|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CHIỀU
THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
|
|
TU
VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẾN
VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
TIN
TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
NỘI
DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
TIN TỨC
& chuyến đi
Việt Nam của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
 |
 |
AN
TỊNH TÂM HÀNH
Tháng
03 2007 - biên tập: Chân Tịnh Ý
Pháp
thoại của Sư ông Làng Mai ngày 5.03.2007 tại Bát Nhã, Lâm
Đồng, trong khóa tu dành cho người xuất gia từ 5. 03. đến
9. 03. 2007.
Audio
MP3 : Phần
1 (10MB) Phần
2 (9MB)
Kính
thưa chư vị tôn đức, thưa các huynh đệ.
Hôm
nay là ngày mồng 5 tháng 3 dương lịch năm 2007. Chúng ta đang
ở tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng trong khóa tu dành
cho những người xuất gia.
Trong
suốt những ngày của khóa tu, cổng chùa Bát Nhã sẽ đóng
lại không tiếp khách tham quan để chúng ta có cơ hội tu tập
thành công. Những ngày đó chúng ta cũng chỉ ở trong khuôn
viên của tu viện, trừ những trường hợp cấp bách lắm
mới phải đi ra ngoài mà thôi. Đây là một cơ hội, chúng
ta chỉ có một số ngày và chúng ta phải tìm cách vận dụng
thì giờ đang có để sự tu tập đạt tới những kết quả
mà chúng ta mong muốn.
Một
khóa tu năm ngày hay bảy ngày cho phép chúng ta nếm được
pháp vị của giải thoát và an lạc. Sau đó chúng ta phải
tiếp tục thực tập bằng cách này hay cách khác thì sự giải
thoát và an lạc đó mới kéo dài và phát triển. Nếu sau khóa
tu mà chúng ta không có môi trường tốt, không có cơ hội
thực tập, thì an lạc, giải thoát, hạnh phúc đó
chỉ kéo dài vài ba tuần lễ rồi chúng ta sẽ sa vào tình
trạng cũ. Chúng ta phải chờ một khóa tu khác. Cũng như là
mình đi châm cứu, được ông thầy chữa trị thì thấy khỏe
và nó có thể kéo dài được một hai tuần. Nhưng do cách
sống, cách làm việc, cách ăn uống của mình nó không giúp
duy trì sự an lạc trong thân thể của mình, nên vài ba tháng
sau mình phải trở lại tìm ông thầy.
Khóa
tu cũng vậy. Khóa tu năm ngày hay bảy ngày cho phép chúng ta
nếm được một chút hương vị của tình huynh đệ, của
an lạc, của thong dong, của giải thoát. Vì vậy chúng ta phải
chú tâm, nghĩa là phải nắm được pháp môn, nắm được
phương pháp thực tập. Chúng ta phải suy nghĩ làm thế nào
để sau khóa tu bảo trì được sự tu tập, có thể tiếp
tục được sự tu tập.
Môi
trường tu tập rất là quan trọng. Nếu môi trường không
thuận lợi thì khó mà duy trì được sự thực tập và làm
cho an lạc, giải thoát của mình lớn lên và kéo dài. Sự
thật là như vậy. Chắc chắn là khi mình tu năm ngày hay bảy
ngày, thế nào cũng nếm được một ít an lạc hạnh phúc
và thảnh thơi. Cũng như mình đi châm cứu, thế nào cũng khỏe
ra, những huyệt đạo được khai thông, mình thở được,
mình đi đứng được không đau nhức lắm. Nhưng những cái
đó chỉ có kết quả nhất thời.
Công
phu tu tập bắt đầu từ sự dừng lại.
Công
phu tu tập bắt đầu từ sự dừng lại. Dừng lại là
một phương pháp thực tập. Dừng lại cái gì? Dừng lại
sự rong ruổi của chúng ta. Chúng ta đang rong ruổi, chúng ta
đang đuổi theo một cái gì đó. Nhiều khi chúng ta không có
ý đuổi theo, không muốn rong ruổi, nhưng chúng ta vẫn bị
kéo theo và không cưỡng lại được. Chúng ta trôi lăn theo
một cái gì đó, một hướng nào đó. Tiếng Hán Việt trầm
luân là trôi lăn và chúng ta đang trôi lăn. Cái trôi lăn đó
có thể thấy được trong ban ngày, những gì ta nghĩ, những
gì ta nói và những cái ta làm, nó chứng tỏ ta đang bị cuốn
hút, ta không dừng lại được. Nhưng trong giấc mơ chúng ta
cũng bị trôi lăn như thường. Nếu chúng ta quán sát thì không
những trong ban ngày mà trong ban đêm chúng ta cũng đang trôi
lăn, chúng ta đang bị cuốn hút theo một cái gì đó. Đi theo
cái đó, ta không có thì giờ để sống thảnh thơi an lạc
trong giây phút hiện tại. Vì vậy, tu trước hết là dừng
lại, tập dừng lại.
Chữ
samatha mà mình dịch là chỉ đó, có nghĩa là dừng lại. Trong
kinh A Hàm được dịch vào khoảng thế kỷ thứ tư, thứ năm
thì chúng ta có danh từ tức. Tức là dừng lại, chấm
dứt, dừng lại như là trong danh từ hưu tức, hưu là nghỉ
ngơi, là ngừng lại giống như về hưu. Hưu tức, chữ
tức này tức là chấm dứt, dịch ra tiếng Anh là stop. Chữ
chỉ hay chữ tức đó cũng có nghĩa là làm cho lắng
dịu trở lại, sâu lắng trở lại, nhẹ nhàng ra thì gọi
là tức. Kinh An Ban Thủ Ý mà đức Thế Tôn dạy chúng ta phương
pháp thở, có danh từ thân hành tức. Thân hành là
cái hình hài của mình, thân hành tức là làm lắng dịu
con người, thân thể của mình trở lại. Và danh từ tâm hành
tức nghĩa là sự lắng dịu của những tâm hành. Thân
hành, là những hoạt động của cơ thể, còn tâm hành là
những hoạt động của tâm ý. Hoạt động của cơ thể có
sự căng thẳng, có sự đau nhức, có sự rong ruổi, có
sự trôi lăn. Làm thế nào để nó ngưng lại, nó lắng lại,
êm dịu trở lại. Cái đó gọi là chỉ, cái đó gọi là tức.
An
tịnh thân hành – An tịnh tâm hành.
Trước
là phải học thân hành tức là làm cho lắng dịu thân hành
của mình, làm sao cho thân của mình ngừng lại, được nghỉ
ngơi trở lại. Tại vì chúng ta đày đọa tấm thân của chúng
ta hơi nhiều, chúng ta không cho thân chúng ta được thư giản,
lắng dịu. Những căng thẳng, đau nhức phát sinh trong thân
là vì chúng ta không biết cách làm lắng dịu, không có biết
cách dừng lại, nghĩa là không biết chỉ. Chúng ta nhân danh
Tam Bảo, chúng ta nhân danh Phật sự, chúng ta làm quá trời
quá đất. Vì vậy những căng thẳng dồn chứa trong thân của
mình, nó tạo ra những đau nhức. Những căng thẳng và đau
nhức đó khi bị dồn chứa tới một mức nào đó thì bắt
đầu phát sinh ra bệnh, đủ thứ bệnh tật hết. Cho nên trong
kinh An Ban Thủ Ý tức là kinh Quán Niệm Hơi Thở có một bài
thực tập gọi là an tịnh thân hành, tức là làm cho cơ thể
mình buông thư lại, lắng dịu trở lại, không còn bị đày
đọa.
Có
một bài tập nữa trong kinh Quán Niệm Hơi Thở gọi là an
tịnh tâm hành, vì trong tâm của chúng ta cũng có sự căng
thẳng, sự đau nhức. Chúng ta có những cái sợ, những nỗi
buồn những cái lo và dồn chứa lâu ngày, tâm thần của chúng
ta căng thẳng. Nếu chúng ta không biết giải tỏa, không biết
tháo gỡ, không biết làm lắng dịu, không biết chỉ, không
biết tức thì sự dồn nén đó sẽ làm cho chúng ta bệnh
và có thể là những bệnh gọi là tâm thần. Thân bệnh rồi
tới tâm bệnh.
Là
người tu, mình phải nắm cho được phương pháp làm lắng
dịu thân, thân hành tức là thân đó. Hành là một từ
chuyên môn trong đạo Bụt, tất cả mọi sự mọi vật tất
cả đều gọi là hành. Hành có nghĩa là những sự vật, những
hiện tượng. Ví dụ như cái bình thủy này là một hành.
Có khi mình gọi là hạnh. Khi nói chư hạnh vô thường tức
là các sự vật đều vô thường. Hành vô thường, cái bình
này vô thường, cái microphone này vô thường, cái bàn tay này
vô thường. Cái bình thủy là một hành, bàn tay là một hành,
thân mình là một hành gọi là thân hành. Còn tâm mình có
những buồn giận, những lo lắng, sầu khổ, thì những buồn
giận, những lo lắng sầu khổ đó không phải là thân hành
mà là tâm hành. Người tu phải biết cách làm lắng dịu thân
hành và tâm hành. Mình phải nắm cho được.
Trong
kinh Quán Niệm Hơi Thở, tức kinh An Ban Thủ Ý, đức Thế
Tôn dạy cho chúng ta nhiều bài thực tập và trong đó có những
bài giúp chúng ta làm lắng dịu thân hành tức là lắng dịu
thân thể của chúng ta, lấy ra khỏi thân những căng thẳng,
những đau nhức, những dồn nén và những bài tập giúp chúng
ta lắng dịu tâm hành, lấy ra khỏi tâm những căng thẳng,
những dồn nén những đau nhức những ẩn ức. Như vậy
phép tu nó trị thân và trị tâm. Cũng vì vậy đức Thế
Tôn được gọi là một y sĩ, một y vương, một ông vua của
thầy thuốc.
Kinh
Quán Niệm Hơi Thở có bài tập thứ ba, thở vào tôi ý thức
sự có mặt của thân thể tôi và bài tập thứ tư thở vào
tôi làm cho thân thể tôi lắng dịu xuống. Nghĩa là mình buông
thư thân thể, mình lấy ra những căng thẳng, những đau nhức
trong thân thể. Thở vào tôi ý thức được thân thể của
tôi, cái tiếng chuông “boong” là thân hành giác, thân hành
giác tức là ý thức được sự có mặt của cơ thể mình.
Thở vào tôi ý thức được sự có mặt của thân thể tôi,
thở ra tôi ý thức được sự có mặt của thân thể tôi,
tôi công nhận là nó đang có mặt đó. Mình lấy cái tâm mình
trở về với thân thể, ôm lấy thân thể, mình công nhận
sự có mặt của thân thể. Tại vì ban ngày những lúc bận
rộn mình quên luôn thân của mình, tâm của mình đi rong ruổi,
đi về quá khứ, đi về tương lai, đi về những dự
án, những âu lo, những sợ hãi. Cái thân luôn luôn rời khỏi
cái tâm. Hơi thở giúp đưa tâm trở về với thân để nhận
diện sự có mặt của tâm để ôm lấy tâm và để làm cho
thân lắng dịu xuống. Đó là bài tập thứ ba và bài tập
thứ tư của kinh Quán Niệm Hơi Thở.
Kinh
Quán Niệm Hơi Thở là sách gối đầu giường của các thầy
và các sư cô. Mình phải nằm lòng kinh đó. Kinh đó đi đôi
với kinh Niệm Xứ. Kinh Niệm Xứ dạy cho chúng ta quán
niệm về thân, về thọ, về các tâm hành và về Pháp, tức
là đối tượng của tri giác tức là đối tượng của tưởng.
Đó là bốn lĩnh vực của sự quán chiếu, bốn lĩnh vực
của kinh quán niệm gọi là kinh Tứ Niệm Xứ. Đó cũng là
kinh gối đầu giường của các thầy, các sư cô trong thời
đức Thế Tôn tại thế. Trong thời đức Thế Tôn tại thế
thì tất cả các thầy các sư cô đều thuộc lòng kinh đó
và kinh Quán Niệm Hơi Thở, hai kinh đó là hai kinh căn bản.
Chúng ta thuộc kinh Di Đà nhiều hơn, chúng ta thuộc kinh Lăng
Nghiêm nhiều hơn mà chúng ta không thuộc kinh Niệm Xứ
và kinh Quán Niệm Hơi Thở, trong khi hai kinh đó rất là thiết
yếu cho người tu. Nếu chúng ta thuộc Lăng Nghiêm được thì
chúng ta thuộc kinh Quán Niệm Hơi Thở được.
Là
người hành giả - hành giả - tức là người tu - phải nắm
trong tay những pháp môn tu tập - bài tập mà đức Thế Tôn
đưa ra, nó hết sức là đơn giản. Thở vào tôi biết đây
là hơi thở vào, thở ra tôi biết đây là hơi thở ra, đó
là nhập tức xuất tức, nhập tức là hơi thở vào, xuất
tức là hơi thở ra. Thở vào thì mình biết rằng đây là
hơi thở vào, thở ra biết đây là hơi thở ra. Mình điểm
mặt nó mày là hơi thở vào, còn mày là hơi thở ra. Bài tập
đầu đơn giản như vậy đó nhưng mầu nhiệm vô cùng. Mình
chỉ ngồi đó thôi để nhận dịện hơi thở vào, nhận diện
hơi thở ra. Giống như người lính gác cổng nhận diện người
này là người Việt mới đi vô, người kia là người ngoại
quốc mới đi ra, vậy đó.
Bài
tập đầu tiên là nhận diện hơi thở: nhận diện hơi thở
vào và nhận diện hơi thở ra. Nó mầu nhiệm là tại vì sao?
Tại vì tâm mình đang rong ruổi, trôi lăn, nó đi về quá khứ,
tiếc nuối hay sầu não về quá khứ hoặc nó đi về tương
lai, lo lắng, sợ hãi về ngày mai. Hay là nó bị cuốn theo
những suy tư, những lo lắng những sầu khổ, bực bội. Khi
mình đem nó trở về với hơi thở, mình nhận diện hơi thở,
tự nhiên tâm của mình nó buông mấy cái đó ra. Nó buông
quá khứ ra. Nó buông tương lai ra. Nó buông những vướng mắc
đó trở về với hơi thở. Tâm mình có tự do, tâm mình bây
giờ bám lấy hơi thở vào và hơi thở ra thì lúc đó mình
bắt đầu có tự do. Có tự do đối với những vướng mắc
về quá khứ, về tương lai, về các đối tượng tìm cầu
của mình. Cứ thở một hồi như vậy thì tự nhiên hơi thở
vào nó sâu xuống, hơi thở ra nó nhẹ thêm và mình bắt đầu
có pháp lạc, có hạnh phúc.
Bài
tập thứ hai cũng dể. Bài tập thứ hai là thở vào, tôi theo
dõi hơi thở vào từ đầu tới cuối, bám sát lấy hơi thở
vào không để tâm thoát ra chạy tứ tán. Tôi đang thở ra
và tôi theo dõi hơi thở ra từ đầu tới cuối, tôi bám sát
lấy hơi thở ra như là người chết đuối bám sát lấy
cái phao, như người đi qua cầu khỉ bám sát lấy thanh cầu
để đừng rơi xuống. Trong khi thở vào mình bám sát lấy
hơi thở vào và trong khi thở ra mình bám sát hơi thở ra từ
đầu tới cuối như vậy nên mình bắt đầu có định, nó
rất là hay. Không khó mà lại rất vui. Ngay trong
bài tập thứ nhất và bài tập thứ hai, mình bắt đầu chấm
dứt được tán loạn và mình bắt đầu có định.
Tới
bài tập thứ ba, thở vào tôi ý thức về sự có mặt của
thân thể tôi, thở ra tôi ý thức rằng thân thể tôi nó có
đó. Tức là đem tâm về với thân, đem tâm hòa giải với
thân. Và bài tập thứ tư, thở vào tôi làm lắng dịu những
căng thẳng ở trong cơ thể tôi. Thở ra tôi buông thư tất
cả những cái căng thẳng trong cơ thể tôi. Trong tư thế ngồi,
bằng hơi thở đó mình làm cho các cơ bắp ở trong thân thể
buông thư xuống hết, trước hết là những cơ bắp trên mặt,
đếm ra thì có vào khoảng ba trăm bắp thịt nho nhỏ, những
cơ bắp nho nhỏ ở trên mặt. Mỗi khi mình lo lắng, sầu khổ,
sợ hãi thì nó căng thẳng ra, nhìn vô kiếng thì thấy ghê
lắm, giống trái bom sắp nổ. Nhưng nếu mình thở vào một
cái, ý thức được cơ thể, thở ra một cái, mỉm cười
buông thư thì khuôn mặt mình dể ngó hơn nhiều, nó buông
thư trở lại. Nụ cười khi thở ra nó mầu nhiệm vô cùng.
Đang căng thẳng như vậy mà hể mỉm cười một cái thì tất
cả ba trăm bắp thịt trên mặt nó thư giản liền, mặt
mình nó đẹp hơn trước rất nhiều, nhìn vào kiếng
thì thấy. Mình có những bắp thịt, những cơ bắp ở trên
vai, lo lắng sầu khổ, tính toán khiến nó co rút lại, nó
cứng ngắt. Vì vậy cho nên trong tư thế ngồi hay trong tư
thế nằm mình thực tập buông thư, cái đó gọi là an tịnh
thân hành, hoặc là thân hành tức. Rồi tới những sầu khổ,
những lo lắng, những buồn bực, giận hờn trong người gọi
là tâm hành.
Hơi
thở thứ bảy, bài tập thứ bảy trong kinh: thở vào tôi nhận
diện được cảm thọ đang có mặt trong tôi, thở ra tôi nhận
diện cảm thọ đang có mặt trong tôi. Và cảm thọ này tức
là cảm thọ đau đớn sầu khổ, lo lắng giận hờn, cảm
thọ tiêu cực.
Rồi
hơi thở thứ tám, thở vào tôi làm lắng dịu những cảm
thọ trong tôi, tôi làm lắng dịu những cái nỗi khổ niềm
đau trong tôi, cái đó gọi là tâm hành tức hoặc là an tịnh
tâm hành.
Thiền
ngồi: ngồi như thế nào để có an lạc, có tình huynh đệ.
Cái
trên là thân hành tức hay là an tịnh thân hành, cái dưới
là tâm hành tức hay là an tịnh tâm hành, mình phải nắm cho
được. Trong khóa tu chúng ta sẽ có thiền ngồi và trong khi
mình thiền ngồi thì mình phải thực tập việc đó cho được,
mình ngồi như thế nào cho thật là thoải mái mà có an có
lạc. Ngồi thiền không phải là một lao tác mệt nhọc, một
sự đày đọa hình hài của mình. Nếu mình cảm thấy đau
khổ trong khi ngồi thiền, thì tại sao mình phải ngồi thiền.
Ngồi thiền làm chi để cho đau khổ thêm, đời có nhiều
đau khổ rồi, tại sao phải đau khổ thêm nữa. Vì vậy cho
nên phải học ngồi như thế nào mà trong thời gian ngồi mình
có sự buông thư, sự nhẹ nhàng và an lạc. Đức Thế Tôn
mỗi khi ngồi có an lạc, có tươi mát, có nhẹ nhàng giống
như là ngồi trên một đóa sen. Điều đó không có nghĩa là
Đức Thế Tôn ngồi trên đóa sen thiệt, mà vì ngồi chỗ
nào đức Thế tôn cũng thấy tươi mát, cũng thấy nhẹ nhàng,
cho nên gọi là ngồi trên tòa sen. Còn mình thì ngồi trên
đống lửa, ngồi chưa yên thì đã nhỏm dậy, không có an,
không có lạc, không có an tọa, không có lạc tọa. Vì vậy
cho nên phải học ngồi, năm phút, mười phút, mười
lăm phút, hai mươi phút. Và khi mình giỏi rồi mình có
thể ngồi một giờ, một giờ rưỡi cũng có thể có an, cũng
có thể lạc. Nhưng mà đừng có ráng, ráng mà phải gồng
mình rồi phải khổ đau trong ngồi thiền, thì thà rằng không
ngồi thiền còn hơn.
Một
ngày tu mà không có an lạc, không hưởng được tình huynh
đệ là một ngày bỏ đi. Chúng ta không chấp nhận như vậy.
Một ngày tu phải có an phải có lạc, phải được nuôi dưỡng
bởi tình huynh đệ, chuyện này có thể làm được. Vậy thì
trong khi ngồi, chúng ta ngồi như thế nào để có an, có lạc
và có tình huynh đệ. Trong khi đi chúng ta đi như thế nào
mà mỗi bước có an có lạc, có tình huynh đệ, có thảnh
thơi có giải thoát, chuyện này là chuyện có thể làm được.
Nhất định trong khóa tu chúng ta phải làm cho được. Mình
ngồi bán già hay là kiết già, toàn già hay là mình ngồi trên
ghế cũng được nữa, miển là ngồi cho thoải mái, cái lưng
cho thẳng nhưng không cứng ngắt, không gồng. Buông thư hết
tất cả mọi cơ bắp, nếu muốn buông thư ba trăm cơ bắp
trên mặt thì chỉ cần mỉm cười một cái là nó buông thư
liền. Hai tay buông thư hết, rất thẳng nhưng mà rất buông
thư. Cái đầu với cái cột sống nó cùng trên một đường
thẳng, không có cúi xuống, không có ngã ra, thành một đường
thẳng. Và khi ngồi xuống rồi thì không cần đợi những
người khác, lập tức để ý tới hơi thở. Thở vào - đây
là hơi thở vào, thở ra - đây là hơi thở ra. Thở vào khỏe
quá đi, thở ra nhẹ quá đi. Thở vào, hơi thở vào bây giờ
đã sâu. Thở ra, hơi thở ra bây giờ đã chậm. Thở vào tôi
theo dõi hơi thở vào từ đầu cho đến cuối. Thở ra tôi
theo dõi hơi thở ra từ đầu cho đến cuối. Thực tập như
vậy thì chỉ trong năm phút là phẩm chất của hơi thở cao
hơn rồi. Ban đầu chưa thực tập thì mình thở hổn hển,
nhưng mà ngồi cho thoải mái thì chỉ trong vài phút sau với
tư thế ngồi vững chãi và với sự buông thư của các cơ
bắp, sự thư giản, hơi thở của mình nó từ từ sâu hơn,
từ từ chậm lại và nó có phẩm chất cao hơn. Mình bắt
đầu hưởng được pháp lạc, tức là niềm vui của sự thực
tập.
Cái
này không khó, hể mình muốn là mình làm được. Cũng như
là những người học đánh tennis, mới bắt đầu đánh,
trái banh đi bậy bạ. Nhưng mà thử độ chừng nữa giờ thì
banh đã đi đúng hướng rồi. Đôi khi mình đánh về hướng
đó nhưng nó chạy sang bên này, thì hơi thở cũng vậy đó.
Ban đầu mình có cảm tưởng là mình không làm được. Nhưng
cứ thử làm, vừa làm vừa chơi thì trong mười lăm phút sau,
nửa giờ sau, mình làm được và hơi thở bắt đầu có phẩm
chất của an và của lạc. Nó đem lại chất liệu của an
và lạc trong thân rồi vào trong tâm. Mình không phí thì giờ
trong khi mình ngồi. Tại vì ngồi như vậy nuôi dưỡng
cái thân mình rất nhiều. Nếu ngồi chưa quen mỏi chân thì
đừng có chịu trận, mình có thể tháo chân ra, mình vẫn
thở và mình bóp hai chân nhè nhẹ. Miễn là đừng làm rộn
ông thầy ngồi bên phải hay là phía trước mặt mình thôi
Mình mỉm cười, xoa bóp cho đều hoặc là mình đổi chân,
chân này lên trên chân kia xuống dưới. Tại sao phải chịu
trận, tại sao phải đau nhức? Đó là thiền ngồi.
Khoan
quán tưởng một cái gì hết, việc đầu tiên là phải buông
thư, phải lấy đi sự căng thẳng trong thân, phải làm cho
cái thân hành nó lắng dịu xuống, đó gọi là thân hành tức,
an tịnh thân hành. Cái tâm phải ở với cái thân mới làm
được chuyện đó. Tâm không được làm chuyện khác.
Tâm phải lo, phải bám lấy hơi thở. Hơi thở mà có tâm đi
theo gọi là hơi thở có ý thức. Có khi mình thở mà
mình không biết là mình đang thở, đó là hơi thở không có
ý thức. Trong khi mình thực tập hơi thở là hơi thở có ý
thức. Khi mình thở vào mình biết là đang thở vào, khi thở
ra mình biết là đang thở ra. Gọi là hơi thở có ý thức,
mà danh từ ngày xưa gọi là an ban thủ ý hoặc là nhập tức
xuất tức niệm. Nhập tức xuất tuất niệm tức là niệm
hơi thở vào, niệm hơi thở ra, có gì đâu.
Niệm
ở đây có nghĩa là để ý tới. Niệm Bụt là để ý tới
Bụt, niệm hơi thở là để ý tới hơi thở, niệm thân là
để ý tới thân, niệm giới tức là để ý tới giới, niệm
Pháp là để ý tới Pháp. Chữ niệm có nghĩa là để ý tới,
đem cái tâm trở về với cái đó gọi là niệm. Vậy thì
an ban thủ ý có nghĩa là nhập tức xuất tức niệm, tức
là để ý tới hơi thở vào, hơi thở ra hoặc là niệm hơi
thở hoặc là quán niệm hơi thở. Nói theo kiểu mới là thực
tập hơi thở có ý thức, còn nếu không tu thì hơi thở đó
không có ý thức. Có hơi thở có ý thức rồi thì nó có thể
làm thư giản những căng thẳng trong cơ thể, làm lắng dịu
cơ thể.
Thiền
đi - đi bước nào để tâm vào bước đó.
"Thảnh
thơi dường mây trắng" Một sáng thiền hành trong khóa tu dành
cho Cư sĩ từ ngày 28 tháng II đến 4 tháng III tại tu viện
Bát Nhã - Lâm Đồng.
Khi
mình đi thì mình cũng đem tâm mình trở về với cơ thể và
mỗi bước đi là mỗi bước đi có ý thức. Niệm bước chân
- thiền đi - tức là niệm bước chân, là đi bước nào
mình ý thức bước đó, mình ý thức được sự xúc chạm
giữa chân mình với mặt đất. Mình không để cho bước chân
nào lọt ra khỏi vùng ý thức hết. Bước chân nào cũng là
bước chân ý thức, cũng như là hơi thở nào cũng là hơi
thở có ý thức. Giống như mình đi coi hát, trên sân khấu
có một cô ca sĩ và người ta tắt đèn hết, người ta chỉ
chiếu ánh sáng vào một cô ca sĩ đó thôi và xung quanh đó
thì tối đen để cho cô ca sĩ nổi bật lên. Ở đây cũng
vậy, khi mình tập thở vào thở ra thì mình tắt hết tất
cả đèn ý thức vào những chuyện khác, mình chỉ phóng chiếu
ý thức của mình vào hơi thở vào và hơi thở ra mà thôi.
Cái đó gọi là định, gọi là tập trung ánh sáng của cây
đèn vào cô ca sĩ. Tâm của mình tập trung vào hơi thở vào,
tập trung vào hơi thở ra, đó là niệm hơi thở. Còn khi
đi, mình niệm bước chân, đi một bước mình để tâm
vào bước đó, đi bước thứ hai mình để hết tâm vào bước
thứ hai. Và không có bước chân nào lọt ra khỏi vùng ánh
sáng của ý thức hết, cái đó gọi là thiền đi.
Cố
nhiên khi mình nói chuyện thì mình không làm được chuyện
đó, vì vậy trong một trung tâm tu học, khi đi thì không nói
chuyện. Khi đi thì phải phối hợp bước chân với hơi thở
và đem tâm về soi sáng cho bước chân và hơi thở. Bước
một bước mình thở vào một hơi, bước thêm một bước
mình thở ra một hơi, lại bước một bước...cứ thế tiếp
tục. Mình phối hợp hơi thở vào với một bước, phối hợp
hơi thở ra với một bước, đó là đi thiền, đi thiền chậm.
Thở vào, thở ra, đem một trăm phần trăm tâm của mình
đầu tư vào bước chân đó. Đức Thế Tôn đi như vậy đó.
Mỗi bước chân đều là một bước chân có ý thức.
“Thảnh
thơi nhường mây trắng.”
Tất
nhiên khi bước như vậy thì mình không suy nghĩ tới quá khứ,
không suy nghĩ tới tương lai, cũng không suy nghĩ tới những
dự án mà mình phải thực hiện như xây chùa, in kinh, đúc
tượng. Không suy nghĩ tới, mình chỉ để ý tới hơi thở
hoặc là bước chân thôi, cái đó gọi là định. Định tức
là chỉ để ý tới một cái mà thôi. Và khi mà mình để
hết tâm ý vào bước chân đang xãy ra trong giây phút hiện
tại thì mình có tự do, mình có thảnh thơi, tại vì mình
không bị quá khứ ám ảnh, không bị tương lai làm cho mình
lo lắng sợ hãi. Mình hoàn toàn an trú trong giây phút hiện
tại.
Bước
một bước thở vào, bước một bước thở ra, đó là đi
thiền chậm. Làng Mai có những bài kệ rất ngắn để mình
sử dụng và thực tập. Bước một bước mình nói đã về,
bước một bước thứ hai nữa, thở ra gọi là đã tới, đã
về đã tới. Tức là không cần phải chạy nữa. Lâu nay mình
chạy như bị ma đuổi. Bây giờ mình ngưng lại, mình chỉ,
mình tức, chỉ cũng là ngưng, tức cũng là ngưng. Chỉ và
tức cũng có nghĩa là làm lắng dịu trở lại, mình đi như
vậy rất là thư thái, thong dong. Đi như một con người tự
do, không lo lắng. Đức Thế tôn đã đi như vậy. Trong lưu
vực sông Hằng ngài đã đi những bước chân như vậy và
đi với một đoàn đệ tử khá đông, một ngàn hai trăm năm
chục thầy. Trong khi đi toát ra năng lượng của sự vững
chãi, của sự thảnh thơi. Thảnh thơi tức là không bận rộn,
không bị hệ lụy, bị bó buộc vào một đam mê, hờn
giận, một dự án nào hết. Tại vì mình hoàn toàn đang sống
trong giây phút hiện tại. Trong khóa tu anh em, chị em mình sẽ
đi như vậy. Mỗi bước chân nó nằm trong vùng ánh sáng của
ý thức. Nó phải tiếp xúc được với những mầu nhiệm
của sự sống trong giây phút hiện tại. Mình đi để tiếp
xúc với sự sống mầu nhiệm trong giây phút hiện tại, mình
không đi như những người mộng du. Những người mộng du
họ đi họ không biết họ đang đi đâu giữa ban ngày. Và
chúng ta nhìn cho kỹ xung quanh thì thấy phần lớn người ta
đang đi như vậy, đang mộng du hết, đi mà không biết mình
đang đi đâu. Đôi khi đang đi tới những đoạn trường mà
không biết.
Vì
vậy trong thiền đi, mỗi bước chân phải có an lạc, có sự
buông thư. Hai tính chất của bước đi là vững chãi và thảnh
thơi. Bước một bước thật vững. Vững chãi nghĩa là không
bị quá khứ lôi kéo, không bị tương lai lôi kéo. Độc lập
với quá khứ, độc lập với tương lai. Một bước chân như
vậy là một bước chân có giá trị của sự vững chãi. Chất
liệu thứ hai của bước chân là thảnh thơi, tức là đi làm
sao cho mình trở thành một người tự do, mình không đi như
bị ma đuổi, chính mình bước một bước như vậy. Bước
chân đó nó đưa mình trở về với hiện tại nhiệm mầu
có trời xanh, mây trắng, có tăng thân có thầy, có bạn, có
tình huynh đệ. Vững chãi và thảnh thơi cũng là hai đặc
tính của Niết Bàn. Mình đi thiền như vậy, mình đã bắt
đầu tiếp xúc được với Niết Bàn rồi, nếu quả thật
mình có một chút ít vững chãi và một chút ít thảnh thơi.
Huống hồ là mình có nhiều vững chãi có nhiều thảnh thơi.
Mình có thể tiếp xúc Niết Bàn bằng hai chân của mình. Đức
Thế Tôn nói : ta có thể tiếp xúc Niết Bàn với hình hài
của chính ta. Đó là đi thiền chậm, một bước.
Đã
về, đã tới ; bây giờ, ở đây, vững chãi, thảnh thơi;
quay về, nương tựa. Nay tôi đã về, nay tôi đã tới, an trú
bây giờ, an trú ở đây, vững chãi như núi xanh, thảnh thơi
dường mây trắng, cửa vô sinh mở rồi, trạm nhiên và bất
động.
Bài
kệ đã được phổ nhạc và một số các thầy các sư cô
ở đây đã thuộc bài đó rồi. Các thiền sinh Âu châu và
Mỹ châu hát bằng tiếng Anh hay là bằng tiếng Đức. Sang
bên Trung Quốc thì hát bằng tiếng Hoa. Đã có bài tiếng Việt
và nếu quý vị chưa thuộc thì chỉ cần nhớ đã về
đã tới, bây giờ ở đây.
Bây
giờ ở đây here and now là địa chỉ của sự sống. Tất
cả những mầu nhiệm của sự sống chỉ có mặt ở trong
giây phút hiện tại và ở đây. Nếu mình có mặt ở đây
thì mình tiếp xúc được những mầu nhiệm đó của sự sống.
Đã
về đã tới, có nghĩa là con không còn ruổi rong, con không
chạy như bị ma đuổi nữa. Con đã chạy như vậy suốt đời
rồi, bây giờ con quyết tâm dừng lại. Mỗi bước như vậy
nó đưa mình trở về với giây phút hiện tại, nó đưa mình
về với cái bây giờ và ở đây. Tại vì chỉ bây giờ và
ở đây mới có sự sống mà thôi. Còn phần lớn chúng ta
đều sống bằng tương lai, chỉ nghĩ tới tương lai hoặc
chỉ mơ về quá khứ. Trong khi đó đức Thế Tôn dạy là phải
hiện pháp lạc trú.
Hiện
pháp lạc trú.
Hiện
pháp lạc trú tức là sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện
tại. Hiện pháp có nghĩa là những gì đang xảy ra trong giây
phút hiện tại. Lạc trú là sống hạnh phúc. Sống hạnh phúc
với những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong
giây phút hiện tại có trời xanh, có mây trắng, có suối
reo, có chim hót, có đồi thông, có đồi chè, có huynh có đệ,
có thầy. Mình sống với những cái đó, mình không bị chìm
đắm trong quá khứ, mình không bị chìm đắm trong tương lai.
Cái đó gọi là hiện pháp lạc trú. Sống hạnh phúc ngay trong
hiện tại và tiếp xúc với những gì đang xảy ra ngay trong
giây phút hiện tại.
Khi
mình ngồi thiền, mình cũng hiện pháp lạc trú mà khi mình
đi thiền mình cũng tiếp xúc và mình cũng thực tập hiện
pháp lạc trú.
Nhưng
ngoài cách đi chậm còn có cách đi nhanh và cách đi bình thường.
Đi chậm là thở vào một hơi mình bước một bước mình
nói mình đã về, thở ra mình bước một bước nói mình đã
tới, đã về đã tới. Và mình đi như vậy cho đến khi nào
mình về thiệt, mình có cảm tưởng là mình đã về thiệt,
mình đã tới thiệt. Ban đầu mình mới tuyên bố thôi, con
đã về nhưng kỳ thực mình còn rong ruổi chút đỉnh, con
đã tới nhưng kỳ thực mình còn rong ruổi chút đỉnh. Nhưng
khi mình đem hết tất cả con người của mình tập trung bước
một bước. Đem hết tất cả tâm ý để dừng lại trong bước
chân đó. Nếu chúng ta đi một mình thì chúng ta có thể thực
tập như thế này: thở vào một hơi, bước một bước và
nói mình đã về rồi. Tức là mình đã về với giây phút
hiện tại bây giờ và ở đây, cái tâm của mình không có
muốn chạy về quá khứ tương lai hay nơi khác. Bàn chân mình
tiếp xúc với mặt đất nếu để ý,quả thật mình hoàn
toàn thiết lập thân tâm mình ở ngay trong giây phút hiện
tại, mình thấy an lạc, thấy hạnh phúc ở đây, thì lúc
đó mình đã về thiệt, đã tới thiệt. Nếu thấy mình chưa
về thiệt hay là mới về được có hai chục phần trăm, ba
chục phần trăm thì đừng có bước, đừng có đi bước nữa,
đừng bước bước thứ hai, cứ dẫm chân như vậy mà thở
ra, thở vào, thở ra cho đến khi nào mình đã thật sự
đã về rồi, mình mới bước chân thứ hai đã tới. Mình
đã về hay chưa về thì mình biết. Mình đã tới hay chưa
tới, mình phải biết.
Trong
con người của mình có một năng lượng, có tập quán xô
đẩy mình đi về tương lai. Mà năng lượng đó, tập
quán đó, thói quen đó, rất mạnh. Nó xô mình, mình không
muốn chạy mà nó cứ xô mình chạy về phía trước, về phía
tương lai. Tập khí đó năng lượng đó có thể là do ông
bà cha mẹ truyền lại cho mình và tu là phải nhận diện cái
tập khí đó, thói quen đó, cái sức mạnh vô hình nó đẩy
mình đi tới không cho mình an trú trong hiện tại. Nhưng đồng
thời mình có một năng lượng khác, năng lượng để
nhận diện, đó là hơi thở có ý thức, hoặc là niệm, niệm
hơi thở. Mình nhận diện nó mình nói ngươi không có đẩy
ta đi được nữa, bây giờ ta quyết tu, ta quyết dừng lại
rồi. Mình mỉm cười với năng lượng đó. Khi nhận diện
được năng lượng đó thì nó không còn đủ sức để đẩy
mình đi nữa. Chỉ cần nhận diện nó thôi. Ta biết ngươi
là ai rồi, ngươi là cái năng lượng cái tập khí muốn chạy
về phía trước, muốn theo đuổi, muốn lăn về phía trước,
muốn tìm cầu, ta nhận ra được mặt ngươi rồi, ngươi không
thể nào kéo ta đi được nữa đâu.
Đó
là tiếng nói của hơi thở chánh niệm. Nó không làm gì mình
được cho nên mình mới về được, mình mới tới được,
đã về đã tới. Vì vậy đi thiền chậm một mình rất hay,
mình tự do, mình muốn bao nhiêu giây cũng được, mình bước
một bước mình nói mình đã về rồi. Nhưng mà trong tâm mình
thấy rằng mình chưa thật sự về thì mình nhất định cứ
đặt chân ở chỗ đó, ngay chỗ đó rồi cứ thở ra
rồi thở vào, nói đã về, đã về, đã về cho đến khi về
rồi mình mới gật đầu mình mới bước một bước khác
đã tới, phải quyết tâm mới được. Chỉ cần thực tập
hai chữ đó, đã về đã tới cho đến khi bước chân mình
vững lại và có thảnh thơi. Về đâu ? tới đâu ? Về cái
địa chỉ là bây giờ và ở đây.
Cho
nên bài tập thứ hai là bây giờ ở đây, bài tập thứ nhất
là đã về đã tới.
Bây
giờ ở đây là địa chỉ của tịnh độ, địa chỉ của
sự sống. Tại vì quá khứ đã trôi qua mà tương lai thì chưa
tới, sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại. Đó
là lời của đức Thế Tôn nói:
Đừng
tìm về quá khứ, đừng nghĩ tới tương lai,
Quá
khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới,
Hãy
quán chiếu sự sống trong giờ phút hiện tại,
Kẻ
thức giả an trú vững chãi và thảnh thơi.
Đó
là những câu trong kinh Trung A Hàm, rõ ràng, đơn giản và dễ
hiểu.
Khi
một mình đi chậm như vậy rèn luyện cho mình khả năng có
thể về, có thể tới trong giây phút hiện tại, đã về đã
tới, bây giờ ở đây. Bây giờ ở đây là địa chỉ của
sự sống, địa chỉ của những mầu nhiệm của sự sống,
địa chỉ của tịnh độ, của Niết Bàn của Phật tánh của
hạnh phúc, của an lạc. Bỏ cái bây giờ và ở đây thì không
còn hy vọng nữa. Khi mình muốn đi nhanh hơn thì một hơi thở
vào có thể đi theo với hai bước chân. Thở vào, mình bước
hai bước. Mình nói đã về, đã về rồi thở ra, đã tới,
đã tới. Và có thể đi mau hơn nữa, thở vào một hơi nói
đã về, đã về, đã về, thở ra đã tới, đã tới, đã
tới.
Khi
đại chúng đi thiền hành chung ba trăm người, năm trăm người,
một ngàn người, hai ngàn người thường thường nên đi hai
bước hoặc là ba bước. Hai bước thôi cũng được, đã về
đã về này, đã tới đã tới này, bây giờ bây giờ, ở
đây ở đây, vững chãi vững chãi, thảnh thơi thảnh thơi,
quay về quay về, nương tưa nương tựa. Quay về nương tựa
nơi cái tịnh độ hiện tiền, nơi cái địa chỉ đã về
và đã tới. Bây giờ chúng ta hãy hát với nhau bài hát đó
để những người chưa biết có thể thuộc.
Đã
về đã tới, bây giờ ở đây, vững chãi thảnh thơi, quay
về nương tựa. Nay tôi đã về, nay tôi đã tới. An trú bây
giờ, an trú ở đây Vững chãi như núi xanh, thảnh thơi dường
mây trắng. Cửa vô sinh mở rồi, trạm nhiên và bất động.
Như
vậy là ai cũng thuộc hết rồi đó. Trong khi đi mình có thể
thực tập theo cái bài kệ đó: đã về đã tới, một hồi
mình chuyển sang bây giờ ở đây, rồi vững chãi thảnh thơi,
quay về nương tựa, nay tôi đã về nay tôi đã tới, an trú
bây giờ an trú ở đây, vững chãi như núi xanh, thảnh thơi
dường mây trắng, cửa vô sinh mở rồi, trạm nhiên và bất
động.
Có
hòa thượng Thiện Nhơn mới tới và ngài muốn vào để yểm
trợ cho khóa tu của các thầy các sư cô. Nhờ Thầy Trung Hải
mời hòa thượng vô. Có chỗ cho hòa thượng ngồi. Mời hòa
thượng.
Có
nhiều vị tôn túc, quí hóa quá có người tri kỷ tới.
Hòa
thượng Thiện Nhơn Sư Ông Làng Mai và sách tấn đại chúng
trong khóa tu :
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Kính
bạch Thiền Sư Thích Nhất Hạnh.
Lần
này tôi đến đây, trước hết là thăm Thiền Sư và chúc
mừng chuyến đi Phật sự của Thiền Sư đã trang trải và
tạo nhiều thuận duyên, cái đạo tình cho dân tộc nói chung
và đạo pháp nói riêng. Được tin Thiền sư về chuyến này
chư tăng ni và Phật tử tỉnh Bình Định hết sức là hoan
hỷ, hết sức vui mừng cũng muốn có dịp để đón chào Thiền
Sư như chuyến đi đầu, nhưng trong chương trình không có sắp
sếp. Thành ra là hôm nay có cả thượng tọa Lưu Phước,
thượng tọa Nguyên Chơn, hai vị trụ trì hai Tổ Đình
của thành phố, đồng thời cũng là những người có trách
nhiệm cốt cán trong ban trị sự của giáo hội Phật giáo
tỉnh và trách nhiệm của trường trung cấp Phật học cùng
đến viếng thăm và chúc mừng. Đồng thời cũng được ân
huệ ngài Thiền Sư đã truyền đăng tục diệm cho trách nhiệm
giáo thọ từ làng Mai.
Chúng
tôi hôm nay thay mặt cho chư tăng ni và Phật tử tỉnh Bình
Định đến tại tu viện Bát Nhã này để diện kiến thăm
viếng và chúc mừng sức khỏe cũng như chúc mừng chuyến
đi Phật sự của Thiền Sư. Chúng tôi mong mỏi là Thiền Sư
sẽ có những chuyến liên tiếp về sau, về quê hương Việt
Nam với chiếc nôi yêu thương về đạo pháp dân tộc để
tạo điều kiện tốt cho dân chúng, đồng bào nói chung và
Phật tử nói riêng được thấm nhuần đạo đức của nhà
Phật qua lời dạy cũng như cuộc đời của đức Thế Tôn
Thích Ca Mâu Ni.
Hôm
nay ngày Thiền Sư đang giảng về pháp tu cho tất cả quý thính
chúng ở đây, tôi đến thì cũng sợ rằng làm phiền một
chút. Nhưng xin Thiền Sư và tất cả quý vị hoan hỷ.
Xin
phép Thiền Sư tôi muốn có vài lời để gởi gắm đến tất
cả quý vị trong khóa tu này.
Thưa
tất cả quý vị
Thiền
Sư Nhất Hạnh như quý vị biết là một ngôi sao sáng của
phái Thiền Làng Mai. Thiền Sư đã làm được điều tuyệt
vời là truyền đạo Thiền Việt Nam cho những người ngoại
quốc, những nơi mà Thiền Sư đã đặt chân đến. Tất cả
những người đang có tâm tu cũng như đang hướng về pháp
tu thiền Việt Nam đều được Thiền Sư dang tay, mở rộng
vòng tay đón nhận với tất cả thân thương và sự quý mến
dắt dìu. Cho nên sự thành công của ngài đã nhiều năm. Năm
trước ngài có mời tôi qua tu viện Lộc Uyển tham dự lễ
giới đàn Lâm Tế để truyền giới cho các tăng ni và Phật
tử, hầu hết là người ở nước ngoài. Một thành công lớn
như vậy chưa từng có. Ở Việt Nam cũng có một số các vị
đi nước ngoài, cũng có một số các vị thiền sư đi nước
ngoài. Nhưng mà duyên để tạo được những gắn bó và tạo
được đồ chúng xuất gia cũng như tại gia như thiền sư
Nhất Hạnh thì điều này chưa ai có được.
Cho
nên chúng tôi hết sức là hoan hỷ, hết sức là mong muốn
thiền sư tạo nhiều điều kiện hơn nữa, ngoài việc hướng
dẫn giáo hóa tế độ cho người nước ngoài, thì cũng đặt
vấn đề tế độ giáo hóa cho đại chúng ở trong nước.
Thiền sư về lần đầu, có về Bình Định và một số các
nơi. Âm hưởng về pháp môn tu của làng Mai mà ngài
thiền sư Nhất Hạnh đã hướng dẫn trong chuyến về Bình
Định vừa rồi rất là quý báu và ai cũng ước mong.
Cho
nên trong số các thầy, các sư cô ở đây cũng có một số
thầy, sư cô của Bình Định, cũng như các cư sĩ từ
Bình định lên xin tu. Trong không khí ngày xuân của năm Đinh
Hợi với nụ cười xuân của đức Di Lặc từ tôn, tôi nhìn
thiền sư với tất cả sự kính ngưỡng, tất cả sự yêu
thương và tất cả sự tin tưởng. Thiền sư là người
nối tiếp về pháp thiền của chư Tổ để truyền bá làm
cho ánh đạo vàng của Phật giáo Việt Nam có thể soi sáng
và tạo được nhiều điều tốt đối với mọi người trên
thế giới. Nhất là những nơi mà thiền sư đã có mặt, đã
giáo huấn, giáo hóa.
Các
vị đang có nhân duyên về đây dự khóa tu do ngài dạy
dỗ. Tôi cầu nguyện chư Phật chứng minh gia hộ cho tất cả
quý vị được nhiều thuận duyên, tinh tấn và nhiều điều
kiện tốt, môi trường tốt để các vị học được tinh
hoa của ngài chỉ dạy và trong tương lai các vị sẽ là những
vị Như Lai sứ giả để nối tiếp theo nguồn thiền của
Làng Mai mà do ngài thiền sư đã chỉ dạy để cho pháp
thiền này được bàng bạc khắp năm châu bốn bể, cho sự
tu học của chư vị Tổ sư Việt Nam nói chung và thiền sư
Nhất Hạnh nói riêng thành đạt một cách huy hoàng và trọng
thể.
Một
lần nữa kính chúc thiền sư được sức khỏe và an lạc.
Nam
Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.
Kính
thưa hòa thượng, nhị vị tôn đức. Chúng tôi rất hãnh diện,
vui mừng được đón tiếp hòa thượng với nhị vị tôn đức.
Chúng tôi có niềm vui rất lớn khi có hòa thượng và nhị
vị tôn đức tới thăm và sách tấn cho chúng tôi trong khóa
tu này. Chúng tôi kính chúc hòa thượng và nhị vị tôn đức
năm mới này có nhiều sức khỏe và tiếp tục ban phát hạnh
phúc xung quanh cho rất nhiều đồng bào, rất nhiều chúng sanh.
Và nếu có thể được, chúng tôi kính mong hòa thượng và
nhị vị tôn đức ở lại với chúng tôi vài ngày để chúng
tôi được học hỏi và noi gương theo quý ngài.
Thưa
đại chúng, tôi xin tiếp tục bài giảng.
Mỗi
bước chân phải đem mình về với giây phút hiện tại.
Mỗi bước chân phải có phẩm chất của sự vững chãi và
sự thảnh thơi. Vững chãi có nghĩa là không bị quá khứ
và tương lai nó lôi mình đi, thảnh thơi có nghĩa là mình
được tự do an trú và tiếp xúc với những mầu nhiệm của
sự sống trong giây phút hiện tại. Vì vậy cho nên khi mình
đi mình đâu có nói chuyện được. Nói chuyện thì tâm ý
của mình nó đi theo ý tưởng, đi theo lời nói, đâu còn vững
chãi và thảnh thơi. Cho nên khi đi là không nói mà khi nói
thì không đi. Nếu cần nói một câu gì đó thì dừng lại
hoàn toàn, nói xong câu đó trong chánh niệm rồi tiếp tục
đi. Điều này không chỉ thực tập trong khi đi thiền
hành mà trong suốt ngày. Mình từ nhà bếp đi ra phòng rửa
mặt, dầu đi có ba bốn thước mình cũng sử dụng phép đi
thiền. Mình từ Phật đường xuống tăng xá, mình cũng sử
dụng phép đi thiền. Hể cần di chuyển là mình áp dụng phương
pháp thiền đi, nghĩa là phối hợp hơi thở với bước chân
và bước chân nào cũng phải về cũng phải tới. Và nếu
làm được trong năm ngày như vậy thì nó trở thành một thói
quen. Trong chương trình tôi thấy hình như là mình sẽ
giữ im lặng hùng tráng từ sau buổi cơm chiều cho đến sau
buổi ăn sáng. Theo tôi chừng đó hơi ít. Nói chuyện thì mình
đâu có thì giờ để thực tập. Hay là năm nào mình mở một
khóa chỉ để nói chuyện thôi, còn khóa này mình tu cho đàng
hoàng.
Thiền
đi là vậy, không nói trong khi đi. Nếu bất đắt dĩ phải
nói một cái gì đó thì ngừng lại để nói. Không những
điều này nó áp dụng khi mình thực tập thiền đi chung mà
mình áp dụng cho cá nhân mình trong suốt ngày. Hể cất bước
đi là không nói, hể nói là không cất bước đi, là đứng
lại. Sự thực tập là đừng để cho bước chân nào lọt
ra khỏi cái vùng ý thức. Vùng ý thức tức là niệm, cái
vùng không ý thức gọi là thất niệm. Đừng để cho bước
chân không có ý thức nào lọt ra vùng thất niệm, bước chân
nào cũng được đặt trong ánh sáng của niệm gọi là thiền
đi. Và phải thực tập một trăm phần trăm và nếu mình thực
tập khơi khơi thì không có thành công được, phải hạ thủ
công phu, phải cương quyết thành công mới được. Cho nên
thì giờ chúng ta có với nhau năm ngày rất là quý, mình đừng
có phí nó vào những câu chuyện không bổ ích. Và nếu có
thể được mình giữ im lặng hùng tráng cho tới sau buổi
cơm trưa thì càng hay nữa. Cái đó tùy theo đại chúng, cố
nhiên huynh đệ xa nhau lâu ngày gặp nhau thế nào cũng muốn
hàn huyên, cho nên tôi mới đề nghị, để mai này mình có
một khóa chỉ để hàn huyên thôi, khóa này mình phải tu cho
đàng hoàng.
Thiền
ăn cơm

Chúng
xuất gia ăn cơm quá đường trong khóa tu dành cho chúng Xuất
gia tại tu viện Bát Nhã - Lâm Đòng từ ngày 5 đến 9 tháng
III 2007 (Hình Làng Mai)
Khi
ăn cơm thì mình cũng phải có hạnh phúc, trong khi ăn cơm mình
chỉ để ý tới hai cái, tức là thức ăn tặng phẩm của
đất trời và huynh đệ chung quanh. Thức ăn để nuôi dưỡng
mình, mình ăn với lòng biết ơn và tăng thân tức là huynh
đệ xung quanh được ngồi với nhau như là những người huynh
đệ, được ăn cơm với nhau trong chánh niệm, được nuôi
dưỡng tình huynh đệ trong khi ăn, đó là một cái hạnh phúc
rất là lớn.
Ngày
xưa đức Thế Tôn thường ngồi ăn cơm với các thầy, trong
khi ăn cơm không nói chuyện và chỉ khi nào ăn xong mới
đứng dậy, chứ không nữa chừng đứng dậy thì gọi là
nhất tọa thực. Dầu mình ăn qua đường hay ăn cơm trong vòng
gia đình xuất gia thì cũng ăn cơm như vậy. Ăn cơm như thế
nào mà cho thảnh thơi, cho vững chãi, ngồi như là ngồi thiền.
Ăn cơm là một loại thiền tập và mỗi miếng cơm mình nhai,
mình để ý tới thức ăn ở trong đó. Đừng nhai những tư
tưởng, những suy tư, những lo lắng, sầu khổ của mình.
Nhai những thứ đó không lợi cho sức khỏe. Nhất định là
không nhai những dự án, những buồn khổ những lo lắng
mà chỉ nhai thức ăn thôi. Thỉnh thoảng dừng lại mỉm cười
nhìn huynh đệ. Ăn một bữa cơm có thể cần hai mươi phút
hoặc ba mươi phút. Trong hai mươi hoặc ba mươi phút đó phải
có hạnh phúc, an lạc, phải được nuôi dưỡng bằng tình
huynh đệ. Đức Thế Tôn dạy chúng ta khi ăn nên thiết lập
thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại, chỉ để ý
tới thức ăn, chỉ để ý tới tăng thân mà không để tâm
ý suy nghĩ vẩn vơ tới chuyện quá khứ, tương lai bên này
bên kia. Ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi an lạc và
tình huynh đệ trong khi ăn. Đại chúng nghe tiếng chuông xin
nhất tâm thực tập năm quán, đó là lời quán nguyện trước
mỗi bữa ăn. Vì vậy cho nên ăn cơm cũng là thực tập và
nếu trong thời gian ăn cơm mà không có an lạc, không có hạnh
phúc, không có thảnh thơi, không có tình huynh đệ thì buổi
thực tập đó, buổi ăn cơm đó thất bại.
Thiền
nghe chuông - Im lặng hùng tráng.
Mỗi
khi chúng ta nghe chuông, dù là chuông đại hồng, chuông gia
trì hay là chuông báo chúng, đó là dấu hiệu của đức Thế
Tôn nhắc ta đừng suy nghĩ vẩn vơ, đừng nghĩ tới chuyện
quá khứ, tương lai, đừng bị trôi lăn, lôi cuốn theo những
dự án, những mong cầu. Hãy trở về giây phút hiện tại
! Khi nghe tiếng chuông, tất cả mọi người, ngàn người như
một đều trở về với hơi thở và thực tập bài kệ: lắng
lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về
nhất tâm. Tthực tập như vậy ít nhất là ba lần rồi mới
tiếp tục làm công việc đang dang dở. Khi nghe tiếng chuông
thì phải ngưng nói dầu mình đang thuyết pháp mình cũng ngưng,
dầu mình đang pháp đàm mình cũng phải ngưng. Quan trọng hơn
nữa là ngưng tư duy, không suy nghĩ nữa và đem tâm trở về
với hơi thở. Thở vào thấy khỏe, thở ra thấy nhẹ. Cái
đó gọi là chỉ, cái đó gọi là buông thư.
Im
lặng hùng tráng là để có cơ hội thực tập hơi thở và
bước chân, chứ không phải là sự im lặng ngột ngạt, khó
thở. Cái im lặng này cho mình rất nhiều tự do. Tại vì khi
có nhiều tiếng nói, nhiều tiếng động thì mình thực tập
hơi thở, bước chân rất khó. Những tiếng động, lời nói,
và nhất là những suy tư là những cái gai châm vào sự thực
tập. Trong kinh nói như vậy, những cái gai châm vào sự thực
tập. Vì vậy cho nên đừng để những cái gai đó nó xảy
ra. Tầm và từ là sự suy nghĩ. Tiếng động ồn ào và lời
nói cũng vậy. Khi mình không nói, mình im lặng nhưng mà
thật sự chưa im lặng, tại vì trong tâm nó đang nói, cái
đó gọi là tầm và từ. Mình suy nghĩ hết chuyện này tới
chuyện khác như là một cái băng casset. Phải ngưng cái đó,
mà muốn ngưng cái đó thì sử dụng phương pháp nắm lấy
hơi thở là hay hơn hết. Vì vậy tối nay mình đã được
hướng dẫn, nghe tiếng chuông ngưng hết mọi suy tư, ngưng
hết mọi nói năng trở về với hơi thở thực tập.
Bài
kệ Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu
đưa về nhất tâm, đưa mình về giây phút hiện tại, đưa
về quê hương, đưa về sự sống ba lần, lúc đó mới tiếp
tục nói pháp, pháp đàm, tiếp tục đi hay là tiếp tục rửa
chén.
Thứ
hai là thực tập im lặng hùng tráng để có thì giờ, và cơ
hội mà thực tập theo dõi hơi thở, theo dõi bước chân. Thứ
ba là khi ngồi, ngồi thế nào để có vững chãi có thảnh
thơi, có an lạc và hạnh phúc. Đừng đày đọa tấm thân
trong khi ngồi. Trong khi đi, đi như thế nào để có vững chãi
thảnh thơi, mỗi bước chân đưa mình về cái giây phút hiện
tại để tiếp xúc với những mầu nhiệm của giây phút hiện
tại.
Khi
người nào cũng làm như vậy thì chúng ta chế tác được
cái năng lượng chánh niệm tập thể rất là hùng hậu. Và
năng lượng tập thể đó sẽ thấm vào từng người. Vì vậy
tu chung nó có cái lợi như vậy. Nếu ba người tu chánh niệm
thì ba người đó sẽ chế tác ra một năng lượng chánh
niệm tập thể của ba người, nó mạnh hơn là một người.
Ba trăm người cùng thực tập thì năng lượng tập thể của
chánh niệm được chế tác ra lớn bằng trăm lần. Nếu
ba ngàn người thì năng lượng tập thể đó lớn gấp ngàn
lần. Khi lớn như vậy thì nó nâng đỡ mình, nó đi vào trong
từng cá nhân của mình. Vì vậy cho nên khi tăng thân tập
hợp lại để tu thì mình được hưởng năng lượng tập
thể của chánh niệm. Năng lượng đó có thể yểm trợ, ôm
ấp, chữa trị được những vết thương, bệnh tật của
mình ở trong thân cũng như trong tâm. Chúng ta tu như một
đoàn thể mà không phải là những cá nhân riêng lẻ.
Tối
nay mình chỉ nghe những lời hướng dẫn tổng quát như vậy.
Mỗi ngày mình sẽ thực tập và mình sẽ bổ túc thêm những
gì chưa được đầy đủ.
Xin
chúc đại chúng tối nay ngủ ngon. Bốn giờ sáng chúng ta sẽ
thức dậy và chúng ta bắt đầu một ngày tu với nhau trong
hạnh phúc và an lạc. Chúc Hòa thượng và nhị vị Thượng
tọa ngủ ngon.
|
PHÁP
THOẠI VẤN ĐÁP
Tháng
Ba 2007 - biên tập: Chân Tịnh Ý
Pháp
thoại ngày 03.3.07 trong khóa tu dành cho cư sĩ từ
28.02.07 đến 4.03.07.
tại
Bát Nhã, Lâm Đồng,Việt nam.
Audio
MP3 : Phần
1 (13MB) Phần
2 (10MB)
Kính
thưa đại chúng,
Nếu
có những câu hỏi mà mình không tiện hỏi giữa công chúng,
những câu hỏi có tính cách riêng tư, thì mình có thể lấy
tờ giấy viết câu hỏi xuống, không cần ký tên, nhờ người
chuyền lên trên, hoặc bỏ trong cái chuông này. Chuông này
là hộp thơ của Thầy. Mailbox. Có thể mình không có cơ hội
để hỏi, vì thầy chỉ có thể trả lời được chừng mười
mấy câu thôi.
Các
thầy, các sư cô xướng tụng bài Ba sự quay về:
Con
về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con
trong cuộc đời
Nam
mô Buddhaya
Con
về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu
biết,
Nam
mô Dharmaya.
Con
về nương tựa Tăng, đoàn thể của những ai nguyện sống
cuộc đời tỉnh thức.
Nam
mô Shangaya.
Đã
về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong
cuộc đời.
Nam
mô Buđhaya.
Đã
về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các
pháp môn chuyển hóa.
Nam
mô Dharmaya.
Đã
về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu
dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập.
Nam
mô Shangaya
Về
nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận
được giác tính, sớm mở lòng bồ đề.
Nam
mô Buddhaya
Về
nươngPháp trong con, xin nguyện cho mọi người, nắm vững các
pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Nam
mô Dharmaya
Về
nươngTăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên
bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài.
Nam
mô Shangaya
Buddham
saranam gacchami
Dharmam
saranam gacchami
Shangham
saranam gacchami.
Thở
vào, tôi buông thư tòan thân. Thở ra, tôi mỉm cười với
toàn thân.
Buông
thư toàn thân, mỉm cười với toàn thân. (Chuông)
Thở
vào, tôi biết tôi đang còn sống. Ở ngoài nắng rất đẹp
và núi rừng rất xanh. Thở ra, tôi mỉm cười với sự sống
mầu nhiệm.
Thở
vào, sự sống có đó. Thở ra, mỉm cười với sự sống mầu
nhiệm. (Chuông)
Kính
thưa đại chúng,
Hôm
nay là ngày 3 tháng 3 năm 2007. Chúng ta đang ở tu viện Bát
Nhã trong khóa tu dành cho người tại gia. Đây là ngày thứ
tư của khóa tu. Chúng ta sẽ có một buổi vấn đáp. Như đã
nói, những câu hỏi phải đến từ trái tim, phải có tính
cách thiết thực và không nên dài quá. Một câu hỏi hay sẽ
làm lợi lạc cho rất nhiều người.
Đây
là câu hỏi thứ nhất, vị nào có câu hỏi thì đưa tay lên!
-
Kính bạch thầy, kính thưa đại chúng. Con có một nội kết
trong lòng mà lâu nay vẫn chưa tìm được lối ra. Hôm nay nhân
duyên đến được Bát Nhã, gặp được thầy, kính
mong thầy chỉ cho con..
Khi
con đọc kinh Báo ân, đến đọan Phật tán thán công đức
của Đề bà đạt đa, người thường gây những khó khăn
và cản trở cho đức Phật từ a tăng tỳ kiếp, khi đó đức
thế tôn bảo ngài Xá Lợi Phất vào địa ngục thăm ngài
Đề bà đạt đa, ngài Đề bà đạt đa có nói với tôn giả
Xá Lọi Phất: tôi ở trong này cũng như tôn giả ở trong tam
định. Nội kết của con là không biết Đề bà đạt da đã
có công đức như thế nào với đức Thế tôn?
Trong
thời kỳ hiện nay, con thấy cũng có những việc tương tự.
Chính bản thân con cũng có lần vi phạm vào những tội lớn.
Dù vô tình hay cố ý con cũng biết đó là trọng tội. Trong
thời kỳ hiện tại có nhiều hình tướng khác nhau, với cách
nhìn của con cũng khó phân biệt được cái nào là đúng,
cái nào sai. Hôm nay xin thầy chỉ cho con một hướng thoát.
Khi con gặp những người như Đề bà đạt
đa ở thời kỳ hiện tại, những người có tinh thần phá
hoại, thì con phải quán chiếu và hành động như thế nào?
- Đức
Thế tôn có nói Đề bà đạt đa, người gây ra những khó
khăn cho tăng đoàn, cho đức Thế tôn, cũng đóng góp phần
nào đó cho sự lớn mạnh của tăng đoàn,của đức Thế tôn.
Điều đó có nghĩa, khi mình tu học mà gặp trở ngại thì
mình có cơ duyên vượt thắng trở ngại đó, những trở ngại
đó làm cho mình lớn lên.Con đường tu luôn luôn có những
trở ngại cũng như một doanh nghiệp thường có những chướng
ngại. Có người phá phách, có người bôi xấu, nói oan cho
mình. Nhưng nếu mình biết tu thì mình có thể vượt thắng
được những điều đó và mình lớn lên.
Như
một cây mọc trên sườn núi, toàn đá sỏi, ít đất thịt,
nhiều gió mưa, nên nó cắm rễ rất sâu, đứng vững trước
mưa gió. Còn những cây mọc trên đồng bằng, đất mềm hơn,
khi có gió mạnh nó có thể ngã xuống dễ dàng. Cho nên càng
có nhiều trở ngại, càng bị nói xấu, châm biếm, phá hoại,
thì sự tu học càng vững mạnh hơn.Vì vậy những người
như Đề-bà-đạt-đa trở thành những tăng thượng duyên,
tức là những điều kiện giúp cho mình lớn lên. Mình biết
ơn người đó. Họ là những nghịch tăng thượng duyên. Nghịch
tăng thượng duyên tức là những trở ngại làm cho mình vững
mạnh. Trên con đường tu mình có thể gặp những khó khăn
như vậy ở khắp nơi, trong gia đình, trong chùa, trong huynh
đệ, bạn bè…Người đó ham danh, ham lợi, không tu thiệt,
gây ra những khó khăn trong chùa, trong chúng. Nếu mình tu chưa
giỏi, thì dễ thối chí. Mình cho đó là những trở ngại
khiến mình không tu được. Nhưng nếu quyết tâm thì chính
những trở ngại đó giúp cho mình lớn lên vượt thoát, mình
không đau khổ với những cái đó, trái lại mình lớn lên
và mình coi thường những cái đó.
Như
tôi chẳng hạn, trên đường tu của tôi, tôi gặp nhiều khó
khăn, chướng ngại lắm. Hằng triệu người nói tôi là cộng
sản, hằng triệu người khác nói tôi là C.I.A. Họ viết bài
nói xấu, họ nói tôi có một vợ và hai con, nhưng tôi không
hề đau khổ và tôi thấy thương những người đó. Chính
những cái đó làm cho mình vững mạnh lên. Ban đầu thì mình
hơi buồn thiệt, nhưng nếu mình bị chìm trong những cái đó
thì làm sao mình lớn lên được. Cho nên những trở ngại
trên đường tu học, có thể giúp mình lớn lên, thành công
lớn hơn.
Do
đó có một hôm, đức Thế tôn đã tán thán Đề-bà-đạt-đa,
nhưng không có nghĩa là đức Thế tôn khuyên, quý vị hãy
nên chống tôi, hãy chống phá chánh pháp. Những ai chống phá
chánh pháp, phá hoại tăng đoàn, gây khó khăn việc tu hành
của người khác thì người đó có tội. Còn đối với mình
thì những điều đó giúp mình trưởng thành mau hơn. Chứ
không phải đức Thế tôn khuyến khích mọi người làm như
Đề-bà-đạt-đa. Câu hỏi thứ hai!
Nam
mô Bụt Thích ca mâu ni,
Con
xin tự giới thiệu con là Nguyễn thị Tâm, pháp danh Tịnh
An. Từ khi con còn nhỏ, con đã được diễm phúc đọc cuốn
„Nẻo về của ý“ của sư ông và con tự ứng dụng
vào đời sống.
Con
thấy tu theo pháp môn này con rất hạnh phúc, rất
cụ thể, cho chúng con có nghị lực để chúng con chuyển hóa
những đau khổ trong cuộc sống trở thành an vui, khó khăn
trở thành thuận lợi. Nhưng khi Sư Ông và Tăng doàn ở đây
thì chúng con tu học có kết quả, được chừng hai tháng rưởi.
Khi Sư Ông và Tăng đoàn đi rồi thì chúng con trở lại phàm
phu, vô minh. Nhiều khi con không chấp nhận được chính con.
Sau
dây là câu hỏi của con, truớc kia mới học Phật thì
con niệm đức Quán thế âm bồ tát. Sau khi tu tập, thì con
niệm Địa tạng vương và Di lặc, như vậy được không?
Câu
hỏi là làm sao duy trì sự thực tập sau khi mình đi qua một
khóa tu có hạnh phúc, phải không?
Chúng
ta thường nghe: ăn cơm có canh, tu hành có bạn. Bạn ở đây
là Tăng thân, là đoàn thể. Nếu tu một mình cũng có thể
được, nhưng chừng ba bốn tháng sau, sẽ đánh mất sự thực
tập của mình. Mình bị cuộc đời xung quanh kéo theo, mình
đánh mất sự thực tập của mình. Tu một mình thì khó, nên
mình phải tìm bạn. Tổ chức một đoàn thể tu học nơi khu
phố hay xóm làng của mình gọi là Tăng thân. Năm mười
ngườì, mười lăm người, mỗi tuần gặp nhau tu một ngày,
hoặc nửa ngày, thì gọi là ngày quán niệm. Mình tổ chức
y hệt như khóa tu: ngồi thiền mười lăm, hai mươi phút, đi
thiền hành chừng nửa giờ, mình cũng nghe pháp thoại, thỉnh
cuốn băng của thầy giảng để nghe pháp thoại, nấu cơm,
ăn cơm trong chánh niệm, pháp đàm…Cái đó gọi là xây dựng
Tăng thân. Muốn đừng đánh mật sự thực tập của mình
thì mình phải biết xây dựng một tăng thân ở địa phương.Công
trình đó gọi là dựng tăng. Muốn đừng đánh mất sự thực
tập, thì phải nương vào tăng thân, Đó là quy y tăng, Dầu
chưa xuất gia, nhưng khi có một nhóm cư sĩ, mười người,
hai chục người, đó cũng gọi là tăng. Đó là cư sĩ tăng,
tại gia tăng.Tăng có nghĩa là đoàn thể tu học, nó từ chữ
Shanga. Tiếng Phạn Shanga có nghĩa là một đoàn thể tu học.
Vì
vậy nếu quí vị có hạnh phúc trong khóa tu và muốn tiếp
tục phương pháp tu này thì khi về nhà nên thành lập
một nhóm tu học tại địa phương và rủ nhau mỗi tuần đến
một lần ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm chánh niệm nghe pháp
thoại, pháp đàm. Hiện nay có nhiều Tăng thân như vậy ở
khắp thế giới. Thành phố Luân đôn có mười Tăng thân,
thành phố Nửu ước có mười mấy Tăng thân như vậy. Các
vị đó họ tới khóa tu với mình, thấy có lợi lạc họ
rủ bạn, tổ chức Tăng thân. Nếu tỉnh mình có bảy tám
người tới tu, thì trước khi mãn khóa tu mình nên bàn với
những người đó sau này về địa phương mình sẽ lập một
Tăng thân để tiếp tục tu hành. Đó gọi là dựng tăng. Công
đức vộ lượng. Khi có Tăng thân, những người khác ở địa
phương sẽ tới nương tựa, tới quy y tăng. Dù chưa có người
xuất gia nhưng cũng là tăng, nếu mình có thực tập đàng
hoàng. Có ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm trong chánh niệm,
có giữ im lặng và có nghe pháp thoại.
Còn
niệm Bụt, niệm đức Quan thế âm rất tốt, niệm đức Di
đà, đức Thích ca cũng đều tốt. Bụt nào cũng là Bụt.
Bồ tát nào cũng là Bồ tát. Họ đều là bạn với nhau cả.
Khi mình niệm một vị tức thời động tới các vị khác.
Câu hỏi thứ ba!
Kính
bạch Sư ông, gia đình con, vợ chồng con không thể nói chuyện
được với nhau ôn hòa. Con biết tu tập, nhưng đứng trước
những lời nói xúc phạm, những lời nói chê bai không tôn
trọng, con khó kiềm chế lắm. Con đã thực tập hơi thở,
con đã quán chiếu thấy chồng con đau khổ và không hài lòng
về con nhưng con vẫn chưa nói được lời ái ngữ. Mong Sư
Ông giúp con.
- Cái
này là tại tu chưa tới, cơm chưa chín.
Khi
quán chiếu thật kỹ, mình thấy người kia cũng có nhiều
khổ đau, nhiều bức xúc, nhiều khó khăn thì tự nhiên trái
tim của mình mềm ra và mình thấy tội nghiệp, từ đó trái
tim của mình ứa ra giọt nước của tình thương, cam lộ từ
bi. Nếu giọt nước từ bi chưa ứa ra là tại vì cô tu chưa
tới, tức là chưa thấy rõ những khổ đau bức xúc của ông
ở nhà mà vẫn còn có sự trách móc.Nếu mình biết tại vì
người đó có quá nhiều khổ đau cho nên mỗi khi nói ra là
những lời nặng nề trách móc, lên án, buộc tội. Mình đã
biết cái gốc của những điều đó là từ khổ đau của
họ. Nếu người dó không khổ đau thì tự nhiên lời nói
của họ sẽ ôn hòa dễ thương. Trái lại vì khổ đau nên
nói lời nào cũng chứa đầy „nọc độc.“
Vì
trong lòng mình thiếu từ bi, chưa đủ chất liệu thương để
bảo hộ cho mình, nên chất độc mới thấm vô. Nếu mình
có đủ lòng từ bi, mình sẽ được chính từ bi đó bảo
hộ. Dầu người ta có chửi mắng, chê bai gì cũng không thể
lọt vào mình. Từ bi là một chất liệu bảo hộ cho mình.
Dẫu người kia có la hét, chửi mắng, mình cũng cảm thấy
tội nghiệp cho họ. Người sao mà đau khổ quá! người sao
mà không nói được một lời thương yêu! mình không còn là
nạn nhân của những lời thô bạo ấy nữa. Tại vì mình
đã được lòng từ bi che chở và mình chỉ mỉm cười. Nếu
mình còn đau khổ vì những lời nói đó tức là mình chưa
đủ xót thương người kia. Mẹ ơi nhìn lại để thương ba
nhiều hơn, Ba cũng có nhiều đau khổ lắm mà mẹ không
thấy được hết những đau khổ đó của ba cho nên mẹ mới
chua chát, buộc tội ba nên chính mẹ cũng đau khổ. Nếu mẹ
thấy được ba đau khổ,khó khăn, bức xúc như vậy, thì mẹ
sẽ thương ba, và dù ba có nói gì chăng nữa, mẹ cũng không
khổ đâu.
Câu
trả lời là vì mình tu chưa chín. Mình chỉ mới thấy được
sơ sơ những khó khăn, đau khổ của người kia thôi, mình
chưa thấy được hết. Khi thấy được hết, mình sẽ tội
nghiệp, cái hiểu sẽ đưa tới cái thương. Hiểu đây là
hiểu những khổ đau của người kia. Hiểu dược rồi thì
tim mình sẽ ứa ra chất tình thương, chất tội nghiệp. Chất
liệu đó cũng quay về bảo hộ mình trước những lời nói
không dễ thưong.
Hãy
công phu thêm, hãy đi tới thêm vài bước nữa. Đừng nên
đòi hỏi người kia thay đổi, mình phải tự thay đổi mình
trước. Mình phải tươi mát, dịu dàng trước.Khi mình đã
thay đổi, đã trở nên tươi mát, nhẹ nhàng, không trách móc,
thì tự nhiên người đó sẽ thay đổi. Hạnh phúc, hóa bình
bắt đầu từ chính bản thân mình. Chuyển hóa bắt đầu
từ bản thân. Bà phải tự chuyển hóa mình trước, phải
tự trở thành tươi mát, dịu dàng, dễ chịu. Rồi ra ông
sẽ rất cần đến bà. Ông sẽ thấy bà là đóa hoa tươi
mát. Ông sẽ mắc cở và sẽ thay đổi. Đừng chờ đợi ông
thay đổi khi chính bà chưa trở thành tươi mát, dịu dàng.
Đó cũng là vũ khí của người phụ nữ. Đánh mất nó, người
phụ nữ không còn hạnh phúc nữa và cũng không thể giúp
người khác có hạnh phúc. Tu tập như thế nào để khôi phục
lại sự tươi mát, dịu dàng của mình, để mình có thể
hiểu được, thương được và nói được những lời ái
ngữ với người kia, chắc chắn người kia sẽ thay đổi.
Câu hỏi kế tiếp!
-
Kính thưa đại chúng, con đang làm việc tại vườn quốc gia
„Cát Tiên“, một vườn quốc gia lớn của Việt nam, đang
được chính phủ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế
giới. Con đang làm công tác gíáo dục môi trường cho
các trường học và cộng đồng xung quanh. Xin Sư Ông soi sáng
giúp cho con thêm những phương pháp, những kinh nghiệm qua tuệ
gíác của đạo Bụt để đưa những tuệ giác của đạo
Bụt về môi trường vào trường học và cộng đồng
xung quanh Cát Tiên. Con cảm ơn Sư Ông nhiều.
- Có
một mối liên hệ mật thiết giữa con người và những loài
cầm thú, cỏ cây và đất đá. Con người sinh ra từ các lòai
khác.Con người xuất hiện rất trễ trên trái đất. Trước
hết là loài thảo mộc, đến các loài động vật khác mới
đến loài người xuất hiện. Cái gốc của con người nằm
ở các loài khoáng vật, các loài thực vật và các loài động
vật khác. Nếu mình không bảo hộ môi trường, không bảo
hộ các loài động vật, không bảo hộ các loài thực vật,
mình tàn phá làm cho các động vật bị diệt chủng. Mình
phá rừng, hủy diệt cây cối, sử dụng toàn xi măng, làm
ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí và cả đất đá…tức
mình đã làm hư nền tảng sự sống của chính mình. Nếu
vậy tương lai mình cũng bị tiêu diệt. Bảo hộ môi trường
tức là bảo vệ con người. Đó là cái thấy rất sâu của
đạo Bụt.
Trong
kinh Kim Cương, đức Thế tôn có nói có bốn ý niệm mà mình
phải chuyển hóa. Đó là ý niệm về ngã, về con người,
về chúng sanh và về thọ mạng.
Ý
niệm về ngã là một ý niệm nguy hiểm, nó chia cách giữa
mình với người khác. Ví dụ như mình với cha mình thật
ra không phải là hai người khác nhau. Mình là sự tiếp nối
của cha mình. Trong mình có cha mình. Nếu mình nghĩ mình là
một người khác, cha mình là một người khác, hoàn toàn không
đúng. Nó là sự tiếp nối lẫn nhau như cây bắp tiếp nối
hạt bắp. Vì vậy cần lấy ý niệm ngã ra.
Ý
niệm thứ hai, ý niệm nhân cũng vậy. Con người được làm
bằng những yếu tố không phải con người. Đó là các loài
động vật, thực vật và khóang vật. Con người sẽ không
sống được nếu thiếu các loài đó. Vì vậy con người khôn
khéo thì phải bảo hộ các loài động vật, thực vật, khoáng
vật. Kinh Kim Cương là một văn bản xưa nhất của thế giới
dạy về bảo vệ môi trường. Người Việt mình ý thức bảo
vệ sinh môi còn rất thấp. Đi xe hơi tôi thấy bao ny lông
vứt đầy cả. Tôi cũng thấy mình đã khai thác rừng, chặt
đốn cây quá nhiều. Mình đã làm ô nhiểm sông hồ…chẳng
khác nào mình đang tự hủy hoại. Con người tự tử một
cách từ từ khi làm như vậy. Nếu các loài bị diệt chủng,
sông hồ bị ô nhiễm, cây cối bị chặt phá thì con người
không tồn tại lâu được. Bảo hộ sinh môi là công việc
của tất cả mọi người. Trong gia đình, cha mẹ phải nhắc
nhủ con cái về bảo vệ sinh môi, trường học, thầy cô giáo
phải nói chuyện với học trò. Trong thôn làng, khu phố phải
cần những buổi họp để giáo dục về sinh môi.
Các
thành phô ở Đức rất sạch. Họ đã bắt đầu giảm sử
dụng bao ny lông. Tại vì bao ny lông chuyển hóa trở lại thành
chất hữu cơ rất lâu. Có khi cần cả trăm năm. Đi chợ họ
xách một túi vải. Vì vậy nếu mình dùng chén dĩa bằng plastic
để ăn cơm, không tốt. Dùng chén bát bằng đất sành, ăn
xong lại rữa thì tốt hơn. Chuyến về trước cũng như lần
này tôi thấy ý thức về sinh môi của người Việt mình còn
thấp. Tôi kêu gọi các bậc phụ huynh,các thầy cô giáo, các
vị trong ủy ban nhân dân, các vị trong quốc hội, các vị
lãnh đạo nhà nước,.. mỗi người phải đóng góp phần mình
để nâng cao ý thức về sinh môi.
Chúng
ta đang cố gắng gìn giữ một số „Lâm viên quốc gia“
như rừng Cúc phương để bảo tồn sinh môi. Điều đó rất
tốt. Nếu có những dự án mở xa lộ ngang qua những khu rừng
như vậy, chúng ta phải chống lại. Chúng ta phải tranh đấu
để bảo vệ sinh môi.
Ở
các nước như Pháp, Đức, Anh người ta bảo hộ sinh môi kỹ
lắm. Họ có những hội bảo hộ thú vật, vì thú vật bị
nhiều khổ đau. Thú vật bị giết, bị đem làm đồ thí nghiệm.
Ở Anh có mặt trận giải phóng thú vật „Animal Liberate Front“
và mình nghe tiếng đau thương của thú vật. Đất nước mình
có gốc gác Phật giáo. Ngày xưa tổ tiên mình xây dựng trên
nền tảng từ bi của đạo Phật mà bây giờ mình không làm
được như các nước Âu châu, thi rất dở. Người Phật tử
cần đóng góp thật nhiều trong việc giáo dục, nâng cao ý
thức bảo vệ môi sinh. Câu hỏi tiếp!
Kính
bạch Sư Ông, con muốn hỏi Sư Ông có nhận người xuất gia
lớn tuổi hay không? Bởi vì con thấy ở đây hầu hết
là trẻ. Hỏi thăm thì các vị cho biết, thầy chỉ nhận dưới
ba mươi tuổi. Con thì có ý nguyện xuất gia đã lâu, sư phụ
của con cũng khuyên con đi tìm nơi thuận duyên mà ở. Con muốn
ở lại đây nhưng lại nghe nói đây không nhận người lớn
tuổi.
Câu
trả lời của tôi cũng ngắn gọn lắm. Mỗi địa phương
có quy luật riêng của địa phương đó. Thành ra muốn xuất
gia ở đây thì phải hỏi các thầy, các sư cô ở đây.
Có
chỗ họ cho mức tối đa là bốn mươi tuổi. Ở tu viện Bát
Nhã hình như ít hơn. Quý vị phải hỏi thầy viện chủ, các
thầy giáo thọ, các sư cô giáo thọ ở đây để biết rõ
chi tiết. Tôi không muốn trả lời thay cho họ, vì tôi hay
bị mềm lòng lắm.
Thầy
trả lời hai câu hỏi được viết trên giấy:
-
Kính bạch Thầy, con có một con trai đang yêu một cô gái theo
đạo Công giáo. Gia đình và cả họ hàng ai cũng phản đối.
Cháu buồn chán bi quan không thiết sống nữa. Bây giờ con
phải làm sao đây?
-
Con lớn lên trong một gia đình Phật giáo nhưng lại thương
một người khác đạo. Vì khác đạo cho nên gia đình anh ấy
không cho tụi con đến vói nhau. Chúng con đang đau khổ và
không biết làm sao cho gia đình anh chấp thuận.Con không biết
nếu mình theo đạo của anh thì con có mắc vào tội phản
bội tâm linh và tổ tiên của mình hay không?
- Mình
sống với một người cố chấp thì khó lắm. Gia đình kia
sẽ là gia đình bên chồng hay bên vợ của mình. Mình sẽ
có liên hệ với gia đình đó. Nếu họ cố chấp, thì mình
sẽ đau khổ dài dài tại vì ảnh đâu chỉ một mình, ảnh
còn cả gia đình nữa. Thương ảnh, mình phải thương cả
gia đình của ảnh. Nếu họ cố chấp trong khi mình lớn lên
từ truyền thống cởi mở, sợ mình chịu không nổi. Nguyên
tắc là phải chấp nhận nhau: bên này chấp nhận bên kia,
bên kia chấp nhận bên này. Khi mình thương một người Công
giáo, mình không bắt người đó phải bỏ đạo để theo đạo
Phật. Anh cứ tiếp tục là người Công giáo, em chấp nhận.
Nhưng nếu thực sự thương em, thì anh cũng phải học đạo
Phật, tại vì đó là đạo của em. Anh giữ đạo của anh,
nhưng anh cũng cần biết sơ qua đạo của em và anh cũng sẽ
học để biết sơ qua đạo của anh. Ngày chủ nhật hai đứa
sẽ đi nhà thờ chung, nhưng ngày rằm, anh cũng phải đi chùa
với em chung. Cái đó là phải chăng, phải không ? Khi sanh con
ra cho nó đủ hai gốc rể, cho nó tự do. Ở Tây phương có
rất nhiều người Công giáo,Tin lành, Do thái tới học với
thầy, họ rất được hạnh phúc và thầy luôn luôn khuyên
họ đừng bỏ cái gốc của họ. Nếu mình là người Do thái,
thì mình cứ giữ gốc Do thái, Mình là người Tin lành, thì
cứ giữ gốc Tin lành, mình là người Công giáo, thì cứ giữ
gốc Công gíáo. Mình tu tập đạo Phật, rồi mình sẽ có
cái nhìn sâu hơn, rộng hơn, thoáng hơn về đạo gốc của
mình. Chín mươi phần trăm những người đến tu học ở làng
Mai là nhưng người có gốc Công giáo, Tin lành hay Do thái giáo.
Bên đó làm gì có sẵn Phật tử. Đó là vùng văn hóa Thiên
chúa giáo, Do thái giáo mà. Nhưng họ học hỏi và thực tập
theo đạo Phật thì họ chuyển hóa được những khổ đau
của họ, họ trở thành cởi mở và họ làm cho truyền
thống của họ cởi mở thêm, không độc đoán, không cứng
nhắc như trước.
Trong
một buổi hội thảo tại Hán thành, Đại Hàn giữa Phật
giáo, Tin lành và Cơ đốc giáo, tôi có đưa ra một giải pháp.Tôi
nói rằng giải pháp của tôi đưa ra, nếu quý vị cần một
trăm năm để chấp nhận, thì cũng chưa dài đâu, vì chúng
ta đã khổ đau cả ngàn năm nay rồi. Nếu cần một trăm năm
để đi đến quyết định này thì cũng đáng. Tôi đề nghị
người
nào vẫn giữ đạo của người đó, nhưng người này phải
học thêm đạo của người kia. Thay vì có một gốc
rễ, mình có hai gốc rễ, mình sẽ giàu có hơn. Tại vì Công
gíáo cũng có những cái hay, trong Phật gíáo cũng có những
cái hay. Là người Công giáo, học đạo Phật, mình hiểu được
những cái hay của đạo Phật, mình thấy rõ Công giáo của
mình hơn. Là người Phật tử, vẫn giữ đạo Phật của mình,
nhưng học thêm Cơ đốc giáo, để thấy cái hay của Cơ đốc
giáo. Khi mình tiếp xúc, so sánh mình hiểu được Phật giáo
của mình nhiều hơn. Thành ra khi đi chùa, đi cả hai đứa,
khi đi nhà thờ, cũng đi cả hai đứa và không có ranh
giới, cố chấp nữa. Nếu không sẽ khổ đau suốt đời
Khi sanh con ra cho nó tự do, khuyên nó có hai gốc rễ, thì thế
giới sẽ có hòa bình, tại vì các tôn giáo chống đối lẫn
nhau đưa tới đau khổ rất nhiều, như giữa Hồi giáo và
Ấn độ giáo, giữa Cơ đốc và Tin lành, Do thái và Hồi giáo
…Chiến tranh thì rất đau khổ.
Năm
1962 tôi có một cô đệ tử làm việc trong viện Đại học
Vạn Hạnh. Cô yêu một anh chàng Công giáo. Gia đình anh chàng
không chịu, mà gia đình của cô cũng nhất định không bằng
lòng. Hai đứa thì thương nhau quá. Chưa có ai đồng ý cho
cô bé lấy người con trai đó cả. Các thầy các sư cô ở
Sài gòn cũng không cho phép, gia đình cũng không cho phép, cô
đành than thở với tôi. Tôi nói, đạo Phật ra đời đâu
phải để làm cho con đau khổ, thầy cho con cưới người đó,
nhưng con phải giữ tam quy, ngũ giới, năm phép thực tập của
con. Bên ngoài con có thể không còn danh hiệu phật tử, nhưng
trong trái tim luôn luôn đức Phật còn sống. Con mang trái tim
phật tử mà đi. Thầy không muốn con đau khổ vì Phật giáo.
Phật giáo ra đời để cho con người hạnh phúc mà. Cô ta
mừng quá. Lần đầu tiên có một thầy cho phép nó cưới
anh chàng Công gíáo.
Nhưng
sáng hôm sau cô ta trở về. Cô ta nói, trời ơi, con thuộc
một truyền thống tâm linh rộng rãi bao la, nhân ái cởi mở
như vậy mà con nở bỏ đi theo truyền thống khác, từ khước
nếp sống tâm linh đẹp đẻ đó, con không chịu đâu. Thôi
con không lấy anh đó nữa. Khi mình cấm không cho cô lấy thì
cô đau khổ, quyết lấy. Khi cho phép thì cô không lấy nữa.
Cô đó đang có mặt ngày hôm nay ở đây. Lớn tuổi rồi.
Ngày xưa cô đó mặc áo tím, bây giờ hình như đang mặc áo
nâu. Câu hỏi tiếp!
Nam
mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Con
kính bạch Sư Ông, kính bạch chư tăng ni…
Pháp
danh con là Minh Hoàng,năm nay con 59 tuổi, xin Sư Ông cho con ý
kiến để con có thể giúp đỡ người mẹ của bạn con. Bà
đã hơn tám mươi tuổi. Bạn con cho đến nay vẫn chưa lập
gia đình, đã từng theo học các khóa tu, hiểu được những
lời sư ông dạy về lắng nghe và ái ngữ
Nhưng
cô bạn của con rất khổ sở vì người mẹ không vui lòng
về cô. Bà đã già nhưng khi nào cũng rơm rớm nước mắt,
vì bà nghĩ các con không thương bà. Con cũng có ứng dụng
nhưng điều đã học để khuyên bà, chăm sóc bà…Bạn của
con cố gắng nói với mẹ bằng lời ái ngữ để mẹ không
buồn, nhưng bà mẹ từ khước, bảo bà không có người con
như vậy. Xin Sư ông giúp cho con cách để con có thể giúp
bà…
Quí
vị có nghe câu hỏi rõ ràng không?
Thưa
Sư ông. Câu hỏi của cô đó cũng có phần tương tự giống
con. Khi dùng ái ngữ, mình có chờ đợi không, chờ đợi cho
người đó chuyển hóa và yêu thương mình. Nếu dùng ái ngữ
mà họ vẫn không hiểu và không chuyển hóa được, thì sự
chờ đợi đó là bao lâu ?
Mình
nói một câu ái ngữ có thể là chưa đủ nhưng đã bắt đầu
có kết quả rồi, làm cho người kia ngạc nhiên rồi. Vì lâu
nay mình thường nói toàn „ác ngữ“. Nay nói ái ngữ, tuy
họ chưa thay đổi nhưng trong người dã có sự ngạc nhiên.
Nếu tiếp tục như vậy, một ngày nào đó, người đó sẽ
thay đổi. Mình vẫn giữ sự tươi mát, vẫn nói ái ngữ dù
người kia có nói gì nặng nề, có những cử chỉ không dể
thương, mình cũng chỉ nói lời ái ngữ, mai kia thế nào người
đó cũng sẽ thay đổi. Chỉ sợ câu nói của mình chưa thật
sự ái ngữ.Câu nói ái ngữ, không phải là câu ngoại giao,
nó phải tới từ trái tim. Chỉ khi nào mình tội nghiệp được
người đó, thương được người đó, mình chấp nhận được
người đó, thì lời nói của mình mới thật sự là ái ngữ.
Chứ không phải là giả bộ ái ngữ, giả bộ thì người
kia họ biết ngay. Nụ cười cũng phải từ trái tim, chứ không
phải là nụ cười của bộ ngoại giao. Câu hỏi kế!
-
Nam mô đức bổn sư Bụt Thích ca mâu ni,
Con
kính bạch Sư ông,
Con
kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Con
muốn xuất gia, nhưng mẹ con không đồng ý.
Sư
ông giúp con làm cách nào để mẹ con cho con đi xuất gia.
Xin
cảm ơn đại chúng đã lắng nghe.
Ngày
xưa, thầy muốn di xuất gia cũng phải chuẩn bị đến hai
năm. Kiên nhẫn tìm cách cho mẹ đồng ý, vì mẹ hay ba mình
nghĩ rằng đi xuất gia là khổ lắm, đi tu là khổ lắm. Ý
đó nằm sâu trong đầu của bà. Làm sao cho ý đó lung lay thì
mới được. Cách hay nhất là làm sao để mẹ mình tiếp xúc
đươc với các sư cô trẻ trung, hạnh phúc, mắt sáng, nụ
cười tươi giúp đời được rất nhiều Ai bảo đi tu
là khổ, đi tu sứớng lắm chứ. Nếu đi tu mà thành công
thì mình giúp được không biết bao nhiêu người. Nhiều thầy,
nhiều sư cô trong đạo tràng Mai thôn đã thành công. Mới
hăm lăm, hăm bảy tuổi mà đã giúp được không biết bao
nhiêu người, không chỉ trong khóa tu, mà cả những gia đình
ở ngoài đời. Những cặp vợ chồng hòa giải với nhau,
cha con nối lại truyền thông với nhau.
Vì
vậy cách hay nhất là làm sao để mẹ mình có cơ hội tiếp
xúc với các thầy, các sư cô như vậy, lúc đó mẹ mới bỏ
cái quan niệm“ đi tu là khổ“. Khi gia đình đầu tư một
ngừơi con vào tăng đoàn, gia đình đó có phước lắm. Hai
ngàn năm nay, chuyện đó đã xảy ra thường xuyên. Có những
gia đình có một người con, hai người con, ba người con vào
tu. Cái lợi rất lớn, cứu giúp được biết bao nhiêu người.
Nếu mình thật sự có bồ đề tâm, thật sự yêu mến đời
sống xuất gia, thì mình phải kiên nhẫn, từ từ giúp mẹ
thấy được đời sống của người xuất gia là đời sống
rất đẹp, có nhiều tự do, chứ không phải đi làm nô lệ
cho một người, rồi bị người đó đàn áp, khống chế.
Lúc đó ba mẹ sẽ đồng ý và sẽ yểm trợ cho mình đi xuất
gia.
Ở
đây có nhiều sư cô, sư chú được ba mẹ yểm trợ cho đi
xuất gia, rất hạnh phúc. Khi mình xuất gia rồi, thời gian
sau ba mẹ cũng tới tu chung với mình, hạnh phúc lắ | |