ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007

NGƯỜI THƯƠNG CỦA TÔI MẤT RỒI
TÔI PHẢI ĐI TÌM Ở ĐÂU (PHẦN MỘT)
Tháng 03 2007 - Chân An Tịnh và Chân Giác Lưu biên tập
Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 16 - 03 - 2007 
tại chùa Vĩnh Nghiêm - Sài Gòn trong Đại lễ Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn  Âm thanh MP3 : Phần 1 (11MB)    Phần 2 (6MB)

Kính thưa Đại chúng,

Hôm nay là ngày 16 tháng 3 năm 2007, chúng ta đang ở tại chùa Vĩnh Nghiêm trong Đại Trai Đàn Giải Oan Chẩn Tế Bình Đẳng. Hôm nay là ngày đầu của Đại Trai Đàn. Đề tài của buổi  thuyết giảng của hôm nay là:

Người thương của tôi mất rồi, tôi phải đi tìm ở đâu ?” 

Người thương tôi chết tôi phải đi tìm người đó ở đâu? Chúng phải lắng lòng và cùng quán chiếu để có thể thấy được.

Ví dụ như khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống đất và nếu có trận mưa thì trong năm ngày hay bảy ngày, hạt bắp sẽ nẩy mầm và sẽ lên một cây bắp. Mười ngày sau đó, chúng ta thấy được một cây bắp non, hai lá hay là ba lá và nhìn kỹ thì không có thấy hạt bắp nữa. Bây giờ đây thay vì thấy hạt bắp thì mình thấy một cây bắp con và mình nói hạt bắp đã chết rồi. 

Kỳ thật hạt bắp không có chết! Hạt bắp đã trở thành cây bắp con. Nó thay hình đổi dạng. 

Nếu mà nhìn cho kỹ, nhìn bằng con mắt của người Phật tử, nhìn bằng con mắt của người biết tu, biết quán chiếu, thì khi mình thấy cây bắp non, mình cũng có thể thấy được hạt bắp ngày xưa đang có mặt trong cây bắp non đấy. 

Nó chưa chết! Nó vẫn còn tiếp tục ở trong cây bắp non và nó thay hình đổi dạng. 

Chúng ta cũng vậy. Khi chúng ta nhìn vào trong thân thể chúng ta, mà nhìn cho thiệt kỹ, thì chúng ta thấy cha ở trong ta, mẹ ở trong ta. Có thể cha ở ngoài mất rồi, mẹ ở ngoài mất rồi. Nhưng cha trong ta và mẹ trong ta vẫn còn sống, vẫn còn tiếp tục, tại vì mình là sự tiếp nối của cha, mình là sự tiếp nối của mẹ. Mình đang mang cha và mẹ đi vào trong tương lai. 

Khoa học cũng nói như vậy. Tất cả những cái „gen“ của cha và  mẹ đang có ở trong từng tế bào cơ thể của mình và vì vậy cho nên khi mình thở vào thì cha cũng thở vào với mình. Khi mình thở ra thì mẹ cũng thở ra với mình. Đây là một chuyện hết sức khoa học. 

Nếu mình buồn khổ thì cha mẹ trong mình cũng buồn khổ, nếu mình nhẹ nhàng khỏe khoắn thì cha mẹ ở trong mình cũng nhẹ nhàng khỏe khoắn. Cho nên mình sống như thế nào, mình phải tu tập như  thế nào để mình có sự nhẹ nhàng khỏe khoắn và cha mẹ trong ta cũng được nhẹ nhàng, khỏe khoắn. Mình là một đứa con có hiếu. Nếu mình giận dữ, mình buồn tủi, mình khổ đau thì là cha trong mình cũng giận dữ, buồn tủi, khổ đau, mẹ trong mình cũng giận dữ buồn tủi, khổ đau.

Nhưng nếu mình mỉm cười hoan hỷ được, thì cha ở trong mình cũng mỉm cười hoan hỷ, và mẹ ở trong mình cũng có thể mỉm cười hoan hỷ được. Mình như thế là một đứa con có hiếu. Cái sự thật là : chúng ta là sự tiếp nối của cha, của mẹ và của ông bà, tổ tiên. Mình tưởng rằng ông bà tổ tiên đã mất rồi, không còn nữa, nhưng kỳ thật ông bà tổ tiên vẫn đang còn ở trong ta, ở trong mình và mình mang tất cả ông bà tổ tiên dòng họ và cha mẹ mà đi vào trong tương lai. Mình cũng sẽ trao truyền tất cả tổ tiên ông bà cha mẹ cho con của mình và cho cháu của mình. Đó là con cháu huyết thống. Mình trao truyền tổ tiên, ông bà, cha mẹ cho con cháu huyết thống. 

Khi đi xuất gia thì mình sẽ không có con cháu huyết thống nữa, nhưng mình có con cháu tinh thần. Và khi mình có đệ tử, và đệ tử của đệ tử thì đó cũng là một loại con cháu và con cháu này gọi là dòng họ tâm linh. Mình cũng trao truyền tất cả những sự tu học, thành đạt, an lạc, hạnh phúc, giải thoát của mình cho đệ tử và đệ tử của đệ tử.

Vì vậy cho nên trong người đệ tử có thầy và mỗi khi người đệ tử đó nói một câu dễ thương thì thầy trong người đệ tử cũng đang nói một câu dễ thương. Nếu người đệ tử nói một câu khó thương thì thầy trong người đệ tử cũng nói một câu khó thương. Người đệ tử đó là không có hiếu với thầy. Nếu người đệ tử có tu học, biết thở vào cảm thấy khỏe, thở ra cảm thấy nhẹ thì đó là người đệ tử đang  làm cho thầy mình hạnh phúc. Nếu mình tu học thành công, mình có sự thảnh thơi, giải thoát, lòng từ bi nhiều thì mình sẽ trao truyền được những cái đó cho các đệ tử và đệ tử của đệ tử mình. 

Vì vậy cho nên chúng ta có hai gia đình. Một là gia đình huyết thống và một cái là gia đình tâm linh. Nếu thiếu một gia đình thì nó còn thiếu nhiều. Trên hai vai chúng ta mang hai gia đình. Một vai mang gia đình huyết thống gồm có tổ tiên ông bà cha mẹ và một vai thì mang  gia đình tâm linh : có thầy, có tổ, có Bụt và chư vị Bồ Tát.

Trong con người của mình có sự tiếp tục của ông bà tổ tiên trong huyết thống và có sự tiếp tục của ông bà tổ tiên tâm linh. Vì vậy mình phải là những người con có hiếu. Mình phải làm thế nào để đừng đánh mất cái giá trị của tổ tiên ông bà đã trao truyền cho mình.
 

Không sinh không diệt.

Bây giờ mình hãy quán chiếu về một đám mây ở trên trời. Khi  đám mây ở trên trời  biến thành mưa thì mình có thể gọi đám mây đó đã chết, tại vì nhìn lên không thấy đám mây nữa. Nhưng điều đó  không có nghĩa là đám mây không còn. Nó còn nhưng mà nó đã thay hình đổi dạng. Nó đã biến thành mưa. Trong kiếp trước nó là đám mây, nhưng mà trong kiếp hiện tại nó là mưa, và ngày mai nó có thể biến thành dòng suối. Và vì vậy cho nên đám mây  cũng thay hình đổi dạng.

Ông bà của mình cũng vậy, tổ tiên của mình cũng vậy và cha mẹ của mình cũng vậy. Có thể là họ không còn với hình thức cũ nhưng mà họ không phải là đã mất. Mình nói “Ba tôi mất rồi!” không có đúng. Nói ba tôi thay hình đổi dạng rồi thì đúng hơn. Cũng như khi mình nói là  cái hạt bắp đã chết  thì nó không đúng. Nói: “Cái hạt bắp nó đã thay hình đổi dạng để trở thành cây bắp non “ thì nó đúng hơn. Cho nên ba mình, ông nội mình, ông ngoại mình đang còn đâu đó. Đừng có nói rằng những người đó đã mất rồi. Không ! Họ không có mất. 

Đám mây không thể nào chết được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa, thành nước đá, mưa đá, trở thành tuyết, trở thành… nước trà. Khi tôi nâng một ly trà lên tôi uống, mà uống trong chánh niệm, nhìn cho sâu, cho kỹ thì tôi thấy rõ ràng đám mây đang ở trong ly trà của tôi. Và  thay vì uống trà thì tôi đang uống mây. Mỗi ngày quý vị uống mây rất nhiều nhưng mà quý vị không biết là mình đang uống mây. Mây nó chưa bao giờ chết. Mây nó đã trở thành nước mưa. Nó trở thành canh. Trở thành nước trà. Nó trở thành nước dừa. Nó trở thành nước mía. Và  vì vậy cho nên bản chất của đám mây là không sinh không diệt. 

Ban đầu mình nhìn khơi khơi trên bề mặt thì mình thấy như đám mây có sanh có diệt. Nhưng mà khi mình nhìn cho kỹ -gọi là thiền quán- thì mình khám phá ra rằng đám mây nó không sinh không diệt. Trước khi đám mây là đám mây thì nó đã là sông, đã là hồ, đã là biển cả. Rồi nhờ sức nóng, nhờ ánh sáng chiếu xuống nước bốc hơi thành đám mây. Đám mây đó không phải từ không mà trở thành có. Đám mây đã tới từ ao hồ, sông ngòi, rạch và biển cả. Và đám mây có một kiếp trước của nó. Trước khi đám mây biểu hiện thành đám mây thì nó đã là những cái gì khác rồi. Thì mình cũng vậy. Trước khi mình sanh ra thì mình đã là cái gì đó trước rồi. Chứ không phải sau khi mình sanh ra mới bắt đầu có.

Tờ giấy này, trước khi nó sanh ra ở trong nhà máy giấy thì nó có là con số không đâu ? Từ con số không làm sao mà trở thành tờ giấy được. Mình nhìn kỹ vào trong tờ giấy mình thấy rằng ở trong đó có rừng cây. Nếu không có rừng cây thì làm sao có bột giấy được. Người thông minh nhìn vào tờ giấy họ thấy rừng cây, họ thấy mưa ! Nếu không có mưa thì làm sao cây mọc được. Cho nên trong tờ giấy có rừng cây, có mưa. Trong nó có mặt trời. Nếu không có mặt trời chiếu xuống thì làm sao cây cối mọc? Trong này có đất. Nếu không có đất thì làm sao cây mọc? Vì vậy cho nên nhìn vào tờ giấy mà nhìn cho thật lâu thật kỹ, sẽ thấy rất nhiều các yếu tố kiếp trước của nó. Những yếu tố kiếp trước của nó là đất, là đám mây, là mặt trời, là rừng cây.
 

Là những biểu hiện

Người tu thiền nhìn rất là sâu. Nhìn vào một cái thì thấy được rất nhiều cái. Cũng như khi mình nhìn vào cây bắp thì mình thấy được hột bắp. Tuy là cái tướng của hột bắp nó không còn nữa, nhưng kỳ thực hột bắp nó đang còn ở trong cây bắp. Nó thay hình đổi dạng. Vì vậy cho nên người thương của mình không thật sự mất. Người thương của mình thay hình đổi dạng. Và nếu như mình có khả năng nhìn cho kỹ, nhìn cho sâu, thì mình vẫn thấy được sự có mặt của người mình thương đâu đó, nhất là ở trong tự thân của mình và xung quanh mình. Rất gần. mà mình tưởng là xa. Cũng như là khi mình nâng ly trà lên uống, ở trong ly trà đá mình uống đâu có thấy đám mây. Nhưng kỳ thực đám mây nó rất gần. Trong khi mình đang uống ly trà đá thì mình đang uống mây. Và mây ở đâu ? Mây ở trong mạch máu của mình. Mình có tới mấy chục lít mây ở trong con người. Nếu không có mây ở trong con người của mình thì mình khô héo. Cho nên mây không phải chỉ ở trên trời mà thôi, mây còn ở trong bình trà của mình. Mây ở trong cây mía, ở trong trái dừa, ở trong máu của mình. Như vậy thì mây rất gần mà mình tưởng là mây xa. 

Người thương của mình cũng vậy, rất gần mình mà mình cứ tưởng ở đâu rất là xa. Nhờ quán chiếu mà mình thấy được người thuơng của mình rất gần gũi với mình và mình có thể xúc chạm, có thể nói chuyện với người đó được. Nếu mình biết người thương của mình đã thay hình đổi dạng thì mình biết rằng người đó vẫn còn, vẫn còn đó. Mình có thể tiếp xúc với người đó bằng nhiều cách. Mình có thể nói chuyện với người đó. 

Ba tôi mất đã từ lâu rồi nhưng mà mỗi ngày tôi có thể nói chuyện được với người. Tại vì tôi biết rằng ba tôi đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể. Có một bữa ngồi thiền tôi thấy khỏe quá, tôi thấy nhẹ nhàng quá, thấy trong lòng rất là bình an, không có ước mơ cái gì hết, không có chạy theo cái gì hết. Tôi có hạnh phúc rất lớn. Tôi nói cha con mình thành công rồi. Mình giải thoát rồi. Mình nhẹ nhàng rồi. Thật đúng  như vậy. Tu là mình tu cho cha, mình tu cho mẹ, cho ông bà tổ tiên. Nếu mà mình có an lạc có giải thoát, có lòng từ bi thì tổ tiên của mình, ông bà của mình, cha mẹ mình cũng có an lạc, giải thoát và từ bi. Mình là đứa con rất là có hiếu. Ai bảo đi tu là không có hiếu. Đi tu là một  phương pháp báo hiếu rất là sâu sắc. 

Mỗi khi tôi đi thì tôi đi những bước chân rất là nhẹ nhàng thanh thản, bước nào cũng vững chãi, bước nào cũng thảnh thơi. Bước chân nào cũng nuôi dưỡng tôi và bước chân nào cũng đem lại hạnh phúc. Trong khi tôi đi như vậy tôi tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở. Những cái đó nuôi dưỡng tôi, trị liệu cho tôi. Đi như vậy tôi đi như là con người tự do. Tôi đi như đức Thế Tôn đã từng đi ngày xưa. Từng bước chân thảnh thơi. Từng bước nở hoa sen. Mình đi như vậy thì cha mẹ ông bà và tổ tiên ở trong người mình cũng đi được như vậy. Mình là một đứa con có hiếu. Mình là một đứa đệ tử có hiếu. Tôi cảm thấy tôi là một đứa con có hiếu là một đứa đệ tử có hiếu tại vì tôi thở cho thầy, tôi thở cho Phật, tôi thở cho ông bà tổ tiên. Tôi mỉm cười cho thầy, tôi mỉm cười cho Phật, tôi mỉm cười cho tổ tiên. Tôi không có những phiền não. Tôi có nhiều lòng từ bi. Tôi biết là Phật, thầy tổ, ông bà tổ tiên ở trong tôi đang hạnh phúc. Tôi biết rằng tôi là một đứa con có hiếu nhờ tôi có tu.

Trước hết mình phải từ bỏ quan niệm là người thương của mình bây giờ không còn nữa, người thương mình mất rồi, từ có mà trở thành không. Đó là một cái tà kiến, tức là một cái thấy sai lầm (tiếng Anh gọi là wrong perception, wrong view). Trước khi tờ giấy là tờ giấy thì nó không phải là con số không. Quí vị có đồng ý với tôi như vậy chăng? Trước đó nó đã là cái gì rồi. Nó không phải từ không mà trở thành có. Nó là sự tiếp nối. Ngày mình ra đời là ngày tiếp nối, chứ không phải là ngày từ không mình trở thành có. Danh từ ngày sinh cũng không có đúng lắm vì sinh có nghĩa là từ không mà trở thành có. Danh từ ngày tiếp nối hay hơn nhiều. Trước đó mình đã có rồi dưới một hình dạng khác, bây giờ mình tiếp nối dưới một hình dạng khác. Thật sự ra ngày sinh không phải là ngày sinh mà là ngày thay hình đổi dạng, ngày tiếp nối.
 

Chỉ có sự tiếp nối thôi

Tôi có nói trước tiên mình phải bỏ đi ý tưởng từ không đến có và từ có trở thành không. Cái đó gọi là tà kiến (wrong view). Nhìn vào đám mây mình biết rằng trưóc khi là đám mây, nó đã là cái gì khác. Nhìn vào tờ giấy, mình biết rằng trước khi là tờ giấy nó đã là cái gì khác rồi, như rừng cây chẳng hạn. Nhìn vào cây bắp mình biết rằng cây bắp nó không phải sinh ra mà là sự tiếp nối của hạt bắp và hạt bắp cũng là sự tiếp nối của cây bắp. Chỉ có sự tiếp nối thôi. Cho nên thay vì chúc mừng ngày sinh mình nên chúc mừng ngày tiếp nối. Thay vì chúc happy birthday thì mình chúc happy continuation day.  Ngày mình chết cũng thật chưa phải là ngày chết, là ngày tiếp nối, tiếp nối với một cái dạng khác, thay hình đổi dạng mà thôi! Cũng vậy, đám mây đâu có chết! Đám mây không còn trong hình thái của đám mây nữa. Đám mây đã trở thành mưa. Nếu nhìn cho kỹ thì thấy trong mưa có đám mây, trong trà có đám mây.

Tu thiền giúp cho mình thấy những cái mà người không tu không thấy được. Đám mây không chết! Đám mây chỉ thay hình đổi dạng. Người thương của mình cũng vậy. Người thương của mình không chết. Người thương của  mình chỉ thay đổi dạng mà thôi. Cái ý tưởng từ không trở thành có, từ có trở thành không : trước khi sinh mình không là cái gì hết, sau khi sinh mình mới là một cái gì, rồi sau một trăm năm hay ít hơn mình chết, mình từ có trở thành không, ý tưởng đó là một tà kiến. Cái thấy đó rất sai lầm. Mình phải  lấy cái thấy đó ra khỏi đầu của mình. Mình gần với Phật nhiều hơn.

Bản chất của đám mây là không sinh không diệt. Bản chất của tờ giấy là không sinh không diệt. Bản chất của người thương của mình cũng vậy : không sinh không diệt. Người thương của mình vẫn có đó, vẫn đang có mặt rất gần mà mình không thấy được. Mình tưởng đây chỉ là nước mà không phải là mây. Nhưng kỳ thật đây cũng là mây. 

Sai lầm đầu tiên mình phải lấy ra khỏi đầu mình là tà kiến : từ không trở thành có và từ có trở thành không. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có một câu thơ : ”Đâu có lẽ có chiều qua mà không sáng nay”. 
 

Thay đổi trong từng phút từng giây

Ý tưởng thứ hai, cũng là một tà kiến: người thương của mình bây giờ cũng y hệt như người thương của mình mười năm, hai mươi năm trước. Người thương của mình đã thay hình đổi dạng. Nếu mình tìm người thương của mình dưới cái dạng ngày xưa thì mình sẽ không tìm thấy được. Nếu mình tìm đám mây trong dạng hiện tại thì mình sẽ thấy đám mây. Nhưng nếu trong đầu mình chỉ nghĩ đến cái dạng nổi trên trời thì mình sẽ không tiếp xúc được với đám mây. Mình phải thấy rằng sự vật thay đổi hình dạng. Nếu mình muốn tìm người thương của mình thì mình đừng bị kẹt vào hình tướng cũ của người thương.

Giáo lý của đạo Phật nói về vô thường, có nghĩa là thay đổi, thay đổi trong từng phát từng giây. Chính chúng ta cũng thay hình đổi dạng trong từng phút từng giây. Mình lật cuốn album của mình hồi còn nhỏ. Mình thấy cái hình của mình lúc năm tuổi. Bây giờ mình rất khác với em bé năm tuổi đó. Mình đã thay hình đổi dạng. Tuy rằng mình vẫn còn tên là Nguyễn Thi Thu Nguyệt, nhưng em bé tên Nguyễn Thị Thu Nguyệt và thiếu phụ bốn mươi, năm mươi tuổi Nguyễn Thi Thu Nguyệt rất là khác nhau. Nếu tìm em bé đó thì bây giờ sẽ không tìm thấy được vì em đã thay hình đổi dạng. Nguyễn Thị Thu Nguyệt của năm tuổi đã trở thành Nguyễn Thị Thu Nguyệt của bốn mươi, năm mươi tuổi. Vì vậy phải nhìn vào Nguyễn Thi Thu Nguyệt của năm mươi tuổi tìm gặp Nguyễn Thị Thu Nguyệt của năm tuổi. Mình còn thay hình đổi dạng huống hồ là người thuơng của mình. Mình đừng đi tìm người thương của mình dưới hình thức quen thuộc mà mình có trong đầu. 

Ngày xưa trong văn phòng của của chúng tôi bên Pháp có một bà người Anh. Bà đến làm việc tự nguyện giúp cho văn phòng. Là người Anh nên bà viết thư từ bằng thiếng Anh rất giỏi. Lúc đó bà đã bảy mươi tuổi nhưng còn mạnh lắm. Bà là người Anh giáo, không phải là Phật tử, nhưng bà rất thương mình nên tình nguyện làm thư ký không công cho phái đoàn Phật giáo hòa bình tại hội nghị Paris. Mỗi ngày bà chỉ ăn hai bửa cơm chay, không có lương tiền mà làm việc rất giỏi. Bà nói chồng bà ngày xưa rất đẹp trai nhưng ông chết lúc ba mươi tuổi. Hình ảnh của người con trai ba mươi tuổi đó còn ở mãi trong bà. Bà tin rằng khi chết bà lên thiên đường sẽ gặp ông trở lại.

Một hôm ăn sáng xong tôi hỏi bà : ”Này bà, bà nói rằng khi chết bà lên thiên đường sẽ gặp lại ông, nhưng bà gặp lại ông dưới hình thức nào? ba mươi tuổi hay bảy mươi tuổi. Bây giờ bà đã bảy mươi tuổi rồi, nếu gặp ông, ông sẽ không nhận ra bà đâu. Hồi đó bà là một thiếu phụ rất trẻ, rất đẹp. Bây giờ bà bảy mươi tuổi, lên trên đó làm sao ông nhận ra. - Ông sẽ nói “Bà không phải là người thương của tôi! Người thương của tôi trẻ lắm mà. Bà đâu phải là người thương của tôi. Bà đừng có nhận là người thương của tôi”. Tại vì bà đã thay hình đổi dạng, mà ông có lẽ cũng thay hình đổi dạng. Nếu bà tìm hình bóng của người con trai ba mưoi tuổi năm xưa thì có thể bà sẽ thất bại.

Đó là cách tôi chia xẻ giáo lý vô thường vô ngã của đạo Phật cho một người Anh giáo.  Bà có hơi lúng túng. Sự thật là như vậy, là vô thường. Ngay sự sống của mình cũng vô thường huống hồ là cuộc sống chung quanh mình. 

Vậy thì hai tà kiến mình phải lấy ra khỏi đầu là : một là có sinh và có diệt , hai là sự vật vẫn y như vậy không thay đổi. Sự vật luôn luôn thay hình đổi dạng.  Nếu nắm được hai điều đó thì gần với tuệ giác của đức Thế tôn.
 

Người thương của mình ở khắp nơi

Trong cuộc chiến tranh dai dẳng trên đất nước chúng ta có gần năm sáu triệu đồng bào đã chết vì bom đạn hoặc vì những nguyên do khác. Chúng ta thiết lập Trai Đàn Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt để cầu nguyện cho tất cả đồng bào của chúng ta. Bình đẳng có nghĩa là cho tất cả các đồng bào không phân biệt tôn giáo, đảng phái chính trị. Chúng ta cầu nguyện cho người cộng sản và cho người chống cộng sản. Người miền Nam chúng ta cũng cầu nguyện cho, người miền bắc chúng ta cũng cầu nguyện cho. Không có sự phân chia, không có sự kỳ thị hận thù. Cái đó gọi là bình đẳng. Nước Đức cũng bị chia đôi như nước Việt nam, nhưng họ có phước hơn mình vì sau đó họ thống nhất được nước Đức mà không cần phải có chiến tranh đổ máu. Đông Đức và Tây Đức bây giờ là một nước và họ đang đóng vai trò lãnh đạo trong Liên minh Châu Âu.

Năm sáu triệu người mình chết cũng oan ức. Nếu mình khôn khéo hơn, nếu mình biết con đường bất bạo động thì mình không cần phải đi qua cuộc chiến tranh như vậy. Những người chết trong chiến tranh, những người đó là ai, họ là đồng bào của mình. Họ là cha, là anh, con trai, em trai của mình. Họ đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ đất nước, để dành độc lập cho đất nước. Cái chết của họ rất oai hùng nhưng cũng có người chết không vẻ vang như vậy mà chết trong hoàn cảnh rất là tăm tối, rất oan ức và hài cốt của hằng trăm ngàn người vẫn chưa thể tìm ra được. Người thương của mình ở khắp nơi, có đến năm sáu triệu người chứ không phải chỉ có bốn năm người thân trong gia đình. Chúng ta quy tụ lại để cầu nguyện siêu độ cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ cho người thân trong gia đình mà thôi.
 

Thực tập buông bỏ, tha thứ 

Kỳ này về thăm quê hương, tôi đã được thủ tướng chính phủ cho phép hợp tác với giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức ba trai đàn : một ở miền Nam theo nghi lễ cổ truyền miền Nam tại chùa Vĩnh Nghiêm. Một ở Quốc tự Diệu  Đế miền Trung theo nghi thức cổ truyền miền Trung, một ở chùa Non ( Sóc Sơn ) miền Bắc theo nghi thức cổ truyền miền Bắc. 

Chúng ta có những khổ đau, oan ức trong lòng chưa có cơ hội nói ra được. Chúng ta nén những khổ đau đó xuống. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta bận rộn, có khi ta giận con cháu, ta la rầy đánh đập chúng. Có thể vì những khổ đau oan ức bị dồn nén xúi đẩy chúng ta có những lời nói, hành động không dễ thương. Chúng ta chưa có cơ hội nhận diện những khổ đau oan ức ở trong lòng. Trai Đàn Chẩn tế Giải oan là một trong những phương pháp thực tập trị liệu, cho phép những đau khổ oan ức trào lên ánh sáng của ý thức. Ta nhận diện những khổ đau oan ức đó là có thật để cầu nguyện chuyển hóa cho thân tâm được nhẹ nhàng. Khi thân tâm được nhe nhàng thì chúng ta không có những lời nói, hành động gây tổn thương cho người thương của chúng ta. 

Nếu không thực tập chúng ta có thể sẽ trao truyền những oan khổ đó cho các thế hệ tương lai. Con cháu chúng ta có thể sẽ hành xử một cách bạo động, làm khổ những người thương của chúng nó mà không biết tại sao. Sự thật là vì những đau khổ uất ức đó chưa được chuyển hóa nên tiếp tục truyền về các thế hệ tương lai. Cho nên Đai Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan có mục đích là chuyển hóa những oan khổ của những người đã mất và cả những oan khổ của những người đang còn sống.

Khi còn sống, nếu chúng ta có nhiều hận thù buồn tủi, ta không được nhẹ nhàng thì ta sẽ làm khổ thân mình và làm khổ người thân của mình. Khi ta chết rồi mà vẫn còn những hận thù oan ức thì ta cũng không được nhẹ nhàng. Có những phương pháp giúp cho người sống được thảnh thơi nhẹ nhàng. Có những phương pháp giúp cho người đã chết - những người thay hình đổi dạng - chuyển hóa được những hận thù, những nổi khổ niềm đau. Trai Đàn Chẩn tế Giải Oan giúp người sống lẫn người chết chuyển hóa được cái nặng nề oán thù đã dồn chứa từ tháng này sang tháng khác, từ năm này sang năm khác.

Mỗi chúng ta được ban tổ chức đề nghị nên lập một bàn linh trước hiên nhà. Trên bàn linh có thể cúng cháo trắng, nước trong, cúng gạo, muối, bắp hay khoai luộc tùy ý. Mỗi ngày phải thay cháo, thay nước trong, phải tụng kinh, đọc tam quy năm giới. Trong suốt ba ngày liên tục thắp hương. Mình ráng ăn chay để giúp sự chuyển hóa của những người chết được dễ dàng hơn. Mình hồi hướng công đức cho những người đã chết. Trong ba ngày đó mình làm việc thiện. Mình  bố thí phóng sanh, thả chim, thả cá, cấp học bổng cho sinh viên nghèo, cho thuốc người bệnh, làm việc từ thiện xã hội. Đó là một sự thực tập để chuyển hóa những nghiệp cũ nặng nề, để cho người sống cũng như người chết có được nghiệp mới nhẹ nhàng. 

Vì vậy Ba ngày của trai đàn Chẩn tế là ba ngày chúng ta phải thực tập nghiêm mật. Chúng ta thực tập để đừng có những tư tưởng đen tối hận thù, tư tưởng trách móc đối với bản thân, con cái, bạn bè. Hãy thương lấy những người thân của mình, Hãy thương lấy những bạn bè của mình dù trong quá khứ những người đó đã từng vụng dại lỗi lầm, đã nói và làm những điều khiến cho mình đau khổ. Trong ba ngày Trai đàn Chẩn tế chúng ta phải thực tập buông bỏ, tha thứ, thì chúng ta mới có thể giúp cho các vong linh được nhẹ nhàng. 

Trong ba ngày đó chúng ta phải nói nhũng lời ái ngữ, không nói những lời buộc tội, oán hờn, lên án, trách móc. Ta phải tập nói nhũng câu nói dịu dàng đầy tình thương có khả năng hiểu biết, đùm bọc, đó gọi là khẩu nghiệp. 

Về ý nghiệp ta có những tư tưởng đi đôi với từ bi tha thứ. Nó góp phần vào sự chuyển nghiệp của chúng ta và sự chuyển nghiệp của người thương đã chết. 

Trong ba ngày trai đàn chẩn tế, chúng ta nên có những thân nghiệp có khả năng chuyển hóa : Chúng ta không sát sanh, đánh đập, không làm khổ người khác. Trái lại ta có những cử chỉ chăm sóc, thương yêu, lo lắng, bảo vệ như phóng sanh, bố thí. Ta có thể sử dụng ba nghiệp - thân khẩu, ý - để chuyển hóa bản thân và giúp chuyển hóa những người đã khuất. 

Nếu trong nước tất cả đều thực tập ba ngày như vậy thì sau ba ngày đó niềm vui, hạnh phúc, tình huynh đệ, tình đồng bào sẽ lên rất cao. Cả nước phải cùng thực tập với nhau. Người Phật tử đã đành mà người Công giáo cũng nên thực tập như vậy. Ban tổ chức đề nghị bên Công giáo và Tin lành nên lập bàn thờ như vậy, thay vì đọc kinh Phật thì có thể đọc Thánh kinh. Người Marxist cũng có thể thiết lập một bàn linh trước hiên nhà và đọc những đoạn văn có tính cách tâm linh của Marx.

Tóm lại, Trai Đàn Chẩn tế mở rộng lòng để ôm lấy tất cả đồng bào không phân biệt Nam Bắc, không phân biệt tôn giáo, lập trường chính trị, hoàn toàn bình đẳng. Chúng ta chấp nhận nhau, chấp nhận đồng bào của chúng ta, người sống cũng như người chết. Trong tinh thần cởi mở đó, chúng ta tiếp xúc được với Tam Bảo, với Phật Pháp Tăng, và nhờ vào năng lượng vĩ đại của Tam bảo mà tất cả các vong linh đều được chuyển hóa siêu độ. Công đức của chúng ta sẽ vô lượng. Đó là cách chúng ta giúp nước giúp dân bằng sự tu tập chuyển hóa ba nghiệp của mình. Về ý nghiệp chỉ phát khởi ý tưởng thương yêu tha thứ. Về khẩu nghiệp chỉ nói những lời thương yêu, tha thứ, khuyến khích. Về thân nghiệp chỉ làm những việc có tính cách che chở, đùm bọc, bảo vệ, cứu độ, phóng sanh từ thiện.

Ban tổ chức rất trông cậy vào tất cả đồng bào - Phật tử hay không Phật tử - thực tập nghiêm chỉnh trong ba ngày Trai Đàn Chẩn tế. Chúng ta sẽ góp phần lớn lao vào sự chuyển hóa nghiệp của cộng đồng của đất nước, giúp cho những đồng bào nạn nhân của cuộc chiến tranh dai dẳng được nhẹ nhàng siêu thoát.

Niềm vui và và sự siêu thoát của họ cũng sẽ trở thành niềm vui và sự siêu thoát của chúng ta và của con cháu chúng ta.
http://www.phusa.info/
 
 

NGƯỜI THƯƠNG CỦA TÔI MẤT RỒI
TÔI PHẢI ĐI TÌM Ở ĐÂU (PHẦN HAI)
Tháng 03 2007 - Chân An Tịnh và Chân Giác Lưu biên tập
Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 17 - 03 - 2007 
tại chùa Vĩnh Nghiêm - Sài Gòn trong Đại lễ Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn  Âm thanh MP3 : Phần 1 (11MB)    Phần 2 (6MB)

Chỉ có chuyển biến mà thôi.

Ngày hôm qua chúng ta ta quán chiếu về một cây bắp non, về một tờ giấy và về một đám mây. 
Khi nhìn vào cây bắp non  thì chúng ta không thấy hạt bắp. Nó đã làm ra cây bắp non. Chúng ta nghĩ rằng hạt bắp đã chết nhưng mà kỳ thực nếu chúng ta nhìn cho kỹ thì thấy hạt bắp vẫn còn sống trong cây bắp non. Nó chỉ thay hình đổi dạng. Hạt bắp giống trở thành ra cây bắp non.

Khi chúng ta quán chiếu về tờ giấy chúng ta thấy tờ giấy không phải từ không mà trở thành có. Trước khi là tờ giấy thì nó đã là rừng cây, nó đã là đám mây, đã là cơn mưa, đã là đại địa. 

Tờ giấy vì vậy không phải từ không mà trở thành có. Cho nên bản chất của tờ giấy là vô sinh. Không phải từ không mà trở thành có. Giờ phút mà tờ giấy biểu hiện ra dưới hình thức tờ giấy là giờ phút tiếp nối mà thôi.

Khi quán chiếu đám mây chúng ta thấy rằng đám mây cũng là vô sinh. Trước khi đám mây hiện ra như là một đám mây nó chẳng phải là không. Đám mây đã từ sông hồ, từ biển cả, từ sức nóng của mặt trời mà có. Đám mây không phải từ không mà trở thành có. Khi đám mây không còn trên trời nữa thì không phải là đám mây đã chết. Đám mây chỉ trở thành mưa, thành tuyết hay là thành nước đá mà thôi. Đám mây không thể nào chết được mà chỉ có thể thay hình đổi dạng. Vì thế, bản chất của đám mây là không sinh không diệt, chỉ có chuyển biến mà thôi.

Tờ giấy cũng vậy. Khi chúng ta đốt tờ giấy thì tờ giấy không phải từ có mà trở thành không. Trong khi đốt tờ giấy chúng ta quán sát. Ta sẽ thấy tờ giấy trở thành sức nóng, trở thành tro, trở thành khói. Khói đó, tro đó và sức nóng đó là sự tiếp nối của tờ giấy. Không thể nào làm cho một cái gì có trở thành không được, và không thể nào làm cho một cái gì không trở thành có được. Chúng ta có một cái nhìn rất là cạn về cái có và về cái không. Trong cái không gian đang ôm ấp chúng ta đây quý vị biết rất rõ là có những tín hiệu của những đài vô tuyến truyền hình, của các đài phát thanh. Nó đầy dẫy ở trong không gian. Nhưng chúng ta không nghe được, không thấy được những tín hiệu đó. Chúng ta cần phải có một cái máy Tivi, hay là cái máy Radio thì chúng ta mới bắt được những tín hiệu đó, mới có thể nghe được hoặc thấy được. Thành thử không thấy được thì đừng nói là nó không có.

Người thương của chúng ta cũng vậy. Bây giờ chúng ta không thấy được người thương của chúng ta dưới cái hình dáng cũ. Nhưng mà người thương của ta vẩn còn. Đã thay hình đổi dạng và đang có mặt với chúng ta dưới những hình dạng mới. Nếu chúng ta biết cách quán chiếu chúng ta có thể tiếp xúc được với tổ tiên, ông bà cha mẹ của chúng ta trong nội thân của chúng ta và chung quanh chúng ta. Vì thế  cho nên chúng ta phải đoạn trừ những tri giác, những quan niệm  sai lầm. Cái quan niệm sai lầm đầu tiên là không thể nào từ không mà trở thành có được, không thể nào từ có mà trở thành không được. Từ không trở thành có, từ có trở thành không là một tà kiến. Theo tuệ giác của đạo Phật, nghĩ rằng từ cái không mà trở thành cái có, và từ cái có trở thành cái không, đó là một tà kiến. Chúng ta phải quán chiếu cho sâu thì mới dứt bỏ được cái tà kiến đó. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có nói: “Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay“. 

Người thân của chúng ta đang còn đó. Nếu chúng ta biết quán chiếu, chúng ta sẽ thấy người thân của chúng ta không ở đâu xa mà ở ngay trong từng tế bào cơ thể của ta và ở chung quanh ta. Bản chất của người thân chúng ta là không sanh không diệt, chỉ biến chuyển mà thôi.

Cho nên, cái chân lý thứ nhất mà ta phải công nhận là : bản chất của chúng ta là không sanh không diệt. Chỉ có sự tiếp nối thôi, và tiếp nối dưới những hình dạng khác nhau : thay hình đổi dạng. 

Chính chúng ta sinh ra cách đây ba mươi năm, bốn chục năm, sáu chục năm chúng ta cũng thay hình đổi dạng. Nhìn vào hình em bé lúc năm tuổi và cái hình chúng ta bây giờ ta thấy được là chúng ta thay đổi rất nhiều. Em bé năm tuổi chưa chết đâu. Em bé đã trở thành ra người lớn ba mươi tuổi, hay năm mươi tuổi. Khi nhìn vào hình hài của tôi, tôi tiếp xúc được với em bé năm tuổi và tôi có thể nói chuyện với em bé năm tuổi trong tôi. Nó còn sống. Có khi nào quí vị ngồi nói chuyện với em bé năm tuổi mà ngày xưa quí vị đã từng là hay không ?

Mình người nào cũng đã từng là một em bé trai năm tuổi, hay là một em bé gái năm tuổi. Em bé trai năm tuổi, em bé gái năm tuổi đó có thể có những vết thương từ hồi thơ ấu mà chưa lành. Chúng ta bận rộn quá chừng ! Chúng ta không có cơ hội trở về nhận diện em bé năm tuổi đang bị thương trong ta để nói chuyện với nó, ôm ấp nó và để giúp cho những vết thương của em bé năm tuổi trong ta được thuyên giảm. 

Quí vị tối nay về thực tập đi. Ngồi thật yên năm phút mười phút và nhận diện em bé năm tuổi, bảy tuổi bị thương trong mình. Hãy ôm lấy nó với tất cả sự trìu mến, công nhận sự có mặt của nó và làm cho những vết thương của em bé mau được chữa lành. Chỉ cần làm vài lần thôi thì vết thương của em bé được chữa lành.Và chúng ta biết rằng em bé đó chưa bao giờ từng chết. Nó còn sống và bây giờ nó có một hình dạng mới. Hình dạng mà nhìn vào trong kính ta có thể thấy được. Bởi vì chính chúng là những người đang còn sống mà còn thay hình đổi dạng huống hồ là người thương của chúng ta đã qua đời rồi thì làm sao mà họ không thay hình đổi dạng. Nhưng mà những hạnh phúc, những kinh nghiệm, những khổ đau và những cái bức xúc vẫn đi theo chúng ta, người sống cũng như người chết. 
 
 

Làm mới thân tâm

Thế nên chúng ta được cái hạnh ngộ gặp Phật, gặp Pháp, gặp Tăng để học những pháp môn tu học mà chuyển hóa thì chúng ta làm cho cái thân tâm chúng ta nhẹ nhàng hơn và chúng ta phải thực tập để làm cho cái thân tâm của người qua đời cũng được nhẹ nhàng hơn, nhờ đó sự siêu thoát trở thành dễ dàng. Bất cứ điều gì  thực hiện được để  làm mới thân tâm, để cho ý nghiệp được thanh tịnh, để cho khẩu nghiệp, thân nghiệp được thanh tịnh chúng ta đều có thể hồi hướng cho người thương của chúng ta đã qua đời.

Trong những ngày của Đại Trai Đàn Chẩn tế chúng ta đã nhất tâm cầu nguyện. Trong ba ngày của Trai Đàn Chẩn tế chúng ta thiết lập bàn linh, chúng ta cúng dường cháo loãng, thức ăn, nước trong. Chúng ta đọc tụng kinh điển. Chúng ta khởi lên những tâm niệm lành, những tâm niệm tích cực mà đức Thế Tôn gọi là chánh tư duy. Những tư tưởng đi theo với sự bao dung, sự tha thứ, sự yêu thương. Chúng ta nghĩ về con chúng ta, về chồng chúng ta, về vợ chúng ta, chúng ta nghĩ về bè bạn chúng ta với một tâm niệm lành. Cái đó là phát khởi chánh tư duy. Một khi có chánh tư duy thì con người ta nhẹ nhàng, khỏe khoắn. Chúng ta nghĩ tới những người thương yêu của chúng ta đã qua đời bằng tâm niệm thương yêu tha thứ. Và như vậy chúng ta truyền cái năng lượng của chánh tư duy cho những người thương của chúng ta. Mỗi tư tưởng của chúng ta phát ra nếu nó là chánh tư duy thì nó có ảnh hưởng tốt trên sức khỏe của mình và ảnh hưỏng tốt cho vong linh mình cầu nguyện.

Khi chúng ta có một tư tưởng hận thù giận dữ thì tư tưởng đó làm hại cho sức khỏe của thân thể ta, và nó cũng làm hại cái sức khỏe của tâm linh ta. Cho nên một tư tưởng tà -tà tư duy- có hận thù, có bạo động, có kỳ thị không có đem lại cho thân tâm sự lắng dịu, sự thuyên giảm, trị liệu. Những tư tưởng hắc ám, những tư tưởng giận dữ, hận thù làm hại đến sức khỏe.

Khi chúng ta phát khởi được tâm niệm thương yêu thì tư duy đó có khả năng chữa trị cho thân, cho tâm ta và có khả năng chữa trị cho thế giới, cho những người đã khuất. Và vì vậy cho nên suy nghĩ, tư duy là một hành động, là một cái nghiệp. Nếu là chánh tư duy thì đó là thiện nghiệp -nghiệp tốt-, và nếu chúng ta tà tư duy -tức là tư duy với hận thù, với bạo động, với trách móc-, thì cái tà tư duy đó nó làm hại cho sức khỏe chúng ta, làm hại cho thế giới, và không giúp được cho những người đã khuất. Cho nên trong ba ngày Trai Đàn Chẩn tế chúng ta phải thực tập chánh tư duy. Nghĩ về cha về mẹ về con về cháu về người thân với tha thứ, với thương yêu. Đó là chánh tư duy.

Ngày hôm nay tôi phát nguyện sẽ phát ra những tư tưởng  có tha thứ, có bao dung, có thương yêu. Tôi nguyện phát ra những tư tưởng đi theo chánh tư duy. Ngày hôm nay tôi cũng nguyện nói những lời đi đôi với thương yêu và tha thứ, tôi nguyện thực tập chánh ngữ. Tôi sẽ tìm cách nói với cha tôi, mẹ tôi, với vợ tôi, chồng tôi, với các con tôi những lời nói có chứa đựng sự ngọt ngào, sự tha thứ, có chứa đựng sự bao dung. Tôi biết nói như vậy thì lời nói đó trước hết nó làm cho tôi khỏe. Nó có tác dụng trị  liệu cho cơ thể tôi. Nó làm cho tôi khỏe, nhẹ và nó cũng làm người nghe tôi được khỏe và được nhẹ. Người nghe tôi nói đó có thể là vợ, là chồng, là con, là cha, là mẹ, là huynh đệ, bạn bè. Một lời nói mang theo tha thứ và thương yêu là lời nói chánh ngữ. Trong ba ngày Trai Đàn Chẩn tế tôi nguyện nói toàn những câu chánh ngữ để trị liệu thân tâm tôi, để giúp trị liệu thân tâm những người thương và để giúp cho nhẹ cái nghiệp cho những vong linh mà tôi muốn cầu nguyện cho. Chánh tư duy và chánh ngữ là điều mình có thể thực tập trong đời sống hằng ngày, và nhất là trong ba ngày Trai đàn Chẩn tế Bình đẳng Giải Oan. Sau chánh tư duy và chánh ngữ thì có chánh nghiệp. Chánh nghiệp là những hành động đi theo hướng tha thứ và bao dung cùng thương yêu. Ngày hôm nay tôi nguyện làm một cái gì đó để chứng tỏ rằng tôi có tình thương, tôi có sự tha thứ, tôi có nghĩ được tới những người khổ đau, những loài khổ đau. Tôi nguyện ăn chay, tôi nguyện phóng sinh, tôi nguyện bố thí. Tôi phải làm một cái gì đó để cho hành động của tôi là chánh nghiệp, là thân nghiệp thiện, nó biểu lộ được cái sự tha thứ, bao dung, cái sự thương yêu hay lòng từ bi của tôi. Và tôi biết một khi tôi làm được một điều như thế, có một cử chỉ như thế, nghĩa là một cử chỉ có tác dụng hiểu biết, thương yêu, tha thứ, cứu trợ, cứu khổ thì hành động đó sẽ chữa lành những thương tích của thân và tâm tôi, của những người thương của tôi trong gia đình, và nó có khả năng làm vơi đi cái nghiệp của những hương linh mà tôi đang muốn cầu nguyện cho.

Cho nên ba ngày Đại Trai Đàn Chẩn tế chúng ta phải thực tập chánh ngữ, chánh tư duy và chánh nghiệp. Chánh nghiệp tức là hành động đi theo với tình thương và với sự tha thứ.
 

Chúng ta biết rằng cha mẹ chúng ta có trong ta.Cha mẹ đã trao truyền cho chúng ta những gì.?

Cha mẹ chúng ta đã trao truyền bản thân của họ cho chúng ta. Trong mỗi tế bào cơ thể chúng ta có những cái Gene của cha mẹ, những nhiễm thể của cha và của mẹ. Và như vậy đứng về phương diện khoa học là cha mẹ đang có trong ta và ta đang tiếp nối cha mẹ và tổ tiên. Thành ra mỗi khi ta mĩm cười được thì cha mẹ trong ta mĩm cười được. Mỗi khi ta tha thứ được thì cha mẹ trong ta cũng tha thứ được, mỗi khi chúng ta thương yêu được thì cha mẹ trong ta cũng thương yêu được. Vì thế chúng ta có thể là đứa con rất có hiếu nếu ta thực tập chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp

Những người thân của chúng ta đã qua đời có thể đang có mặt trong từng tế bào cơ thể ta mà có thể cũng đang có mặt ở ngoài ta. Và mỗi khi ta phát khởi một tâm niệm lành, có thương yêu, có tha thứ thì những người đó trong ta được hưởng, những nguời đó chung quanh ta được hưởng. Mỗi khi ta nói được một lời tha thứ, thương yêu -gọi là ái ngữ- thì cha mẹ, tổ tiên trong ta cũng được hưởng. Cha mẹ trong ta, tổ tiên trong ta và những huơng linh chúng ta muốn cầu nguyện cho cũng đuợc hưởng. Do đó cầu nguyện không chỉ là đọc kinh, cầu nguyện còn là phát khởi những tư tưỏng đi đôi với tha thứ và thương yêu. Cầu nguyện có thể là dưới hình thức những lời nói có tha thứ có thương yêu mà ta nói với những ngưòi trong gia đình, trong dòng họ, với bạn bè, xã hội. Và ta có thể cầu nguyện bằng hành động khi ta phóng sanh, khi ta giúp đỡ trẻ em đói, khi ta cho một học bổng, khi ta cứu mạng cho một con sâu, con kiến. Tất cả những cái đó đều là lời cầu nguyện. Cầu nguyện bằng tư tưởng, cầu nguyện bằng lời nói và cầu nguyện bằng hành động.
 

Bây giờ tôi xin mời quí vị thực tập thiền quán chiếu về có và về không.

Ngọn lửa, bây giờ em ở đâu ?

-Đây là cái hộp quẹt đem từ bên Pháp về- Hộp quẹt nó có mục đích đem lửa tới. Lửa để đốt nhang, lửa dể thắp đèn, lửa để nấu cơm. Bây giờ chúng ta hãy quán chiếu về ngọn lửa. Nếu chúng ta hiểu được bản chất của ngọn lửa thì chúng ta sẽ hiểu được bản chất của người thương mà chúng ta muốn tiếp xúc. 

Người thưong không còn ở trong hình dạng cũ mà chúng ta muốn tiếp xúc. Bây giờ tôi xin mời đại chúng nhìn vào hộp quẹt này và trả lời là ngọn lửa nó đã có sẵn chưa ? Hay là nó không có ? Mình biết ngọn lửa nó đang núp ở đâu đó. Mình nói rằng ngọn lửa không có đó thì hình như là không đúng. Cũng như nói rằng ở trong khoảng không gian này không có những tín hiệu của các đài truyền hình truyền thanh là không đúng. Nó có đầy hết. Tại vì mình chưa có cái máy thâu thanh, máy truyền hình nên mình không bắt được (tức là để nó diễn dịch ra cho mình dưới những hình thức mà mình có thể thấy và nghe được). Mình nói những tín hiệu của đài truyền hình, truyền thanh không có giữa không gian này là không có đúng. Ngọn lửa cũng vậy. Nó chưa xuất hiện thôi.  Nhưng mà nói rằng ngọn lửa không có, và từ không nó sẽ trở thành có, là một tà kiến. Đây là giáo lý rất là thậm thâm của đức Thế Tôn mà nếu chúng ta bận rộn quá trong đời sống hằng ngày thì làm thế nào chúng ta thực chứng được cái giáo lý mầu nhiệm đó ? 

Mình nói: “Ngọn lửa, bây giờ em ở đâu ? Em núp ở trong cái hộp quẹt hay là em ở đâu ? Tại sao em không xuất hiện để cho ngưòi ta thấy hình dạng của em. Em núp làm gì vậy ?”. Và nếu mình nghe với hết tất cả tấm lòng của mình, mình có niệm, có định, thì mình nghe như thế này: “Thầy ơi, các thầy các sư cô ơi? các đạo hữu ơi, nhìn cho kỹ đi? em đang có mặt đó. Nếu mà thầy, nếu các vị Phật tử cư sĩ muốn em xuất hiện thì em xuất hiện. Em đang có mặt ở trong hộp quẹt, mà em cũng có mặt ở ngoài hộp quẹt nữa. -Trong không gian có dưỡng khí-. Nếu không có dưỡng khí thì em không thể nào biểu hiện được. Ngọn lửa không thể có cơ hội biểu hiện nếu không có oxygen. Cho nên ngọn lửa không phải chỉ núp ở trong hộp diêm mà nó còn núp ở ngoài hộp diêm. Ngọn lửa chỉ còn cần một động tác của hai ngón tay tôi. Vì vậy tức là ngọn lửa nó cũng ẩn ở trong hai ngón tay tôi. Tôi chỉ cần rút ra một que diêm, tôi đánh một cái thì ngọn lửa biểu hiện liền. Vậy thì một trong những điều kiện giúp cho ngọn lửa phát hiện là hành động của hai ngón tay. Ngọn lửa cũng núp ở trong hai ngón tay, nó cũng núp ở trong không gian, nơi có dưỡng khí, và ngọn lửa cố nhiên là cũng núp ở trong hộp diêm. Bây gìờ mình nói: “Ngọn lửa ơi, ta sẽ cung cấp cho em một nhân duyên cuối cùng. Tất cả các nhân duyên, các điều kiện khác đều đầy đủ hết rồi để cho em phát hiện. Nay chỉ còn thiếu một nhân duyên cuối cùng là động tác của hai ngón tay tôi. Ngọn lửa biết rằng nó sẽ xuất hiện. Và chúng ta cũng biết rằng ngọn lửa sẽ xuất hiện. Ngọn lửa không phải từ không mà trở thành có. Ngọn lửa từ chổ ẩn tàng nó trở thành ra biểu hiện. Trước khi ngọn lửa biểu hiện nào phải là nó không có. Nó ở trong cái thế ẩn tàng mà thôi.

Trước khi mình sinh cũng vậy. Không phải là mình không có đâu. Mình đã ở cái thế ẩn tàng. Khi mẹ sinh mình ra thì mình ở vào cái thế biểu hiện.

Bây giờ ngọn lửa đã biểu hiện. Và ngọn lửa sẽ ở lại với mình không biết bao lâu. Nếu que diêm này dài ba thước thì ngọn lửa ở lại lâu hơn. Nếu que diêm này chỉ dài có ba phân thì nó ở lại ngắn hơn. Nghĩa là tùy theo cái điều kiện. Nếu chúng ta có bác sĩ, nếu chúng ta có hoàn cảnh, môi trường tốt thì chúng ta sẽ sống lâu. Nếu ở hoàn cảnh, môi trường xấu thì chúng ta sẽ chết yểu. Thế nên một cái gì đó có thể phát hiện và tồn tại lâu hay mau là tùy thuộc vào những điều kiện ở trong và ở ngoài, những điều kiện trước và những điều kiện sau. 

Ngọn lửa đã tắt.
Bây giờ mình không thấy nó nữa !
Chúng ta sẽ hỏi ngọn lửa hai câu hỏi : “Ngọn lửa ơi, em từ đâu tới ?, và em đã đi về đâu rồi ?”
Nếu mình lắng tai nghe với tất cả niệm và định thì mình sẽ nghe được tiếng trả lời : “Thầy ơi, các thầy các sư cô ơi, các vị đạo hữu cư sĩ ơi, em nào có từ đâu tới. Em không phải tới từ phuơng đông hay phương tây, phương nam hay phương bắc. Khi những điều kiện dầy đủ thì em phát hiện, em xuất hiện, em biểu hiện, vậy thôi! Em không từ đâu tới hết. Không phải từ bằc tới hay từ nam tới, không phải từ tây tới hay từ đông tới.” Và nếu mình nghe được thì mình thấy rằng ngọn lửa nói đúng. Ngọn lửa này đâu phải từ phương nam tới, đâu phải từ phương bắc tới. Khi nào những điều kiện đầy đủ, nhân duyên đã đầy đủ thi ngọn lửa biểu hiện, vậy thôi.

Người thương của mình cũng vậy. Người thương của mình không phải từ cõi này tới hay cõi kia tới. Không từ phương bắc hay phuơng nam, phương tây. Khi những điều kiện có đầy đủ thì người thương đó biểu hiện và mình gọi là người thương được sinh ra. Kỳ thật không phải là sinh. Đó là sự tiếp nối của một cái mà mình chưa thấy. Bây giờ mình bắt đầu thấy được thì mình gọi là sinh. 

Bây giờ mình hỏi ngọn lửa câu hỏi thứ hai: “Ngọn lửa ơi, lúc nãy em đã biểu hiện cho chúng tôi thấy, bây giờ em đi về đâu? “

Câu hỏi này rất là quan trọng. Câu hỏi này mình đã từng hỏi người thương của mình đã qua đời. “Anh ơi, anh bỏ em, anh đã đi đâu rồi, bây giờ anh ở đâu?, Em ơi, em bỏ anh mà đi, bây giờ em ở đâu ? Con ơi, con bỏ má mà đi, bây giờ con ở đâu? “ Chúng ta đã hỏi câu hỏi đó nhiều lần rồi. Bây giờ chúng ta hỏi lại một lần nữa với sự quán chiếu: ”Ngọn lửa ơi, em đã đi về đâu ?”. Và nếu chúng ta biết thực tập theo thiền, tức là đem cái tâm trở về với cái thân, ngồi lắng đọng và hỏi câu hỏi cho thật sâu thì chúng ta sẽ nghe được câu trả lời: “Thầy ơi, các thầy các sư cô ơi, các đạo hữu ơi, em nào có đi đâu. Em không có đi về phương nam hay đi về phương bắc, em không đi về phương tây cũng không đi về phương đông. Em không có đi đâu hết! Khi mà những nhân duyên nó không đầy đủ thì em ẩn đi thôi, em không có đi đâu hết”. Mà khi chúng ta suy nghĩ cho kỹ thì chúng ta thấy ngọn lửa nói đúng.

Nó không có đi về đâu hết. Nó không có đi về phương đông hay phương tây, phưong nam hay phương bắc. Khi mà những điều kiện đầy đủ thì ngọn lửa biểu hiện, và khi những điều kiện không đầy đủ nữa hoặc là nó chưa đầy đủ thì ngọn lửa ẩn tàng để rồi nó biểu hiện dưới hình thức mới. Vì vậy cho nên bản chất của ngọn lửa là vô khứ vô lai, tức là không tới cũng không có đi (phi khứ phi lai). Ngọn lửa không phải từ không mà trở thành có, và ngọn lửa cũng không phải từ có mà trở thành không, cho nên bản chất của nó là vô sinh bất diệt. Ngọn lửa không có từ phương đông tới, không từ phương nam tới vì thế cho nên nó là phi lai, là không có tới, no coming. Ngọn lửa không đi về đâu hết, không đi về phương đông, tây, phương nam, phương bắc, nó là phi khứ. Vô khứ vô lai,  bất sinh bất diệt : đó là bản chất của ngọn lửa. Bản chất của đám mây cũng vậy: bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Bản chất của người thương của chúng ta cũng vậy: là bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Mình đừng tưởng người thuơng của mình đã từ có mà trở thành không. Người thương của mình đã chuyển hóa, đã thay hình đổi dạng, đã ẩn tàng và đã biểu hiện trở lại nhưng tại vì mình u mê cho nên tuởng rằng người thương của mình không còn nữa. Sự thực là người thưong của mình đang ở rất gần mình mà mình không biết.

Bất cứ ngồi  hay đứng ở đâu mình cũng có  thể nói chuyện được với người thương của mình. Hôm qua chúng ta đã quán chiếu về đám mây. Khi tôi nâng ly trà lên uống tôi thấy ly trà đầy mây vì tôi có quán chiếu.  Đám mây không còn trên trời, nó có mặt ở đây. Không thấy đám mây tôi không khóc thương. Đám mây của tôi chưa bao giờ từng chết, nó chỉ thay  hình đổi dạng thôi. Nếu có trí tuệ tôi sẽ nhận diện được đám mây thân yêu của tôi đang nằm trong chén trà của tôi trong phút giây hiện tại. Khi uống trà tôi thật sự đang uống mây. Quý vị đã uống mây hàng ngày mà quý vị không biết.

Người thương của quý vị đang ở gần quý vị, đang nói chuyện với quý vị, mà quý vị không thấy không nghe được. Quý vị cứ than phiền là người thương của mình không còn nữa. Mình đã mất người thuơng mãi mãi. Điều đó không đúng ! Bản chất của người thương cũng giống như bản chất của đám mây : không sinh, không diệt, không tới, không đi. Đám mây không phải chỉ nằm trong ly nước, nó còn nằm trong cơ thể tôi. Cơ thể tôi có mấy chục lít nước, đó là mây. Tôi chưa bao giờ rời mây và mây cũng chưa bao giờ rời tôi. Người thương của quý vị chưa có bao giờ rời quý vị mà quý vị cứ than là người thương không còn nữa. Quý vị bị kẹt vài hình đáng cũ của người thương. Nếu mình bị kẹt vào hình dáng cũ của đám mây thì mình không thấy đám mây trong cơn mưa hay trong tảng nước đá.
 
 

Trời phương ngoại

Có một ngày nào quý vị nhìn lên trời và thấy một đám mây rất đẹp, quý vị có cảm tình với đám mây nhưng đám mây thì vô thưòng. Đó là lời đức Thế Tôn dạy : đám mây vô thường. 

Nó có đó rồi lát nữa nó sẽ thay hình đổi dạng. Nó là hai đám mây nhỏ nhưng một giờ sau nó sẽ thở thành một đám mây lớn. người thương của chúng ta cũng vậy : cũng vô thường? cũng thay hình đổi dạng. Khi người thương thay hình đổi dạng ta khóc, ta đi tìm cái hình dáng cũ. Ta không thấy được cái hình dáng cũ ta cho rằng người thương không còn nữa. Tại vì ta không có con mắt của Phật, của các vị Bồ Tát, của những người thực tập thiền. Ta không thấy được đám mây trong ly nước, không thấy được người thương đang có mặt cho chúng ta, đang tiếp xúc, trò chuyện với chúng ta. Ta cứ tưởng là người thương đã mất. „Người thương chúng ta đang ở đâu ?“ Đó  là câu hỏi. „Đang ở trên rừng hay ở dưói biển ?“. Khi chúng ta đi vớt vong trên biển hay ở địa điểm của một trận chiến, ta cứ ngỡ là linh hồn của người đó quanh quẩn ở chổ đó. Nhưng kỳ thật bản chất của người đó là không tới không đi. Ta có thể tiếp xúc với người đó bất cứ ở đâu, bất cứ nơi nào.

Khoa học bây giờ, nhất là khoa vật lý mới ( Quantum mechanism ) cho biết là bản chất của những điện tử, những hạt vật chất, những đợt sóng vật chất là phi cục bộ. Phi cục bộ được dịch từ tiếng anh là non local, có nghĩa là không thể tìm thấy được trong không gian. Nó có mặt bất cứ ở đâu. Mình không thể nhận diện ra nó trong một phương hướng hay một không gian nhất định. Đức Thế Tôn cũng vậy. Bản chất của đức Thế Tôn là phi cục bộ. Ở bắc ta có thể tiếp xúc với đức Thế Tôn mà ở nam ta cũng có thể tiếp xúc được với đức Thế Tôn. Trên rừng ta có thể tiếp xúc với đức Thế Tôn mà ở biển cả ta cũng có thể tiếp xúc được với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn có mặt ở khắp mọi nơi trong vũ trụ. Không có nơi nào mà đức Thế Tôn không có mặt.

Trong kho tàng văn chương Phật giáo Phương Đông có  một cái tên rất hay đó là phương ngoại phương, có nghĩa là không gian ở ngoài không gian. Khi mình giải thoát, giác ngộ rồi thì chổ nào cũng là nhà của mình. Ngày xưa ta có Tuệ Trung Thượng sĩ, một vị thiền sư cư sĩ đã chứng ngộ trong khi tu thiền. Ngài là anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo. Trần Hưng Đạo có sự nghiệp vẻ vang về quân sự nhưng Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Quốc Tung  có sự nghiệp vẻ vang về thiền. Tuệ Trung Thượng sĩ có viết câu thơ : „ Chống gậy rong chơi hề phưong ngoại phương„. Mình rong chơi trong trời phương ngoại. Trời phương ngoại là trời không bị cục bộ vào không gian, không bị cục bộ vào đông tây nam bắc. Vượt không gian, và không gian nằm ngoài không gian gọi là trời phương ngoại. Vượt khỏi thời gian gọi là kiếp ngoại.

Kiếp ngoại có nghĩa là thực tại của chúng ta không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Bản chất của chúng ta là phương ngoại phương. Bản chất cũa chúng ta cũng giống như bản chất của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn có mặt ở mọi thời mọi xứ. Đức Thế Tôn không bị không gian và thời gian giới hạn. Đám mây cũng vậy, cây bắp cũng vậy, ta cũng vậy, người thương của ta cũng vậy. Bản chất của ta, bản chất của ngưòi thương của ta là phi cục bộ, là phương ngoại phương. Đừng nói rằng ta phải đi tới chổ đó mới gặp được người thương. Ta phải trở về thời gian đó mới gặp đưọc người thương. Bản chất của người thương là phi cục bộ. Nếu biết tu mình có thể tiếp xúc với người thương bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Đây là giáo lý thậm thâm vi diệu của đức Thế Tôn mà khoa học ngày hôm nay  đã có cái thấy tương đương. Thay vì dùng chữ rất nên thơ „phương ngoại phương“ hay „kiếp ngoại“ thì khoa học bây giò dùng chữ non local dịch là phi cục bộ. Nhưng phi cục bộ không hay bằng phương ngoại phương của Phật dạy. 
 

Rất là uổng ! quý vị bận rộn quá trong đời sống hằng ngày vì chuyện mưu sinh, vì những lo lắng buồn khổ. Giáo lý của đức Thế Tôn có những cái hết sức mầu nhiệm. Hôm nay tôi mời quý vị nếm thử, không khó khăn lắm đâu. Chúng ta biết rằng đạo Phật có phần tôn giáo tín ngưỡng. Cầu nguyện bái sám có thể làm vơi nhẹ một ít đau khổ của chúng ta. Nhưng đạo Phật không chỉ có phần bái sám cầu nguyện mà có phần tuệ giác rất là vĩ đại. Nếu chúng ta tập chọc thủng được cái vỏ cầu nguyện bái sám, chúng ta đi vào kho tàng của tuệ giác đó. Ta dùng tuệ giác đó để tháo gỡ tất cả những bế tắt, những lo âu phiền muộn, sợ hãi của chúng ta.

Chúng ta không làm được chuyện đó nếu chúng ta không quán chiếu về tính bất sinh bất diệt, phi khứ phi lai, phi hữu phi vô. Là Phật tử chúng ta đừng mãn ý với sự cầu nguyện bái sám. Những cái đó rất hay. Nó cần thiết để làm vơi nhẹ nỗi khổ niềm đau của mình. Nhưng muốn giải quyết vấn đề cho triệt để, muốn tháo gỡ những lo lắng, sầu muộn, sợ hãi thì chúng ta phải sử dụng cái kho tàng tuệ giác của đạo Phật mà ít người với tới được.

Sáng nay cũng như ngày hôm qua tôi muốn giới thiệu với quý vị chút ít kho tàng tuệ giác đó để quý vị có thể đi tìm lại người thương của mình một cách dễ dàng hơn. Người thương của mình có tính cách phi cục bộ, phương ngoại phương. Điều này là một chân lý thâm diệu mà khoa học lượng tử ( quantum mechanism ) bắt đầu sờ mó tới được. Trong thế kỷ 21 khoa học lượng tử và Phật giáo có thể tay trong tay để diễn bày cái tuệ giác mà đức Thế Tôn đã đạt được hai ngàn sáu trăm năm trước. Nhà bác học Einstein nói : „ Nếu có một tôn giáo có thể đi đôi với khoa học thì tôn giáo đó là Phật giáo.“ Vì vậy tại các Phật học viện các thầy các sư cô cũng đang học về khoa học. Học khoa học để hiểu Phật giáo hơn. Những nhà khoa học phải học Phật giáo để hiểu khoa học hơn, để có những khám phá sâu sắc hơn.
 

Hạt giống đang nẩy mầm và lớn mạnh

Chúng tôi có một niềm tin rất vững chãi và sâu sắc nơi giáo lý của đức Thế Tôn. Khi chúng ta quán chiếu được theo lời chỉ dẫn của đức Thế Tôn rằng bản chất của vạn pháp là vô sinh bất bất diệt, vô khứ vô lai, không phải một cũng không phải khác nhau, không phải có cũng không phải không, thì chúng ta giải quyết được không biết bao nhiêu vấn đề của cuộc sống. Chúng ta tháo gỡ được những lo ngại, những sợ hãi tuyệt vọng của chúng ta. Điều này là một cái phước cho người Phật tử. Mình đã được sinh ra trong một dòng họ tâm linh, một nền văn hóa siêu việt, đó là Phật giáo. Phật giáo bây giờ có cơ hội được truyền bá sang tây phương. Những đứa con của Cơ đốc giáo, Do thái giáo, Hồi giáo ở Tây phưong bằt đầu làm quen với đạo Phật. Trong 40 năm chúng tôi đã gieo rắc hạt giống của Phật pháp trên Âu châu, Mỹ châu và cả Phi châu. Những hạt giống đó đã gặp thời tiết, đang nẩy mầm và lớn mạnh. Đó là một tin mừng cho nhân loại. Những hạt giống Phật pháp tôi đem gieo rắc ở Tây phương, ở Âu châu, Úc châu, Mỹ châu và Phi châu là những hạt giống lấy từ mảnh đất văn hóa Việt nam. 

Chúng tôi đã viết những cuốn sách đối thoại với những tôn giáo khác, nhất là Cơ đốc giáo. Có ít nhất là hai cuốn sách của tôi có cơ duyên đối thoại với Cơ đốc giáo ( Tin Lành và Công giáo). Cuốn đầu là Living Christ Living Buddha? dịch ra tiếng Việt là Chúa ngàn đời Phật ngàn đời. Cuốn sách được viết bằng tiếng Anh và được dịch ra hơn bốn mươi tiếng khác trong đó có tiếng Hoa nhưng chưa có tiếng Việt. Đã có một vài người dịch ra rồi nhưng chưa được in bằng tiếng Vìệt. Tôi mong rằng sách đó được ấn hành ở Việt Nam sớm để người Phật tử, người Công giáo và người Tin Lành có thể tới gần với nhau nhiều hơn. Bên Trung quốc sách được dịch là Sinh Sinh Ki Tô Thế Thế Phật. Có nhiều nhà tu trong tu viện kín Công giáo đã đọc và đã tháo gỡ được nhiều khó khăn trong niềm tin của họ. Họ đã viết thư cám ơn rất nhiều. Cuốn đó có rất nhiều công đức vì đã đem những Phật tử và những người Công giáo tới gần  nhau. Nó giúp cho cả hai bên cởi bỏ những thành kiến sai lầm của nhau. Cuốn thứ hai là Coming Home  - Jesus And Buddha Are Brothers ( Hãy về nhà đi ! Phật và Chúa là hai anh em, không phải người xa lạ ). Bụt sinh trước Chúa mấy trăm năm cố nhiên Bụt phải làm anh, Chúa làm em. Hai anh em nhà họ nắm tay nhau để hóa độ cho thế giới đầy hận thù, đầy tuyệt vọng này. Tôi hy vọng cuốn sách đó được ấn hành tại Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam đã cho chúng tôi xuất bản nhiếu cuốn sách tại Việt Nam. Trong bốn mươi năm chúng tôi đã cho ra không biết bao nhiêu sách phát hành trên khắp thế giới, cả ngay tại Trung quốc. Ở Việt Nam có một số rất ít đạo hữu đã được đọc sách đó. Những sách đó được in chui nhưng bây giờ mình khỏi phải in chui nữa vì nhà nước đã cho phép. Có khoảng gần hai mươi cuốn sách đã được xuất bản. Có nhiều cuốn được Nhà Xuất bản Tôn giáo xuất bản. Có nhiều cuốn được Nhà Văn hóa Sài Gòn xuất bản trong đó cuốn Thả một bè lau -cái nhìn thiền quán về truyện Kiều-. Tôi đã dịch truyện Kiều ra văn xuôi dành cho người trẻ? đọc dễ như là đọc tiểu thuyết, không cần phải chú giải. Sau khi đọc truyện Kiều văn xuôi xong mình có thể trở về văn vần và hiểu văn vần dễ dàng hơn. Tôi đã viết lại những truyện truyền kỳ thần tiên của nước Việt như truyện Trầu Cau truyện Sơn Tinh Thủy Tinh truyện Bánh Chưng Bánh Dầy. Sách này được xuất bản ở Việt Nam  với  tựa là Hương Vị Của Đất. Ngày xưa nó đã được xuất bản một lần dưới tên là Văn Lang dị sử. Có một cuốn sách có thể giúp quý vị hiểu sâu xa hơn về đề tài đã nói trong ngày hôm qua và ngày hôm nay đó là cuốn Không Sinh Không Diệt Đừng Sợ Hãi. Nếu quý vị đọc sẽ hiểu sâu hơn về đề tài người thân tôi mất tôi đi tìm ở đâu.
 

Tôi cảm thấy  rất hạnh phúc được ngồi đây với chư tôn đức, các thầy? các sư cô, các Phật tử. 

Tôi đi hành đạo ở Tây phương trên bốn mươi năm. Phần lớn người đến với chúng tôi thực tập toàn là người Tây phưong. Người Việt bên đó rất ít. Trong mỗi khóa tu từ tám trăm đến một ngàn người, người Việt chỉ chiếm tỉ số từ hai đến ba phần trăm. Những cái chúng tôi chia sẻ trong giáo lý và trong sự thực tập, người Tây phương tiếp nhận rất nhiều. Họ đã thiết lập trong những thành phố lớn những đoàn thể tu học gọi là community of mindful living – có nghĩa là những tăng thân tu học theo nghệ thuật sống trong chánh niệm. Có hơn tám trăm đoàn thể như vậy. Mỗi tuần họ qui tụ với nhau ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm trong chánh niệm, nghe pháp thoại của thầy, tổ chức pháp đàm, tụng giới. Thành phồ Luân Đôn đã có mười tăng thân như vậy. Thành phố Nữu Ước có hơn mười tăng thân toàn là người Mỹ tu tập. Những hạt giống mà chúng tôi đem đi từ Việt Nam cách đây hơn bốn mươi năm đã được gieo trồng khắp ở Tây phương. Đi đâu quý vị cũng có thể nhận diện ra được sự có mặt của văn hóa Việt Nam ở Tây phương. Những cuốn sách khó tìm thấy ở Việt Nam quí vị có thể tìm thấy ở bất cứ một tiệm sách nào ở Âu châu hay Mỹ châu. Bên Mỹ vào bất cứ một tiệm sách nào quí vị cũng có thể thấy sách của chúng tôi trình bày chung với sách của đức Đạt Lai Lạt Ma thành hàng rất dài ba bốn chục cuốn. Tôi nghĩ rằng nếu quí vị tới một tiệm sách ở Sài Gòn ( thành phố Hồ Chí Minh ) hỏi sách của chúng tôi thì cũng có ít nhất là mười hay mười lăm cuốn.

Chúng ta có hạnh phúc được qui tụ với nhau tại đây trong ba ngày để nghe pháp, để thực tập ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm trong chánh niệm và để cầu nguyện cho những đồng bào đã tử nạn trong chiến tranh, cũng để chữa lành những thương tích để chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau mà bấy lâu nay chúng ta mang nặng ở trong lòng. Đây là một dịp hiếm có. Tôi mong rằng quí vị sẽ thực tập hết lòng để chúng ta đạt đến kết quả là âm siêu dương thái, đất nước được nhẹ nhàng, tươi vui hưng thịnh, lòng người được thống nhất và quê hương có dịp được sánh vai với các nước tiền tiến trên thế giới.

Tôi rất vui. Ngồi như thế này tôi có cảm tưởng là ngồi trong một gia đình chứ không phải ngồi trong quần chúng. Chúng ta là một gia đình. Chúng ta đều là con của đức Thế Tôn, là anh em của nhau, là chị em của nhau. Mong rằng quí vị nuôi dưỡng được tình huynh đệ đó, tình gia  đình tâm linh đó./.

HẾT

http://www.phusa.info/
http://www.thuvienhoasen.org/index-tacgia-nhathanh.htm

.
 
.
 
.