|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CHIỀU
THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
|
|
TU
VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẾN
VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
TIN
TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
NỘI
DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
TIN TỨC
& chuyến đi
Việt Nam của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
 |
 |
NGƯỜI
THƯƠNG CỦA TÔI MẤT RỒI
TÔI
PHẢI ĐI TÌM Ở ĐÂU (PHẦN MỘT)
Tháng
03 2007 - Chân An Tịnh và Chân Giác Lưu biên tập
Pháp
thoại của Sư ông Làng Mai ngày 16 - 03 - 2007
tại
chùa Vĩnh Nghiêm - Sài Gòn trong Đại lễ Thủy Lục Giải Oan
Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn Âm thanh MP3 : Phần
1 (11MB) Phần
2 (6MB)
Kính
thưa Đại chúng,
Hôm
nay là ngày 16 tháng 3 năm 2007, chúng ta đang ở tại chùa Vĩnh
Nghiêm trong Đại Trai Đàn Giải Oan Chẩn Tế Bình Đẳng. Hôm
nay là ngày đầu của Đại Trai Đàn. Đề tài của buổi
thuyết giảng của hôm nay là:
”
Người
thương của tôi mất rồi, tôi phải đi tìm ở đâu ?”
Người
thương tôi chết tôi phải đi tìm người đó ở đâu? Chúng
phải lắng lòng và cùng quán chiếu để có thể thấy được.
Ví
dụ như khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống đất và nếu
có trận mưa thì trong năm ngày hay bảy ngày, hạt bắp sẽ
nẩy mầm và sẽ lên một cây bắp. Mười ngày sau đó, chúng
ta thấy được một cây bắp non, hai lá hay là ba lá và nhìn
kỹ thì không có thấy hạt bắp nữa. Bây giờ đây thay vì
thấy hạt bắp thì mình thấy một cây bắp con và mình nói
hạt bắp đã chết rồi.
Kỳ
thật hạt bắp không có chết! Hạt bắp đã trở thành cây
bắp con. Nó thay hình đổi dạng.
Nếu
mà nhìn cho kỹ, nhìn bằng con mắt của người Phật tử,
nhìn bằng con mắt của người biết tu, biết quán chiếu,
thì khi mình thấy cây bắp non, mình cũng có thể thấy được
hạt bắp ngày xưa đang có mặt trong cây bắp non đấy.
Nó
chưa chết! Nó vẫn còn tiếp tục ở trong cây bắp non và
nó thay hình đổi dạng.
Chúng
ta cũng vậy. Khi chúng ta nhìn vào trong thân thể chúng ta, mà
nhìn cho thiệt kỹ, thì chúng ta thấy cha ở trong ta, mẹ ở
trong ta. Có thể cha ở ngoài mất rồi, mẹ ở ngoài mất rồi.
Nhưng cha trong ta và mẹ trong ta vẫn còn sống, vẫn còn tiếp
tục, tại vì mình là sự tiếp nối của cha, mình là sự
tiếp nối của mẹ. Mình đang mang cha và mẹ đi vào trong tương
lai.
Khoa
học cũng nói như vậy. Tất cả những cái „gen“ của cha
và mẹ đang có ở trong từng tế bào cơ thể của mình
và vì vậy cho nên khi mình thở vào thì cha cũng thở vào với
mình. Khi mình thở ra thì mẹ cũng thở ra với mình. Đây là
một chuyện hết sức khoa học.
Nếu
mình buồn khổ thì cha mẹ trong mình cũng buồn khổ, nếu
mình nhẹ nhàng khỏe khoắn thì cha mẹ ở trong mình cũng nhẹ
nhàng khỏe khoắn. Cho nên mình sống như thế nào, mình phải
tu tập như thế nào để mình có sự nhẹ nhàng khỏe
khoắn và cha mẹ trong ta cũng được nhẹ nhàng, khỏe khoắn.
Mình là một đứa con có hiếu. Nếu mình giận dữ, mình buồn
tủi, mình khổ đau thì là cha trong mình cũng giận dữ, buồn
tủi, khổ đau, mẹ trong mình cũng giận dữ buồn tủi, khổ
đau.
Nhưng
nếu mình mỉm cười hoan hỷ được, thì cha ở trong mình
cũng mỉm cười hoan hỷ, và mẹ ở trong mình cũng có thể
mỉm cười hoan hỷ được. Mình như thế là một đứa con
có hiếu. Cái sự thật là : chúng ta là sự tiếp nối của
cha, của mẹ và của ông bà, tổ tiên. Mình tưởng rằng ông
bà tổ tiên đã mất rồi, không còn nữa, nhưng kỳ thật
ông bà tổ tiên vẫn đang còn ở trong ta, ở trong mình và
mình mang tất cả ông bà tổ tiên dòng họ và cha mẹ mà đi
vào trong tương lai. Mình cũng sẽ trao truyền tất cả tổ
tiên ông bà cha mẹ cho con của mình và cho cháu của mình.
Đó là con cháu huyết thống. Mình trao truyền tổ tiên, ông
bà, cha mẹ cho con cháu huyết thống.
Khi
đi xuất gia thì mình sẽ không có con cháu huyết thống nữa,
nhưng mình có con cháu tinh thần. Và khi mình có đệ tử, và
đệ tử của đệ tử thì đó cũng là một loại con cháu
và con cháu này gọi là dòng họ tâm linh. Mình cũng trao truyền
tất cả những sự tu học, thành đạt, an lạc, hạnh phúc,
giải thoát của mình cho đệ tử và đệ tử của đệ tử.
Vì
vậy cho nên trong người đệ tử có thầy và mỗi khi người
đệ tử đó nói một câu dễ thương thì thầy trong người
đệ tử cũng đang nói một câu dễ thương. Nếu người đệ
tử nói một câu khó thương thì thầy trong người đệ tử
cũng nói một câu khó thương. Người đệ tử đó là không
có hiếu với thầy. Nếu người đệ tử có tu học, biết
thở vào cảm thấy khỏe, thở ra cảm thấy nhẹ thì đó là
người đệ tử đang làm cho thầy mình hạnh phúc. Nếu
mình tu học thành công, mình có sự thảnh thơi, giải thoát,
lòng từ bi nhiều thì mình sẽ trao truyền được những cái
đó cho các đệ tử và đệ tử của đệ tử mình.
Vì
vậy cho nên chúng ta có hai gia đình. Một là gia đình huyết
thống và một cái là gia đình tâm linh. Nếu thiếu một gia
đình thì nó còn thiếu nhiều. Trên hai vai chúng ta mang hai
gia đình. Một vai mang gia đình huyết thống gồm có tổ tiên
ông bà cha mẹ và một vai thì mang gia đình tâm linh :
có thầy, có tổ, có Bụt và chư vị Bồ Tát.
Trong
con người của mình có sự tiếp tục của ông bà tổ tiên
trong huyết thống và có sự tiếp tục của ông bà tổ tiên
tâm linh. Vì vậy mình phải là những người con có hiếu.
Mình phải làm thế nào để đừng đánh mất cái giá trị
của tổ tiên ông bà đã trao truyền cho mình.
Không
sinh không diệt.
Bây
giờ mình hãy quán chiếu về một đám mây ở trên trời.
Khi đám mây ở trên trời biến thành mưa thì mình
có thể gọi đám mây đó đã chết, tại vì nhìn lên không
thấy đám mây nữa. Nhưng điều đó không có nghĩa là
đám mây không còn. Nó còn nhưng mà nó đã thay hình đổi
dạng. Nó đã biến thành mưa. Trong kiếp trước nó là đám
mây, nhưng mà trong kiếp hiện tại nó là mưa, và ngày mai
nó có thể biến thành dòng suối. Và vì vậy cho nên đám
mây cũng thay hình đổi dạng.
Ông
bà của mình cũng vậy, tổ tiên của mình cũng vậy và cha
mẹ của mình cũng vậy. Có thể là họ không còn với hình
thức cũ nhưng mà họ không phải là đã mất. Mình nói “Ba
tôi mất rồi!” không có đúng. Nói ba tôi thay hình đổi
dạng rồi thì đúng hơn. Cũng như khi mình nói là cái
hạt bắp đã chết thì nó không đúng. Nói: “Cái hạt
bắp nó đã thay hình đổi dạng để trở thành cây bắp non
“ thì nó đúng hơn. Cho nên ba mình, ông nội mình, ông ngoại
mình đang còn đâu đó. Đừng có nói rằng những người đó
đã mất rồi. Không ! Họ không có mất.
Đám
mây không thể nào chết được. Đám mây chỉ có thể trở
thành mưa, thành nước đá, mưa đá, trở thành tuyết, trở
thành… nước trà. Khi tôi nâng một ly trà lên tôi uống,
mà uống trong chánh niệm, nhìn cho sâu, cho kỹ thì tôi thấy
rõ ràng đám mây đang ở trong ly trà của tôi. Và thay
vì uống trà thì tôi đang uống mây. Mỗi ngày quý vị uống
mây rất nhiều nhưng mà quý vị không biết là mình đang uống
mây. Mây nó chưa bao giờ chết. Mây nó đã trở thành nước
mưa. Nó trở thành canh. Trở thành nước trà. Nó trở thành
nước dừa. Nó trở thành nước mía. Và vì vậy cho nên
bản chất của đám mây là không sinh không diệt.
Ban
đầu mình nhìn khơi khơi trên bề mặt thì mình thấy như
đám mây có sanh có diệt. Nhưng mà khi mình nhìn cho kỹ -gọi
là thiền quán- thì mình khám phá ra rằng đám mây nó không
sinh không diệt. Trước khi đám mây là đám mây thì nó đã
là sông, đã là hồ, đã là biển cả. Rồi nhờ sức nóng,
nhờ ánh sáng chiếu xuống nước bốc hơi thành đám mây.
Đám mây đó không phải từ không mà trở thành có. Đám mây
đã tới từ ao hồ, sông ngòi, rạch và biển cả. Và đám
mây có một kiếp trước của nó. Trước khi đám mây biểu
hiện thành đám mây thì nó đã là những cái gì khác rồi.
Thì mình cũng vậy. Trước khi mình sanh ra thì mình đã là
cái gì đó trước rồi. Chứ không phải sau khi mình sanh ra
mới bắt đầu có.
Tờ
giấy này, trước khi nó sanh ra ở trong nhà máy giấy thì nó
có là con số không đâu ? Từ con số không làm sao mà trở
thành tờ giấy được. Mình nhìn kỹ vào trong tờ giấy mình
thấy rằng ở trong đó có rừng cây. Nếu không có rừng cây
thì làm sao có bột giấy được. Người thông minh nhìn vào
tờ giấy họ thấy rừng cây, họ thấy mưa ! Nếu không có
mưa thì làm sao cây mọc được. Cho nên trong tờ giấy có
rừng cây, có mưa. Trong nó có mặt trời. Nếu không có mặt
trời chiếu xuống thì làm sao cây cối mọc? Trong này có đất.
Nếu không có đất thì làm sao cây mọc? Vì vậy cho nên nhìn
vào tờ giấy mà nhìn cho thật lâu thật kỹ, sẽ thấy rất
nhiều các yếu tố kiếp trước của nó. Những yếu tố kiếp
trước của nó là đất, là đám mây, là mặt trời, là rừng
cây.
Là
những biểu hiện
Người
tu thiền nhìn rất là sâu. Nhìn vào một cái thì thấy được
rất nhiều cái. Cũng như khi mình nhìn vào cây bắp thì mình
thấy được hột bắp. Tuy là cái tướng của hột bắp nó
không còn nữa, nhưng kỳ thực hột bắp nó đang còn ở trong
cây bắp. Nó thay hình đổi dạng. Vì vậy cho nên người thương
của mình không thật sự mất. Người thương của mình thay
hình đổi dạng. Và nếu như mình có khả năng nhìn cho kỹ,
nhìn cho sâu, thì mình vẫn thấy được sự có mặt của người
mình thương đâu đó, nhất là ở trong tự thân của mình
và xung quanh mình. Rất gần. mà mình tưởng là xa. Cũng như
là khi mình nâng ly trà lên uống, ở trong ly trà đá mình uống
đâu có thấy đám mây. Nhưng kỳ thực đám mây nó rất gần.
Trong khi mình đang uống ly trà đá thì mình đang uống mây.
Và mây ở đâu ? Mây ở trong mạch máu của mình. Mình có
tới mấy chục lít mây ở trong con người. Nếu không có mây
ở trong con người của mình thì mình khô héo. Cho nên mây
không phải chỉ ở trên trời mà thôi, mây còn ở trong bình
trà của mình. Mây ở trong cây mía, ở trong trái dừa, ở
trong máu của mình. Như vậy thì mây rất gần mà mình tưởng
là mây xa.
Người
thương của mình cũng vậy, rất gần mình mà mình cứ tưởng
ở đâu rất là xa. Nhờ quán chiếu mà mình thấy được người
thuơng của mình rất gần gũi với mình và mình có thể xúc
chạm, có thể nói chuyện với người đó được. Nếu mình
biết người thương của mình đã thay hình đổi dạng thì
mình biết rằng người đó vẫn còn, vẫn còn đó. Mình có
thể tiếp xúc với người đó bằng nhiều cách. Mình có thể
nói chuyện với người đó.
Ba
tôi mất đã từ lâu rồi nhưng mà mỗi ngày tôi có thể nói
chuyện được với người. Tại vì tôi biết rằng ba tôi
đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể. Có một bữa
ngồi thiền tôi thấy khỏe quá, tôi thấy nhẹ nhàng quá,
thấy trong lòng rất là bình an, không có ước mơ cái gì hết,
không có chạy theo cái gì hết. Tôi có hạnh phúc rất lớn.
Tôi nói cha con mình thành công rồi. Mình giải thoát rồi.
Mình nhẹ nhàng rồi. Thật đúng như vậy. Tu là mình
tu cho cha, mình tu cho mẹ, cho ông bà tổ tiên. Nếu mà mình
có an lạc có giải thoát, có lòng từ bi thì tổ tiên của
mình, ông bà của mình, cha mẹ mình cũng có an lạc, giải
thoát và từ bi. Mình là đứa con rất là có hiếu. Ai bảo
đi tu là không có hiếu. Đi tu là một phương pháp báo
hiếu rất là sâu sắc.
Mỗi
khi tôi đi thì tôi đi những bước chân rất là nhẹ nhàng
thanh thản, bước nào cũng vững chãi, bước nào cũng thảnh
thơi. Bước chân nào cũng nuôi dưỡng tôi và bước chân nào
cũng đem lại hạnh phúc. Trong khi tôi đi như vậy tôi tiếp
xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, trời xanh,
mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở. Những cái đó nuôi
dưỡng tôi, trị liệu cho tôi. Đi như vậy tôi đi như là
con người tự do. Tôi đi như đức Thế Tôn đã từng đi ngày
xưa. Từng bước chân thảnh thơi. Từng bước nở hoa sen.
Mình đi như vậy thì cha mẹ ông bà và tổ tiên ở trong người
mình cũng đi được như vậy. Mình là một đứa con có hiếu.
Mình là một đứa đệ tử có hiếu. Tôi cảm thấy tôi là
một đứa con có hiếu là một đứa đệ tử có hiếu tại
vì tôi thở cho thầy, tôi thở cho Phật, tôi thở cho ông bà
tổ tiên. Tôi mỉm cười cho thầy, tôi mỉm cười cho Phật,
tôi mỉm cười cho tổ tiên. Tôi không có những phiền não.
Tôi có nhiều lòng từ bi. Tôi biết là Phật, thầy tổ, ông
bà tổ tiên ở trong tôi đang hạnh phúc. Tôi biết rằng tôi
là một đứa con có hiếu nhờ tôi có tu.
Trước
hết mình phải từ bỏ quan niệm là người thương của
mình bây giờ không còn nữa, người thương mình mất rồi,
từ có mà trở thành không. Đó là một cái tà kiến,
tức là một cái thấy sai lầm (tiếng Anh gọi là wrong perception,
wrong view). Trước khi tờ giấy là tờ giấy thì nó không phải
là con số không. Quí vị có đồng ý với tôi như vậy chăng?
Trước đó nó đã là cái gì rồi. Nó không phải từ không
mà trở thành có. Nó là sự tiếp nối. Ngày mình ra đời
là ngày tiếp nối, chứ không phải là ngày từ không mình
trở thành có. Danh từ ngày sinh cũng không có đúng lắm vì
sinh có nghĩa là từ không mà trở thành có. Danh từ ngày tiếp
nối hay hơn nhiều. Trước đó mình đã có rồi dưới một
hình dạng khác, bây giờ mình tiếp nối dưới một hình dạng
khác. Thật sự ra ngày sinh không phải là ngày sinh mà là ngày
thay hình đổi dạng, ngày tiếp nối.
Chỉ
có sự tiếp nối thôi
Tôi
có nói trước tiên mình phải bỏ đi ý tưởng từ không
đến có và từ có trở thành không. Cái đó gọi là
tà kiến (wrong view). Nhìn vào đám mây mình biết rằng trưóc
khi là đám mây, nó đã là cái gì khác. Nhìn vào tờ giấy,
mình biết rằng trước khi là tờ giấy nó đã là cái gì
khác rồi, như rừng cây chẳng hạn. Nhìn vào cây bắp mình
biết rằng cây bắp nó không phải sinh ra mà là sự tiếp
nối của hạt bắp và hạt bắp cũng là sự tiếp nối của
cây bắp. Chỉ có sự tiếp nối thôi. Cho nên thay vì chúc
mừng ngày sinh mình nên chúc mừng ngày tiếp nối. Thay vì
chúc happy birthday thì mình chúc happy continuation day. Ngày
mình chết cũng thật chưa phải là ngày chết, là ngày tiếp
nối, tiếp nối với một cái dạng khác, thay hình đổi dạng
mà thôi! Cũng vậy, đám mây đâu có chết! Đám mây không
còn trong hình thái của đám mây nữa. Đám mây đã trở thành
mưa. Nếu nhìn cho kỹ thì thấy trong mưa có đám mây, trong
trà có đám mây.
Tu
thiền giúp cho mình thấy những cái mà người không tu không
thấy được. Đám mây không chết! Đám mây chỉ thay hình
đổi dạng. Người thương của mình cũng vậy. Người thương
của mình không chết. Người thương của mình chỉ thay
đổi dạng mà thôi. Cái ý tưởng từ không trở thành có,
từ có trở thành không : trước khi sinh mình không là cái
gì hết, sau khi sinh mình mới là một cái gì, rồi sau một
trăm năm hay ít hơn mình chết, mình từ có trở thành không,
ý tưởng đó là một tà kiến. Cái thấy đó rất sai lầm.
Mình phải lấy cái thấy đó ra khỏi đầu của mình.
Mình gần với Phật nhiều hơn.
Bản
chất của đám mây là không sinh không diệt. Bản chất của
tờ giấy là không sinh không diệt. Bản chất của người
thương của mình cũng vậy : không sinh không diệt. Người
thương của mình vẫn có đó, vẫn đang có mặt rất gần
mà mình không thấy được. Mình tưởng đây chỉ là nước
mà không phải là mây. Nhưng kỳ thật đây cũng là mây.
Sai
lầm đầu tiên mình phải lấy ra khỏi đầu mình là tà kiến
: từ không trở thành có và từ có trở thành không. Thi sĩ
Vũ Hoàng Chương có một câu thơ : ”Đâu có lẽ có chiều
qua mà không sáng nay”.
Thay
đổi trong từng phút từng giây
Ý
tưởng thứ hai, cũng là một tà kiến: người thương của
mình bây giờ cũng y hệt như người thương của mình mười
năm, hai mươi năm trước. Người thương của mình đã thay
hình đổi dạng. Nếu mình tìm người thương của mình dưới
cái dạng ngày xưa thì mình sẽ không tìm thấy được. Nếu
mình tìm đám mây trong dạng hiện tại thì mình sẽ thấy
đám mây. Nhưng nếu trong đầu mình chỉ nghĩ đến cái dạng
nổi trên trời thì mình sẽ không tiếp xúc được với đám
mây. Mình phải thấy rằng sự vật thay đổi hình dạng. Nếu
mình muốn tìm người thương của mình thì mình đừng bị
kẹt vào hình tướng cũ của người thương.
Giáo
lý của đạo Phật nói về vô thường, có nghĩa là thay đổi,
thay đổi trong từng phát từng giây. Chính chúng ta cũng thay
hình đổi dạng trong từng phút từng giây. Mình lật cuốn
album của mình hồi còn nhỏ. Mình thấy cái hình của mình
lúc năm tuổi. Bây giờ mình rất khác với em bé năm tuổi
đó. Mình đã thay hình đổi dạng. Tuy rằng mình vẫn còn
tên là Nguyễn Thi Thu Nguyệt, nhưng em bé tên Nguyễn Thị Thu
Nguyệt và thiếu phụ bốn mươi, năm mươi tuổi Nguyễn Thi
Thu Nguyệt rất là khác nhau. Nếu tìm em bé đó thì bây giờ
sẽ không tìm thấy được vì em đã thay hình đổi dạng.
Nguyễn Thị Thu Nguyệt của năm tuổi đã trở thành Nguyễn
Thị Thu Nguyệt của bốn mươi, năm mươi tuổi. Vì vậy phải
nhìn vào Nguyễn Thi Thu Nguyệt của năm mươi tuổi tìm gặp
Nguyễn Thị Thu Nguyệt của năm tuổi. Mình còn thay hình đổi
dạng huống hồ là người thuơng của mình. Mình đừng đi
tìm người thương của mình dưới hình thức quen thuộc mà
mình có trong đầu.
Ngày
xưa trong văn phòng của của chúng tôi bên Pháp có một bà
người Anh. Bà đến làm việc tự nguyện giúp cho văn phòng.
Là người Anh nên bà viết thư từ bằng thiếng Anh rất giỏi.
Lúc đó bà đã bảy mươi tuổi nhưng còn mạnh lắm. Bà là
người Anh giáo, không phải là Phật tử, nhưng bà rất thương
mình nên tình nguyện làm thư ký không công cho phái đoàn Phật
giáo hòa bình tại hội nghị Paris. Mỗi ngày bà chỉ ăn hai
bửa cơm chay, không có lương tiền mà làm việc rất giỏi.
Bà nói chồng bà ngày xưa rất đẹp trai nhưng ông chết lúc
ba mươi tuổi. Hình ảnh của người con trai ba mươi tuổi
đó còn ở mãi trong bà. Bà tin rằng khi chết bà lên thiên
đường sẽ gặp ông trở lại.
Một
hôm ăn sáng xong tôi hỏi bà : ”Này bà, bà nói rằng khi
chết bà lên thiên đường sẽ gặp lại ông, nhưng bà gặp
lại ông dưới hình thức nào? ba mươi tuổi hay bảy mươi
tuổi. Bây giờ bà đã bảy mươi tuổi rồi, nếu gặp ông,
ông sẽ không nhận ra bà đâu. Hồi đó bà là một thiếu
phụ rất trẻ, rất đẹp. Bây giờ bà bảy mươi tuổi, lên
trên đó làm sao ông nhận ra. - Ông sẽ nói “Bà không
phải là người thương của tôi! Người thương của tôi trẻ
lắm mà. Bà đâu phải là người thương của tôi. Bà đừng
có nhận là người thương của tôi”. Tại vì bà đã
thay hình đổi dạng, mà ông có lẽ cũng thay hình đổi dạng.
Nếu bà tìm hình bóng của người con trai ba mưoi tuổi năm
xưa thì có thể bà sẽ thất bại.
Đó
là cách tôi chia xẻ giáo lý vô thường vô ngã của đạo
Phật cho một người Anh giáo. Bà có hơi lúng túng. Sự
thật là như vậy, là vô thường. Ngay sự sống của mình
cũng vô thường huống hồ là cuộc sống chung quanh mình.
Vậy
thì hai tà kiến mình phải lấy ra khỏi đầu là : một
là có sinh và có diệt , hai là sự vật vẫn y như vậy không
thay đổi. Sự vật luôn luôn thay hình đổi dạng.
Nếu nắm được hai điều đó thì gần với tuệ giác của
đức Thế tôn.
Người
thương của mình ở khắp nơi
Trong
cuộc chiến tranh dai dẳng trên đất nước chúng ta có gần
năm sáu triệu đồng bào đã chết vì bom đạn hoặc vì những
nguyên do khác. Chúng ta thiết lập Trai Đàn Thủy Lục Giải
Oan Bình Đẳng Cứu Bạt để cầu nguyện cho tất cả đồng
bào của chúng ta. Bình đẳng có nghĩa là cho tất cả các
đồng bào không phân biệt tôn giáo, đảng phái chính trị.
Chúng ta cầu nguyện cho người cộng sản và cho người chống
cộng sản. Người miền Nam chúng ta cũng cầu nguyện cho, người
miền bắc chúng ta cũng cầu nguyện cho. Không có sự phân
chia, không có sự kỳ thị hận thù. Cái đó gọi là bình
đẳng. Nước Đức cũng bị chia đôi như nước Việt nam,
nhưng họ có phước hơn mình vì sau đó họ thống nhất được
nước Đức mà không cần phải có chiến tranh đổ máu. Đông
Đức và Tây Đức bây giờ là một nước và họ đang đóng
vai trò lãnh đạo trong Liên minh Châu Âu.
Năm
sáu triệu người mình chết cũng oan ức. Nếu mình khôn khéo
hơn, nếu mình biết con đường bất bạo động thì mình không
cần phải đi qua cuộc chiến tranh như vậy. Những người
chết trong chiến tranh, những người đó là ai, họ là đồng
bào của mình. Họ là cha, là anh, con trai, em trai của mình.
Họ đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ đất nước, để
dành độc lập cho đất nước. Cái chết của họ rất oai
hùng nhưng cũng có người chết không vẻ vang như vậy mà
chết trong hoàn cảnh rất là tăm tối, rất oan ức và hài
cốt của hằng trăm ngàn người vẫn chưa thể tìm ra được.
Người thương của mình ở khắp nơi, có đến năm sáu triệu
người chứ không phải chỉ có bốn năm người thân trong
gia đình. Chúng ta quy tụ lại để cầu nguyện siêu độ cho
tất cả mọi người chứ không phải chỉ cho người thân
trong gia đình mà thôi.
Thực
tập buông bỏ, tha thứ
Kỳ
này về thăm quê hương, tôi đã được thủ tướng chính
phủ cho phép hợp tác với giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ
chức ba trai đàn : một ở miền Nam theo nghi lễ cổ truyền
miền Nam tại chùa Vĩnh Nghiêm. Một ở Quốc tự Diệu
Đế miền Trung theo nghi thức cổ truyền miền Trung, một ở
chùa Non ( Sóc Sơn ) miền Bắc theo nghi thức cổ truyền miền
Bắc.
Chúng
ta có những khổ đau, oan ức trong lòng chưa có cơ hội nói
ra được. Chúng ta nén những khổ đau đó xuống. Trong cuộc
sống hằng ngày chúng ta bận rộn, có khi ta giận con cháu,
ta la rầy đánh đập chúng. Có thể vì những khổ đau oan
ức bị dồn nén xúi đẩy chúng ta có những lời nói, hành
động không dễ thương. Chúng ta chưa có cơ hội nhận diện
những khổ đau oan ức ở trong lòng. Trai Đàn Chẩn tế Giải
oan là một trong những phương pháp thực tập trị liệu, cho
phép những đau khổ oan ức trào lên ánh sáng của ý thức.
Ta nhận diện những khổ đau oan ức đó là có thật để
cầu nguyện chuyển hóa cho thân tâm được nhẹ nhàng. Khi
thân tâm được nhe nhàng thì chúng ta không có những lời
nói, hành động gây tổn thương cho người thương của chúng
ta.
Nếu
không thực tập chúng ta có thể sẽ trao truyền những oan
khổ đó cho các thế hệ tương lai. Con cháu chúng ta có thể
sẽ hành xử một cách bạo động, làm khổ những người
thương của chúng nó mà không biết tại sao. Sự thật là
vì những đau khổ uất ức đó chưa được chuyển hóa nên
tiếp tục truyền về các thế hệ tương lai. Cho nên Đai Trai
Đàn Chẩn Tế Giải Oan có mục đích là chuyển hóa những
oan khổ của những người đã mất và cả những oan khổ
của những người đang còn sống.
Khi
còn sống, nếu chúng ta có nhiều hận thù buồn tủi, ta không
được nhẹ nhàng thì ta sẽ làm khổ thân mình và làm khổ
người thân của mình. Khi ta chết rồi mà vẫn còn những
hận thù oan ức thì ta cũng không được nhẹ nhàng. Có những
phương pháp giúp cho người sống được thảnh thơi nhẹ nhàng.
Có những phương pháp giúp cho người đã chết - những người
thay hình đổi dạng - chuyển hóa được những hận thù, những
nổi khổ niềm đau. Trai Đàn Chẩn tế Giải Oan giúp người
sống lẫn người chết chuyển hóa được cái nặng nề oán
thù đã dồn chứa từ tháng này sang tháng khác, từ năm này
sang năm khác.
Mỗi
chúng ta được ban tổ chức đề nghị nên lập một bàn linh
trước hiên nhà. Trên bàn linh có thể cúng cháo trắng, nước
trong, cúng gạo, muối, bắp hay khoai luộc tùy ý. Mỗi ngày
phải thay cháo, thay nước trong, phải tụng kinh, đọc tam quy
năm giới. Trong suốt ba ngày liên tục thắp hương. Mình ráng
ăn chay để giúp sự chuyển hóa của những người chết được
dễ dàng hơn. Mình hồi hướng công đức cho những người
đã chết. Trong ba ngày đó mình làm việc thiện. Mình
bố thí phóng sanh, thả chim, thả cá, cấp học bổng cho sinh
viên nghèo, cho thuốc người bệnh, làm việc từ thiện xã
hội. Đó là một sự thực tập để chuyển hóa những nghiệp
cũ nặng nề, để cho người sống cũng như người chết có
được nghiệp mới nhẹ nhàng.
Vì
vậy Ba ngày của trai đàn Chẩn tế là ba ngày chúng ta phải
thực tập nghiêm mật. Chúng ta thực tập để đừng có những
tư tưởng đen tối hận thù, tư tưởng trách móc đối với
bản thân, con cái, bạn bè. Hãy thương lấy những người
thân của mình, Hãy thương lấy những bạn bè của mình dù
trong quá khứ những người đó đã từng vụng dại lỗi lầm,
đã nói và làm những điều khiến cho mình đau khổ. Trong
ba ngày Trai đàn Chẩn tế chúng ta phải thực tập buông bỏ,
tha thứ, thì chúng ta mới có thể giúp cho các vong linh được
nhẹ nhàng.
Trong
ba ngày đó chúng ta phải nói nhũng lời ái ngữ, không nói
những lời buộc tội, oán hờn, lên án, trách móc. Ta phải
tập nói nhũng câu nói dịu dàng đầy tình thương có khả
năng hiểu biết, đùm bọc, đó gọi là khẩu nghiệp.
Về
ý nghiệp ta có những tư tưởng đi đôi với từ bi tha thứ.
Nó góp phần vào sự chuyển nghiệp của chúng ta và sự chuyển
nghiệp của người thương đã chết.
Trong
ba ngày trai đàn chẩn tế, chúng ta nên có những thân nghiệp
có khả năng chuyển hóa : Chúng ta không sát sanh, đánh đập,
không làm khổ người khác. Trái lại ta có những cử chỉ
chăm sóc, thương yêu, lo lắng, bảo vệ như phóng sanh, bố
thí. Ta có thể sử dụng ba nghiệp - thân khẩu, ý - để chuyển
hóa bản thân và giúp chuyển hóa những người đã khuất.
Nếu
trong nước tất cả đều thực tập ba ngày như vậy thì sau
ba ngày đó niềm vui, hạnh phúc, tình huynh đệ, tình đồng
bào sẽ lên rất cao. Cả nước phải cùng thực tập với
nhau. Người Phật tử đã đành mà người Công giáo cũng nên
thực tập như vậy. Ban tổ chức đề nghị bên Công giáo
và Tin lành nên lập bàn thờ như vậy, thay vì đọc kinh Phật
thì có thể đọc Thánh kinh. Người Marxist cũng có thể thiết
lập một bàn linh trước hiên nhà và đọc những đoạn văn
có tính cách tâm linh của Marx.
Tóm
lại, Trai Đàn Chẩn tế mở rộng lòng để ôm lấy tất cả
đồng bào không phân biệt Nam Bắc, không phân biệt tôn giáo,
lập trường chính trị, hoàn toàn bình đẳng. Chúng ta chấp
nhận nhau, chấp nhận đồng bào của chúng ta, người sống
cũng như người chết. Trong tinh thần cởi mở đó, chúng ta
tiếp xúc được với Tam Bảo, với Phật Pháp Tăng, và nhờ
vào năng lượng vĩ đại của Tam bảo mà tất cả các vong
linh đều được chuyển hóa siêu độ. Công đức của chúng
ta sẽ vô lượng. Đó là cách chúng ta giúp nước giúp dân
bằng sự tu tập chuyển hóa ba nghiệp của mình. Về ý nghiệp
chỉ phát khởi ý tưởng thương yêu tha thứ. Về khẩu nghiệp
chỉ nói những lời thương yêu, tha thứ, khuyến khích. Về
thân nghiệp chỉ làm những việc có tính cách che chở, đùm
bọc, bảo vệ, cứu độ, phóng sanh từ thiện.
Ban
tổ chức rất trông cậy vào tất cả đồng bào - Phật tử
hay không Phật tử - thực tập nghiêm chỉnh trong ba ngày Trai
Đàn Chẩn tế. Chúng ta sẽ góp phần lớn lao vào sự chuyển
hóa nghiệp của cộng đồng của đất nước, giúp cho những
đồng bào nạn nhân của cuộc chiến tranh dai dẳng được
nhẹ nhàng siêu thoát.
Niềm
vui và và sự siêu thoát của họ cũng sẽ trở thành niềm
vui và sự siêu thoát của chúng ta và của con cháu chúng ta.
http://www.phusa.info/
|
NGƯỜI
THƯƠNG CỦA TÔI MẤT RỒI
TÔI
PHẢI ĐI TÌM Ở ĐÂU (PHẦN HAI)
Tháng
03 2007 - Chân An Tịnh và Chân Giác Lưu biên tập
Pháp
thoại của Sư ông Làng Mai ngày 17 - 03 - 2007
tại
chùa Vĩnh Nghiêm - Sài Gòn trong Đại lễ Thủy Lục Giải Oan
Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn Âm thanh MP3 : Phần
1 (11MB) Phần
2 (6MB)
Chỉ
có chuyển biến mà thôi.
Ngày
hôm qua chúng ta ta quán chiếu về một cây bắp non, về một
tờ giấy và về một đám mây.
Khi
nhìn vào cây bắp non thì chúng ta không thấy hạt bắp.
Nó đã làm ra cây bắp non. Chúng ta nghĩ rằng hạt bắp đã
chết nhưng mà kỳ thực nếu chúng ta nhìn cho kỹ thì thấy
hạt bắp vẫn còn sống trong cây bắp non. Nó chỉ thay hình
đổi dạng. Hạt bắp giống trở thành ra cây bắp non.
Khi
chúng ta quán chiếu về tờ giấy chúng ta thấy tờ giấy không
phải từ không mà trở thành có. Trước khi là tờ giấy thì
nó đã là rừng cây, nó đã là đám mây, đã là cơn mưa,
đã là đại địa.
Tờ
giấy vì vậy không phải từ không mà trở thành có. Cho nên
bản chất của tờ giấy là vô sinh. Không phải từ không
mà trở thành có. Giờ phút mà tờ giấy biểu hiện ra dưới
hình thức tờ giấy là giờ phút tiếp nối mà thôi.
Khi
quán chiếu đám mây chúng ta thấy rằng đám mây cũng là vô
sinh. Trước khi đám mây hiện ra như là một đám mây nó chẳng
phải là không. Đám mây đã từ sông hồ, từ biển cả, từ
sức nóng của mặt trời mà có. Đám mây không phải từ không
mà trở thành có. Khi đám mây không còn trên trời nữa thì
không phải là đám mây đã chết. Đám mây chỉ trở thành
mưa, thành tuyết hay là thành nước đá mà thôi. Đám mây
không thể nào chết được mà chỉ có thể thay hình đổi
dạng. Vì thế, bản chất của đám mây là không sinh không
diệt, chỉ có chuyển biến mà thôi.
Tờ
giấy cũng vậy. Khi chúng ta đốt tờ giấy thì tờ giấy không
phải từ có mà trở thành không. Trong khi đốt tờ giấy chúng
ta quán sát. Ta sẽ thấy tờ giấy trở thành sức nóng, trở
thành tro, trở thành khói. Khói đó, tro đó và sức nóng đó
là sự tiếp nối của tờ giấy. Không thể nào làm cho một
cái gì có trở thành không được, và không thể nào làm cho
một cái gì không trở thành có được. Chúng ta có một cái
nhìn rất là cạn về cái có và về cái không. Trong cái không
gian đang ôm ấp chúng ta đây quý vị biết rất rõ là có
những tín hiệu của những đài vô tuyến truyền hình, của
các đài phát thanh. Nó đầy dẫy ở trong không gian. Nhưng
chúng ta không nghe được, không thấy được những tín hiệu
đó. Chúng ta cần phải có một cái máy Tivi, hay là cái máy
Radio thì chúng ta mới bắt được những tín hiệu đó, mới
có thể nghe được hoặc thấy được. Thành thử không thấy
được thì đừng nói là nó không có.
Người
thương của chúng ta cũng vậy. Bây giờ chúng ta không thấy
được người thương của chúng ta dưới cái hình dáng cũ.
Nhưng mà người thương của ta vẩn còn. Đã thay hình đổi
dạng và đang có mặt với chúng ta dưới những hình dạng
mới. Nếu chúng ta biết cách quán chiếu chúng ta có thể tiếp
xúc được với tổ tiên, ông bà cha mẹ của chúng ta trong
nội thân của chúng ta và chung quanh chúng ta. Vì thế
cho nên chúng ta phải đoạn trừ những tri giác, những quan
niệm sai lầm. Cái quan niệm sai lầm đầu tiên là không
thể nào từ không mà trở thành có được, không thể nào
từ có mà trở thành không được. Từ không trở thành có,
từ có trở thành không là một tà kiến. Theo tuệ giác của
đạo Phật, nghĩ rằng từ cái không mà trở thành cái có,
và từ cái có trở thành cái không, đó là một tà kiến.
Chúng ta phải quán chiếu cho sâu thì mới dứt bỏ được
cái tà kiến đó. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có nói: “Đâu lẽ
có chiều qua mà không sáng nay“.
Người
thân của chúng ta đang còn đó. Nếu chúng ta biết quán chiếu,
chúng ta sẽ thấy người thân của chúng ta không ở đâu xa
mà ở ngay trong từng tế bào cơ thể của ta và ở chung quanh
ta. Bản chất của người thân chúng ta là không sanh không
diệt, chỉ biến chuyển mà thôi.
Cho
nên, cái chân lý thứ nhất mà ta phải công nhận là : bản
chất của chúng ta là không sanh không diệt. Chỉ có sự tiếp
nối thôi, và tiếp nối dưới những hình dạng khác nhau :
thay hình đổi dạng.
Chính
chúng ta sinh ra cách đây ba mươi năm, bốn chục năm, sáu chục
năm chúng ta cũng thay hình đổi dạng. Nhìn vào hình em bé
lúc năm tuổi và cái hình chúng ta bây giờ ta thấy được
là chúng ta thay đổi rất nhiều. Em bé năm tuổi chưa chết
đâu. Em bé đã trở thành ra người lớn ba mươi tuổi, hay
năm mươi tuổi. Khi nhìn vào hình hài của tôi, tôi tiếp xúc
được với em bé năm tuổi và tôi có thể nói chuyện với
em bé năm tuổi trong tôi. Nó còn sống. Có khi nào quí vị
ngồi nói chuyện với em bé năm tuổi mà ngày xưa quí vị
đã từng là hay không ?
Mình
người nào cũng đã từng là một em bé trai năm tuổi, hay
là một em bé gái năm tuổi. Em bé trai năm tuổi, em bé gái
năm tuổi đó có thể có những vết thương từ hồi thơ ấu
mà chưa lành. Chúng ta bận rộn quá chừng ! Chúng ta không
có cơ hội trở về nhận diện em bé năm tuổi đang bị thương
trong ta để nói chuyện với nó, ôm ấp nó và để giúp cho
những vết thương của em bé năm tuổi trong ta được thuyên
giảm.
Quí
vị tối nay về thực tập đi. Ngồi thật yên năm phút mười
phút và nhận diện em bé năm tuổi, bảy tuổi bị thương
trong mình. Hãy ôm lấy nó với tất cả sự trìu mến, công
nhận sự có mặt của nó và làm cho những vết thương của
em bé mau được chữa lành. Chỉ cần làm vài lần thôi thì
vết thương của em bé được chữa lành.Và chúng ta biết
rằng em bé đó chưa bao giờ từng chết. Nó còn sống và bây
giờ nó có một hình dạng mới. Hình dạng mà nhìn vào trong
kính ta có thể thấy được. Bởi vì chính chúng là những
người đang còn sống mà còn thay hình đổi dạng huống hồ
là người thương của chúng ta đã qua đời rồi thì làm sao
mà họ không thay hình đổi dạng. Nhưng mà những hạnh phúc,
những kinh nghiệm, những khổ đau và những cái bức xúc vẫn
đi theo chúng ta, người sống cũng như người chết.
Làm
mới thân tâm
Thế
nên chúng ta được cái hạnh ngộ gặp Phật, gặp Pháp, gặp
Tăng để học những pháp môn tu học mà chuyển hóa thì chúng
ta làm cho cái thân tâm chúng ta nhẹ nhàng hơn và chúng ta phải
thực tập để làm cho cái thân tâm của người qua đời cũng
được nhẹ nhàng hơn, nhờ đó sự siêu thoát trở thành dễ
dàng. Bất cứ điều gì thực hiện được để
làm mới thân tâm, để cho ý nghiệp được thanh tịnh, để
cho khẩu nghiệp, thân nghiệp được thanh tịnh chúng ta đều
có thể hồi hướng cho người thương của chúng ta đã qua
đời.
Trong
những ngày của Đại Trai Đàn Chẩn tế chúng ta đã nhất
tâm cầu nguyện. Trong ba ngày của Trai Đàn Chẩn tế chúng
ta thiết lập bàn linh, chúng ta cúng dường cháo loãng, thức
ăn, nước trong. Chúng ta đọc tụng kinh điển. Chúng ta khởi
lên những tâm niệm lành, những tâm niệm tích cực mà đức
Thế Tôn gọi là chánh tư duy. Những tư tưởng đi theo với
sự bao dung, sự tha thứ, sự yêu thương. Chúng ta nghĩ về
con chúng ta, về chồng chúng ta, về vợ chúng ta, chúng ta nghĩ
về bè bạn chúng ta với một tâm niệm lành. Cái đó là phát
khởi chánh tư duy. Một khi có chánh tư duy thì con người ta
nhẹ nhàng, khỏe khoắn. Chúng ta nghĩ tới những người thương
yêu của chúng ta đã qua đời bằng tâm niệm thương yêu tha
thứ. Và như vậy chúng ta truyền cái năng lượng của chánh
tư duy cho những người thương của chúng ta. Mỗi tư tưởng
của chúng ta phát ra nếu nó là chánh tư duy thì nó có ảnh
hưởng tốt trên sức khỏe của mình và ảnh hưỏng tốt
cho vong linh mình cầu nguyện.
Khi
chúng ta có một tư tưởng hận thù giận dữ thì tư tưởng
đó làm hại cho sức khỏe của thân thể ta, và nó cũng làm
hại cái sức khỏe của tâm linh ta. Cho nên một tư tưởng
tà -tà tư duy- có hận thù, có bạo động, có kỳ thị không
có đem lại cho thân tâm sự lắng dịu, sự thuyên giảm, trị
liệu. Những tư tưởng hắc ám, những tư tưởng giận dữ,
hận thù làm hại đến sức khỏe.
Khi
chúng ta phát khởi được tâm niệm thương yêu thì tư duy
đó có khả năng chữa trị cho thân, cho tâm ta và có khả
năng chữa trị cho thế giới, cho những người đã khuất.
Và vì vậy cho nên suy nghĩ, tư duy là một hành động, là
một cái nghiệp. Nếu là chánh tư duy thì đó là thiện nghiệp
-nghiệp tốt-, và nếu chúng ta tà tư duy -tức là tư duy với
hận thù, với bạo động, với trách móc-, thì cái tà tư
duy đó nó làm hại cho sức khỏe chúng ta, làm hại cho thế
giới, và không giúp được cho những người đã khuất. Cho
nên trong ba ngày Trai Đàn Chẩn tế chúng ta phải thực tập
chánh tư duy. Nghĩ về cha về mẹ về con về cháu về người
thân với tha thứ, với thương yêu. Đó là chánh tư duy.
Ngày
hôm nay tôi phát nguyện sẽ phát ra những tư tưởng có
tha thứ, có bao dung, có thương yêu. Tôi nguyện phát ra những
tư tưởng đi theo chánh tư duy. Ngày hôm nay tôi cũng nguyện
nói những lời đi đôi với thương yêu và tha thứ, tôi nguyện
thực tập chánh ngữ. Tôi sẽ tìm cách nói với cha tôi, mẹ
tôi, với vợ tôi, chồng tôi, với các con tôi những lời
nói có chứa đựng sự ngọt ngào, sự tha thứ, có chứa đựng
sự bao dung. Tôi biết nói như vậy thì lời nói đó trước
hết nó làm cho tôi khỏe. Nó có tác dụng trị liệu
cho cơ thể tôi. Nó làm cho tôi khỏe, nhẹ và nó cũng làm
người nghe tôi được khỏe và được nhẹ. Người nghe tôi
nói đó có thể là vợ, là chồng, là con, là cha, là mẹ,
là huynh đệ, bạn bè. Một lời nói mang theo tha thứ và thương
yêu là lời nói chánh ngữ. Trong ba ngày Trai Đàn Chẩn tế
tôi nguyện nói toàn những câu chánh ngữ để trị liệu thân
tâm tôi, để giúp trị liệu thân tâm những người thương
và để giúp cho nhẹ cái nghiệp cho những vong linh mà tôi
muốn cầu nguyện cho. Chánh tư duy và chánh ngữ là điều
mình có thể thực tập trong đời sống hằng ngày, và nhất
là trong ba ngày Trai đàn Chẩn tế Bình đẳng Giải Oan. Sau
chánh tư duy và chánh ngữ thì có chánh nghiệp. Chánh nghiệp
là những hành động đi theo hướng tha thứ và bao dung cùng
thương yêu. Ngày hôm nay tôi nguyện làm một cái gì đó để
chứng tỏ rằng tôi có tình thương, tôi có sự tha thứ, tôi
có nghĩ được tới những người khổ đau, những loài khổ
đau. Tôi nguyện ăn chay, tôi nguyện phóng sinh, tôi nguyện
bố thí. Tôi phải làm một cái gì đó để cho hành động
của tôi là chánh nghiệp, là thân nghiệp thiện, nó biểu
lộ được cái sự tha thứ, bao dung, cái sự thương yêu hay
lòng từ bi của tôi. Và tôi biết một khi tôi làm được
một điều như thế, có một cử chỉ như thế, nghĩa là một
cử chỉ có tác dụng hiểu biết, thương yêu, tha thứ, cứu
trợ, cứu khổ thì hành động đó sẽ chữa lành những thương
tích của thân và tâm tôi, của những người thương của
tôi trong gia đình, và nó có khả năng làm vơi đi cái nghiệp
của những hương linh mà tôi đang muốn cầu nguyện cho.
Cho
nên ba ngày Đại Trai Đàn Chẩn tế chúng ta phải thực tập
chánh ngữ, chánh tư duy và chánh nghiệp. Chánh nghiệp tức
là hành động đi theo với tình thương và với sự tha thứ.
Chúng
ta biết rằng cha mẹ chúng ta có trong ta.Cha mẹ đã trao truyền
cho chúng ta những gì.?
Cha
mẹ chúng ta đã trao truyền bản thân của họ cho chúng ta.
Trong mỗi tế bào cơ thể chúng ta có những cái Gene của cha
mẹ, những nhiễm thể của cha và của mẹ. Và như vậy đứng
về phương diện khoa học là cha mẹ đang có trong ta và ta
đang tiếp nối cha mẹ và tổ tiên. Thành ra mỗi khi ta mĩm
cười được thì cha mẹ trong ta mĩm cười được. Mỗi khi
ta tha thứ được thì cha mẹ trong ta cũng tha thứ được,
mỗi khi chúng ta thương yêu được thì cha mẹ trong ta cũng
thương yêu được. Vì thế chúng ta có thể là đứa con rất
có hiếu nếu ta thực tập chánh tư duy, chánh ngữ và chánh
nghiệp
Những
người thân của chúng ta đã qua đời có thể đang có mặt
trong từng tế bào cơ thể ta mà có thể cũng đang có mặt
ở ngoài ta. Và mỗi khi ta phát khởi một tâm niệm lành, có
thương yêu, có tha thứ thì những người đó trong ta được
hưởng, những nguời đó chung quanh ta được hưởng. Mỗi
khi ta nói được một lời tha thứ, thương yêu -gọi là ái
ngữ- thì cha mẹ, tổ tiên trong ta cũng được hưởng. Cha
mẹ trong ta, tổ tiên trong ta và những huơng linh chúng ta muốn
cầu nguyện cho cũng đuợc hưởng. Do đó cầu nguyện không
chỉ là đọc kinh, cầu nguyện còn là phát khởi những tư
tưỏng đi đôi với tha thứ và thương yêu. Cầu nguyện có
thể là dưới hình thức những lời nói có tha thứ có thương
yêu mà ta nói với những ngưòi trong gia đình, trong dòng họ,
với bạn bè, xã hội. Và ta có thể cầu nguyện bằng hành
động khi ta phóng sanh, khi ta giúp đỡ trẻ em đói, khi ta cho
một học bổng, khi ta cứu mạng cho một con sâu, con kiến.
Tất cả những cái đó đều là lời cầu nguyện. Cầu nguyện
bằng tư tưởng, cầu nguyện bằng lời nói và cầu nguyện
bằng hành động.
Bây
giờ tôi xin mời quí vị thực tập thiền quán chiếu về
có và về không.
Ngọn
lửa, bây giờ em ở đâu ?
-Đây
là cái hộp quẹt đem từ bên Pháp về- Hộp quẹt nó có mục
đích đem lửa tới. Lửa để đốt nhang, lửa dể thắp đèn,
lửa để nấu cơm. Bây giờ chúng ta hãy quán chiếu về ngọn
lửa. Nếu chúng ta hiểu được bản chất của ngọn lửa
thì chúng ta sẽ hiểu được bản chất của người thương
mà chúng ta muốn tiếp xúc.
Người
thưong không còn ở trong hình dạng cũ mà chúng ta muốn tiếp
xúc. Bây giờ tôi xin mời đại chúng nhìn vào hộp quẹt này
và trả lời là ngọn lửa nó đã có sẵn chưa ? Hay là nó
không có ? Mình biết ngọn lửa nó đang núp ở đâu đó. Mình
nói rằng ngọn lửa không có đó thì hình như là không đúng.
Cũng như nói rằng ở trong khoảng không gian này không có những
tín hiệu của các đài truyền hình truyền thanh là không đúng.
Nó có đầy hết. Tại vì mình chưa có cái máy thâu thanh,
máy truyền hình nên mình không bắt được (tức là để nó
diễn dịch ra cho mình dưới những hình thức mà mình có thể
thấy và nghe được). Mình nói những tín hiệu của đài truyền
hình, truyền thanh không có giữa không gian này là không có
đúng. Ngọn lửa cũng vậy. Nó chưa xuất hiện thôi.
Nhưng mà nói rằng ngọn lửa không có, và từ không nó sẽ
trở thành có, là một tà kiến. Đây là giáo lý rất là thậm
thâm của đức Thế Tôn mà nếu chúng ta bận rộn quá trong
đời sống hằng ngày thì làm thế nào chúng ta thực chứng
được cái giáo lý mầu nhiệm đó ?
Mình
nói: “Ngọn lửa, bây giờ em ở đâu ? Em núp ở trong cái
hộp quẹt hay là em ở đâu ? Tại sao em không xuất hiện để
cho ngưòi ta thấy hình dạng của em. Em núp làm gì vậy ?”.
Và nếu mình nghe với hết tất cả tấm lòng của mình, mình
có niệm, có định, thì mình nghe như thế này: “Thầy ơi,
các thầy các sư cô ơi? các đạo hữu ơi, nhìn cho kỹ đi?
em đang có mặt đó. Nếu mà thầy, nếu các vị Phật tử
cư sĩ muốn em xuất hiện thì em xuất hiện. Em đang có mặt
ở trong hộp quẹt, mà em cũng có mặt ở ngoài hộp quẹt
nữa. -Trong không gian có dưỡng khí-. Nếu không có dưỡng
khí thì em không thể nào biểu hiện được. Ngọn lửa không
thể có cơ hội biểu hiện nếu không có oxygen. Cho nên ngọn
lửa không phải chỉ núp ở trong hộp diêm mà nó còn núp
ở ngoài hộp diêm. Ngọn lửa chỉ còn cần một động tác
của hai ngón tay tôi. Vì vậy tức là ngọn lửa nó cũng ẩn
ở trong hai ngón tay tôi. Tôi chỉ cần rút ra một que diêm,
tôi đánh một cái thì ngọn lửa biểu hiện liền. Vậy thì
một trong những điều kiện giúp cho ngọn lửa phát hiện
là hành động của hai ngón tay. Ngọn lửa cũng núp ở trong
hai ngón tay, nó cũng núp ở trong không gian, nơi có dưỡng
khí, và ngọn lửa cố nhiên là cũng núp ở trong hộp diêm.
Bây gìờ mình nói: “Ngọn lửa ơi, ta sẽ cung cấp cho em
một nhân duyên cuối cùng. Tất cả các nhân duyên, các điều
kiện khác đều đầy đủ hết rồi để cho em phát hiện.
Nay chỉ còn thiếu một nhân duyên cuối cùng là động tác
của hai ngón tay tôi. Ngọn lửa biết rằng nó sẽ xuất hiện.
Và chúng ta cũng biết rằng ngọn lửa sẽ xuất hiện. Ngọn
lửa không phải từ không mà trở thành có. Ngọn lửa từ
chổ ẩn tàng nó trở thành ra biểu hiện. Trước khi ngọn
lửa biểu hiện nào phải là nó không có. Nó ở trong cái
thế ẩn tàng mà thôi.
Trước
khi mình sinh cũng vậy. Không phải là mình không có đâu. Mình
đã ở cái thế ẩn tàng. Khi mẹ sinh mình ra thì mình ở vào
cái thế biểu hiện.
Bây
giờ ngọn lửa đã biểu hiện. Và ngọn lửa sẽ ở lại
với mình không biết bao lâu. Nếu que diêm này dài ba thước
thì ngọn lửa ở lại lâu hơn. Nếu que diêm này chỉ dài
có ba phân thì nó ở lại ngắn hơn. Nghĩa là tùy theo cái
điều kiện. Nếu chúng ta có bác sĩ, nếu chúng ta có hoàn
cảnh, môi trường tốt thì chúng ta sẽ sống lâu. Nếu ở
hoàn cảnh, môi trường xấu thì chúng ta sẽ chết yểu. Thế
nên một cái gì đó có thể phát hiện và tồn tại lâu hay
mau là tùy thuộc vào những điều kiện ở trong và ở ngoài,
những điều kiện trước và những điều kiện sau.
Ngọn
lửa đã tắt.
Bây
giờ mình không thấy nó nữa !
Chúng
ta sẽ hỏi ngọn lửa hai câu hỏi : “Ngọn lửa ơi, em từ
đâu tới ?, và em đã đi về đâu rồi ?”
Nếu
mình lắng tai nghe với tất cả niệm và định thì mình sẽ
nghe được tiếng trả lời : “Thầy ơi, các thầy các sư
cô ơi, các vị đạo hữu cư sĩ ơi, em nào có từ đâu tới.
Em không phải tới từ phuơng đông hay phương tây, phương
nam hay phương bắc. Khi những điều kiện dầy đủ thì em
phát hiện, em xuất hiện, em biểu hiện, vậy thôi! Em không
từ đâu tới hết. Không phải từ bằc tới hay từ nam tới,
không phải từ tây tới hay từ đông tới.” Và nếu mình
nghe được thì mình thấy rằng ngọn lửa nói đúng. Ngọn
lửa này đâu phải từ phương nam tới, đâu phải từ phương
bắc tới. Khi nào những điều kiện đầy đủ, nhân duyên
đã đầy đủ thi ngọn lửa biểu hiện, vậy thôi.
Người
thương của mình cũng vậy. Người thương của mình không
phải từ cõi này tới hay cõi kia tới. Không từ phương bắc
hay phuơng nam, phương tây. Khi những điều kiện có đầy đủ
thì người thương đó biểu hiện và mình gọi là người
thương được sinh ra. Kỳ thật không phải là sinh. Đó là
sự tiếp nối của một cái mà mình chưa thấy. Bây giờ mình
bắt đầu thấy được thì mình gọi là sinh.
Bây
giờ mình hỏi ngọn lửa câu hỏi thứ hai: “Ngọn lửa ơi,
lúc nãy em đã biểu hiện cho chúng tôi thấy, bây giờ em đi
về đâu? “
Câu
hỏi này rất là quan trọng. Câu hỏi này mình đã từng hỏi
người thương của mình đã qua đời. “Anh ơi, anh bỏ em,
anh đã đi đâu rồi, bây giờ anh ở đâu?, Em ơi, em bỏ anh
mà đi, bây giờ em ở đâu ? Con ơi, con bỏ má mà đi, bây
giờ con ở đâu? “ Chúng ta đã hỏi câu hỏi đó nhiều lần
rồi. Bây giờ chúng ta hỏi lại một lần nữa với sự quán
chiếu: ”Ngọn lửa ơi, em đã đi về đâu ?”. Và nếu chúng
ta biết thực tập theo thiền, tức là đem cái tâm trở về
với cái thân, ngồi lắng đọng và hỏi câu hỏi cho thật
sâu thì chúng ta sẽ nghe được câu trả lời: “Thầy ơi,
các thầy các sư cô ơi, các đạo hữu ơi, em nào có đi đâu.
Em không có đi về phương nam hay đi về phương bắc, em không
đi về phương tây cũng không đi về phương đông. Em không
có đi đâu hết! Khi mà những nhân duyên nó không đầy đủ
thì em ẩn đi thôi, em không có đi đâu hết”. Mà khi chúng
ta suy nghĩ cho kỹ thì chúng ta thấy ngọn lửa nói đúng.
Nó
không có đi về đâu hết. Nó không có đi về phương đông
hay phương tây, phưong nam hay phương bắc. Khi mà những điều
kiện đầy đủ thì ngọn lửa biểu hiện, và khi những điều
kiện không đầy đủ nữa hoặc là nó chưa đầy đủ thì
ngọn lửa ẩn tàng để rồi nó biểu hiện dưới hình thức
mới. Vì vậy cho nên bản chất của ngọn lửa là vô khứ
vô lai, tức là không tới cũng không có đi (phi khứ phi lai).
Ngọn lửa không phải từ không mà trở thành có, và ngọn
lửa cũng không phải từ có mà trở thành không, cho nên bản
chất của nó là vô sinh bất diệt. Ngọn lửa không có từ
phương đông tới, không từ phương nam tới vì thế cho nên
nó là phi lai, là không có tới, no coming. Ngọn lửa không đi
về đâu hết, không đi về phương đông, tây, phương nam,
phương bắc, nó là phi khứ. Vô khứ vô lai, bất sinh
bất diệt : đó là bản chất của ngọn lửa. Bản chất của
đám mây cũng vậy: bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Bản
chất của người thương của chúng ta cũng vậy: là bất sinh
bất diệt, vô khứ vô lai. Mình đừng tưởng người thuơng
của mình đã từ có mà trở thành không. Người thương của
mình đã chuyển hóa, đã thay hình đổi dạng, đã ẩn tàng
và đã biểu hiện trở lại nhưng tại vì mình u mê cho nên
tuởng rằng người thương của mình không còn nữa. Sự thực
là người thưong của mình đang ở rất gần mình mà mình
không biết.
Bất
cứ ngồi hay đứng ở đâu mình cũng có thể nói
chuyện được với người thương của mình. Hôm qua chúng
ta đã quán chiếu về đám mây. Khi tôi nâng ly trà lên uống
tôi thấy ly trà đầy mây vì tôi có quán chiếu. Đám
mây không còn trên trời, nó có mặt ở đây. Không thấy đám
mây tôi không khóc thương. Đám mây của tôi chưa bao giờ
từng chết, nó chỉ thay hình đổi dạng thôi. Nếu có
trí tuệ tôi sẽ nhận diện được đám mây thân yêu của
tôi đang nằm trong chén trà của tôi trong phút giây hiện tại.
Khi uống trà tôi thật sự đang uống mây. Quý vị đã uống
mây hàng ngày mà quý vị không biết.
Người
thương của quý vị đang ở gần quý vị, đang nói chuyện
với quý vị, mà quý vị không thấy không nghe được. Quý
vị cứ than phiền là người thương của mình không còn nữa.
Mình đã mất người thuơng mãi mãi. Điều đó không đúng
! Bản chất của người thương cũng giống như bản chất
của đám mây : không sinh, không diệt, không tới, không đi.
Đám mây không phải chỉ nằm trong ly nước, nó còn nằm trong
cơ thể tôi. Cơ thể tôi có mấy chục lít nước, đó là
mây. Tôi chưa bao giờ rời mây và mây cũng chưa bao giờ rời
tôi. Người thương của quý vị chưa có bao giờ rời quý
vị mà quý vị cứ than là người thương không còn nữa. Quý
vị bị kẹt vài hình đáng cũ của người thương. Nếu mình
bị kẹt vào hình dáng cũ của đám mây thì mình không thấy
đám mây trong cơn mưa hay trong tảng nước đá.
Trời
phương ngoại
Có
một ngày nào quý vị nhìn lên trời và thấy một đám mây
rất đẹp, quý vị có cảm tình với đám mây nhưng đám mây
thì vô thưòng. Đó là lời đức Thế Tôn dạy : đám mây
vô thường.
Nó
có đó rồi lát nữa nó sẽ thay hình đổi dạng. Nó là hai
đám mây nhỏ nhưng một giờ sau nó sẽ thở thành một đám
mây lớn. người thương của chúng ta cũng vậy : cũng vô thường?
cũng thay hình đổi dạng. Khi người thương thay hình đổi
dạng ta khóc, ta đi tìm cái hình dáng cũ. Ta không thấy được
cái hình dáng cũ ta cho rằng người thương không còn nữa.
Tại vì ta không có con mắt của Phật, của các vị Bồ Tát,
của những người thực tập thiền. Ta không thấy được
đám mây trong ly nước, không thấy được người thương đang
có mặt cho chúng ta, đang tiếp xúc, trò chuyện với chúng
ta. Ta cứ tưởng là người thương đã mất. „Người thương
chúng ta đang ở đâu ?“ Đó là câu hỏi. „Đang ở
trên rừng hay ở dưói biển ?“. Khi chúng ta đi vớt vong trên
biển hay ở địa điểm của một trận chiến, ta cứ ngỡ
là linh hồn của người đó quanh quẩn ở chổ đó. Nhưng
kỳ thật bản chất của người đó là không tới không đi.
Ta có thể tiếp xúc với người đó bất cứ ở đâu, bất
cứ nơi nào.
Khoa
học bây giờ, nhất là khoa vật lý mới ( Quantum mechanism )
cho biết là bản chất của những điện tử, những hạt vật
chất, những đợt sóng vật chất là phi cục bộ. Phi cục
bộ được dịch từ tiếng anh là non local, có nghĩa là không
thể tìm thấy được trong không gian. Nó có mặt bất cứ
ở đâu. Mình không thể nhận diện ra nó trong một phương
hướng hay một không gian nhất định. Đức Thế Tôn cũng
vậy. Bản chất của đức Thế Tôn là phi cục bộ. Ở bắc
ta có thể tiếp xúc với đức Thế Tôn mà ở nam ta cũng có
thể tiếp xúc được với đức Thế Tôn. Trên rừng ta có
thể tiếp xúc với đức Thế Tôn mà ở biển cả ta cũng
có thể tiếp xúc được với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn
có mặt ở khắp mọi nơi trong vũ trụ. Không có nơi nào mà
đức Thế Tôn không có mặt.
Trong
kho tàng văn chương Phật giáo Phương Đông có một cái
tên rất hay đó là phương ngoại phương, có nghĩa là không
gian ở ngoài không gian. Khi mình giải thoát, giác ngộ rồi
thì chổ nào cũng là nhà của mình. Ngày xưa ta có Tuệ Trung
Thượng sĩ, một vị thiền sư cư sĩ đã chứng ngộ trong
khi tu thiền. Ngài là anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo.
Trần Hưng Đạo có sự nghiệp vẻ vang về quân sự nhưng
Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Quốc Tung có sự nghiệp vẻ
vang về thiền. Tuệ Trung Thượng sĩ có viết câu thơ : „
Chống gậy rong chơi hề phưong ngoại phương„. Mình rong chơi
trong trời phương ngoại. Trời phương ngoại là trời không
bị cục bộ vào không gian, không bị cục bộ vào đông tây
nam bắc. Vượt không gian, và không gian nằm ngoài không gian
gọi là trời phương ngoại. Vượt khỏi thời gian gọi là
kiếp ngoại.
Kiếp
ngoại có nghĩa là thực tại của chúng ta không bị giới
hạn bởi thời gian và không gian. Bản chất của chúng ta là
phương ngoại phương. Bản chất cũa chúng ta cũng giống như
bản chất của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn có mặt ở mọi
thời mọi xứ. Đức Thế Tôn không bị không gian và thời
gian giới hạn. Đám mây cũng vậy, cây bắp cũng vậy, ta cũng
vậy, người thương của ta cũng vậy. Bản chất của ta, bản
chất của ngưòi thương của ta là phi cục bộ, là phương
ngoại phương. Đừng nói rằng ta phải đi tới chổ đó mới
gặp được người thương. Ta phải trở về thời gian đó
mới gặp đưọc người thương. Bản chất của người thương
là phi cục bộ. Nếu biết tu mình có thể tiếp xúc với người
thương bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Đây là giáo lý
thậm thâm vi diệu của đức Thế Tôn mà khoa học ngày hôm
nay đã có cái thấy tương đương. Thay vì dùng chữ rất
nên thơ „phương ngoại phương“ hay „kiếp ngoại“ thì
khoa học bây giò dùng chữ non local dịch là phi cục bộ. Nhưng
phi cục bộ không hay bằng phương ngoại phương của Phật
dạy.
Rất
là uổng ! quý vị bận rộn quá trong đời sống hằng ngày
vì chuyện mưu sinh, vì những lo lắng buồn khổ. Giáo lý của
đức Thế Tôn có những cái hết sức mầu nhiệm. Hôm nay
tôi mời quý vị nếm thử, không khó khăn lắm đâu. Chúng
ta biết rằng đạo Phật có phần tôn giáo tín ngưỡng. Cầu
nguyện bái sám có thể làm vơi nhẹ một ít đau khổ của
chúng ta. Nhưng đạo Phật không chỉ có phần bái sám cầu
nguyện mà có phần tuệ giác rất là vĩ đại. Nếu chúng
ta tập chọc thủng được cái vỏ cầu nguyện bái sám, chúng
ta đi vào kho tàng của tuệ giác đó. Ta dùng tuệ giác đó
để tháo gỡ tất cả những bế tắt, những lo âu phiền
muộn, sợ hãi của chúng ta.
Chúng
ta không làm được chuyện đó nếu chúng ta không quán chiếu
về tính bất sinh bất diệt, phi khứ phi lai, phi hữu phi vô.
Là Phật tử chúng ta đừng mãn ý với sự cầu nguyện bái
sám. Những cái đó rất hay. Nó cần thiết để làm vơi nhẹ
nỗi khổ niềm đau của mình. Nhưng muốn giải quyết vấn
đề cho triệt để, muốn tháo gỡ những lo lắng, sầu muộn,
sợ hãi thì chúng ta phải sử dụng cái kho tàng tuệ giác
của đạo Phật mà ít người với tới được.
Sáng
nay cũng như ngày hôm qua tôi muốn giới thiệu với quý vị
chút ít kho tàng tuệ giác đó để quý vị có thể đi tìm
lại người thương của mình một cách dễ dàng hơn. Người
thương của mình có tính cách phi cục bộ, phương ngoại phương.
Điều này là một chân lý thâm diệu mà khoa học lượng tử
( quantum mechanism ) bắt đầu sờ mó tới được. Trong thế
kỷ 21 khoa học lượng tử và Phật giáo có thể tay trong tay
để diễn bày cái tuệ giác mà đức Thế Tôn đã đạt được
hai ngàn sáu trăm năm trước. Nhà bác học Einstein nói : „
Nếu có một tôn giáo có thể đi đôi với khoa học thì tôn
giáo đó là Phật giáo.“ Vì vậy tại các Phật học viện
các thầy các sư cô cũng đang học về khoa học. Học khoa
học để hiểu Phật giáo hơn. Những nhà khoa học phải học
Phật giáo để hiểu khoa học hơn, để có những khám phá
sâu sắc hơn.
Hạt
giống đang nẩy mầm và lớn mạnh
Chúng
tôi có một niềm tin rất vững chãi và sâu sắc nơi giáo
lý của đức Thế Tôn. Khi chúng ta quán chiếu được theo
lời chỉ dẫn của đức Thế Tôn rằng bản chất của vạn
pháp là vô sinh bất bất diệt, vô khứ vô lai, không phải
một cũng không phải khác nhau, không phải có cũng không phải
không, thì chúng ta giải quyết được không biết bao nhiêu
vấn đề của cuộc sống. Chúng ta tháo gỡ được những
lo ngại, những sợ hãi tuyệt vọng của chúng ta. Điều này
là một cái phước cho người Phật tử. Mình đã được sinh
ra trong một dòng họ tâm linh, một nền văn hóa siêu việt,
đó là Phật giáo. Phật giáo bây giờ có cơ hội được truyền
bá sang tây phương. Những đứa con của Cơ đốc giáo, Do thái
giáo, Hồi giáo ở Tây phưong bằt đầu làm quen với đạo
Phật. Trong 40 năm chúng tôi đã gieo rắc hạt giống của Phật
pháp trên Âu châu, Mỹ châu và cả Phi châu. Những hạt giống
đó đã gặp thời tiết, đang nẩy mầm và lớn mạnh. Đó
là một tin mừng cho nhân loại. Những hạt giống Phật pháp
tôi đem gieo rắc ở Tây phương, ở Âu châu, Úc châu, Mỹ
châu và Phi châu là những hạt giống lấy từ mảnh đất
văn hóa Việt nam.
Chúng
tôi đã viết những cuốn sách đối thoại với những tôn
giáo khác, nhất là Cơ đốc giáo. Có ít nhất là hai cuốn
sách của tôi có cơ duyên đối thoại với Cơ đốc giáo (
Tin Lành và Công giáo). Cuốn đầu là Living Christ Living Buddha?
dịch
ra tiếng Việt là Chúa
ngàn đời Phật ngàn đời. Cuốn sách được viết
bằng tiếng Anh và được dịch ra hơn bốn mươi tiếng khác
trong đó có tiếng Hoa nhưng chưa có tiếng Việt. Đã có một
vài người dịch ra rồi nhưng chưa được in bằng tiếng Vìệt.
Tôi mong rằng sách đó được ấn hành ở Việt Nam sớm để
người Phật tử, người Công giáo và người Tin Lành có thể
tới gần với nhau nhiều hơn. Bên Trung quốc sách được dịch
là Sinh Sinh Ki Tô Thế Thế Phật. Có nhiều nhà tu trong
tu viện kín Công giáo đã đọc và đã tháo gỡ được nhiều
khó khăn trong niềm tin của họ. Họ đã viết thư cám ơn
rất nhiều. Cuốn đó có rất nhiều công đức vì đã đem
những Phật tử và những người Công giáo tới gần
nhau. Nó giúp cho cả hai bên cởi bỏ những thành kiến sai
lầm của nhau. Cuốn thứ hai là Coming Home - Jesus And
Buddha Are Brothers ( Hãy về nhà đi ! Phật và Chúa là hai
anh em, không phải người xa lạ ). Bụt sinh trước Chúa mấy
trăm năm cố nhiên Bụt phải làm anh, Chúa làm em. Hai anh em
nhà họ nắm tay nhau để hóa độ cho thế giới đầy hận
thù, đầy tuyệt vọng này. Tôi hy vọng cuốn sách đó được
ấn hành tại Việt Nam.
Nhà
nước Việt Nam đã cho chúng tôi xuất bản nhiếu cuốn sách
tại Việt Nam. Trong bốn mươi năm chúng tôi đã cho ra không
biết bao nhiêu sách phát hành trên khắp thế giới, cả ngay
tại Trung quốc. Ở Việt Nam có một số rất ít đạo hữu
đã được đọc sách đó. Những sách đó được in chui nhưng
bây giờ mình khỏi phải in chui nữa vì nhà nước đã cho
phép. Có khoảng gần hai mươi cuốn sách đã được xuất
bản. Có nhiều cuốn được Nhà Xuất bản Tôn giáo xuất
bản. Có nhiều cuốn được Nhà Văn hóa Sài Gòn xuất bản
trong đó cuốn Thả
một bè lau -cái nhìn thiền quán về truyện Kiều-.
Tôi đã dịch truyện Kiều ra văn xuôi dành cho người trẻ?
đọc dễ như là đọc tiểu thuyết, không cần phải chú giải.
Sau khi đọc truyện Kiều văn xuôi xong mình có thể trở về
văn vần và hiểu văn vần dễ dàng hơn. Tôi đã viết lại
những truyện truyền kỳ thần tiên của nước Việt như truyện
Trầu Cau truyện Sơn Tinh Thủy Tinh truyện Bánh Chưng Bánh Dầy.
Sách này được xuất bản ở Việt Nam với tựa
là Hương Vị Của Đất. Ngày xưa nó đã được xuất bản
một lần dưới tên là Văn Lang dị sử. Có một cuốn sách
có thể giúp quý vị hiểu sâu xa hơn về đề tài đã nói
trong ngày hôm qua và ngày hôm nay đó là cuốn Không
Sinh Không Diệt Đừng Sợ Hãi. Nếu quý vị đọc
sẽ hiểu sâu hơn về đề tài người thân tôi mất tôi đi
tìm ở đâu.
Tôi
cảm thấy rất hạnh phúc được ngồi đây với chư
tôn đức, các thầy? các sư cô, các Phật tử.
Tôi
đi hành đạo ở Tây phương trên bốn mươi năm. Phần lớn
người đến với chúng tôi thực tập toàn là người Tây
phưong. Người Việt bên đó rất ít. Trong mỗi khóa tu từ
tám trăm đến một ngàn người, người Việt chỉ chiếm tỉ
số từ hai đến ba phần trăm. Những cái chúng tôi chia sẻ
trong giáo lý và trong sự thực tập, người Tây phương tiếp
nhận rất nhiều. Họ đã thiết lập trong những thành phố
lớn những đoàn thể tu học gọi là community of mindful living
– có nghĩa là những tăng thân tu học theo nghệ thuật sống
trong chánh niệm. Có hơn tám trăm đoàn thể như vậy. Mỗi
tuần họ qui tụ với nhau ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm trong
chánh niệm, nghe pháp thoại của thầy, tổ chức pháp đàm,
tụng giới. Thành phồ Luân Đôn đã có mười tăng thân như
vậy. Thành phố Nữu Ước có hơn mười tăng thân toàn là
người Mỹ tu tập. Những hạt giống mà chúng tôi đem đi
từ Việt Nam cách đây hơn bốn mươi năm đã được gieo trồng
khắp ở Tây phương. Đi đâu quý vị cũng có thể nhận diện
ra được sự có mặt của văn hóa Việt Nam ở Tây phương.
Những cuốn sách khó tìm thấy ở Việt Nam quí vị có thể
tìm thấy ở bất cứ một tiệm sách nào ở Âu châu hay Mỹ
châu. Bên Mỹ vào bất cứ một tiệm sách nào quí vị cũng
có thể thấy sách của chúng tôi trình bày chung với sách
của đức Đạt Lai Lạt Ma thành hàng rất dài ba bốn chục
cuốn. Tôi nghĩ rằng nếu quí vị tới một tiệm sách ở
Sài Gòn ( thành phố Hồ Chí Minh ) hỏi sách của chúng tôi
thì cũng có ít nhất là mười hay mười lăm cuốn.
Chúng
ta có hạnh phúc được qui tụ với nhau tại đây trong ba ngày
để nghe pháp, để thực tập ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm
trong chánh niệm và để cầu nguyện cho những đồng bào đã
tử nạn trong chiến tranh, cũng để chữa lành những thương
tích để chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau mà bấy lâu
nay chúng ta mang nặng ở trong lòng. Đây là một dịp hiếm
có. Tôi mong rằng quí vị sẽ thực tập hết lòng để chúng
ta đạt đến kết quả là âm siêu dương thái, đất nước
được nhẹ nhàng, tươi vui hưng thịnh, lòng người được
thống nhất và quê hương có dịp được sánh vai với các
nước tiền tiến trên thế giới.
Tôi
rất vui. Ngồi như thế này tôi có cảm tưởng là ngồi trong
một gia đình chứ không phải ngồi trong quần chúng. Chúng
ta là một gia đình. Chúng ta đều là con của đức Thế Tôn,
là anh em của nhau, là chị em của nhau. Mong rằng quí vị nuôi
dưỡng được tình huynh đệ đó, tình gia đình tâm linh
đó./.
HẾT
http://www.phusa.info/
http://www.thuvienhoasen.org/index-tacgia-nhathanh.htm
|
.
.
.
|