QUYỀN
NĂNG VÀ HẠNH PHÚC
Tháng
5 2007 - Chân An Tịnh & Chân Giác Lưu phiên tả và biên tập
:
Pháp
thoại của Sư ông Làng Mai ngày 10 - 4 - 2007 tại Khách Sạn
Non Nước,
Đà
Nẵng. Âm thanh MP3 : Phần
1 (15.1MB) | Phần
2 (11.9MB)
Kính
thưa chư vị tôn đức, kính thưa các vị lãnh đạo, chư vị
quan khách và chư vị Phật tử, tôi xin kể câu chuyện
về Frederick. Frederick là một thương gia, doanh nhân rất tài
ba, trên 40 tuổi ( 45 tuổi ). Ông ta là người Đức, một người
có trách nhiệm, có thể coi ông là một doanh nhân khá thành
công. Tôi không biết trực tiếp Frederick, nhưng tôi biết Claudia,
là phu nhân của ông, của nhà doanh thương này. Claudia đã
tới tham gia một khóa tu dành riêng cho giới doanh nhân. Claudia
đã kể lại câu chuyện của cuộc đời bà.
Khi
tương lai trở thành một nhà tù
Lúc
đầu thì hai vợ chồng có rất nhiều hạnh phúc. Frederick
là một người có tài ba, có trách nhiệm. Hai vợ chồng chia
sẻ niềm hy vọng là khi nào họ thành công, có thế lực,
có tiền bạc nhiều thì cuộc sống của họ sẽ là một cuộc
sống lý tưởng và mình không còn nghĩ đến việc gì khác.
Trong khi hành xử như vậy thì Frederick không có thì giờ để
chăm sóc cho bản thân mình, chăm sóc vợ và hai đứa con của
mình. Claudia bắt đầu thấy lẻ loi, cô đơn, không có sự
chú ý của chồng. Bao nhiêu tâm ý ông đều để dành dồn
vào sự nghiệp của ông. Để khuây khỏa thì Claudia ghi tên
học đại học để lấy thêm một bằng tiến sĩ. Nhưng cái
đó không khỏa lấp nổi sự cô đơn của mình. Claudia
học thêm về tâm lý học và bắt đầu thực tập như một
nhà tâm lý trị liệu.
Nhưng
những công việc đó không đủ để khỏa lấp được nỗi
cô đơn của Claudia. Có những đêm Claudia khóc với chồng,
nói rằng: „ Anh không có thì giờ cho em và cho các con.“.
Frederick cứ nói rằng: „ Em và các con gắng đợi. Hiện bây
giờ đây trong doanh nghiệp không ai có thể thay thế anh được.
Có thể trong một thời gian ngắn nữa, tìm được người
thay thế, anh sẽ có nhiều thì giờ cho em và cho con.“ , và
cứ hứa như vậy. Ngày Phillip vào nhà thưong mổ tim, Frederick
không vô nhà thương để thăm con được. Bận rộn đến nước
đó!. Claudia phải thức luôn 7 giờ đồng hồ bên cạnh con
trai mình. Đến khi chính Claudia vô nhà thương để mổ bướu
thì Frederick cũng không về được để chăm sóc cho vợ. Bận
như thế đó và cứ nói rằng: „ Em hãy chờ, các con hãy
chờ. Thế nào anh cũng tháo gỡ ra được. Anh sẽ trở về
để có thì giờ chung sống hạnh phúc với nhau. Doanh nghiệp
đang thành công khá nhiều. Frederick cứ lấy cớ là hiện
giờ không có ai trong doanh nghiệp có thể thay thế được
mình, mình là người duy nhất có thể điều khiển, hướng
dẫn được doanh nghiệp.
Nhưng
cái ước mơ không bao giờ được thực hiện vì Frederick đã
bị tai nạn xe hơi và chết đi lúc 51 tuổi. Chỉ 3 ngày
sau thì doanh nghiệp đó đã chọn được một viên giám đốc
mới. Trước đó thì nói là không ai có thể thay thế được
Frederick, nhưng khi ông chết rồi thì họ chỉ cần 3 ngày là
tìm ra một vị giám đốc mới.
Chúng
ta, người nào cũng muốn thành công trong sự nghiệp của mình.
Chính người đi tu cũng muốn thành công trong sự nghiệp tu
tập của mình. Chúng ta muốn đầu tư thì giờ và năng lượng
vào sự nghiệp của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta để cho tương
lai lôi kéo, không có được thì giờ và khả năng sống trong
giây phút hiện tại thì chúng ta không có thực sự sống.
Trong đạo Phật chúng ta được học:
Quá
khứ đã đi qua
Tương
lai thì chưa tới.
Sự
sống chỉ có mặt thực sự trong giây phút hiện tại.
Trong
bộ Trung A Hàm có ít là 6 Kinh nói về đề tài này:
Đừng
tiếc quá khứ
Đừng
lo lắng tương lai
Quá
khứ đã không còn
Tương
lai thì chưa tới
Kẻ
thức giả ẩn trú
Vững
chãi và thảnh thơi
Trong
giây phút hiện tại
Theo
tuệ giác đó thì quá khứ có thể là một nhà tù giam hãm
mình. Có những người không có khả năng sống trong giây phút
hiện tại tại vì người đó cứ nghĩ về quá khứ quá nhiều
đau thương hay quá nhiều hiển hách mà bây giờ không còn
nữa. Vì vậy quá khứ đã trở thành một nhà tù. Nó giam
hãm mình, không cho mình có khả năng sống trong giây phút hiện
tại.
Trong
giây phút hiện tại có những mầu nhiệm của sự sống, có
trời xanh, mây trắng, thông reo, có chim hót, hoa nở, có mặt
của người yêu, có những người thương của mình. Nhưng
nếu mình bị quá khứ giam hãm thì mình không tiếp xúc được
với sự mầu nhiệm đó của sự sống để được nuôi dưỡng,
chữa trị.. Mình cứ héo mòn trong khi mình luyến tiếc về
quá khứ.
Tương
lai cũng vậy. Tương lai có thể là một nhà tù nếu chúng
ta quá lo lắng sợ hãi về tương lai. Nếu chúng ta để hết
thì giờ để toan tính về tương lai thì chúng ta cũng không
có thì giờ để sống phút giây hiện tại. Chúng ta không
có thì giờ cho ta, cho bản thân ta. Ta không có thì giờ cho
những nguời thương của ta trong đó có vợ, chồng và
con ta. Tương lai ở đây đã trở thành một nhà tù. Nó muốn
chiếm độc quyền tất cả những năng lượng và những thì
giờ của chúng ta.
hiện
pháp lạc trú
Trong
các Kinh điển Phật giáo, ĐứcThế Tôn thường hay dùng cụm
từ dristadharma sukhavihara dịch ra tiếng Hán Việt là hiện
pháp lạc trú, có nghĩa là sống hạnh phúc ngay trong giây phút
hiện tại.
Ngày
xưa có một thương gia rất giàu có và thành công tên là Cấp
Cô Độc, một người đệ tử tại gia của Phật. Có một
lần ông đem tới mấy trăm người bạn trong giới doanh thương
để thăm Đức Thế Tôn. Cấp Cô Độc là thương gia một
giỏi, có tài và có một trái tim rất lớn, biết chăm sóc
lo lắng cho những người cùng khổ trong thành phố Xá Vệ.
Ông tuy rất bận rộn nhưng vẫn có thì giờ để đi nghe Phật
thuyết pháp mỗi tháng mấy lần. Ông cũng từng đem vợ con
tới nghe Phật thuyết pháp. Chính ông đã cúng dường cho Đức
Thế Tôn một sở đất mua được của thái tử Kỳ Đà để
làm tu viện cho các thầy năm đầu tiên Đức Thế Tôn tới
hành đạo ở Xá Vệ Quốc. Có một lần gặp thời buổi khó
khăn ông Cấp Cô Độc bị sạt nghiệp, nhưng ông không đau
khổ. Trong thời gian hành nghề ông giúp bao nhiêu là bạn bè
nên khi ông sạt nghiệp thì bạn bè tới giúp ông xây dựng
lại cơ nghiệp rất mau chóng. Cấp Cô Độc đã xây dựng
sự nghiệp của mình trên tình thương. Danh từ Cấp Cô Độ
không phải là tên của ông mà là do dân chug trong thành phố
thương quá đặt cho. Cấp Cô Độc là cấp dưỡng cho những
người cô độc không nơi nương tựa. Tên thiệt của ông
là Sudatta.
Hôm
đó Cấp Cô Độc đưa tới Đức Thế Tôn mấy trăm bạn
bè trong giới doanh thương. Trong dịp này Đức Như Lai đã
thuyết một Kinh cho giới doanh thương tên là Kinh Người Áo
Trắng. Người Áo Trắng là người cư sĩ. Trong Kinh Người
Ắo Trắng Đức Thế Tôn đã dùng tới 5 lần cụm từ “
hiện pháp lạc trú “ có nghĩ là quí vị có thể sống an
lạc hạnh phúc trong giờ phút hiện tại. Tôi nghĩ rằng các
vị doanh thương, các vị có sự nghiệp trong lãng vực thương
mãi, đầu tư, giáo dục, chính trị, đều nên đọc Kinh đó,
Kinh Người Áo Trắng.
Đức
Thế Tôn là một người sống đúng với những điều ngài
giảng dạy. Thí dụ như khi ngài đi thì từng mỗi bước chân
đều đem lại vững chãi, thảnh thơi, an lạc. Ngài không đi
như bị ma đuổi như phần lớn trong chúng ta. Ngài không đi
hấp tấp như chúng ta. Ngài đi rất khoan thai, thảnh thơi và
các thầy, các sư cô đệ tử của Đức Thế Tôn cũng học
đi như vậy. Mỗi bước chân đem mình tới phút giây hiện
tại để mình có thể tiếp xúc được với cái mầu nhiệm
của sự sống trong giờ phút hiện tại. Ví dụ như hai mắt
của mình, hai mắt khi mở ra thì có thể tiếp xúc được
với biết bao nhiêu là màu sắc, hình ảnh. Có một thiên đường
của màu sắc và hình ảnh đang có mắt trong phút giây hiện
tại. Chỉ cần mở mắt ra là ta có thể tiếp xúc được
với nét đẹp muông màu muôn vẻ của sự sống. Mùa Xuân
cũng đẹp, mùa Hè cũng đẹp, mùa Thu cũng đẹp mà chính mùa
Đông cũng đẹp. Nhưng nếu ta bị quá khứ ràng buộc, bị
tương lai lôi hút thì ta không có khả năng tiếp xúc với
những mầu nhiệm của sự sống trong giờ phút hiện tại.
Phương
pháp thiền hành , tức là phương pháp đi từng bước chân
vững chãi, thảnh thơi, là một trong những phương pháp chúng
ta có thể áp dụng để tập sống trở lại một cách sâu
sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.
không
bỏ sót một giây phút nào cả
Năm
2003 chúng tôi có tổ chức một khóa tu cho các dân biểu quốc
hội Hoa kỳ. Chúng tôi biết rằng đời sống của một dân
biểu quốc hội rất căng thẳng, rất bận rộn. Sau khóa tu
mọi người nắm được bí quyết thực tập. Khi thở mình
biết phải thở như thế nào để làm lắng dịu những đau
nhức trong thân và trong tâm. Khi bước đi thì mình biết phải
bước như thế nào để không bị quá khứ và tương lai lôi
kéo. Khi ăn cơm thì mình biết phải ăn như thế nào để mình
thực sự có mặt với thức ăn và với gia đình của mình.
Khi bước lên máy bay thì mình biết bước như thế nào để
có thể thưởng thức được những bước chân của mình.
Khi ngồi chờ ở phi trường thì mình biết phải ngồi chờ
như thế nào để những giây phút đó không phải là những
phút giây bỏ đi, có thể sống hạnh phúc ngay trong khi chờ
đợi chuyến bay của mình. Phải thừa hưởng tất cả những
giây phút của đời sống mà cuộc sống đã ban phát cho mình,
không bỏ sót một giây phút nào cả.
Trong
những khóa tu mà chúng tôi tổ chức cho thiền sinh Tây phương
thì chúng tôi chỉ hiến tặng, cung cấp những phương pháp
như vậy để cho họ có khả năng tháo gỡ những khó khăn,
bức xúc trong lòng, có thể làm lắng dịu những đau nhức,
những căng thẳng trong thân và trong tâm và có thể tập sống
trở lại như thế nào để mình có thể tiếp xúc được
với những mầu nhiệm của sự sống trong giờ phút hiện
tại để được nuôi dưỡng và chữa trị. Hiện giờ Capitol
Hill ( tức là trụ sở của quốc hội Hoa kỳ ) có những dân
biểu đang đi thiền hành. Có nhiều dân biểu sau khóa tu viết
thư cho tôi nói rằng sau khóa tu vài tháng họ vẫn thực tập
thiền đi ( thiền hành ). Trong khi đi thì để ý đến bước
chân và bước nào cũng đem mình trở về với giờ phút hiện
tại, đã về đã tới!, để mình có thể sống trong giờ
phút hiện tại mà không phóng tâm về tương lai. Các dân biểu
quốc hội từng tham dự khóa tu báo cáo rằng mỗi khi đi từ
văn phòng của họ tới phòng bỏ phiếu thì họ luôn luôn
áp dụng phương pháp thiền đi, không suy nghĩ về bất cứ
gì hết. Mình có quyết định bỏ phiếu cho ai rồi nên từ
văn phòng đi tới chổ bỏ phiếu thì không suy nghĩ nữa. Họ
tập đi những bước chân thảnh thơi, an lạc và buông thư.
Chúng
tôi cũng tổ chức những khóa tu cho cảnh sát, công an, các
luật gia, các vị luật sư chánh án, các người lo về an ninh
trong xã hội. Chúng tôi khám phá ra những người cai tù, cảnh
sát có rất nhiều căng thẳng trong thân tâm của họ. Số
người cảnh sát dùng súng tự tử đông hơn số cảnh sát
bị băng đảng bắn chết. Trong thân tâm của những người
cảnh sát đó có rất nhiều sợ hãi, căng thẳng. Quí vị
có thể tưởng tượng ra được những cảnh sát viên Hoa kỳ
rất đồ sộ đi từng bước chân thảnh thơi, an lạc ? Vậy
mà họ làm được ! Cố nhiên khóa tu rất khó, nhưng sau khi
thực tập năm bảy ngày thì có thể làm được.
Tôi
có người đệ tử là đại úy Cheri Maples, cảnh sát Hoa kỳ.
Cô này có văn bằng tiến sĩ luật và bây giờ đang lo huấn
luyện cho giới cảnh sát trong toàn tiểu bang Wisconsin.
Hiện cô đang điều khiển tất cả những cảnh sát thực
hành nhiệm vụ quản chế và phóng thích tù nhân có điều
kiện quản chế sau đó. Lần đầu tiên cô tham dự một khóa
tu tổ chức cho thiền sinh Tây phương. Cô được nghe nói rằng
mình có thể ôm một cây súng với tinh thần chánh niệm và
mình có thể sử dụng cây súng của mình với tình thương.
Sau khi tham dự khóa tu thì Cheri Maples, người cảnh sát đó
đã tháo gỡ được rất nhiều chán nản buồn bã. Khi mới
đi vào cảnh sát thì cô rất lý tưởng, muốn đem lại hòa
bình, hạnh phúc, an lạc cho dân. Nhưng vào trong nghề rồi
thì thấy điều này rất khó và cảm thấy mình bất lực.
Vì vậy cô bắt đầu uống rượu, hút thuốc, hư hỏng như
những người cảnh sát khác. Cô không tin vào nghề của mình
nữa, là một nghề có thể đem lại an ninh, hòa bình thật
sự cho dân. Mãi cho đến khi gặp được khóa tu thì cô mới
tìm ra được lý tưởng của mình. Chính cô Cheri Maples đã
giúp chúng tôi tổ chức một khóa tu cho giới cảnh sát, giới
cai tù, giới luật sư, chánh án tại tiểu bang Wisconsin.
Ban
đầu có những người phản đối : tại sao đem tôn giáo trộn
lẫn với chính quyền. Nhưng chúng tôi nói rằng khóa tu này
không dính gì tới tôn giáo hết. Người cảnh sát, công an
cai tù tới đây để học cách đi, đứng, nằm, ngồi, cách
thở để tháo gỡ những căng thẳng, khó khăn trong thân và
trong tâm. Chúng tôi không đốt nhang, lễ lạy, không tụng
kinh gì hết. Rốt cuộc thì mình mở được khóa tu. Chính
Cheri Maples đã đứng ra giúp tổ chức khóa tu đó ở thành
phố Madison Green Lake. Vị đại úy cảnh sát này ngồi thiền
rất giỏi, thở rất giỏi và bắt đầu huấn luyện cảnh
sát viên dưới quyền mình bằng phương pháp thiền. Sau đó
cô rất nổi tiếng và đã được những tiểu bang khác mời
tới để mở những lớp huấn luyện như thế. Từ đó đến
giờ Cheri Maples đã tổ chức được 400 khóa tu và những ngày
chánh niệm dành riêng cho giới cảnh sát. Ông thị trưởng
thành phố Madison cho phép đại úy Cheri Maples sử dụng một
căn phòng khá lớn trong tòa thị sảnh để làm nơi hướng
dẫn thực tập thiền ngồi, thiền đi, thiền thở, thiền
buông thư. Cheri Maples đã giúp thành lập bao nhiêu là nhóm
tăng thân thực tập theo đường hướng của Làng Mai mà cô
đã học được. Trong chuyến về thăm quê hương và hành đạo
lần thứ hai này của Tăng thân Làng Mai có đại úy Cheri Maples
đi theo. Tôi đã giới thiệu vị thiền sinh đặc biệt đó
cho các vị nhân sĩ trí thức tại thành phố Huế. Hôm nay
thì chỉ có một số ít vì hội trường của mình không
đủ lớn nên Cheri Maples không được tới tham dự sinh hoạt
này.
Quyền
lực và hạnh phúc
Phần
lớn chúng ta đều nghĩ rằng hạnh phúc được làm bằng danh
vọng, quyền lực, tiền tài. Chúng ta người nào cũng muốn
có thêm uy quyền, có thêm tiền bạc, có thêm danh vọng. Chúng
ta cứ tin rằng khi nào mình có nhiều danh lợi, nhiều tiền,
nhiều uy quyền thì mình có nhiều hạnh phúc. Tôi đã từng
gặp nhiều người có uy quyền rất lớn, có tiền bạc rất
nhiều, có danh vọng rất cao nhưng nỗi khổ niềm đau của
họ rất sâu sắc. Họ rất cô đơn. Có những người như
vậy đã tới thiền viện của chúng tôi để tu tập. Ví dụ
như William Ford, giám đốc hãng xe hơi Ford bên Mỹ là thế
hệ thứ tư của gia đình tỷ phú Ford, đã tới tu viện chúng
tôi tại thành phố Vermond để tu tập. Tôi có tặng cho ông
một cái chuông và chỉ cho ông cách thỉnh chuông để thở
mỗi ngày. Ông đã ngồi kể cho tôi nghe đời sống của những
nhà tỷ phú Mỹ. Họ rất là cô đơn. Họ có nhiều sợ hãi,
đau buồn. Họ rất chán nản cuộc sống.
Nếu
nói về uy quyền thì người nào có uy quyền bằng tổng thống
Hoa kỳ. Hoa kỳ là một đại cường quốc có một quân đội
rất mạnh, một nền kinh tế rất lớn. Nhưng nếu chúng ta
nhìn vào người của tổng thống Bush đương nhiệm thì chúng
ta thấy ông không phải là một người có hạnh phúc. Đối
với tổng thống Bush ông không có uy quyền để giải quyết
vấn đề ông đang gặp phải, vấn đề Irak chẳng hạn. Đó
là vấn đề nan giải cho ông. Quyền lực như vậy, quân đội
như vậy, tiền bạc như vậy, mà vấn đề Irak kông thể nào
giải quyết được, khạc không ra mà nuốt cũng không vào.
Quí vị rất may mắn không làm tổng thống Hoa kỳ. Nếu quí
vị làm tổng thống Hoa kỳ thì quí vị sẽ suốt đêm không
ngủ. Quí vị ngủ làm sao được khi biết rằng tại chiến
trường Irak mỗi ngày, mỗi đêm, con em mình đều chết. Con
số những người thanh niên Hoa kỳ chết ở Irak đã lên tới
ba ngàn mấy trăm người. Dân chúng địa phương Irak, nơi mà
mình muốn tới giúp đỡ đã chết cả triệu người. Tình
trạng Irak là một tình trạng rất là tuyệt vọng.
Nhà
văn hào Pháp Jean Jacques Rousseau đã nói: “ Những người có
quyền lực lớn nhất không bao giờ thấy mình có đủ quyền
lực:”. Điều này rất đúng. Mình có niềm tin là khi mình
có quyền lực nhiều thì có thể làm tất cả những gì mình
muốn làm, có thể mua được tất cả những gì mình muốn
mua: mua chức tước, mua địch thủ của mình, mua được tất
cả. Hể có quyền lực trong tay là mình có thể làm được
những gì mình muốn. Và hể có nhiều tiền bạc thì mình
sẽ có nhiều quyền lực. Mình phải xét lại niềm tin đó.
Trên thực tế chính bản thân tôi đã gặp những người có
quyền rất lớn, có tiền rất nhiều và có danh rất cao nhưng
mà đau khổ cực kỳ.
Trở
lại với đạo Phật, ta thấy trong đạo Phật cũng có nói
tới quyền lực, uy quyền. Cái uy quyền trong đạo Phật rất
khác. Nó là một loại năng lượng có thể đem lại rất nhiều
hạnh phúc cho mình và cho những người khác. Trong văn học,
đạo học, triết học Đông phương ta nói đến chữ Đạo
và chữ Đức. Đạo là con đường. Mỗi người chúng ta phải
một con đường tinh thần, một chiều hướng tâm linh trong
đời sống. Chúng ta là thương gia, là nhà chính trị, nhà
giáo dục, chúng ta phải có một chiều hướng tâm linh trong
đời sống hằng ngày. Nếu không có chiều hướng tâm linh
đó chúng ta không thể nào tháo gỡ được những bức xúc,
khó khăn, tuyệt vọng, mâu thuẩn trong lòng. Chúng ta không
thể nào thiết lập được sự truyền thông với những người
đồng sự, những người trong gia đình, trong sở làm, trong
cộng đồng của mình. Vì vậy mỗi người trong chúng ta phải
có Đạo. Đạo là một con đường tinh thần. Nếu thiếu một
con đường tinh thần thì chúng ta thiếu rất là nhiều dù
chúng ta có rất nhiều tiền, rất nhiều quyền năng, rất
nhiều danh vọng.
Còn
chữ Đức nữa. Đức là một năng lượng. Ngày xưa có người
dịch chữ Đức là vertu. Vertu là một đức hạnh. Có người
dịch là pouvoir. Pouvoir là một quyền năng. Trong đạo Phật
có 3 cái đức mà chúng ta có thể chế tác được. Người
tu là phải chế tác ra ba loại năng lượng. Người tu xuất
gia cũng như người tu tại gia đều phải tập chế tác ra
ba loại năng lương đó.
Thứ
nhất là đoạn đức. Đoạn là chặt đứt, cắt đứt tất
cả những đam mê, những thù hận, những tuyệt vọng của
mình. Nếu không chặt đứt những đam mê, hận thù đó thì
không thể nào có hạnh phúc được. Muốn chặt đứt những
hận thù, si mê đó thì phải biết cách, phải có một con
đường mới được. Phải có thầy, có bạn, có pháp môn
thực tập đành hoàng thì mới có thể chặt đứt được
những sợi dây đam mê và hận thù trói buộc mình. Khi chặt
đứt rồi thì mình trở thành một con người nhẹ nhàng, thanh
thản.
Mình
có một niệm đam mê thì mình khổ vì niệm đam mê đó. Các
ông các bà đã từng có kinh nghiệm rồi. Ca dao của mình nói
:
Vì
gì một áng bèo mây
Làm
cho bể ái khi đầy khi vơi
Đó
là vì có những đam mê mà mình sẽ lên xuống vì những đam
mê đó. Nếu mình muốn không lên không xuống, thẳng một
đường thì phải chặt đứt sự đam mê đó. Những hận thù
cũng vậy. Hận thù nung đốt tâm cang làm mình ăn không ngon,
ngủ không yên, tìm mọi cách để trả thù. Đó là địa ngục.
Đoạn đức là khả năng cắt đứt được tất cả những
thứ đó mà nếu không có con đường thì làm sao cắt được.
Đạo đem tới cái Đức.
Đức
thứ hai là trí đức. Trí đức là tuệ giác, tức là cái
thấy sâu sắc về sự thực. Trong đạo Phật giọ là Trí
tuệ Bát nhã. Trí đây không phải là kiến thức thâu lượm
được trong khi mình đọc sách hay trong khi học hỏi ở nhà
trường. Đó là kiến thức, không phải là Tuệ giác. Kiến
thức nếu biết sử dụng cũng có lợi, nhưng nếu mình
bị vướng vào thì nó là những chướng ngại cho tuệ giác.
Trong nhà Phật có thành ngữ là duy tuệ thị nghiệp, có nghĩa
là : sự nghiệp duy nhất của nhà tu là tuệ giác. Tuệ giác
ở đây là sự giác ngộ, là trí tuệ của Bụt, của Bồ
Tát. Nó có khả năng giúp mình cắt đứt phiền não và chế
tác được những tình cảm cao thượng như từ, bi, hỷ, xả.
Nếu hiểu duy tuệ thị nghiệp là sự chất chứa kiến thức
là mình đã hiểu sai thành ngữ đó. Duy tuệ thị nghiệp
có nghĩa là sự nghiệp duy nhất của mình là phát khởi tuệ
giác. Có tuệ giác rồi thì gỡ rối rất là mau. Mình tháo
gỡ những khó khăn của mình rất mau và giúp người khác
tháo gỡ khó khăn cũng rất mau.
Cũng
như vị lương y khi nắm vững nghệ thuật của sự chẩn bệnh
rồi thì bằng cách quan sát nghe ngóng, tìm ra được nguyên
do và tháo gỡ cho người bệnh một cách mau chóng bằng cách
cho một phương dược đúng với trường hợp đó. Nguồn năng
lượng thứ hai mà người tu phải chế tác là trí đức.
Đối với một người có tuệ giác thì tháo gỡ những vướng
mắc, những cái kẹt kia rất dễ. Còn mình vì không có tuệ
giác nên cứ đi vòng mà không bao giờ thoát ra được. Nhưng
nếu gặp được minh sư chỉ cho một cái thì mình ra khỏi
cái vòng luẩn quẩn kia liền lập tức. Cho nên cái đức thứ
hai, năng lượng thứ hai, mà người tu chế tác là trí đức.
Đức
thứ ba, uy quyền thứ ba, theo đạo Phật là Ân Đức. Ân đức
là khả năng tha thứ, thương yêu và chấp nhận. Khi mình có
khả năng tha thứ, thương yêu và chấp nhận thì trong lòng
mình là khỏe, hoàn toàn không có hận thù, không có trách
móc. Tình thương yêu, sự tha thứ đó biểu hiện trong mắt
mình, trong cách mình nhìn, trong cách mình nói năng. Khi mình
nhìn bằng con mắt thương, mắt từ bi, khi mình nói bằng lời
ái ngữ thì mình là người hưởng trước hết, tại vì nó
làm cho thân tâm thư thái. Khi người kia thấy ánh mắt của
mình, cảm thấy họ được tha thứ thương yêu thì người
đó tiếp nhận được của mình rất nhiều ân đức.
Trong
Kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn, nói về Đức Quan Thế Âm, có
năm chữ từ nhãn thị chúng sinh có nghĩa là lấy con mắt
thương yêu mà nhìn mọi người. Khi mình biết nhìn người
khác bằng con mắt tha thứ và thương yêu thì mình khỏe trước
nhất. Còn người kia cũng khỏe theo vì cảm thấy được thương
yêu, tha thứ. Mắt thương nhìn cuộc đời là một phép hành
xử rất tuyệt diệu của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, không
trách móc, không hận thù, chấp nhận, tha thứ và thương yêu.
Đó là cách nhìn. Còn cách nói là dùng ái ngữ, dùng ngôn
từ nhẹ nhàng, hòa ái để có thể giúp người thấy được
con đường đi, giúp họ thoát khỏi mê lộ mà họ đang vướng
mắc.
Khi
mình có ba cái đức đó : đoạn đức là cắt đứt những
đam mê, hận thù, trí đức là có được trí tuệ để hành
xử, tháo gỡ và ân đức là có khả năng chấp nhận, tha
thứ và thương yêu thì lúc đó danh vọng và tiền bạc trở
thành những dụng cụ rất tốt. Khi đó thì càng có nhiều
tiền càng tốt, càng có nhiều danh càng tốt, càng có nhiều
uy quyền càng tốt. Những thứ đó trở thành phương tiện
để giúp người, để độ đời rất hay.
hành
xử trên cơ bản của tình thương và trí tuệ
Đạo
Phật không lên án những người muốn làm giàu, những người
muốn thành công trong lãnh vực chính trị hay kinh tế. Nhưng
dạo Phật khuyên trong khi đeo đuổi sự nghiệp chính trị
hay kinh tế mình phải có một chiều hướng tâm linh. Mình
phải hành xử trên cơ bản của tình thương và trí tuệ.
Trường hợp ông Cấp Cô Độc, nhà thương gia trong thời Đức
Phật tại thế là một thí dụ điển hình.
Tạp
chí Fortune - tức Cơ Nghiệp – bên Mỹ, tạp chí của những
nhà doanh thương, mỗi năm cho ra danh sách 100 doanh nghiệp đứng
đầu trên thế giới và khuyên người ta nên đầu tư vào
đó. Đó là những doanh nghiệp đang trên bước đường thành
công. Khi mình nghiên cứu những doanh nghiệp đó thì mình thấy
có một điều chung là tất cả đang được dẫn dắt, tiến
hành với tinh thần tình thương. Những doanh nghiệp đó trong
khi tính tới chuyện đạt được mức lợi nhuận cao hơn vẫn
có đủ thì giờ để chăm sóc những người trong doanh nghiệp.
Chuyện tìm hiểu, chăm sóc những gia đình của công nhân trong
doanh nghiệp trở thành rất quan trọng, rất căn bản.
Giữa
chủ và người làm trong doanh nghiệp phải có sự truyền thông
tốt đẹp, phải nói chuyện được với nhau và phải hiểu
những khổ đau, khó khăn của nhau. Công nhân hiểu được
những khó khăn của chủ và chủ hiểu được những khó khăn
của công nhân. Hể công nhân làm được gì giúp cho chủ thì
làm và chủ làm được gì giúp cho công nhân thì làm. Những
vấn đề chăm sóc con nít, cứu trợ những gia đình thiếu
phương tiện y dược hay giáo dục được để tâm rất nhiều.
Vấn đề xã hội, tinh thần của tất cả thành phần trong
doanh nghiệp được quan tâm lo lắng. Phải biến doanh nghiệp
của mình thành ra một cộng đồng, một gia đình trong đó
người ta có thì giờ chăm sóc nhau, tìm hiểu nhau và nâng
đỡ nhau. Trong khi làm như vậy lợi nhuận đã không những
không bớt đi mà còn tăng thêm vì một người đồng lòng
với nhau ai cũng làm việc hết lòng của mình và tin nhau. Đó
là đạo đức trong doanh nghiệp.
Sự
thành công của những doanh nghiệp trong danh sách nêu lên đó
cho mình thấy một sự thật: những doanh nghiệp đó chú ý
đến phương diện tương trợ, tình thương. Nếu không có
tình thương thì doanh nghiệp chỉ tìm lợi nhuận mà thôi và
không thành công bằng những doanh nghiệp đi trên con đường
tình thương. Ngày xưa Cấp Cô Độc đã đi trên con đường
đó. Là một nhà doanh thương, một nhà chính trị mà có tình
thương thì mình trở thành một vị bồ tát. Mình có khả
năng cắt đứt những đam mê, những hận thù. Mình có trí
tuệ giúp đỡ những người đồng liêu, những người trong
tổ chức, trong doanh nghiệp. Mình có khả năng chấp nhận
và thương yêu, tha thứ những lỗi lầm của nhân viên, của
những người trong tổ chức của mình. Khi đó mình có một
uy quyền rất lớn gọi là uy quyền tinh thần.
Trong
đạo Phật khi làm thầy thì mình không được lạm dụng quyền
làm thầy của mình. Uy quyền của một ông thầy đối với
đệ tử không phải là tại vì mình làm chủ chùa, sư trưởng,
mà là tại mình có đoạn đức, trí đức và ân đức. Có
ân đức cho nên có uy quyền. Cái uy quyền của một ông thầy
trong đạo Phật là do từ bi mà ra chứ không phải là do nguyên
tắc: chủ chùa nói thì mọi người phải nghe theo, thầy nói
thì học trò phải nghe theo. Không phải như vậy!
Trong
lãnh vực chính trị, doanh thương cũng vậy. Cái uy quyền của
một chủ sở, người dẫn đạo phải được xây dựng trên
3 cái đức đó, tức là đoạn đức, trí đức và ân đức.
Lúc đó mình sẽ sử dụng địa vị, vị trí của mình một
cách đầy đủ, khéo léo và không tạo ra sự tan nát, đổ
vỡ. Nếu không có 3 cái đức thì quyền hành, tiền bạc sẽ
làm ung thối hết tất cả, kể cả cuộc sống của ngươì
chủ nhiệm hay người lãnh đạo. Vì vậy một chiều hướng
tâm linh rất cần thiết cho một nhà lãnh đạo dù trong lãnh
vực doanh thương hay trong lãnh vực chính trị. Trong đạo Phật
quí vị đã từng nghe Đức Thế Tôn dạy rằng chúng ta không
cần phải bươn chải về tương lai mới có hạnh phúc. Chúng
ta có thể có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Sự thành
công lớn nhất là chúng ta sống với tình thương trong giây
phút hiện tại. Chúng ta có thì giờ để chăm sóc cho chính
bản thân ta. Nếu bản thân ta có những đau nhức, những bực
bội, những giận hờn thì ta khổ và khi khổ thì tự động
ta làm cho những người chung quanh ta khổ trong đó có người
thương của mình. Phải có thì giờ cho bản thân rồi mới
có thì giờ cho người thương của mình, cho người trong cộng
đồng của mình. Vì vậy trở về với giây phút hiện tại,
đừng để cho tương lai cuống hút hết tất cả thì giờ
và năng lượng của mình, đó là điều rất quan trọng
mà chúng ta phải rút ra được từ trong đạo Phật. Trở về
như vậy không phải là chuyện dễ vì chúng ta đã có thói
quen, tập quán chạy về tương lai. Chúng ta phải chặn đứng
cái đà đó để trở về với từng bước chân, từng hơi
thở, để tập sống những giây phút trong đời sống hằng
ngày, sống cho sâu sắc, thảnh thơi, để tiếp xúc được
với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện
tại.
Trong
một thiền viện hay một trung tâm thực tập sự thực tập
căn bản là sử dụng ý thức của hơi thở, của bước chân
để đưa mình trở về với phút giây hiện tại. Ví dụ khi
nghe một tiếng chuông, quí vị ngưng hết mọi suy nghĩ, nói
năng, trở về với hơi thở, đem tâm trở về với thân và
quí vị có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Trong đời
sống hằng ngày rất nhiều khi thân mình ở đây nhưng tâm
mình đang phiêu lưu trong quá khứ hay trong tương lai. Tâm mình
không thực sự có mặt với thân. Mình không có mặt cho mình
thì làm sao mình có mặt cho vợ con, cho người thương của
mình được.
Những
phương pháp của đạo Phật rất thực tiển, rất rõ ràng
và không khó nếu mình có cơ hội để bắt đầu sự thực
tập. Tôi xin dành thì giờ còn lại để quí vị đặt một
số câu hỏi có liên quan đến chủ đề chúng ta đã đàm
thuyết hôm nay. Xin cám ơn quí vị đã lắng nghe.
Vấn
đáp:
Hỏi:
Thưa thiền sư, tôi xin nêu ra 2 câu hỏi :
-
Câu
thứ nhất là: Trong các đệ tử của thiền sư, tôi
rất ngạc nhiên khi thấy có nhiều loại người như linh mục,
mục sư, lãnh đạo cảnh sát v..v.. Nhưng khi làm đệ tử của
thiền sư thì những người đó vẫn giữ tôn giáo của mình
như mục sư, linh mục. Như vậy thì thiền sư giải thích cho
với phương thức huấn luyện của đạo Phật.
-
Câu
thứ hai là: Tôi biết thiền sư là bậc tu hành mà
còn là một học giả. Tôi có đọc một số tác phẩm của
thiền sư. Tôi thấy thiền sư đã làm một việc cho dân tộc
là tuyên truyền, giải thích đạo Phật Việt Nam cho thế giới
cũng như giáo sư Trần văn Khê đã tuyên truyền, giải thích
cho thế giới biết về âm nhạc Việt Nam. Vai trò học giả
đó rất lớn và với vai trò học giả thiền sư đã đóng
góp như thế nào trong sự phát triển đạo Phật của Việt
Nam.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Ngày xưa khi các vị truyền đạo
Cơ đốc giáo tới Việt Nam thì họ có khuynh hướng muốn
người Việt bỏ đạo gốc của mình như thờ cúng ông bà,
đạo Phật, để ôm lấy đạo mới. Điều đó đã gây ra
nhiều khổ đau. Trong thời gian chúng ta có nhiều thuyền nhân
cư trú tại các trại tị nạn ở Thái Lan hay Phi Luật Tân
cũng có những nhà truyền giáo tới muốn giúp đỡ và
cũng muốn dụ những thuyền nhân theo đạo của họ. Tôi thấy
cái đó không hay. Làm cho người nào mất cái gốc của mình
là tội lắm.
Khi
chúng tôi đem đạo Phật chia sẻ cho người Tây phương thì
chúng tôi khuyên họ đừng đánh mất gốc rễ, đừng bỏ
đạo của mình. Quí vị có thể tới với đạo Phật để
học hỏi những pháp môn, những phương pháp để tháo gỡ
những khó khăn trong thân, trong tâm để thực hiện được
tình thương lớn. Nhưng quí vị không cần phải bỏ đạo
gốc của quí vị tại vì chúng tôi nghĩ làm như vậy không
hay.
Ở
Tây phương giới bỏ đạo Cơ đốc mà đi rất đông tại
vì những truyền thống đó không làm mới, không đổi mới
kịp để cung cấp cho giới thanh niên những giáo lý, những
phương cách thực tập mà họ cần. Họ đã bỏ nhà thờ đi
rất nhiều. Trong số đó có rất nhiều người tới tu tập
với chúng tôi. Chúng tôi nói rằng truyền thống của quí
vị cần phải được làm mới, đổi mới lại. Sau khi tu tập
ở đây rồi quí vị có thể trở về nhà thờ để cải tổ
lại. Một quốc gia mà không có nền đạo dức tâm linh để
làm nền tảng thì quốc gia đó không trường cửu lâu dài.
Trước tiên phản ứng của các thiền sinh là họ thấy đạo
Phật rất bao dung, chấp nhận tất cả, ôm lấy tất cả mà
không loại trừ truyền thống nào. Tinh thần đó trong đạo
Phật gọi là xả, có nghĩa là không kỳ thị, không loại
trừ. Dịch tiếng Anh là Inclusivness (ôm lấy tất cả). Khi
mình có yếu tố xả thì thình thương đó mới là tình thương
cao cả nhất. Từ, Bi, Hỷ, Xả là bốn yếu tố của tình
thương đích thực mà xả là không kỳ thị, không phân biệt,
ôm lấy tất cả (equanimity).
Điều
trước tiên là người ta thấy đạo Phật rất đẹp, rất
bao dung, rộng mở. Vì vậy họ càng thương đạo Phật nhiều
hơn. Nếu mình nói quí vị phải bỏ đạo của quí vị mới
cho qui y thì nó không có Phật giáo lắm. Không có Phật giáo
lắm vì Phật giáo rất là rộng. Chúng tôi đã độ được
những linh mục, những mục sư mà lòng của họ vẫn còn thương
đạo gốc. Nhưng họ đã thực tập hết lòng vì trong đạo
Phật có những pháp môn rất cụ thể, rõ ràng để họ tháo
gỡ được những khó khăn, bức xúc của họ và giúp cho họ
độ đời được nhiều.
Tôi
nghĩ rằng đó là cái rất quí của đạo Phật. Nếu mình
có tinh thần rộng lượng bao dung như vậy thì không bao giờ
tạo ra chiến tranh. Tôn giáo nếu ôm lấy với một thái độ
độc quyền về chân lý, nói rằng chỉ có chân lý trong
truyền thống của chúng tôi mà thôi và các truyền thống
khác không có chân lý thì đó là mầm mống của chiến tranh
rất ác liệt. Cho nên đạo Phật là một đạo của hòa bình.
Trong khi giảng dạy đạo Phật mình phải làm sáng tỏ nguyên
tắc đó. Cho nên rất nhiều người Tây phương hâm mộ mà
đến với đạo Phật khi chúng tôi mở những khóa tu những
buổi giảng hàng năm ngàn, bảy ngàn người tới nghe thì những
người đó đâu phải là Phật tử. Những người đó phần
lớn là người gốc Cơ đốc giáo và Do thái giáo. Có một
lần chúng tôi giảng tại một nhà thờ ở Rom mà thính chúng
đi đông hơn là ngày Noel tại vì người ta đang đi kiếm một
cái gì cao cả, rộng mở và không có tinh thần kỳ thị.
Bây
giờ những nhà khoa học tìm nguồn cảm hứng trong đaọ Phật
rất nhiều, trong đạo lý tương tức, nhân duyên sinh, không,
vô tướng, vô tác. Trong thế kỷ 21 này có thể là một thế
kỷ mà các nhà khoa học gần gũi với đạo Phật rất nhiều.
Đó là một ý chúng tôi muốn hiến tặng để trả lời câu
hỏi đầu.
Câu
hỏi thứ hai thuộc về vấn đề học hành. Thật ra mỗi khi
có một khóa tu mới, thí dụ như khóa tu cho công an, cảnh
sát, dân biểu quốc hội, cho các nhà doanh thương, các nhà
môi trường học hay cựu chiến binh thì chúng tôi phải nghiên
cứu, học hỏi trước. Học hỏi trước để thấy những
khó khăn, đau khổ, bế tắc của giới đó thì chúng tôi mới
giảng dạy và hướng dẫn thực tập đúng. Vì vậy trong bao
nhiêu năm hành đạo ở Tây phương chúng tôi đã học rất
nhiều.
Nếu
quí vị không hiểu được giáo lý và cách hành trì của Do
thái giáo thì quí vị không thể hướng dẫn được như vậy.
Nếu quí vị không thấy được những bức xúc, khổ đau,
căng thẳng của giới doanh thương thì quí vị không thể nào
giảng dạy, chia sẻ và hướng dẫn tu tập thể giúp họ tháo
gỡ được những bức xúc, căng thẳng của họ. Do đó cho
nên mình phải học. Nhưng mình đâu cần phải học như những
sinh viên khác ở ngoài đời. Những ngành như khoa học, xã
hội học, tâm lý học người ta đã đúc kết thành những
sách rất là cô đọng. Nếu mình thực tâm muốn học thì
mình chỉ đọc vài ba cuốn cho thật hay trong lãnh vực đó
là mình có thể học được rồi. Mình không cần phải là
nhà học giả. Mục đích của người tu không phải là thành
một học giả. Mình chỉ cần biết đủ về lãnh vực đó
để có thể nói được cái ngôn ngữ đó và đưa người
ta đi vào con đường tinh thần được.
Nói
chúng tôi là là nhà học giả để truyền bá văn hóa Việt
Nam thì cũng không đúng lắm. Khi chúng tôi dạy ở đại học
Sorbonne về ngành bác ngữ học, sử học thì chúng tôi giảng
về lịch sử Phật giáo. Giảng dạy như vậy thì phải nghiên
cứu, cho nên nhân cơ hội đó chúng tôi viết được bộ Việt
Nam Phật giáo Sử luận, ký tên là Nguyễn Lang, Hồi đó tên
Nhất Hạnh bị cấm ở Việt Nam thành ra xuất bản dưới
tên giáo sư Nguyễn Lang. Hà nội có in, trong Nam cũng có in
một cuốn. Trong Nam cấm sách của Nhất Hạnh, không cho in.
Thầy Nhất Hạnh đi vận động hòa bình thân cộng. Đó là
danh từ họ gán cho tôi: hòa bình thân cộng.
Mục
đích của mình không phải là một nhà học giả, một sử
gia. Nhưng tôi viết Việt Nam Phật giáo Sử luận bên ngoài
giống như là một sử gia. Sự thật là tại vì mình giảng
dạy trong trường nên nhân cơ hội đó mình viết xuống luôn
những nghiên cứu của mình đề đàn em được thừa hưởng
chứ không có mục đích làm nhà học giả, sử gia gì hết.
Đứng
về các phương diện khác cũng vậy. Thiền mà chúng tôi chia
sẻ với Tây phương có gốc rễ ở Việt Nam, là thiền Tào
Khê, rồi thiền Khương Tăng Hội đến thiền Liễu Quán. Vào
thế kỷ thứ ba chúng ta có một thiền sư rất lỗi lạc tên
là thiền sư Tăng Hội, cha là người Sogdian (Khương Cư) và
mẹ là một cô gái Việt Nam. Khi cha mẹ mất rồi thì cậu
bé Khương Tăng Hội đi vào một ngôi chùa ở Bắc Ninh và
tu, sau trở thành một vị cao tăng vào thượng bán thế kỷ
thứ ba. Vị thiền sư đó dịch Kinh, chú giải Kinh điển ngay
tại Giao Châu. Sau đó ngài qua nước Ngô, thời Tam Quốc, để
hành đạo và trở thành một thiền sư giảng dạy thiền ở
Trung quốc sớm hơn tổ Bồ Đề Đạt Ma tới ba trăm năm.
Tôi có viết một cuốn sách nói về thiền sư Tăng Hội, kêu
gọi Phật tử Việt Nam nên thờ tổ Tăng Hội, ngài là tổ
thiền của Việt Nam, đã có những nhà họa sĩ, nghệ sĩ tạc
tượng, vẽ hình tổ Tăng Hội để thờ tại các chùa.
Ở
Việt Nam có Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên thỉ.
Tôi có được may mắn là sau khi được thọ huấn trong truyền
thống Đại thừa tôi có cơ duyên nghiên cứu trong dòng Phật
giáo Nguyên thỉ nên tôi khám phá ra rằng tổ Tăng Hội ngày
xưa đã từng dùng những Kinh Nguyên thỉ để giảng dạy về
thiền với con mắt phóng khoáng của Đại thừa. Cách giảng
dạy của chúng tôi là theo theo sát nguyên tắc của thiền
sư Tăng Hội, sử dụng những Kinh Nguyên thỉ, những Kinh mà
Đức Thế Tôn và các thầy, các sư cô thời đó sử dụng
hằng ngày nhưng với tầm nhìn phóng khoáng của Đại thừa.
Vì vậy mỗi khi tổ chức các khóa tu ở Tây phương thì thiền
sinh các tông phái khác tới rất đông. Họ cảm thấy rất
thoải mái vì đó là một nền Phật giáo phối hợp được
thiền Nguyên thỉ với thiền Đại thừa. Những Kinh căm bản
sử dụng trong sự thiền tập có mặt trong các hệ phái, có
trong Tạng Pali, Tạng Hán, Tạng Sanskrit và trong Tạng Tây tạng.
Chúng tôi đã phiên dịch, giảng dạy, chú giải những Kinh
thực tập thiền căn bản như Kinh Quán niện hơi thở, Kinh
Tứ niệm xứ, Kinh Người biết sống một mình. Những Kinh
đó là những Kinh tuy tôi không nói ra tối hôm nay nhưng tinh
thần của bài nói chuyện hôm nay được căn cứ trên tuệ
giác của những Kinh đó.
Mục
đích của chúng tôi thực sự không phải là truyền bá văn
hóa Việt Nam trên thế giới mà là muốn giúp cho người bớt
khổ bằng cách chia sẻ phương pháp tu tập. Do đó họ biết
tới thiền, các phương pháp tu tập có gốc rễ từ Việt
Nam. Nói như vậy để quí vị thấy rõ mục đích của tôi
đi ra ngoại quốc không phải là để truyền bá văn hóa Việt
Nam tại quốc ngoại. Chúng tôi chỉ muốn giúp người thôi
và đó là phó sản của công việc, tự nhiên được tiếng
là đem văn hóa Viện Nam truyền bá ở quốc ngoại. Đó là
chuyện dĩ nhiên nó tới mà thôi chứ không có chủ ý như
vậy. Khi đi ra ngoại quốc để kêu gọi tôi chỉ xin đi 3
tháng thôi. Ông giám đốc công an ở Sài gòn hỏi: “ Thầy
đi qua đó để làm gì?. Thầy làm gì cũng được, miễn là
đừng kêu gọi hòa bình thì thôi !.” Tôi nín khe, tại vì
mục đích của tôi qua đó là để kêu gọi chấm dứt chiến
tranh. Qua đó thì tôi kêu gọi hòa bình, làm thế nào để
chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Vì vậy họ không cho tôi
về nước nữa. Không thể nói tôi đi ra là để truyền bá
văn hóa Viện Nam ở ngoại quốc. Đi ra là nghĩ chỉ đi có
3 tháng. Ai dè phải ở luôn đến 40 năm.
Sụ
thật là trong thời gian ở nước ngoài mình phải làm một
cái gì đó với tư cách một ông thầy tu để giúp đỡ. Nếu
giúp người Việt chưa được thì giúp người Tây phương,
vậy thôi. Tự nhiên sinh ra chuyện là mình có chủ đích đem
văn hóa Việt Nam ra truyền bá ở nước ngoài. Việc đó xẩy
ra tự nhiên chứ không phải mình có chủ đích. Xin thưa thiệt
với quí vị.
Hỏi:
Kính thưa thiền sư Nhất Hạnh và các vị nhân sĩ trí thức
thành phố Đà nẵng, tôi xin hỏi hai câu:
-
Câu
thứ nhất: Trong chuyến đi này thiền sư đã tới thành
phố Đà nẵng có nhận định gì về sự phát triển của
thành phố trong có có Phật giáo tại thành phố Đà nẵng.
-
Câu
thứ hai : Thiền sư có thể vận động mở thư viện hoặc
tu viện taị thành phố Đà Nẵng cho mọi người trong đó
có hàng xuất gia, tại gia kể cả nhân sĩ trí thức của thành
phố Đà Nẵng theo tinh thần Phật giáo, góp phần xây dựng
thành phố có nếp sống văn hóa, văn minh theo chỉ thị của
thành phố Đà Nẵng gồm có “ năm có và ba không “. Xin
hết.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Đà Nẵng đã đẹp lắm rồi, sạch
rồi, xanh rồi, tốt lắm rồi. Đà Nẵng đã phát triển rất
mau và rất tốt. Nhưng mà mình biết được những phát triển
kinh tế, kỹ thuật nó đi song song với sự phát triển những
tệ nạn của xã hội như ma túy, băng đảng, tự tử, mãi
dâm thì nên phòng ngừa trước. Cho nên những công tác đứng
về mặt luân lý, đạo đức cần phải được kế hoạch
hóa rất kĩ lưỡng. Các vị nhân sĩ, thân hào cũng như các
thầy, các sư cô cần phải ngồi lại với nhau để tìm ra
những kế hoạch rất cụ thể hầu ngăn chận những tệ nạn
đó đừng cho phát triển sinh sôi nẩy nở với tốc độ như
bây giờ. Đó là điều tôi có thể chia sẻ.
Điều
thứ hai có thể dính líu tới đạo Phật của mình. Đạo
Phật tuy lâu đời nhưng cần phải làm mới lại. Nếu không
nó không đủ sức thực thi được sứ mạng của nó trong
hiện tại. Cách chúng ta học Phật, cách chúng ta thực tập
phải được đổi mới lại, phải được làm mới lại. Cái
học của chúng ta còn đang quá lý thuyết. Phật giáo của
chúng ta đa số còn thực tập trên phương diện tín ngưỡng,
kính mộ, cầu nguyện, bái sám. Cái đó rất quan trọng nhưng
đạo Phật không phải chỉ có phần tôn giáo tín ngưỡng.
Nếu ta chọc thủng được cái vỏ tôn giáo tín ngưỡng ta
sẽ đi vào trong cái ruột của đạo Phật. Đó là một nguồn
tuệ giác rất lớn tiếng Anh dịch là Insight. Với tuệ giác
đó chúng ta cống hiến cho đất nước, quê hương một con
đường đi tới văn hóa thực sự, văn minh thực sự, đi tới
sự hài hòa hưng thịnh của một quốc gia.
Trong
quá khứ đời Lý, Trần, các vua đã tu tập. Các vua Lý, Trần
đều có tu tập thiền, thiền công án chứ không phải lễ
lạy, bái sám không. Quí vị cũng biết như chúng tôi thời
đại đó là những thời đại thịnh nhất trong lịch sử
Việt Nam, những thời đại có rất nhiều tình thương và
sự hiểu biết. Giữa vua và tôi có sự liên hệ rất mật
thiết, không có sự chia cách.
Nếu
đạo Phật đã đóng được một vai trò như vậy trong quá
khứ, làn cho dân hùng nước mạnh, đánh đuổi quân xâm lăng
một cách rất dễ dàng thì đạo Phật cũng có thể phụng
sự đất nước theo đường lối đó trong hiện tại và trong
tương lai.
Muốn
được như vậy thì ta phải hiện đại hóa đạo Phật, phải
làm mới, đổi mới đạo Phật trong cách học hỏi, giảng
dạy và thực tập, nghĩa là chnúg ta phải sử dụng được
phần thâm uyên nhất của đạo Phật vốn là phần tuệ giác.
Còn đứng về phương diện sinh hoạt Phật giáo, chúng ta thấy
là bây giớ đa số chúng ta thực tập tín ngưỡng, bái sám,
cúng dường mà thôi. Tuy cái đó rất quan trọng nhưng nó chưa
phải là tất cả của Phật giáo. Chúng ta nên thành lập những
Tòng lâm, đào tạo những người xuất gia mới, những vị
tại gia mới có khả năng hướng dẫn những người thanh niên
tu tập để họ có thể tháo gỡ những khó khăn, bức xúc
của họ và trong gia đình họ. Đó là chuyện rất cần.
Với
tư cách là Đạo tràng Mai thôn chúng tôi nghĩ là chúng tôi
có thể đóng góp một phần nào trong vấn đề này. Nếu các
vị hòa thượng, thượng tọa ở đây, trong trường Trung cấp
Phật học hay trong Học viện Phật giáo thấy rằng để ngăn
chận cái đà hư hỏng của thanh niên, trong đó có thanh niên
tăng, ni, thì chúng ta cần nên lập ra những Tòng Lâm lớn
trong đó có thể có 500 thầy hoặc 1.000 thầy tu học được
đào tạo theo phương pháp này để họ có thể hướng dẫn
tu tập cho quần chúng.
Họ
có thể giúp những gia đình trong thôn xóm hay trong khu phố
đã lung lay được chấn chỉnh lại, giúp cho vợ có thể
nói chuyện lại được với chồng, con nói chuyện được
với cha, để người trẻ không đi ra ngoài tìm sự khuây khỏa
rồi rơi vào hầm hố của những băng đảng ma túy, của những
tà dục, của sự tự tử. Đó là sứ mạng của đạo Phật
ngày hôm nay.
Chúng
tôi có thể gửi về một số các vị Giáo thọ để giúp
các vị tôn đức ở đây trong việc đào tạo một thế hệ
tăng sinh mới có khả năng làm được công việc đó. Tôi
nghĩ rằng đất nước đang trông chờ sự vùng mình thoát
xác làm sống dậy năng lượng của đạo Phật ngày xưa trong
thời Lý và Trần.
Hỏi:
Kính thưa thiền sư. Từ đầu buổi tới giờ được nghe thiền
sư giảng về thiền. Theo nhận thức tôi hiểu được về
thiền, không biết đúng hay sai, tôi nghĩ rằng thiền chỉ
dùng cho những người có nỗi khổ, bất hạnh hay những người
nhàn rỗi mới thiền. Còn hiện tại những người lao động,
học tập, sinh hoạt bình thường thì cần phải biết nghĩ
về quá khứ để biết cần phải làm gì tốt ở hiện tại
và hướng tới tương lai. Người ta nói “ biết ước mơ
mới làm nên sự nghiệp “. Trong thiền thì nói rằng “giải
thoát quá khứ và tạm thời cắt đi những suy nghĩ tương
lai” thì đối với những con người biết lo nghĩ cho cuộc
sống xã hội, cho bản thân về tương lai thì có nên ngồi
thiền hay không.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh:Chúng ta có thể học hỏi được rất
nhiều từ quá khứ. Chúng ta phải xét lại quá khứ, phải
nghiên cứu quá khứ và học hỏi từ quá khứ. Nhưng điều
đó không có nghĩa là để cho bị quá khứ giam hãm. Hai cái
đó hoàn toàn không dính gì tới nhau. Trong khi nghiên cứu,
học hỏi về quá khứ, chúng ta có thể thiết lập thân tâm
chúng ta vững chãi trong giây phút hiện tại. Chính vì chúng
ta thiết lập thân tâm vững chãi trong thế giới hiện tại
nên ta mới có khả năng học hỏi, nghiên cứu về quá khứ.
Nếu không chúng ta chỉ mơ tưởng hoặc bị ám ảnh về quá
khứ mà thôi. Đau khổ về quá khứ không giúp gì hết
trong khi nghiên cứu, học hỏi về quá khứ thì có ích lợi
rất nhiều.
Đối
với tương lai cũng vậy. Nếu ta ngồi đó mà lo lắng, sợ
hãi, bất an với tương lai thì chúng ta chỉ làm cho tương
lai nó hư thêm mà thôi. Chúng ta có quyền làm dự án cho tương
lai, sắp đặt cho tương lai. Nhưng làm dự án, sắp đặt cho
tương lai không có nghĩa là bị tương lai làm cho mình hoảng
sợ, lo lắng. Hai đó rất khác nhau. Quí vị cũng biết rằng
tương lai được làm bằng chất liệu hiện tại. Tuơng lai
được làm bằng cái gì nữa nếu không phải là bằng hiện
tại. Nếu ta biết xử lý hiện tại bằng tất cả tâm huyết
và khả năng của chúng ta thì đó là ta đã làm tất cả cho
tương lai rồi. Nếu quí vị không an trú trong hiện tại, nếu
quí vị không có khả năng xử lý được hiện tại bằng
tất cả tài năng và tâm huyết của mình mà chỉ lo lắng,
sợ hãi, mơ ước về tương lai thôi thì quí vị sẽ không
có tương lai. Chắc chắn là như vậy. Mơ ước thì không cần
phải là 24 giờ đồng hồ mỗi ngày, mơ ước chỉ là 1 phút
là được rồi. Mơ ước không không đủ, phải hạ thủ công
phu, phải đặt nền tảng cho tương lai ngay trong phút giây
hiện tại. Đặt nền tảng cho tương lai trong phút giây hiện
tại không có nghĩa là ngồi đó lo lắng, sợ hãi về tương
lai. Quí vị đừng để bị danh từ làm cho lầm. Nếu mà quí
vị không có khả năng ngồi thiền tức là ngồi trong phút
giây hiện tại, quí vị không đem tâm trở về với thân,
quí vị không biết những gì xẩy ra trong giây phút hiện tại
thì quí vị không thể nào xử lý được phút giây hiện tại.
Thiền
là gì? Thiền không phải là cái quí vị có thể tưởng tượng
đâu ! Thiền là phải có mặt trong giây phút hiện tại. Hồi
nãy tôi có đưa ra một hình ảnh là cái thân ở đây
mà cái tâm nó phiêu lưu ở chổ khác. Những lúc đó mình
không có mặt, không có mặt cho vợ mình, chồng mình, anh,
em mình, dân tộc mình, tổ quốc mình. Đó là ngược với
thiền. Thiền là đem tâm trở về với thân, nghĩa là có mặt
trong giây phút hiện tại, có mặt để xử lý, bảo quản,
lo lắng để lập kế hoạch. Nếu mình không có mặt ở đó
thì ai là người chăm sóc cho hiện tại ?. Trong hiện tại
có những nhu yếu, ví dụ mình có những đau nhức khó khăn,
người thương của mình có những đau nhức, khó khăn. Nếu
mình không có mặt trong giây phút hiện tại thì làm sao mình
có thể giúp được mình và giúp được người kia.
Cho
nên thiền trướchết là phải có mặt trong giây phút hiện
tại. Có mặt trong giây phút hiện tại có nghĩa là không bị
quá khứ giam hãm, không bị tương lai hút hồn. Nó rất cần.
Tất cả chúng ta đều phải ngồi thiền. Ngồi thiền không
phải ngồi đó để mà suy nghĩ tới những chuyện siêu hình
viễn vông. Trong chữ Niệm tiếng Hán có chữ Kim ở trên và
chữ Tâm ở dưới. Tâm là giây phút hiện tại. Tâm là tim.
Tim của mình trở về với giây phút hiện tại là Niệm, là
có mặt. Mình có mặt cho những người thương của mình, cho
đất nước mình, cho quê hương mình.
Nếu
mình bị quá khứ ám ảnh, bị tương lai cuốn hút thì làm
sao mình xử lý được giây phút hiện tại vốn là chất liệu
để làm ra tương lai. Nó đơn giản như vậy. Nó không có
gì là khó hiểu hết. Cho nên nói ngược lại, nếu không ngồi
thiền được thì mình không làm đưọc gì hết. Các nhà chính
trị, nhà kinh tế cũng vậy. Ngồi thiền trước hết là có
mặt, ngồi yên và khi mình tĩnh lặng rồi thì mình sẽ
thấy được sự thật và mình sẽ có những dự án, những
hành động phù hợp với sự thật để có thể giải quyết
được những vấn đề của sự thật.
Pháp
môn hiện pháp lạc trú rất quan trọng: Trở về với giây
phút hiện tại, sống an lạc, hạnh phúc trong giây phút đó
để được nuôi dưỡng, trị liệu và để có cơ hội
xử lý những vấn đề của hiện tại. Nếu xử lý được
vấn đề của hiện tại thì ta sẽ có tương lai.
Hỏi:
Kính thưa thiền sư thật là một hạnh phúc lớn lao cho con
được dự thính hôm nay trực tiếp với thiền sư và được
nghe những lời giảng giải vô cùng thực tế, thấm vào lòng
người cũng như kiến thức kinh nghiệm sống. Con đã từ Canada
về đây được hân hạnh thì đó là một hạnh phúc vô vùng
lớn lao rồi. Con xin hỏi một câu xin được thiền sư giải
thích:
- Bữa
nay thiền sư nói về hạnh phúc hiện tại. Thiền sư nói quá
khứ là một nhà tù. Phải quên quá khứ đi. Con cũng đồng
ý một phần là mình lấy quá khứ làm kinh nghiệm cho hạnh
phúc hiện tại, Những điều tốt thì tiếp tục, những đau
khổ luyến tiếc thì bỏ qua.
Người
ta cũng đã nói rằng: Ce qui passe c´est passé. Ce qui reste
c´est le souvenir (Cái gì đã qua thì để cho nó qua, cái gì
còn lại là kỷ niệm) . Thôi thì đừng luyến tiếc nữa.
Sống với hiện tại thì mình cũng cố gắng sống từng ngày
từng giờ cho cá nhân mình thoải mái hạnh phúc. Như thiền
sư nói khi mình hạnh phúc thì mình tạo hạnh phúc cho những
người chung quanh mình. Trước đây con cũng đã băn khoăn cho
cuộc sống cá nhân của mình. Con là người nghĩ tới tương
lai hơi nhiều, tức là mình có nhiều hoài bão. Khi con nghĩ
và chuẩn bị cho tương lai thì con thấy con hạnh phúc lắm,
con nghĩ rằng là con sẽ thành công. Điều đó đem lại sự
tốt đẹp một phần cho cá nhân, một phần cho những người
thương yêu và một phần cho dân tộc thì con thấy con hạnh
phúc lắm. Chứ nếu con nghĩ rằng : Ok , Bây giờ con sống
cho thoải mái bây giờ thì cái đầu con nó bị giới hạn
ở cái hiện tại này. Như thiền sư đã dạy : Chuẩn bị
kỹ càng cho tương lai nhưng đừng quên hiện tại, thưa thiền
sư có phải như vậy không ạ. Lo tương lai nhưng không phải
lo hết cho tương lai để tương lai thành cái nhà tù giam hãm
mình lại mà quên cái hiện tại hạnh phúc mình đang có và
có thể mình sẽ tạo cho nó có. Vậy thưa thiền sư là
vẫn đừng hoài niệm quá khứ, nhất là quá khứ đau buồn,
nó chặn đứng bước tiến trong hiện tại nhưng vẫn chuẩn
bị tốt cho tương lai để mà mình cũng sung sướng có nhiều
hy vọng và đừng quên hiện tại. Con xin hết lời.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi thấy chuyện mơ ước tương lai
với chuyện thiết kế cho tương lai là hai cái có khác nhau,
một bên rất thực tế, rất khoa học, một bên là sự chạy
trốn. Có thể là trong hiện tại mình có những khó khăn,
buồn phiền, khổ đau và mình muốn chạy trốn hiện tại
đó. Nghĩ tới tương lai, mơ ước tương lai là một liều
thuốc mê, một liều thuốc thoa dịu. Nó có thể có hiệu
quả trong chốc lát để mình tạm quên. Nhưng nói nó là liều
thuốc có thể chữa trị tận gốc những vấn đề, những
khó khăn trong hiện tại thì không được. Sống trong hiện
tại mà có hạnh phúc trong hiện tại chuyện đó tập mới
làm được, phải tập mới làm được. Khi bước những bước
chân thảnh thơi mà bước nào cũng có an lạc, hạnh phúc,
chuyện đó phải tập mới làm được. Trong khi mình nói bước
mau đi, mau đi tới chổ đó rồi mới thật sự có hạnh phúc
thì lúc đó mình đang đau khổ trong giây phút hiện tại và
mình lấy tương lai làm viên thuốc an thần để cho bớt đau
khổ trong giây phút hiện tại.
Cho
nên mình phải tự vấn lòng mình. Sống hạnh phúc trong giây
phút hiện tại là chuyện có thể làm được. Nhưng nếu mình
không có pháp môn tu tập thực tế thì mình sống không
được đâu ! Khi trong hiện tại mình có hạnh phúc thì mình
biết rằng những giây phút hạnh phúc trong hiện tại đó
là nền tảng cho những giây phút hạnh phúc trong tương lai.
Nếu trong hiện tại mình không có hạnh phúc thì sức mấy
mà mình có được hạnh phúc trong tương lai. Xin nhớ điều
đó dùm tôi: Hiện tại mà không có hạnh phúc thì sức
mấy mà có hạnh phúc trong tương lai.
Tôi
cũng nói với các bạn tu Tịnh độ. Tịnh độ là một cõi
an lạc hạnh phúc. Có những người trong chúng tôi nghĩ rằng
cõi đó chỉ có trong tương lai mà thôi, chỉ có bên phía trời
Tây mà thôi. ( Tây này là Tây phương Cực Lạc Thế giới
chứ không phải là Âu châu, Mỹ châu đâu ). Có những người
tu Tịnh độ, nhất là những người mới bắt đầu tu tin
rằng cõi Tịnh độ đó ở trong tưong lai nghĩa là khi chết
rồi thì mình mới về đó. Mình đi về hướng Tây, Tây phương
CựcLạc Thế giới. Nhưng có người tu Tịnh độ lâu rồi
thì họ đi sâu hơn. Họ tìm ra được cái tuệ giác Duy Tâm
Tịnh Độ, nghĩa là Tịnh độ không nằm ở phương Tây hay
phương Đông mà nằm ở ngay trong trái tim mình. Di Đà là Tự
Tánh của mình và Tịnh độ phát sinh ra từ trái tim của mình.
Vì
vậy khi mình tu Thiền mà tu cho đàng hoàng thì cũng giống
như tu Tịnh độ. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ
cười, mỗi cái nhìn đều có thể đem đến hạnh phúc cho
mình trong phút giây hiện tại. Nếu mình làm đuợc như vậy
thì Tịnh độ có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Đó là
Hiện pháp Tịnh độ, Tịnh độ Hiện tiền. Đó là mình đạt
tới được Thiền Tịnh nhất như. Thiền không khác với Tịnh
nữa. Thiền và Tịnh đi đôi với nhau rất là tuyệt hảo.
Một bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười, mỗi lời
nói, mỗi cái nhìn đều đem mình về Tịnh độ Hiện tiền.
Phương
pháp của chúng tôi là đi như thế nào để mỗi bướcchân
đưa mình vào Tịnh độ, đừng đưa về cõi Ta bà cho khổ.
Mỗi khi mình thực tập thiền đi thành công rồi thì dại
gì mình bưóc ra cõi Ta bà chi nữa. Mình chỉ đi trong cõi Tịnh
độ thôi. Tịnh độ bây giờ và ở đây. Đức Thế Tôn dù
ở đâu ngài cũng không hề lìa cõi Tịnh độ của ngài. Vậy
thì cái Tịnh độ đó là cái Tịnh độ có thể có mặt trong
giây phút hiện tại. Nếu mình có thể sống được những
giây phút tịnh độ trong hiện tại thì chắc chắn tương
lai Tịnh độ sẽ có mặt. Còn nếu bây giờ không có Tịnh
độ thì chưa chắc. Nếu bây giờ mình sống những giây phút
Tịnh độ, mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười
đều phát hiện Tịnh độ thì tương lai mình nắm Tịnh độ
trong tay. Còn nếu bây giờ mình cứ đau khổ dài dài, đêm
khổ ngày khổ và cứ tưởng tượng nếu mình chết đi thì
mới về Tịnh độ thì chuyện đó không có chắc. Tôi xin
nhắc lại lới nói hồi nãy : Không có khả năng sống hạnh
phúc trong giây phút hiện tại thì sức mấy mà có hạnh phúc
trong tương lai.
Xin
cám ơn liệt vị.
