đưa tên tuổi chúng tôi lên tượng đài, mà chúng tôi vẫn
phơi xác ở đây thì có nghĩa lý gì? Gần 40 người nằm rãi
trên ruộng này, không có ai gom lại. Tôi nhìn anh em đồng
đội ở đây rất là thương, rất trẻ, 17, 18 tuổi. Các đồng
chí phơi xương ở đây không một nén hương thắp. Tôi đau
lòng lắm …
Anh
bảo chúng con chờ đợi thêm các anh em đi vắng chưa kịp
về. Trong lúc chờ đợi anh kể về gia đình của anh: Nhà
tôi ngày xưa ở thành phố, bây giờ không còn ai. Có 5 anh
em đều hy sinh cả, bố cũng hy sinh. Còn một mình mẹ đau
thương quá cũng mất sớm. Có một chị gái cũng hy sinh cả
hai vợ chồng. Bây giờ tôi muốn về nghĩa trang. Không riêng
mình tôi, có nhiều người không quê quán như tôi. Tôi đấu
tranh cho các anh em được về nghĩa trang. Biết đoàn vào đây
mục đích chính không phải là tìm chúng tôi, nhưng vì tình
nghĩa đối với liệt sĩ mà đến đây với chúng tôi. Khi
đoàn vào đây mọi người mừng lắm, vì trước đây tưởng
rằng không có ai biết tới, một nén hương cũng không có.
Cảm ơn đoàn.
Mãi
cho đến năm nay 2007 vẫn chưa giải quyết xong nguyện vọng
của các anh ấy, vì rất nhiều tiếng nói bị rơi vào vô
vọng. Rất nhiều công sức và quyết tâm của một tập thể
tự nguyện đã tìm dược hơn 150 hài cốt. Còn lại gấp 3
lần. Lúc đó con hiểu hoàn cảnh có những khó khăn không
đáp ứng được nguyện vọng của các liệt sĩ, nên con nghĩ
tới khả năng tâm linh giúp các anh về với Phật. Con lựa
lời nói: Việc về nghĩa trang rất khó khăn, các anh nằm rải
trên vùng rộng lớn, mà kinh phí của huyện, Kbang quá eo hẹp,
họ không làm nổi. Có một duyên lành em có mặt ở đây,
có thể giúp các anh đi tu học hoặc đi tái kiếp. Vậy các
anh hãy quyết định ngay vì khó có dịp nào em trở lại đây.
-
đi tái kiếp thì tôi không muốn nữa, cuộc sống trên đó
và dưới này chẳng khác gì nhau. Còn đi tu học là cái gì?
- Là
về nơi có Phật, nơi toàn là tình thương, các đức Phật
sẽ giúp các anh học hỏi, trút bỏ tất cả những nặng nề
khổ đau của kiếp sống này,
- Biết
đâu đi tu học chúng tôi có thêm tài năng để quay lại trở
lại đây giúp đỡ các anh em khác. Thế thì tôi đồng ý đi
tu học. Còn các anh em trẻ, họ không biết gì đâu, chị đợt
tôi nói với họ.
- Mọi
người muốn hỏi chị một câu: Nếu khi nào muốn quay trở
lại có được không?
- Các
anh có thể quay lại khi có người cần gọi các anh về.
- Vậy
tất cả chúng tôi đi tu học. Xin chị giúp đỡ chúng tôi.
Chúng tôi thật mai mắn không ngờ, xin cảm ơn. Chị có thể
giúp cho những người khác nữa không?
- Em
giúp được, anh đi gọi mọi người về đây, chỉ cần chạm
vào hào quang của em, cùng một lời cầu nguyện, thì sở nguyện
của các anh sẽ thành. Xin chúc mừng các anh đã có sự lựa
chọn tốt đẹp nhất.
Thẩm
Thúy Hoàn nói rằng: Em thấy rất đông liệt sĩ reo mừng lao
về phía chị, nhanh quá không còn thấy ai nữa.
Chúng
con đi tiếp nhiều cánh ruộng quanh đấy không thấy liệt
sĩ. Đi quãng xa nữa bên vệ đường có 6 liệt sĩ đứng chờ,
sau khi ghi tên họ, các anh nói: Xin chị giúp chúng tôi đi tu
học, vì biết chị vừa giúp cho các anh em ở đằng kia.
Buổi
tối con hẹn Thẩm Thúy Hoàn tiếp tục hợp tác việc này
với con để gặp liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, là người lãnh
đạo các liệt sĩ ở đây, thêm một tình huống nữa xãy
ra, liệt sĩ Đãi cũng nói rằng: Đi tái kiếp thì tôi hiểu,còn
tu học là gì? Sau khi được giải đáp, chú nói rằng: Thế
thì tốt quá, tôi sẽ vận động anh em … Tôi còn về quê,
và tôi phải ở lại đây để đấu tranh đưa anh em ra khỏi
khu rừng. Bây giờ chị cứ cho anh em ở đây, có người muốn
tái kiếp, có người muốm đi tu. Con nói: Chú Đãi thật cao
thượng, chú luôn hy sinh và lo lắng cho đồng đội, vậy cũng
là một đức tu lớn, cảm ơn chú rất nhiều.
Câu
chuyện tâm linh này không có trong chương trình của đoàn,
con làm âm thầm, nếu nói ra thêm phiền vì không có người
ủng hộ. Trong lòng con canh cánh nỗi niềm về các liệt sĩ
đã hy sinh, tìm kiếm không xuể. Hàng bao nhiêu thế kỷ đổ
máu, còn có những câu chuyện tương tự. Các anh ấy đau khổ,
tìm cách đấu tranh để có một nấm mộ, nhưng vẫn đùm
bọc lo lắng cho nhau với đức hy sinh cao thượng, muốn tu
học theo Phật để còn trở về giúp đỡ các anh em khác.
Còn những người đã chết trong thù hận, họ ai oán đến
đâu. Nhiều người không tin nổi có những câu chuyện như
thế, hoặc là họ không muốn ai biết. Nhưng thầy đã biết,
thầy đã lo lắng vượt tất cả khó khăn lập được lễ
trai đàn lớn, lớn nhất của bao nhiêu trăm năm. Có những
lời dèm pha vô nghĩa vì họ không hiểu sự vĩ đại trong
trái tim của thầy đã qui tụ về đây những sức mạnh yêu
thương hóa giải gánh nặng của đất nước, cởi trói cho
dân tộc Việt Nam. Thầy đã chọn địa điểm khu đền Sóc
Sơn là vô cùng chuẩn xác. Con đã dự lễ trai đàn 3 ngày,
con không mang theo máy di động để tránh nhiểu sóng, con nghe
thấy thầy khuyên các hương linh quy y Phật. Thầy nói thế
nào con làm như thế.
Sáng
sớm ngày thứ 4 một mình con leo lên đỉnh núi Sóc Sơn. Con
cảm ơn trời đất đã phù hộ để cho thầy tổ chức thành
công lễ trai đàn chẩn tế, mở đường cho đất nước Việt
Nam được lớn mạnh. Con nhặt một viên đá tại nơi đức
Thánh Gióng thăng lên trời, để tặng thầy làm kỷ niệm
Sóc Sơn. Viên đá này mang tất cả tâm tư của con kính tặng
thầy. Cách đây 7 năm con có ý định làm cuốn phim tư liệu
khoa học về tiềm năng trí tuệ Việt Nam, con đã chọn đức
Thánh Gióng là biểu tượng sức mạnh tinh thần Việt Nam,
đang thai nghén một cậu bé không nói được, nhưng sẽ vụt
lớn thành khổng lồ Thánh Gióng. Con đã viết bản nháp này
cho đến nay chưa thực hiện được. Việt Nam có rất nhiều
người tài giỏi, nhưng ở thầy còn có tình thương lớn của
trí huệ tỉnh thức. Khi ở trên đỉnh núi Sóc Sơn con chợt
nghĩ ra thầy chính là người đang khai thông trí tuệ Việt
Nam, từ người dân đến lãnh đạo, soi sáng đến toàn cầu
được sống thanh bình, lùi dần bóng tối khổ nạn chiến
tranh. Thầy đã chạm tới đỉnh cao sức mạnh Thánh Gióng
xua tan giạc tối tăm. Cả đức khiêm tốn của thầy và bước
chân tự tại của thầy chúng con theo học mãi.
Con
kính ơn thầy.
Con
kính chúc thầy luôn mạnh khỏe, tăng đoàn làng Mai có khắp
toàn cầu.
Đoàn
Thanh Hương
|
(*)
Phần
1 : http://files.myopera.com/maihome/files/PhanThiBichHang1.wma
Phần
2: http://files.myopera.com/maihome/files/PhanThiBichHang2.wma
Phần
4 : http://files.myopera.com/maihome/files/PhanThiBichHangVanDap.wma
06-03-2007
05:23:13

|
.
NHÀ
NGOẠI CẢM PHAN THỊ BÍCH HẰNG
[12.04.2007
20:17]
Phan
Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc
xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Năm 1990, khi
vừa tròn 17 tuổi, Hằng bị chó dại cắn, sau 3 ngày đêm
mê man bất tỉnh, bỗng sống lại và từ đó Hằng phát hiện
mình có khả năng đặc biệt kỳ lạ: “Tiếp xúc với người
cõi âm”. Tính đến nay, sau 17 năm nghe, thấy và nói chuyện
với người bên kia thế giới, Bích Hằng đã tham gia tìm được
trên 8.000 hài cốt liệt sĩ và hơn 1.000 hài cốt khác của
bà con bị thất lạc mộ phần, trong đó có mộ liệt sĩ Vũ
Thị Kính, em gái giáo sư Trần Phương (tên thật Vũ Văn Dung),
Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà
Nội. Chúng tôi đã có dịp phỏng vấn nhà ngoại cảm Phan
Thị Bích Hằng nhân “Trai đàn Chẩn tế bạt độ” cuối
tháng 3 vừa qua tại chùa Linh Thắng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm
Đồng.
-
Hiện nay chị đang công tác ở cơ quan nào? Trước khi có khả
năng “tiếp xúc với người cõi âm”, chị có theo tôn giáo
nào không?
-
Bích Hằng: Tôi hiện đang công tác tại Trường Đại
học Quản trị kinh doanh Hà Nội và cũng là một trong những
cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người thuộc
Liên hiệp các Hội Khoa học Việt Nam. Gia đình tôi theo Nho
giáo, cha là sĩ quan quân đội, mẹ là giáo viên. Từ khi phát
hiện khả năng thấy, nghe và nói chuyện được với người
cõi âm, qua tâm nguyện của các hương linh nhắn gởi, tôi
có nhiều cơ hội đến với đạo Phật. Chính sự thanh lương,
thánh thiện của quý thầy qua công năng tu tập và lời kinh
tiếng kệ đã giúp cho các linh hồn nhẹ nhàng thảnh thơi,
trút bỏ những giận hờn phiền não, dễ tha thứ cho nhau và
mau siêu thoát.
-
Cảm nhận của chị khi tham dự Trai đàn chẩn tế bạt độ?
-
Bích Hằng: Tôi thật sự xúc động trước cái tâm
và sự thánh thiện của chư tôn đức Tăng Ni cùng Phật tử
nơi đây, đã khai mở pháp hội lớn như thế này để cho
các hương linh được hưởng lộc Phật. Giá mà quý vị cũng
được nhìn thấy “người cõi âm” như chúng tôi (phái đoàn
có 7 nhà ngoại cảm cùng đi - NV), chắc chắn rằng quý vị
cũng sẽ vô cùng xúc động bởi sau lễ “Nghinh phan sơn thủy”,
tôi đã phải bật khóc khi trông thấy hàng trăm hương linh
trong đó có cả cụ già, trẻ em, phụ nữ, người cụt cả
chân tay, đui mù, tàn tật do nhiều nguyên nhân. Ai mạnh thì
dìu kẻ yếu, trước sau lũ lượt vào đàn tràng ăn mày công
đức nơi cửa Phật.
-
Theo chị “người cõi âm” cần gì ở chúng ta?
-
Bích Hằng: “Tấm lòng”. Vâng! Tôi nhấn mạnh, người
cõi âm rất cần ở chúng ta những tấm lòng và họ rất sợ
bị người thân quên lãng. Có ai đó cho rằng chết là hết
cho nên người “âm” dễ dàng bị lãng quên. Thực tế, hương
linh rất sợ sự cô quạnh hẩm hiu, họ luôn trông chờ tình
cảm tưởng nhớ của người thân nghĩ về họ. “Người
cõi âm” không xài tiền, không ăn mặc như chúng ta, nhưng
họ lại nhận ở chúng ta đầy đủ cả tấm lòng. Khi chăm
sóc mộ phần, hài cốt, lo hương khói cúng giỗ v.v… thì
“người âm” sẽ nhận được sự thành tâm của người
dâng cúng.
-
Giáo lý đạo Phật nói rất rõ về nghiệp lực của mỗi
người. Theo chị, những hương linh mà chị đã từng gặp
(trên 8.000 hương linh) là ai? Chị có bao giờ thấy địa ngục
của người cõi âm chưa?
-
Bích Hằng: Thế giới người âm rất phong phú, đa dạng,
chia ra làm nhiều giai tầng chứ không chỉ có những người
giác ngộ về đạo Phật. Còn số mạng ư? Làm gì có số
mạng cho hàng ngàn chiến sĩ, nhân dân phải tử nạn trong
chiến tranh gây ra! Chính vì vậy mà các oan hồn uổng tử
vật vờ đau khổ khi bị chết oan, thậm chí có người thân
xác đã không còn nguyên vẹn mà hài cốt lại bị chôn vùi
trong rừng sâu, khe suối… không ai hay biết.
Tôi
chưa thấy địa ngục của người cõi âm bao giờ, nhưng đã
thấy rất nhiều các hương linh đau khổ vì nói không được
do họ luôn bị canh giữ. Điển hình như trong chuyến tìm mộ
liệt sĩ, khi đi ngang qua làng Thành Mỹ, xã Ninh Mỹ, huyện
Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, tôi trông thấy một hương hồn thanh
niên đầu cạo trọc, anh ấy muốn nhắn gởi tôi điều gì
nhưng không nói được, bởi sau lưng anh có 2 bóng đen luôn
ngăn cản không cho anh nói. Bên cạnh mộ anh thanh niên này,
còn có mộ của một cụ già bê bết máu, cụ khóc và nhờ
tôi nhắn với người thân hãy làm nhiều điều phước thiện
mà cầu xin cho con trai, nó đang bị quỷ sứ canh giữ khổ
sở lắm, hỏi ra mới biết cậu con trai đã giết cha và sau
đó bị tử hình, hai cha con chôn chung một chỗ.
Còn
có trường hợp, hương linh cụ bà thọ 80 tuổi rồi, nhưng
cụ cứ về kêu gia đình lên chùa cầu siêu cho cụ. Gia đình
đã lập 4 đàn tràng mà cụ vẫn cứ kêu khóc hoài, người
nhà liên lạc với cơ quan quản lý tiềm năng con người và
xin gặp tôi. Sau khi tiếp xúc với hương linh của cụ, tôi
được biết trước đây gia đình cụ có nuôi một cô cháu
gái (mồ côi) gọi cụ bằng dì, hồi nhỏ cụ thường xuyên
đánh đập và cho cô cháu gái ăn cơm nguội “trộn với phân
của con gián”. Bây giờ muốn cho cụ được thảnh thơi thì
đứa cháu gái phải thắp nhang tha thứ cho cụ và trên bàn
thờ phải cúng cho cụ 1 bát cơm trộn với phân của con gián
thì cụ mới mong được siêu thoát.
-
Chị đã nhắc đến rất nhiều hai từ "cầu siêu"; vậy theo
chị, phương tiện cầu siêu trong đạo Phật giúp ích gì cho
các hương linh?
-
Bích Hằng: Tôi rất tin vào sự siêu độ của nhà Phật,
bằng sự thanh tịnh và cả một tấm lòng từ bi của quý
thầy qua lời kinh của Phật dạy, các hương linh nghe hiểu
và sẽ xả bỏ được oan nghiệt, từ đó họ mới mong được
sám hối và siêu thoát. Đó là những điều mà các hương
linh thường nhờ tôi nhắn với gia đình nên cầu siêu cho
họ; âm siêu thì thế giới cõi dương mới bình an (thái bình
thịnh trị). Tôi mong sao một số tỉnh thành trên cả nước,
tại những nơi mà chiến tranh xảy ra ác liệt nhất như: Quảng
Trị, Quảng Nam, Điện Biên Phủ, các tỉnh Tây Nguyên, nhà
tù Côn Đảo v.v…, những nơi chưa có chùa thì nên lập chùa
và có nhiều trai đàn chẩn tế như thế này để cầu nguyện
cho các anh linh, anh hùng tử nạn, các hương linh oan hồn chết
oan ức vì nhiều lý do, để họ được nương nhờ công đức
Phật mà mau siêu thoát.
Thú
thật, thầy cúng thì rất nhiều nhưng tôi vẫn cứ nhờ đến
nhà chùa bởi tôi tin vào sự đức độ và lòng từ bi thương
xót chúng sinh bằng cái tâm trong sáng của quý thầy. Theo tôi,
dù ở thế giới nào đi nữa thì chúng ta cũng phải đối
xử với nhau bằng cái tâm thì mọi việc sẽ trở nên tốt
đẹp và dễ dàng hơn. Tất cả mọi nét vẽ đều rất đẹp
nếu chúng ta đặt bút xuống bằng một cái tâm, và chính
cái tâm của người con Phật sẽ đem lại an lạc cho mọi
cảnh giới.
- Cảm
ơn chị đã dành cho bạn đọc cuộc trò chuyện thú vị này.
Linh
Toàn (thực hiện)
(Giác
Ngộ)
|
. |