QUYỀN
LỰC VÀ HẠNH PHÚC
Tháng
IV 2007 - Chân Giác Quang & Chân Tịnh Minh phiên tả và biên
tập
Pháp
thoại của Sư ông Làng Mai ngày 1. IV.2007 tại Trung tâm Festival,
Huế
Âm
thanh MP3 : Phần
1 (20MB) Phần
2 (17.5MB)
Kính
thưa quí vị Tôn Đức, kính thưa các Thầy, các Sư cô, các
Phật tử và chư vị quan khách,
Chúng
ta sẽ bắt đầu bằng xướng tụng bài Tào Khê một dòng
biếc và sau đó niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm. Tào Khê
là một dòng Thiền đã nuôi dưỡng chúng ta trong bao nhiêu
thế kỷ, nó có khả năng trị liệu, nuôi dưỡng đời sống
của chúng với tư cách một cá nhân, một gia đình, một cộng
đồng, một quốc gia.
Trong
chúng ta có nhiều người đói và khát. Chúng ta Đói Tình Thương,
chúng ta Khát Hiểu Biết, và suốt đời có lẽ chúng ta đang
đi tìm đã đi tìm hiểu biết và thương yêu. Chúng ta biết
rằng Hạnh Phúc chân thực không thể nào có được nếu mà
trong trái tim chúng ta không có Hiểu và Thương và có những
người trong chúng ta chưa bao giờ từng được hưởng hai cái
gia bảo đó, chưa bao giờ cảm thấy mình được Hiểu và
mình được Thương.
Tào
Khê là một dòng suối, một dòng suối Tâm Linh, một
dòng suối Văn Hóa đã cung cấp cho chúng ta không biết bao
nhiêu lần những giọt nước Cam Lồ để chúng ta thỏa mãn
được cái đói, cái khát, cái Hiểu và cái Thương của chúng
ta. Trong đạo Phật chúng ta nói đến những con quỷ đói,
những con ma đói, cái bụng của nó rất lớn và cổ họng
của nó rất nhỏ bằng một cái kim và cái đói nó kéo dài,
đói này là đói Hiểu và đói Thương. Khi một giọt nước
Cam Lồ của Tào Khê rót vào trong cổ họng thì cổ họng nhỏ
bé bằng cây kim đó lấy lại được hình dáng trước kia
của nó, cái tầm cỡ trước kia của nó và nó bắt đầu
có khả năng tiếp nhận được cái Hiểu và cái Thương.
Nhiều
khi chúng ta được hiến dâng cái Hiểu và cái Thương nhưng
chúng ta không có khả năng tiếp nhận được cái Hiểu và
cái Thương đó. Chúng ta là những đứa con, cha mẹ đã và
đang hiến tặng cho chúng ta rất nhiều Hiểu và Thương nhưng
chúng ta vì giận hờn, vì tri giác sai lầm chúng ta hờn oán
cha mẹ, vì vậy chúng ta không có khả năng tiếp nhận cái
tình thương và cái hiểu biết của cha mẹ và suốt đời
sẽ oán trách cha mẹ. Nhưng mà nếu chúng ta có một giọt
nước Cam Lồ của Tào khê thì chúng ta sẽ có khả năng đó.
Tào
Khê một dòng biếc
Chảy
mãi về phương Đông
Chắc
quí vị cũng biết rằng Thiền Tào Khê bắt đầu từ Lục
Tổ Huệ Năng và trong Việt Nam cũng có một bài nói Tào Khê:
Đá
mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào
Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.
Tào
Khê dòng Thiền đó là gia sản văn hóa Việt Nam và nếu
chúng ta biết bảo quản, khai thác thì dòng Thiền đó có thể
cung cấp cho chúng ta những giọt nước Cam Lồ, khiến cho đứa
con có thể hiểu được Cha, có thể hiểu được Mẹ, truyền
thông lại được với Cha Mẹ và đem lại hạnh phúc trong
gia đình. Nếu chúng ta có một giọt nước của dòng Tào Khê,
chồng có thể nói chuyện được với vợ bằng ngôn từ hòa
ái và vợ hiểu được những khó khăn, những bức xúc, những
lo lắng của chồng.
Trong
đời sống chúng ta mỗi người cần phải có một chiều hướng
Tâm Linh, chúng ta là nhà Chính trị, chúng ta là nhà Văn Hóa,
chúng ta là nhà Doanh thương, chúng ta là nhà Giáo dục, chúng
ta là người Cha, người Mẹ, chúng ta là một Công Dân. Chúng
ta cần phải có một chiều hướng Tâm Linh trong đời sống
hàng ngày của chúng ta, có chiều hướng Tâm Linh đó rồi
chúng ta sẽ có khả năng tháo gỡ những khó khăn, những
bức xúc, những buồn tủi, những giận hờn để chúng ta
có khả năng tái lập lại truyền thông với những người
trong gia đình, trong cộng đồng, trong xã hội.
Tào
Khê một dòng biếc
Chảy
mãi về phương Đông
Quan
Âm bình nước Tịnh
Tẩy
sạch dấu phong trần.
Đức
Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho khả năng Hiểu và Thương,
tại vì vị Bồ Tát này thực tập lắng nghe với tâm Từ
Bi và sử dụng Ái Ngữ giúp cho người khác có thể hiểu
được mình và hiểu được người đối diện. Chữ Quan Thế
Âm có nghĩa là lắng nghe tiếng nói đau thương để mà tìm
tới và giúp đỡ.
Quan
Âm bình Nước Tịnh
Tẩy
sạch dấu phong trần
Trong
cuộc đời chúng ta có nhiều bụi bậm, có những đau khổ,
có những khó khăn và bình nước Cam Lồ của Quan Thế Âm
có thể rửa sạch tất cả những dấu vết đau buồn, oán
khổ cuả quá khứ.
Cành
dương rưới Cam Lộ
Làm
sống dậy mùa Xuân,
Chúng
ta có thể nghĩ rằng mùa Xuân đã mất rồi, bây giờ chúng
ta chỉ có mùa Đông lạnh lẽo. Cái vườn xanh tươi không
còn nữa chỉ còn những cây khô héo đã chết nhưng có giọt
nước Quan Thế Âm của bình Cam Lồ, giọt nước Tào Khê có
thể làm sống dậy một mùa Xuân. Khi nào mà cái Hiểu và
cái Thương nó được tái sinh thì chúng ta có hạnh phúc trở
lại, là có một mùa Xuân trở lại.
Tào
Khê một dòng biếc
Chảy
mãi về phương Đông
Quan
Âm bình nước tịnh
Tẩy
sạch dấu phong trần
Cành
dương rưới Cam Lộ
Làm
sống dậy mùa Xuân
Đề
hồ trong cổ họng
Làm
lắng dịu muôn lòng.
Khi
cái cổ họng ta bỏng cháy có một giọt nước Cam lồ đề
hồ thì chúng ta thấy lắng dịu lại Thân Tâm, chúng ta biết
rằng Hạnh Phúc là điều có thực. Avalokitesvara là tên của
Đức Quan Thế Âm, Avalokita có nghĩa là nhìn cho sâu, nhìn cho
sâu, lắng nghe cho kỹ, lắng nghe cho sâu. Esvara có nghĩa là
tự do tự tại, nhờ quán chiếu, nhờ nhìn sâu mà mình đạt
tới tự do và không có hạnh phúc nào mà không có thiết
lập trên tự do, khi chúng ta hệ lụy, chúng ta ràng buộc khi
chúng ta đánh mất tự do thì chúng ta không còn hạnh phúc
nữa cho nên tự do là nền tảng của hạnh phúc mà tự do
đó chúng ta đạt được là do quán chiếu chúng và khám phá
sự thật cho nên goi là Avalokita quán chiếu, Esvara là trở
thành con người tự do. Bằng tự do, bằng thực tập quán
chiếu lắng nghe. Khi các Thầy, các Sư cô xướng tụng bài
này, chúng ta có thể tham dự vào bài thực tập, chúng ta không
cần xướng tụng theo, chúng ta chỉ cần ngồi cho thật thoải
mái, buông thư tất cả các bắp thịt ở trong cơ thể và
chúng ta để ý đến hơi thở, chúng ta mở lòng ra, nếu chúng
ta có những đau nhức, những căng thẳng trong cơ thể chúng
ta để những năng lượng đó đi vào mà chuyển hóa những
đau nhức và những căng thẳng đó trong Thân. Và nếu có những
căng thẳng và đau nhức trong Tâm, nỗi lo hoặc cơn giận hay
những niềm đau thì chúng ta cũng có thể mở trái tim ra để
cho năng lượng Đức Bồ Tát và Tăng Thân đi vào ôm ấp và
chuyển hóa như những năng lượng của chư Phật trong ta. Chỉ
cần thực tập 5 phút, chúng ta sẽ thấy những đau nhức trong
Tâm chuyển hóa và ta sẽ thấy nhẹ nhàng hơn. Chúng ta có
người thân đang bị bịnh khổ, đang trong tình trạng lo lắng
và tuyệt vọng không thể tới hôm nay, chúng ta cũng có thể
gởi năng lượng này về cho người đó bằng cách nghĩ tới
người đó hay gọi thầm tên người đó thì năng lượng của
Đức Quan Thế Âm và Tăng Thân sẽ chuyển về ngay trong giờ
phút này và người đó ở nhà sẽ thấy bớt khổ.
Tào
Khê một dòng biếc
Chảy
mãi về phương Đông
Quan
Âm bình nước tịnh
Tẩy
sạch dấu phong trần
Cành
Dương rưới Cam Lộ
Làm
sống dậy mùa Xuân
Đề
hồ trong cổ họng
Làm
lắng dịu muôn lòng
Nam
mô Bồ tát Cam lộ vị
Tiền
bạc, Danh vọng, Quyền hành và Sắc dục.
Kính
thưa liệt vị,
Chúng
ta ai cũng có quyền lực, ai cũng có quyền hành, ai cũng có
quyền uy, nhưng mà cái cách chúng ta sử dụng quyền lực của
chúng ta khác nhau.
Chúng
ta là người Cha, chúng ta có quyền của người Cha, nếu chúng
ta không biết sử dụng quyền của Cha thì chúng ta sẽ gây
đau khổ cho người con và đau khổ luôn cho người cha tức
là cho chính chúng ta.
Chúng
ta là môt bậc Thầy, chúng ta có quyền của một vị Thầy
nhưng mà nếu chúng ta lạm dụng quyền làm Thầy, nếu chúng
ta sử dụng sai lầm cái quyền làm Thầy của mình thì chúng
ta sẽ gây đau khổ cho người đệ tử, cho người học trò
và do đó gây đau khổ cho chính chúng ta.
Chúng
ta là một vị Giám Đốc một doanh nghiệp, chúng ta có quyền
lực và quyền hành và cái cách chúng ta sử dụng quyền lực
và quyền hành của chúng ta nó có thể gây đau khổ trong cái
doanh nghiệp chúng ta và cho chính chúng ta.
Chúng
ta là một vị Tổng thống, một vị Quốc Truởng, một vị
Chủ tịch nước, chúng ta có quyền hành, chúng ta là một
vị Tổng bí thư, chúng ta có quyền hành và nếu chúng ta không
biết sử dụng quyền hành đó đúng cách, chúng ta cũng gây
đau khổ cho chính bản thân và cho rất nhiều người khác.
Thường
thường chúng ta nghĩ rằng, càng nhiều quyền uy, càng có
nhiều quyền lực thì càng có nhiều hạnh phúc, điều này
không có chắc.
Hoa
kỳ là một siêu cường có rất nhiều quyền lực, có những
quân đội rất là lớn, rất là đông, rất là mạnh, có vũ
khí tối tân, có nền kinh tế đứng đầu. Khi mình làm
Tổng thống Hoa Kỳ thì mình có nhiều quyền lực và
biết bao nhiêu người thanh niên Mỹ đang mơ ước trở thành
Tổng thống Mỹ. Nhưng nếu chúng ta có thì giờ để
nhìn vào đời sống của Tổng thống Hoa Kỳ như là Tổng
thống Bush chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được tầm mức
hạnh phúc của một người như ông. Theo tôi thì một người
như Tổng thống Bush là một người có rất nhiều đau khổ,
có rất nhiều tuyệt vọng, có rất nhiều khó khăn, có rất
nhiều bức xúc, có rất nhiều lo lắng. Chúng ta có rất nhiều
người nghèo trong nước của chúng ta nhưng họ có thể ngủ
ngon được sau một ngày làm việc nặng nhọc nhưng tôi không
thể nghĩ rằng Tổng thống Busch có thể ngủ ngon được.
Chúng
ta hãy nói đến chiến tranh Iraq và Tổng thống Mỹ điên đầu
vì cuộc chiến này, ban đầu mình nghĩ mình có quyền lực
rất lớn, mình có thể giải quyết được vấn đề Iraq theo
ý muốn của mình và sau đó bị kẹt vào trong tình trạng
Iraq, bây giờ đi tới cũng không được, mà đi lui cũng không
được. Làm sao có hạnh phúc được khi biết rằng những
người trai trẻ trong nước mình mỗi ngày đang chết ở bên
đó, tình trạng càng ngày càng xấu ở bên đó và mình đang
tạo ra sự chết chóc của những người dân Iraq thuộc về
các Đảng phái khác nhau, đang chết mỗi ngày. Và vì vậy
tôi không có tin là Tổng thống Bush có thể ngủ ngon được.
Triết gia Pháp Jean-Jacques Rousseau có nói rằng, một người
mà có quyền lực nhiều nhứt trên thế giới và ngưòi đó
vẫn cảm thấy bất lực, thỉnh thoảng người đó cảm thấy
quyền lực của mình không đủ để làm chủ và làm theo ý
muốn của mình. Mà nếu quyền lực của một người như Tổng
thống Bush chưa đủ để có hạnh phúc thì quyền lực bằng
năm mươi phần trăm của quyền lực đó hay ba mươi phần
trăm của quyền lực đó làm sao có hạnh phúc được.
Chúng
ta là một nhân viên Cảnh sát, một người Công An, chúng ta
cũng có quyền lực của chúng ta và khi mà chúng ta không biết
sử dụng cái quyền lực của một người Cảnh sát thì chúng
ta làm đau khổ những người khác và chúng ta làm đau khổ
cho chính mình. Hầu hết chúng ta đều biết rằng nếu mà
lạm dụng quyền lực thì đau khổ cho bản thân và cho những
người khác.
Tuy
vậy, một số rất đông trong chúng ta nghĩ rằng hễ có quyền
nhiều là có hạnh phúc nhiều và quyền lực đó không hẳn
là quyền lực chánh trị hay là quyền lực của một vị Giám
đốc của một công nghiệp lớn. Khi chúng ta có rất nhiều
tiền thì chúng ta có nhiều quyền, khi chúng ta có nhiều danh
thì chúng ta cũng có nhiều quyền và vì vậy cho nên bốn cái
đó
có dính líu tới nhau.
Tiền
bạc, Danh vọng và Quyền hành, thêm vào một cái nữa là Sắc
dục, khi nào có quyền hành nhiều thì sẽ có sắc dục
nhiều, bốn cái đó ít nhiều làm cho bao chúng ta điên đảo.
Sắc Dục, Tiền Bạc, Tiếng Tăm và Quyền Hành.
Trong
thời gian cư trú và giảng dạy đạo Phật ở Tây phương,
chúng tôi có cơ hội gặp nhiều người có quyền hành, rất
nhiều tiền bạc, rất nhiều danh vọng, nhưng chúng tôi đã
khám phá rằng trong giới những người đó có những người
cực kỳ khổ đau. Và chúng ta có thể đi đến kết luận
là dầu chúng ta có đầy đủ bốn cái -Tiền bạc, Danh vọng,
Quyền hành và Sắc dục- đó thì chúng ta cũng có thể khổ
đau một cách là da diết như thường.
Đoạn
Đức, Trí Đức, và Ân Đức
Trong
khi đó thì trong đời sống tâm linh chúng ta cũng đi tìm một
thứ quyền lực và thứ quyền lực trong nếp sống tâm linh
nó không tạo ra đau khổ cho mình hay cho người khác, trái
lại nó có thể ban phát rất nhiều hạnh phúc cho chính mình
và cho người khác. Chúng ta hãy dùng danh từ Đạo Đức, Đạo
là con đường, mỗi người trong chúng ta phải có một con
đường đi, một con đường lý tưởng, một con đường tinh
thần, một con đường tâm linh, với con đường đó chúng
ta có thể chế tác ra cái quyền lực tinh thần gọi là Đức,
chữ Đức có thể dịch là Vertu, là cái quyền năng tâm linh.
Trong
truyền thống đạo Phật, chúng ta nói đến ba thứ Quyền
Uy Tâm Linh, đó là ba cái Đức.
- Loại
Đức thứ nhất gọi là Đoạn Đức, đoạn có nghĩa là chặt
đứt. Người nào tu tập, biết được con đường tu tập
thì có khả năng chặt đứt những cái thèm khát, những cái
hận thù, những cái si mê của mình, tại vì hận thù, thèm
khát, si mê đem đến rất nhiều đau khổ, nó là địa ngục
ngay trong trái tim của mình và vì vậy cho nên có con đường
tâm linh để đi tới khả năng chặt đứt những thèm khát
đó, những hờn oán đó, và những si mê đó, thì đó là cái
quyền lực rất lớn, nó đem lại cho người thực tập nhiều
hạnh phúc và nó làm cho người chung quanh có rất nhiều
hạnh phúc, cái đó gọi là đoạn đức, đoạn đức tức
là cái khả năng có thể cắt đứt được gốc rễ của khổ
đau mà chúng ta có thể gọi được những cái gốc rễ đó
bằng tên thật của nó là những cái thèm khát, những cái
đam mê, những cái oán thù, oán hận và những cái si mê.
- Quyền
uy tâm linh thứ hai là Trí Đức tức là có trí tuệ, đi theo
con đường tâm linh đó, thực tập thì mình có trí tuệ, trong
đạo Phật gọi là Prajna tức là Bát Nhã, là một thứ tuệ
giác có khả năng giúp mình tháo gỡ được những bức xúc,
những mâu thuẩn, những xung đột, những tuyệt vọng trong
nội tâm của mình, nhung đây không phải là thứ ân huệ được
ban xuống từ một đấng thần linh mà là do công phu thực
tập của mình. Trí đức không phải là sự chất chứa những
điều mình học hỏi trong kinh, trong sách, sách triết học,
sách tôn giáo, sách khoa học, những kiến thức đó không phải
là tuệ giác và có khi những kiến thức đó có thể ngăn
cản tuệ giác. Tuệ giác là một cái thấy sâu sắc vào trong
lòng thực tại, nó có khả năng giúp mình tháo gỡ tất cả
những cái bức xúc, những cái oán hờn, những cái mâu thuẩn,
những cái khổ đau trong chính bản thân và giúp tháo gỡ những
cái đó ở nơi người khác, trước hết là người mình thương.
Khi mà mình có trí đức thì những vấn đề kia đối với
mình nó rất là dễ , nhưng mà người kia đi vòng ba năm, năm
năm, mười năm vẫn chưa đi ra khỏi được mà người đó
tới với mình, mình gở một cái người đó thoát liền lập
tức. Trí Đức là cái quyền lực vô song, nó giải phóng mình
được ra khỏi những cái phiền não, những cái tuyệt vọng,
những cái bức xúc, những cái mâu thuẫn trong nội tâm và
nó giúp mình, giúp những người khác làm đươc như vậy.
- Đức
thứ ba gọi là Ân Đức, Ân Đức nghĩa là cái quyền lực
giúp mình có thể tha thứ, có thể chấp nhận và có thể
thương yêu. Thường thường mình chỉ thương những người
dễ thương và mình muốn trừng phạt những người không dễ
thương. Với Ân Đức thì mình không những thương được
người dễ thương và mình có khả năng thương được người
khó thương và thương được người rất là dễ ghét. Những
người tội phạm, những người gọi là kẻ thù, mình cũng
thương được và muốn cho họ chuyển hóa, được hạnh phúc
và không hề có tâm niệm muốn trừng phạt, muốn làm
cho họ khổ, cái đó gọi là Ân Đức.
Thỉnh
thoảng ta thấy ta một vị chân tu thực hiện được ba cái
Đức đó. Vị đó không cần phải làm gì nhiều, sự có mặt
của vị đó trong một Tỉnh làm cho Tỉnh đó đẹp, sự có
mặt của một vị đó trong một gia đình làm cho gia đình
đó có hạnh phúc. Mục đích của sự tu học, của sự thực
tập là để đạt tới ba cái Đức đó là Đoạn Đức, Trí
Đức và Ân Đức.
Tôi
đã từng quán sát và tôi thấy rằng người nào có khả năng
buông bỏ, có khả năng quán chiếu, có khả năng tha thứ và
thương yêu là những người hạnh phúc nhất, là những người
có khả năng làm hạnh phúc cho rất nhiều người chung quanh.
Khi
mình đã có được ba cái loại quyền uy đó, quyền lực đó
thì những quyền lực khác như tiền tài, danh vọng nó trở
thành những lợi khí rất là mầu nhiệm, có thể giúp dân,
giúp nước được. Nhưng mà nếu không có ba cái Đức này
của đời sống tâm linh thì những quyền lực kia, những danh
vọng kia, sự giàu có kia nó có thể gây ra đau khổ rất là
lớn.
Đạo
Phật không có lên án những người làm giàu, đạo Phật không
chống báng những chuyện làm cho nước giàu, dân mạnh. Nhưng
mà đạo Phật nói là phải có một chiều hướng tâm linh
để cho cái quyền lực, cái danh vọng và cái tiền tài kia
được dùng, được sử dụng vào những mục tiêu tốt đẹp,
có thể làm dịu xuống, làm vơi bớt những nỗi khổ niềm
đau ở trong xã hội.
Có
nhà doanh thương Đức tên là Federick, ông là nhà doanh thương
trẻ, rất có tài, ông thành công khá nhiều trong sự nghiệp
doanh thương của ông và bà vợ tên là Claudia cũng có hạnh
phúc và rất yểm trợ cho chồng. Lúc ban đầu thì hai người
có rất nhiều hạnh phúc, hai người chia sẻ giấc mơ của
một sự thành công trong doanh nghiệp và biết rằng sau này
nếu mình làm giàu được, mình sẽ có nhà cao cửa rộng,
có xe đẹp, mình sẽ có một cuộc sống rất là hạnh phúc.
Lúc ban đầu Claudia, phu nhân của Federick rất tự hào được
tổ chức những buổi tiếp tân cho chồng, rất tự hào về
sự thành công của chồng trong lãnh vực doanh nghiệp. Nhưng
mà từ từ cái doanh nghiệp của Federick trở thành nhà độc
tài, nó chiếm tất cả thì giờ, nó chiếm tất cả năng lượng
của Federick. Federick ngày đêm chỉ nghĩ tới doanh nghiệp,
chỉ nghĩ tới sự thành công của mình mà thôi và vì vậy
cho nên bắt đầu không có thì giờ cho chính mình, cho người
vợ và hai đứa con.
Là
một nhà doanh thương thế nào mình cũng nghĩ đến sự thành
công và mình chú tâm tới sự thành công đó và ngày đêm
mình suy nghĩ thế nào để cho mình thành công. Vì vậy cho
nên cái doanh nghiệp của mình trở thành nhà độc tài, nó
muốn chiếm hữu hoàn toàn con người của mình, nó muốn tất
cả thì giờ và năng lực của mình để dành cho nó. Nếu
quí vị từng là một nhà doanh thương, quí vị hiểu điều
này hơn ai hết. Mình không có mặt cho chính mình, mình có
những đau nhức, những căng thẳng trong tâm, mình không có
khả năng, không có thì giờ bảo quản và chăm sóc cái thân
của mình và như vậy mình làm gì có thì giờ để chăm sóc
và thương yêu những người trong gia đình của mình.
Và
vì vậy Claudia ngày càng thấy cô đơn, ban đầu bà nghĩ là
những công việc xã hội sẽ làm cho bà bớt buồn và bà sẽ
có được niềm vui trong công tác làm việc xã hội. Về sau
bà ghi tên học ở các trường Đại học để lấy thêm một
bằng Tiến sĩ nữa, bà học ngành tâm lý trị liệu và trở
thành nhà tâm lý trị liệu. Cái mục đích là để quên đi
những thì giờ trống vắng không có chồng bên cạnh, nhưng
tất cả những cái đó đều không lấy đi được sự cô
đơn, buồn tủi vì chồng bà không có mặt cho bà và cho hai
con. Ngày mà đứa con trai Phillip đi nhà thương để mổ tim,
các bác sĩ mổ tới 7 tiếng đồng hồ và Claudia phải ở
với đứa con trai 7 giờ đồng hồ mà Federick không có thì
giờ để tạt qua nhà thương thăm con một chút. Federick bận
cho đến nỗi là khi Claudia bị mổ cái bướu mà Federick cũng
không có về đuợc. Người chồng đang chạy theo sự thành
công, chạy theo quyền lực và nghĩ rằng nếu có được quyền
lực đó thì sẽ có được hạnh phúc lớn. Claudia có những
đêm khóc thầm, có những đêm khóc với Federick, anh không
có thì giờ cho chúng ta, anh không có thì giờ cho con, chừng
nào anh mới có thể dành thì giờ cho em và cho các con? Federick
nói rằng, trong doanh nghiệp chưa có người nào có thể thay
anh ta được và nếu mà anh ráng thì trong ba năm, anh sẽ tìm
ra được người thay thế thì anh sẽ có thì giờ cho em và
cho các con. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, tháng này
qua tháng khác, lời hứa đó chưa kịp thực hiện thì Federick
bị tai nạn xe hơi và chết năm anh 51 tuổi và giấc mơ đó
chưa bao giờ thành, không bao giờ thành, sẽ không bao giờ
thành, cái giấc mơ có thì giờ để sống thoải mái với
vợ và các con. Quí vị có biết gì không, trong vòng ba hôm
người ta tìm được vị giám đốc mới khác thay thế chỗ
của Federick. Claudia đã ghi tên tham dự một khóa tu ở Làng
Mai và Claudia đã kể lại câu chuyện đó cho chúng tôi nghe.
Chúng
tôi có tổ chức khóa tu dành cho giới doanh thương, trước
đó tôi phải đọc một ít tài liệu để biết về nỗi khổ
niềm đau, sự lo lắng của các nhà doanh thương. Khóa tu đó
được tổ chức tại Làng Mai ở Pháp, các nhà doanh thương
từ Mỹ châu, Âu châu, Úc châu tới tham dự rất là đông.
Và họ đã học được pháp môn để có thể dừng lại, để
có thể đừng sa vào, đừng đi vào những vết chân của Federick.
Đạo
Phật không có chống lại sự làm giàu, đạo Phật không có
chống lại sự thành công nhưng đạo Phật nói với chúng
ta là Quyền lực, Danh vọng và Tiền tài không đủ để có
hạnh phúc chân thật, phải có một chiều hướng tâm linh,
phải chế tác Đoạn Đức, phải chế tác Trí Đức, phải
chế tác Ân Đức.
Bên
Mỹ có tờ báo của giới doanh thương tên là Fortune [1] (Cơ
nghiệp). Mỗi năm tờ báo này nó làm ra một danh sách các
doanh nghiệp đứng hàng đầu, để hướng dẫn cho người
ta đầu tư và đi theo nó. Mỗi năm nó có một danh sách 100
doanh nghiệp [2] đứng đầu. Khi mình nghiên cứu cái bản chất
của 100 doanh nghiệp đó thì mình thấy có những điểm giống
nhau trong cả 100 doanh nghiệp. Là trong các doanh nghiệp đó,
họ thực tập ba cái mà mình thấy trong đạo Phật có nói
tới là Đoạn Đức, Trí Đức và Ân Đức. Họ nghĩ tới
vấn đề chăm sóc trẻ em của công nhân, họ nghĩ tới công
việc chăm sóc bệnh tật, những ngày nghỉ mát cho công nhân.
Khi công nhân có những tai nạn, có những bệnh tật, có những
khó khăn thì có cơ quan có những quy chế có thể giúp được
cho công nhân. Khi công nhân có những khó khăn về tinh thần
được những nhà tâm lý trị liệu tới chăm sóc. Nói tóm
lại, cái nét chung của 100 doanh nghiệp lớn đó là có tình
thương, có sự ưu ái đến tất cả mọi người trong doanh
nghiệp, và doanh nghiệp nó biến thành một cộng đồng, thành
một gia đình.
Khi
mà có khả năng đoạn trừ các tham vọng, hiểu và biết được
những bức xúc, những khó khăn của những người trong cùng
doanh nghiệp, có khả năng chấp nhận tha thứ và thương yêu
thì mình biến doanh nghiệp đó thành cái cộng đồng, thành
cái gia đình. Khi đó cái doanh nghiệp đó trở nên lớn
mạnh và lợi nhuận không có giảm đi mà nó càng ngày càng
tăng.
Kết
luận là khi quyền lực tâm linh đi chung với quyền lực thế
gian thì mình có sự thành công trong lãnh vực chính trị cũng
như là trong lãnh vực thương mãi.
Chúng
ta có những ông Vua Dầu hỏa, chúng ta có những ông vua Điện
ảnh, chúng ta có những ông vua Xe hơi, và nếu chúng ta lắng
nghe họ chúng ta thấy được những nỗi khổ niềm đau của
họ và chúng ta biết rắng họ khao khát tình thương, họ rất
khao khát sự hiểu biết. Phần lớn những người trong các
giới đó đều là những người cô đơn, đều là những người
không có bạn. Những người tới với họ, họ đều nghi ngờ
rằng những người tới với mình đều là những người muốn
lợi dụng mình chớ không phải là bạn thật.
Giám
đốc hãng xe hơi Ford, tức là William Ford [3]có tới tu viện
chúng tôi để tu 48 giờ đồng hồ, ông là thế hệ thứ tư
của gia đình Ford, ông có chi nhánh ở tại Việt Nam. Ông tới
để tập ngồi thiền, tập đi thiền hành, tập để thở,
tập ôm ấp và làm cho lắng dịu những căng thẳng trong thân
và trong tâm, những căng thẳng, những đau nhức đó có những
rất nhiều lo lắng, rất nhiều sợ hãi. Tôi có tặng
cho ông ta một cái chuông nhỏ, tôi nói mỗi ngày thỉnh cái
chuông này và thở nhiều lần để làm lắng dịu thân tâm
và ông đã kể cho tôi biết bao nhiêu chuyện về những nhà
tỷ phú ở bên Mỹ những khổ đau da diết của họ, những
cô đơn, những cái sợ hãi của họ.
Chúng
tôi có một tu viện ở tiểu bang Vermont miền Đông Bắc nước
Mỹ gọi là tu viện Rừng Phong. Và tu viện Rừng Phong đã
giúp lập nên những trung tâm thực tập Thiền cho những tiểu
bang gần đó. Trung tâm Thực Tập Chánh Niệm Mindfulness Practice
Center và chúng tôi trình bày lối thực tập nó không có tính
cách tôn giáo, trong tu tập đó không có tượng Phật, không
có đốt hương, không có cúng lạy. Người ta tới đó chỉ
để thực tập ngồi, ngồi như thế nào cho nó khỏe, cho nó
lắng dịu thân tâm. Thực tập đi, đi như thế nào để cho
thảnh thơi, an lạc. Thực tập thở, thực tập ăn cơm, ăn
cơm như thế nào để khi ăn cơm có hạnh phúc. Ăn là một
sự thực tập, có nhiều người ăn mà suy nghĩ những chuyện
khác, ăn hấp tấp và không có hạnh phúc trong khi ăn. Những
người đến đó để học thở, học mỉm cười, học thư
giãn, học buông thư, học uống trà, học đi, học ngồi. Và
chúng tôi muốn trình bày, muốn cống hiến sự thực tập
trong đạo Phật với cái dạng không tôn giáo để cho mọi
người tới thực tập mà không có cảm tưởng mình bị dụ
vào trong tôn giáo mới.
Bửa
đó bên bờ sông có một ông già, ông đang ngồi đọc cuốn
sách đã nhàu nát, một người đệ tử Hoa kỳ của tôi đi
ngang qua thấy ông già này thấy tội nghiệp quá, ghé lại
ngồi một bên thì thấy ông đang đọc cuốn sách Peace
is every step, An Lạc Từng Bước Chân của Thầy Nhất Hạnh,
Thầy của mình thì cô ta có cảm tình liền với ông vì ông
đang đọc sách của Thầy mình, thấy ông ta có vẻ cô đơn,
lủi thủi một mình cho nên cô mới nói, nè bác, gần đây
chỉ có 7 cây số thôi có Trung tâm Thực Tập Chánh Niệm,
do chúng tôi, đệ tử của Thầy lập ra, nếu bác muốn thực
tập thì mời bác tới thực tập với chúng tôi ? Ông già
cảm ơn và tiếp tục đọc sách. Cô đệ tử người Mỹ đó
nghĩ rằng ông già này không có xe hơi, thành ra cô mới nói,
nè bác cho con địa chỉ, chừng nào có dịp sinh hoạt, con
sẽ tới nhà bác chở bác đi ? Và ông già móc túi ra lấy
card visit của mình và trên card visit đề tên Rockefeller
Laurence, nhà tỷ phú số một ở New York.
Bảo
vệ và phụng sự - Căng thẳng và sợ hãi
Cách
đây gần 14 năm, tháng 10 năm 1993, chúng tôi có tổ chức một
khóa tu dành riêng cho những người có phận sự giữ an ninh
trong xã hội, trước hết là những nhân viên cảnh sát rồi
tới các vị quan tòa, các ban giám đốc các nhà tù. Chúng
tôi có nhiều khó khăn lắm khi mà tổ chức các khóa tu đó,
khóa tu đó có chủ đề là bảo vệ và phụng sự mà không
có sự căng thẳng và sự sợ hãi ( Protecting and serving without
stress or fear) - Bảo hộ an ninh và phụng sự xã hội mà
không có căng thẳng và sợ hãi - Khóa tu đó chỉ dành
cho các vị cảnh sát, các vị quan tòa, các vị chưởng khế,
các luật gia và những người cai tù, những người trong ban
gíám đốc các trại cải tạo. Người đứng ra giúp chúng
tôi tổ chức là Đại úy cảnh sát viên tên là Cheri Maples
[4] và bà này đã được dự khóa tu vào năm 1991. Phận sự
của bà là đào tạo và huấn luyện nhân viên cảnh sát. Bà
có nghe câu nói là mình có thể ôm súng, mình có thể cầm
súng với chánh niệm và vì vậy bà ghi tên trong khóa tu. Và
trong khóa tu bà khám phá ra được rằng tu tập chánh niệm
nó đem tới cho bà một thứ quyền lực mới mà bà không có
khi bà làm nhân viên cảnh sát. Khóa tu này được tổ chức
tại Madison tại tiểu bang Wisconsin. Chúng tôi gặp nhiều
khó khăn là vì có nhiều người viết thư phản đối, là
tại sao trộn lẫn tôn giáo vào trong chính quyền ? Chúng tôi
mới thanh minh là cái này không phải tôn giáo. Những người
nhân viên cảnh sát, những ông tòa, những người cai tù đến
đây để học thở, học mỉm cười, học thư giản, học
đi, học ngồi như thế nào để buông bỏ căng thẳng, đau
nhức trong thân, trong tâm, để đừng có sợ hãi, để có
khả năng truyền thông lại với những người đồng
nghiệp và những người trong gia đình, hoàn toàn không có
tính cách tôn giáo, sẽ không có tượng Phật, sẽ không có
đốt nhang, sẽ không có tụng kinh, sẽ không có lễ lạy và
rốt cuộc chúng tôi tổ chức được khóa tu đó ở tại Greenlake
Madison Wisconsin và Cheri Maples vị thiền sinh cảnh sát đó đã
hết lòng tổ chức. Khóa tu rất là khó nhưng mà thành công
viên mãn.
Các
vị biết không những nhân viên cảnh sát bên Mỹ sống cuộc
sống rất là căng thẳng, nhiều khi họ không biết dùng quyền
lực của người cảnh sát, họ dùng quyền lực đó với vợ
con, như vậy hư hết, mình đi ra ngoài với bộ đồng phục,
họ ngán mình, ghét mình nhưng cũng sợ mình, rồi mình quen,
mình về nhà, mình cũng ra oai như ở ngoài, rồi mình dùng
quyền lực đó với vợ con mình, hư hết. Quí vị có biết
rằng số lượng những người cảnh sát Mỹ dùng súng của
mình để tự sát nó nhiều hơn số lượng những người cảnh
sát bị những người trong băng đảng bắn, những người
tội phạm họ bắn cảnh sát chết, số người chết vì những
người đó ít hơn số những ngưòi cảnh sát tự dùng súng
mình để tự tử và vì vậy cho nên cảnh sát đó, những
người cai tù đó, những luật gia đó có rất nhiều căng
thẳng, nhiều khổ đau, họ cần tới những giọt nước
Cam Lồ của dòng suối Tào Khê.
Sau
khi đã tổ chức thành công khóa tu ở tại Wisconsin, người
cảnh sát đó đã được mời đi tổ chức những ngày thực
tập chánh niệm tại các trung tâm cảnh sát khác. Và từ đó
tới bây giờ đã tổ chức 400 khóa tu cuối tuần hoặc là
ngày chánh niệm cho giới cảnh sát ở trong nước. Hiện bây
giờ Cheri Maples chịu trách nhiệm về tất cả các cảnh sát
viên đang chăm sóc cho những người đang bảo quản và những
người đang phóng thích với sự giám sát trong toàn bang Wisconsin.
Cheri Maples đã thọ tam quy ngũ giới và 14 giới Tiếp Hiện,
tuy rằng chưa được truyền đăng làm giáo thọ nhưng mà đã
có khả năng tổ chức, giảng dạy, hướng dẫn thực tập
cho giới cảnh sát, không những trong tiểu bang Wisconsin mà
còn trong các tiểu bang khác ở Hoa Kỳ. Cheri Maples biết là
có một tiểu bang đứng sau lưng mình mình và cho mình quyền
lực rất lớn, nhưng Cheri Maples biết sử dụng quyền lực
của mình rất là đúng phép, khi gặp một người làm bậy
thì Cheri sẽ không nói rằng anh làm bậy, anh sẽ bị
bỏ tù. Cheri nói, rủi cho anh quá, tôi cảm thấy rủi cho anh
quá, ngày xưa tôi cũng có làm những lầm lỗi như vậy, nó
làm cho tôi đau khổ và tôi thoát khỏi được nhờ sự thực
tập và mong rằng anh cũng làm được như tôi. Cheri có thể
nói được những lời dễ thương như vậy, trong đạo Phật
gọi là Ái ngữ thay vì dùng lời dọa dẫm, dùng quyền lực
của mình. Ông thị trưởng của thành phố Madison đã tặng
một văn phòng khá lớn ở tại Tòa Thị sảnh khá lớn để
Cheri huấn luyện thiền sinh. Cheri đã thành lập tăng thân,
một đoàn thể tu tập, tuần nào cũng tới thực tập và hướng
dẫn thực tập không những cho những người cảnh sát mà
còn cho dân chúng trong vùng.
Bộ
trưởng bộ tư pháp của tiểu bang Wisconsin mời Cheri Maples
[5] tới và yêu cầu Cheri làm việc chung với tất cả các
nghành cảnh sát trong tiểu bang, tại vì Cheri có bằng cấp
tiến sĩ luật. Cheri đã quy y Phật, đã giữ năm giới, đã
thực tập rất giỏi, đã giúp Thầy truyền bá phương pháp
thực tập Thiền quán để giúp người ta tháo gỡ những đau
nhức, những căng thẳng trong thân, trong tâm. Giúp người ta
tái lập lại truyền thông và đem lại hạnh phúc. Cheri còn
làm nhiều công tác rất là hay để giúp cho những cộng đồng
nghèo đói nhiều bạo động chuyển hóa.
Kỳ
này về thăm quê hương và chia sẻ pháp môn tu tập thì trong
số mấy trăm vị thiền sinh cư sĩ có mặt Cheri Maples đang
ngồi đâu đây, có lẽ lát nữa mời Cheri lên đây để quí
vị thấy. Đó là một người phụ nữ, đã thực tập 21 năm
với tư cách của một nhân viên cảnh sát và hiện bây giờ
đang chịu trách nhiệm với tất cả nhân viên cảnh sát lo
cho các phạm nhân bị quản chế và các phạm nhân sắp được
thả ra, đang được thả ra và đã được thả ra nhưng mà
dưới sự giám sát. Người cảnh sát thực tập hiện giờ
đang mặt áo tràng Việt Nam, Phật tử Việt Nam.
Chất
liệu tình thương
Trước
khi để thì giờ cho quí vị đặt vài câu hỏi và chia sẻ,
tôi xin kết luận bài nói chuyện hôm nay như thế này.
Khi
mình có tình thương ở trong lòng, khi mình có chất liệu từ
bi ở trong lòng, thì cái doanh nghiệp mình đang thực hiện
nó sẽ đem lại cho mình hạnh phúc, sẽ đem lại cho những
người khác trong doanh nghiệp đó hạnh phúc, nêú mình chỉ
nghĩ tới chuyện thành công của mình mà thôi, mà không có
đặt chất liệu tình thương vào trong cái doanh nghiệp của
mình thì doanh nghiệp của mình có thể tạo ra khổ đau cho
mình, cho gia đình mình, cho những người trong doanh nghiệp.
Nếu mình là nhà chính trị, nếu mình có tình thương ở trong
trái tim của mình và mình hành động trên cơ bản của tình
thương đó, mình sẽ không bao giờ đau khổ và sẽ gây đau
khổ cho người khác.
Quyền
lực,danh vọng, tiền tài khi có tình thương nó trở thành
ra những dụng cụ rất mầu nhiệm, khi vắng mặt của tình
thương thì những cái đó trở nên những yếu tố phá vỡ
hạnh phúc và vì vậy cho nên theo đưổi một sự nghiệp
chính trị, một sự nghiệp xã hội, một sự nghiệp văn chương,
môt sự nghiệp doanh thương mình phải có cái chất liệu của
từ bi, của tình thương ở trong lòng của mình và cái đó
chính nó bảo vệ cho mình, nó bảo vệ cho sự nghiệp của
mình, nếu mà một trăm cái doanh nghiệp đứng hàng đầu mỗi
năm mà báo Fortune nêu ra đó mà nó là những doanh
nghiệp đứng hàng đầu tại vì trong đó có chất liệu tình
thương. Những người giám đốc, những người điều khiển
doanh nghiệp đó luôn luôn nghĩ tới những người cộng sự,
biết được những cái khó khăn, những khổ đau, những bức
xúc của những người trong doanh nghiệp và vì vậy cho nên
có thì giờ để lân mẫn, để hỏi han, để cứu giúp, để
hỗ trợ và vì vậy cho nên cái tình thương đó đã làm cho
doanh nghiệp trở thành một cộng đồng, một gia đình và
khi làm việc đó căn cứ trên tình thương, mình không có đánh
mất thì giờ, mình không có đánh mất năng lượng mà thâu
nhập của mình càng ngày càng lớn, đó là sự thật đã được
chứng minh.
Đứng
về phương diện chính trị cũng vậy, nếu có thì giờ để
chăm sóc mình, chăm sóc những người thân trong gia đình mình,
chăm sóc của những người trong cộng đồng của mình thì
mình sẽ tạo dựng ra được sự cấu kết, được sự đoàn
kết, được sự tin tưởng chung và điều này đem lại sự
thành công trong sự nghiệp chính trị của mình.
Cho
nên ba cái Đức kia rất cần thiết trong tất cả mọi người
trong chúng ta, chúng ta làm Cha, chúng ta làm Mẹ, chúng ta làm
Anh, chúng ta làm Thày giáo, chúng ta làm Thị trưởng, chúng
ta làm Giám đốc, chúng ta làm Tổng thống, chúng ta làm Bộ
trưởng, chúng ta phải biết rằng hạnh phúc có được khi
mà chúng ta có chiều hướng tâm linh, chúng ta biết chế tác
tình thương và chính tình thương đó nó sẽ giúp cho chúng
ta sử dụng những quyền lực của chúng ta một cách
đúng phép.
Kính
thưa quí vị, nếu có điều gì muốn phát biểu hay có câu
hỏi gì, đây là lúc chúng ta chia sẻ với nhau.
Hỏi
: Trong các quốc gia chậm phát triển, nền kinh tế đang còn
thấp thì dù có trí tuệ bao nhiêu đi nữa, có tình thương
đến mức đại từ bi nhưng không có đủ năng lực về kinh
tế thì làm sao giải quyết được vấn đề nghèo khổ, đói
khát và bệnh hoạn ?
Đáp
: Mình muốn thành công trong lãnh vực kinh tế, chính trị,
kỷ thuật là phải có trí tuệ, mình rất là cần chất xám,
sở dĩ mình nghèo là tại mình thiếu chất xám, thiếu trí
tuệ, sở dĩ mình không có đoàn kết được vì mình thiếu
tình thương. Trí tuệ và tình thương rất cần cho sự phát
triển kinh tế và xã hội như vậy rồi, tại sao mình không
có thấy ? Mình có nạn tham nhũng nhưng mình chưa có trừ được
nạn tham nhũng tại mình chưa có đủ trí tuệ để tìm ra
những giải pháp hữu hiệu để chống tham nhũng. Thành ra
vấn đề không phải tại mình dư trí tuệ mà tại mình thiếu
trí tuệ. Vấn đề không phải là tại mình dư tình thương
mà tại mình thiếu tình thương, thiếu tình thương cho chính
mình và cho những người khác.
Hỏi
: Một con người mà có ba Đức: Đoạn đức, Trí Đức và
Ân Đức. Những người như vậy thì Tùy xử tác chủ,
Lâm xứ tác chân xin Hòa thượng giảng lại những điều
mà Hoà thượng dịch ra từ sách Lâm Tế Ngữ Lục.
Đáp
: Tùy xử tác chủ là đi đâu mình cũng làm chủ được mình,
mình không đánh mất mình, mình không trở thành công cụ nô
lệ cho kẻ khác. Tùy xử tác chủ là ở đâu mình cũng nắm
được cái quyền tự chủ của mình. Lâm xứ tác chân là
đứng ở đâu mình cũng là con người thật của mình, chớ
không phải là ra giữa công chúng thì mình như thế này, mà
đi vào buồng riêng thì mình trở thành con người khác. Đi
vào trong hoàn cảnh này mình cũng con người đó, đi vào hoàn
cảnh kia mình vẫn là con người đó, mình có cái chân thật
của mình, mình không có mang mặt nạ. Khi mà muốn được
việc thì phải mang cái mặt nạ, khi xong việc thì gở mặt
nạ xuống. không có khả năng, không có năng lực để cho
người ta thấy được con người thật của mình.
Một
con người mà có được ba cái Đức: Đoạn Đức, Trí Đức
và Ân Đức, hạnh phúc rất là lớn, những người đó ban
phát hạnh phúc rất là nhiều. Và sự thành công đó là sự
thành công mà không có đem lại một cái tai hại nào. Vì có
nhiều người thành công trong sự nghiệp của mình thì chính
là nạn nhân trong chính sự thành công của mình. Những người
sống bằng gươm giáo, sẽ chết vì gươm giáo. Những người
sống bằng doanh nghiệp của mình, làm giàu, leo lên mức địa
vị cao chính là nạn nhân của cái địa vị của chính mình.
Còn sự thành công trong ba cái phương diện Đoạn Đức,
Trí Đức và Ân Đức đó là sự thành công không có mang theo
cái tiêu cực đó. Chỉ có một sự thành công mà trong đó
mình không là nạn nhân cho sự thành công của mình, đó là
sự thành công vể đạo đức.
Mình
không có làm là nạn nhân cho sự thành công của mình còn
ngoài ra bất cứ với một ngành nào, mình theo đuổi sự nghiệp
nào, mình có thể chết vì cái sự nghiệp đó. Như tướng
De Gaules giải phóng nước Pháp, đã được xem như là người
hùng nước Pháp nhưng mà cuối sự nghiệp của vị Tổng thống
ông đã khổ đau rất nhiều, ông đã không giải quyết được
vấn đề rối loạn trong nước. Ông đã mở ra một cuộc
trưng cầu dân ý và người ta đã trả lời "Non" (Không) và
ông đã đau khổ rất nhiều. Nhìn quanh ta thấy rất nhiều
người thành công trên bước đường sự nghiệp của họ,
cho đến cuối cùng họ chết vì sự thành công đó.
Lâm
xứ tác chân là chỗ nào mình cũng là con người thật của
mình và sự thành công của đạo đức đó không bao giờ làm
hại mình hết, nó chỉ gây hạnh phúc mà thôi, đó là lời
dạy Tổ của Lâm Tế Ngữ Lục.
Hỏi
: Như Thầy giảng, quyền lực như là phương tiện để mang
lại hạnh phúc cho con người nếu hội đủ ba cái Đức (Đoạn
Đức, Trí Đức, Ân Đức ) mà ở đây có thể nói ngắn gọn
là từ bi và trí tuệ. Vậy thì nếu có một người,
họ có cái quyền lực đó, khi ra ngoài xã hội, họ có mang
lại hạnh phúc cho mình và cho tha nhân nhưng ở trong gia đình
của họ, họ có một gia đình tồi tệ, cụ thể có một
bà vợ quá quắc, có một đàn con hư đốn và sự thực trong
gia đình ông không bao giờ có hạnh phúc, vậy thì liệu rằng
với quyền lực đó thì ông sử dụng như thế nào để hóa
giải trong gia đình để mang lại hạnh phúc cho bản thân ông,
cho vợ ông, cho bản thân ông ? Câu hỏi thứ hai như Thầy
giảng, ở những khóa tu bên Mỹ, không có thắp hương, lể
bái gì, nếu như ở Việt Nam nhiều người có tâm huyết muốn
tổ chức khóa tu Thiền cho những người có quyền lực, có
rất nhiều căng thẳng trong cuộc sống, thì đâu là những
yếu tố cần thiết để thực hiện ở Việt Nam trong thời
điểm này ?
Đáp
: Những người mà không có hạnh phúc, những người mà làm
khổ người thương của mình, những người đó mình không
có tin tưởng giúp được cho xã hội có hạnh phúc. Cho nên
tôi thường nói các bạn, khi mình muốn bỏ phiếu cho ai, mình
nên nhìn vào đời sống cá nhân và gia đình của người ứng
cử viên. Coi họ đối xử với vợ họ, với con họ bạn
bè họ như thế nào để mình biết được con người của
họ. Nếu họ không có khả năng truyền thông được với
vợ, thương yêu được con thì làm sao họ có thể làm hạnh
phúc cho dân, cho nước. Cho nên trước khi mình bỏ phiếu cho
ứng cử viên nào, mình phải có quyền biết về đời tư
ứng cử viên đó. Chứ không phải đọc một bản tiểu sử
người đó, những bằng cấp của người đó và công việc
của người đó mà mình có thể có một cái thấy đầy đủ
để chọn lựa được. Con người là căn bản, mà nếu con
người là con người hư thì sẽ mang lại đau khổ cho những
người khác.
Còn
vấn đề thực tập, những phương pháp trong đạo Phật có
thể trình bày như là một phương pháp không cần một niềm
tin tôn giáo. Tại vì đạo Phật là truyền thống tâm linh
mà trong đó tôn giáo chỉ là một phần nhỏ, nhiều người
trong đạo Phật chúng ta chỉ nghĩ là sự cúng lễ, bái sám,
cúng dường, tín ngưỡng nhưng mà đó chỉ là cái vỏ ngoài
của đạo Phật thôi, đạo Phật không phải chỉ là cái vỏ
của tôn giáo, tín ngưỡng đó, nếu mình chọc thủng được
cái vỏ đó, mình đi vào được một kho tàng tuệ giác rất
là lớn.
Đạo
Phật lúc ban đầu là một kho tàng tuệ giác, và tuệ giác
đó mình đạt tới được thì mình có thể tháo gỡ những
khó khăn, những muân thuẩn, những bức xúc, những tuyệt
vọng, những hờn tủi của mình và sau khi mình làm được
rồi thì mình cũng giúp người khác làm được như vậy và
tự độ, độ tha. Bản chất của đạo Phật trước hết
là tuệ giác, phần tôn giáo chẳng qua là phần phụ nhưng
hầu hết chúng ta chỉ thấy đạo Phật là một tôn giáo cho
nên đem cái tuệ giác đó ra để cống hiến mọi người,
để giúp cho mọi ngưòi tháo gỡ mọi khó khăn trong đời
sống của họ mà không cần họ trở thành Phật tử, đó
là những chuyện chúng tôi đã làm trong bốn mươi năm qua.
Mục
đích của mình không phải là có thêm tín đồ Phật giáo
tại vì tín đồ Phật giáo có quá nhiều rồi mà tu hành cũng
không có đàng hoàng gì mấy, mình đã chăm sóc số lượng
đó cũng đã hết hơi rồi, dù người ta theo đạo thêm cũng
không đủ sức lo cho họ. Thành ra phương pháp của chúng tôi
ở Tây phương là khuyên người nào, đạo nào cứ giữ đạo
đó. Quí vị có thể tới học hỏi những pháp môn, những
thực tập Phật giáo mà quí vị cũng không cần phải trở
thành tín đồ Phật giáo, và vì vậy cho nên các thiền sinh
từ các truyền thống khác như Do thái giáo, Cơ đốc giáo,
Hồi giáo tới thực tập rất nhiều và sau khi mà họ thực
tập tháo gỡ được những khó khăn của họ, họ có thể
trở về với truyền thống của họ mà giúp đào sâu
rồi chuyển hóa những truyền thống đó cho thích hợp với
thời đại mới, tại vì những truyền thống đó, tuổi trẻ
cũng bắt đầu từ bỏ vì không có khả năng làm mới để
thích hợp với những cái nhu yếu của thời đại mới.
Hôm
trước tôi có tổ chức một ngày Quán niệm cho giới Doanh
thương của thành phố Hồ chí Minh và những vùng phụ cận,
có rất nhiều người Công giáo tới tham dự và họ cũng thực
tập, cũng nghe Pháp thoại, họ cũng dự Pháp đàm, họ cũng
Thiền hành được và cũng có hạnh phúc như những người
Phật tử. Thực tập để lắng dịu căng thẳng, những đau
nhức trong thân và trong tâm, đó là cái thực tập mà ai cũng
có thể làm được mà mình không cần phải quy y, thọ giới
gì hết. Và khi mà làm được rồi, thì tuy là chưa quy y, chưa
thọ giới nhưng mà trong nội dung đã có chất liệu của tam
quy và ngũ giới rồi. Nó hay như vậy đó.
Trong
khóa tu mà tôi tổ chức cho những cảnh sát viên đó, cố
nhiên là chúng tôi không có lập bàn thờ và tổ chức lể
quy y thọ năm giới nhưng mà chúng tôi đã trao truyền tam quy
ngũ giới bằng một đường lối khác, chúng tôi có một văn
bản mà các cảnh sát viên đã đọc, đã chấp nhận và đã
long trọng hứa trước quần chúng của khoá tu.
- Thay
vì nói là con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ
lối cho con trong cuộc đời, tự quy y Phật thì mình nói rằng,
tôi có niềm tin nơi khả năng hiểu biết và thương yêu nơi
tôi. Nghĩa là tôi công nhận rằng nếu tôi thực tập thì
tôi có thể phát triển trí tuệ và từ bi trong tôi và cái
đó nó tương đưong với quy y Phật tại vì Phật là trí tuệ
và từ bi. Trí và bi viên mãn.
- Thứ
hai là tôi có đức tin nơi con đường nó làm cho tôi phát
triển được mỗi ngày cái trí tuệ và từ bi đó, đó là
quy y Pháp, một câu nói không có tính cách tôn giáo.
- Tôi
có niềm tin nơi những đoàn thể thực tập với nhau, nâng
đỡ nhau để mà chế tác năng lượng của Hiểu biết và
Thương yêu, cái đó là quy y Tăng. Và cố nhiên năm giới mình
đã trỉnh bày với ngôn ngữ hoàn toàn không có tôn giáo.
- Ý
thức được rằng đã có quá nhiều đau khổ gây ra bởi sự
chém giết và tàn sát, tôi nguyện từ đây về sau tôi sẽ
làm đủ cách để tôn trọng sự sống của mọi người, mọi
loài, đó là giới bất sát. Không cần danh từ Phật, Pháp
và Tăng trong đó.
Có
một số đông những vị công an cảnh sát, các vị luật sư,
các vị chánh án, các vị giám đốc các trại cải tạo đã
tiếp nhận ba quy và năm giới với hình thức không tôn giáo
đó. Thành ra tất cả mọi người đều có thể thừa hưởng
cái tuệ giác của đạo Phật mà không cần tới cái màu sắc
của tôn giáo, điều này là một điều rất là khích lệ.
Hỏi
: Xin Ôn Nhất Hạnh đọc lại bài thơ Một mũi tên rơi
hai lá cờ ảo tưởng và lý giải yếu nghĩa của kinh
Pháp Hoa trong bài thơ đó ?
Đáp
: Trong đạo Phật đó chúng ta được nghe đến con đường
Trung Đạo tức là con đường không có bị kẹt vào ý niệm
chống đối nhau như là Sinh và Diệt, Có và Không, Tới và
Đi, Một và Khác. Khi mà chúng ta quán sát thực tại, chúng
ta thấy hình như mọi vật đều có sanh, có diệt, có có,
có không, có tới có đi, có một có khác nhưng mà nếu chúng
ta quán chiếu sâu sắc, chúng ta sẽ tìm thấy rằng thực tại
nó thoát ra khỏi những khái niệm mà chúng ta có tức là sanh,
diệt, có, không, tới, đi, một và khác.
Ví
dụ như đám mây, chúng ta nghĩ rằng đám mây có sanh có diệt,
sanh tức là từ chỗ không có đó, sanh trở thành đám mây
và diệt là từ những đám mây có đó tới những đám mây
không có đó. Đứng về phương diện hình thức thì ta thấy
đám mây có sanh và có diệt nhưng mà quán chiếu cho kỹ, thì
chúng ta thấy rằng là đám mây không phải từ không trở
thành có, trước khi nó là đám mây, nó đã là cái gì rồi.
Nó là nước sông, nước hồ, nước biển, nó là sức nóng
của mặt trời, và đám mây chẳng qua là sự tiếp tục của
những cái đó thôi. Đám mây không phải từ không mà trở
thành có, cho nên bản chất của đám mây là vô sanh.
Khi
đám mây trở thành mưa, thành tuyết đó, thì nó đâu có phải
từ có trở thành không đâu, nó chỉ thay hình đổi dạng
thôi. Một đám mây không bao giờ thể chết được, nó không
bao giờ từ có trở thành không được, đám mây chỉ trở
thành tuyết, thành mưa mà thôi. Bởi vậy bản chất của đám
mây là vô sanh bất diệt. Và vì vậy cho nên sanh và diệt
là hai cái ảo tưởng, hai cái tri giác sai lầm, hai khái niệm.
Và khi mình tu tập, quán chiếu cho sâu, mình tiếp xúc được
bản chất vô sanh bất diệt của đám mây cũng như của bản
thân mình và cái ý niệm có và không cũng vậy. Ý niệm có
là một khái niệm và không cũng là một khái niệm, quán chiếu
cho kỹ thì thấy thực tại nó vượt khỏi ý niệm có và
không.
Thi
sĩ Vũ Hoàng Chương nói, Đâu có lẽ có chiều qua mà không
sáng nay. Và vì vậy cho nên những quan niệm đó, những ý
niệm là đó là những cái ảo tưởng và nếu mình có thiền
quán, có sức mạnh của Niệm và của Định thì cái thiền
quán đó giống như cái vùng năng lượng.
Một
mũi tên nếu mà nó bắn trúng được cái đích tức là cái
chủ đề của Thiền quán, thì nó làm rơi một lần hai cái
ảo tưởng mà mà chính cái ảo tưởng đó thường đi đôi
với nhau. Có và không, (to be or not to be) là một cặp ảo tưởng,
sanh và diệt (to be born or to die ) cũng là một cặp ảo tưởng.
Và
chuyện này là mình đang nói về Thiền quán chứ không nói
về chính trị. Có người nói rằng Thầy chống Quốc gia và
chống cả Cộng sản, muốn cho lá cờ này rơi xuống và lá
cờ kia rơi xuống. Tôi bị oan ức nhiều nhưng có cái điều
là tôi không có khổ. Tôi mỉm cười là vì tôi hiểu được
thiên hạ có sự sợ hãi, có sự nghi kỵ. Có cả triệu người
nghi mình là Cộng sản trá hình, có cả triệu người nghi
mình là CIA trá hình nhưng mà mình tỉnh bơ, mình biết mình
đang đi đâu, là ai thành ra đâu cần phải khổ, vì vậy cho
nên những điều người ta nói đó đâu có đụng được tới
tôi, là nhờ tôi có quán chiếu, có tu tập.
Trong
Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, chúng ta sẽ khai mạc vào ngày
mai tại Quốc tự Diệu Đế, tôi sẽ nói ba bài Pháp thoại,
đề tài ba bài Pháp thoại là Người thương của tôi đã
chết, tôi phải đi tìm ở đâu? Tôi có thể làm gì để cho
người thương tôi được nhẹ nhàng và siêu thoát và nếu
quí vị có thì giờ thì xin tới Chùa Diệu Đế. Bài giảng
đầu và bài giảng thứ hai vào lúc 5 giờ rưỡi chiều.
bài pháp thoại thứ ba vào 8 giờ sáng. Cũng một đề tài
đó nếu chúng ta đi liên tiếp ba ngày chúng ta sẽ nghe từ
đầu đến cuối của bài giảng.
Trai
Đàn Chẩn Tế Giải Oan Bình Đẳng có mục đích là đưa chúng
ta về với nhau và công nhận rằng có những khổ đau, những
oan khuất đã xẩy ra trên đất nước và trên dân tộc trong
mấy mươi năm chinh chiến. Chúng ta tới với nhau không phân
biệt Nam, Bắc, trai, gái, già, trẻ, tôn giáo hay là đảng
phái chánh trị. Chúng ta tới với nhau như những ngưòi đồng
bào và chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người đồng
bào xấu số đã tử nạn trong chiến tranh, có những đồng
bào đã chiến đấu và đã chết vẻ vang trong cuộc đời
tranh đấu của họ cho độc lập, tự do, cho đất nước nhưng
cũng có biết bao nhiêu người chết trong tăm tối, trong oan
khổ, trong tủi nhục, có những người đã chết mà hài cốt
chưa tìm ra được, quân nhân cũng như thường dân.
Sở
dĩ chúng ta gọi trai đàn này là Trai Đàn Bình Đẳng là vì
chúng ta muốn cầu nguyện cho tất cả mọi người đồng bào
của chúng ta. Họ có thể là cha, là chồng, là con trai, là
em trai của chúng ta. Họ có thể là mẹ, là vợ, có thể là
em gái, con gái, con dâu của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện là
cầu nguyện cho tất cả mọi người không phân biệt Nam, Bắc,
tôn giáo, chủng tộc, đảng phái chánh trị vì vậy cho nên
trai đàn được gọi là Trai Đàn Bình Đẳng. Chúng ta cũng
sẽ cầu nguyện cho nạn nhân cuộc tàn sát, cá nhân hay là
tập thể, chúng ta sẽ cầu nguyện cho những người vượt
biển đã trở thành nạn nhân của hải tặc và của sóng
gió.
Kỳ
này về nước chúng tôi được phép của Thủ tướng chính
phủ hợp tác với Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tổ
chức những trai đàn như vậy. Giải oan lập một đàn tràng
bên sông, cầu nguyện cho tất cả những người thân của
mình.
Ngày
hôm qua chúng tôi đi thực tập Cổ Phật Khất Thực, tất
cả các Thầy, các Sư cô, tám chín trăm người đã cầu nguyện
bằng từng bước chân của mình, mỗi bước chân là một
lời cầu nguyện, mỗi bước chân là một lời chú nguyện
cho tất cả các đồng bào tử nạn trong cuộc chiến. Chúng
tôi đã đi như thế nào để cho các đồng bào đó có thể
sử dụng hai chân của chúng tôi để đi trên quê hương. Mỗi
bước đã về, mỗi bước đã tới, mỗi hơi thở đã về,
mỗi hơi thở đã tới để cảm thấy rằng những oan khổ
của mình đã dược công nhận và sự chuyển hóa bắt đầu
ngay trong trái tim của người cầu nguyện. Chúng tôi đã hoàn
tất cùng với Giáo Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh
và Giáo Hội Trung Ương Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải
Oan tại Chùa Vĩnh Nghiêm và điều làm tôi cảm động hết
sức là tất cả mọi người tham dự Trai Đàn Chẩn Tế đã
cầu nguyện bằng tất cả trái tim của họ, đã đóng góp
tất cả những gì mình có thể đóng góp để xây dựng nên
Đàn Tràng, để tổ chức cầu nguyện và cả vạn người
tới cầu nguyện trong suốt ba ngày đêm liên tiếp.
Đại
Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan Vĩnh Nghiêm là một Phật
sự vĩ đại, có nhiều đồng bào Công Giáo đã tới cầu
nguyện với người Phật Tử và ai cũng thực tập nghiêm chỉnh
hết lòng. Không ai nghĩ đến sự thành công của tổ chức,
ai cũng để hết tâm tư cầu nguyện với tất cả tình thương
và vì vậy cho nên Trai Đàn Chẩn Tế Vĩnh Nghiêm là một tổ
chức, một hoạt động rất là thánh thiện, rất là thần
thánh. Khi mà có cuộc tranh đấu của đồng bào Phật Tử
cho nhân quyền vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, thì tôi
thấy rằng là cuộc đấu tranh dân quyền đó, rất là thần
thánh, mọi người không ai nghĩ tới thành công của riêng
mình, danh vọng của riêng mình, mọi ngưòi đều tham dự vào
cuộc tranh đấu với một trái tim rất là trong sáng, rất
là thánh thiện thì Trai Đàn Chẩn Tế Vĩnh Nghiêm xảy ra y
hệt như vậy, tôi có thể cảm thấy được tình đồng bào,
tình đồng đạo nó rất là đẹp, của tình huynh đệ nuôi
dưỡng tất cả mọi người qua Phật sự rất là đẹp lúc
đó. Có bao nhiêu người đã khóc trong Trai Đàn Chẩn Tế và
những giọt nước mắt đó đều có khả năng làm lành những
vết thương ở trong lòng lâu nay bị bít lấp bởi những lo
lắng buồn khổ hằng ngày.
Chúng
tôi đã đề nghị là tất cả mọi người gia đình đều
thiết lập bàn thờ linh ở trước hiên nhà trong ba ngày ba
đêm liên tiếp, ngày nào cũng thắp hương, đêm nào cũng thắp
hương, ngày nào cũng cúng cháo, thay cháo mới, thay nước mới
và trong suốt ba ngày ăn chay cho tinh khiết, thực tập phóng
sanh, cứu giúp cho những người nghèo đói bệnh tật, và nhứt
là giữ cho ba nghiệp thanh tịnh, chủ yếu chỉ nói những
điều lành, chỉ làm những điều lành và hồi hướng tất
cả công đức đó để cho các hương linh được chuyển hóa
và được siêu thăng và chúng ta cầu nguyện như là một dân
tộc của cả một nước. Ở miền Nam chúng ta đã làm
được như vậy.
Chúng
tôi nhớ đến buổi đi chiêu linh ở cầu Rạch Chiếc, nơi
đó có những trận đánh rất là lớn và bao nhiêu người
chết, chính tôi đã tới cùng với Ban Kinh Sư để làm lể
chiêu linh tại đó, chúng tôi đã thả xuống dưới sông Rạch
Chiếc một dãi lụa để làm chiếc cầu cho các vong linh đi
lên linh vị và sau khi tuyên điệp, cầu nguyện, thí thực,
chúng tôi kéo các dãi lụa đó lên, tưởng là nó nhẹ, một
người kéo không có lên, hai người kéo cũng không có lên,
ba người kéo cũng không có lên, rốt cuộc phải tám người
mới kéo lên được dãi lụa đó từ dưới nước đi lên,
một điều đó thôi chứng tỏ rằng những oan khổ, những
uất ức mà dân tộc ta đã chịu đựng trong bao nhiêu năm
chiến tranh nó lớn như thế nào.
Hôm
nay chúng ta có cơ hội tới với nhau như những người đồng
bào ruột thịt hướng tâm hồn về hướng đó cầu nguyện
hết lòng cho tất cả các hương linh, cho tất cả các đồng
bào của chúng ta đã bỏ chúng ta mà đi trong cái thời gian
của cuộc chiến, thì đây là một phương pháp tâm lý trị
liệu cho người sống, để người sống có thể chữa lành
được những thương tích đó, những cái oan khổ đó, những
cái bức xúc đó mà không có trao truyền lại cho các thế
hệ sau này. Theo nguyên tắc trị liệu tâm lý thì nếu mình
cứ đè nén những cái đau khổ, những cái oan ức đó xuống
tiềm thức thì nó không bao giờ được chuyển hóa, và có
khi mình hành động, mình nói năng là do những oan khổ, những
bực bội đó nó thúc đẩy. Không biết tại sao mình nói những
câu nặng như vậy, mình có hành động thô bạo như vậy đối
với những người thương. Mình đâu có biết rằng chính những
hành động đó, những lời nói đó phát xuất từ những cái
khổ đau, những bức xúc, những cái oan khổ đang có mặt
ở chiều sâu tâm thức. Và phép thực tập là phải đưa nó
lên trên mặt phẳng của ý thức công nhận, cầu nguyện,
thực tập để chuyển hóa nó.
Như
vậy chúng ta không nên trao truyền những oan khổ đó cho con
cháu, nếu không sau này con cháu sẽ bạo động, sẽ dữ dằn
với những người thương của chúng nó và chúng nó không
hiểu tại sao mà chúng nó hành xử như vậy ? Cho nên chúng
ta không có quyền trao truyền những nỗi khổ niềm đau lại
cho con cháu, chúng ta hãy thực tập ngay bây giờ để, chuyển
hóa nỗi khổ, niềm đau đó trong khi đó chúng ta có làm đuợc
vì vậy cho nên Trai Đàn Chẩn Tế là một cái phương tiện
rất là khoa học để mà chuyển hóa những nỗi khổ, niềm
đau đang có trong mỗi chúng ta và đồng thời chúng ta cũng
cầu nguyện được cho âm siêu dương thái và kết quả của
cầu nguyện này nó không thể lường đuợc.
Đất
nướcchúng ta đang ở trên một vận hội mới, nếu chúng
ta không có chữa lành những thương tích, nếu người Nam không
xích lại gần với người Bắc, người ngoài nước không
xích lại với người trong nước thì chúng ta đánh mất cơ
hội này của dân tộc, và vì vậy sự thực tập để thống
nhất lòng người, để chuyển hóa những cái nghi kỵ, những
cái hận thù đã gây ra trong quá khứ là một phép thực tập
rất là quan trọng và đứng về phương diện hình thức cầu
nguyện cho người chết giải oan nó có như hành động tôn
giáo mê tín nhưng nhìn cho kỹ phương pháp thực tập rất
là khoa học, vì vậy xin mời tất cả liệt vị Tôn đức,
các Thầy, các Sư cô, các vị Phật tử, các vị quan khách
hết lòng thực tập, nếu mình không có tới dự lễ được
ba ngày đó thì mình nên thiết lập bàn thờ linh trước hiên
nhà mình và mình thực tập hết lòng trong khu phố của mình
hay là nơi thôn ấp của mình. Xin nhắc lại Trai Đàn
Chẩn Tế sẽ được khai mạc lúc 5giờ30 sáng mai, chúng ta
sẽ chiêu linh tại địa điểm mà có rất nhiều đồng bào
tử nạn và mỗi ngày chúng ta có một bài pháp thoại ngày
đầu là 5 giờ 30 chiều và ngày chót vào 8 giờ sáng. Xin cám
ơn các vị Tôn đức và chư vị.
----------------------------
Phụ
lục :
Lời
chia sẻ của Cheri Maples
(
Sư cô Đẳng Nghiêm thoát dịch )
Kính
bạch Thầy,
Con
cảm thấy lòng tràn ngập tình thương khi nói tới vị Thầy
mà con trân quí nhất. Con muốn nói là đất nước Việt Nam
đã làm cho con rất là xúc động, có một phụ nữ Việt Nam
đã mời con về nhà ăn cơm, đối với con đây là một biểu
hiện của sự cởi mở, của sự bao dung, của tình thương
rất là lớn của con người Việt Nam, con xin cúi đầu khâm
phục.
Năm
1991, con đến Làng để tham dự khóa tu đầu tiên với Thầy,
với Sư cô Chân Không và các Thầy, các Sư cô. Đó là lần
đầu tiên con tiếp xúc với Pháp Môn tu tập Chánh Niệm và
nó đã làm thay đổi cuộc đời của con. Lúc đó con còn là
nữ cảnh sát viên còn trẻ làm việc được 7 năm. Sau khóa
tu khi mà con trở về sở làm của mình thì con không hiểu
tại sao mọi người rất là dễ thương với con ? Nhưng
sau đó con nhận thấy rằng, với cái năng lượng mới của
con đã làm thay đổi mọi người, và trái tim của con từ
từ mở ra lần nữa. Thay vì dùng cái quyền của mình để
ép buộc người khác, bắt người khác nghe theo, thì con
bắt đầu tìm hiểu về họ, tập nhìn từ cái nhìn của họ.
Và điều quan trọng nhất mà con đã học được là khi mình
được cái quyền lực của cả tiểu bang giao cho mình và được
rất nhiều người hậu thuẩn sau lưng mình thì mình phải
rất là khiêm cung với điều đó. Vì khi người cảnh sát
lạm dụng dùng quyền lực đó khi không cần thiết thì nó
sẽ làm ảnh hưởng đến danh tiếng của người cảnh sát
cho cả nước và cho toàn thế giới.
Có
một điều rất tuyệt vời xảy ra là trong khóa tu có cảnh
sát viên và người dân trong thành phố đó đến thực tập
chung với nhau, sau khóa tu này thì khi mà một người cảnh
sát phải bắt giữ một phạm nhân thì người cảnh sát đó
xá chào những người trong đoàn thể, cộng đồng đó và
con có nói với người cảnh sát làm việc với con là một
khi mà mình xá chào những người phạm nhân coi như là mình
đã về, đã tới rồi đó.
Bây
giờ con thấy điều quan trọng nhất của con là tạo dựng
nên những cộng đồng mà người ta có thể đến làm việc
với nhau và nâng đỡ cho nhau và giữ gìn an ninh trật tự
trong cái khu phố của họ mà không cần đến sự can thiệp
của những người cảnh sát. Như vậy chúng con, những người
cảnh sát khỏi cần phải làm việc nữa.
Và
điều cuối cùng mà con muốn nói là bây giờ việc làm của
con không còn khó nữa, ngày xưa con khổ rất là nhiều với
công việc. Nhưng nhờ với sự thực tập con biết học cách
để tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc, đó là sự có
mặt cho chính con và cho những người khác. Nếu mà con có
sự như lý tác ý ở trong cái tâm của con thì con có thể
làm những điều tốt, những điều đúng mà không cảm thấy
như mình có quyền làm những việc đó.
Tất
cả những điều mà con đã và đang làm được, đó là nhờ
công ơn của vị Thầy và con là một đệ tử rất thành tâm.
Con mang ơn tất cả các Thầy và các Sư cô đã giữ cái nền
tảng căn bản này cho tất cả chúng con. Con rất mang ơn là
được về Việt Nam và có mặt trên đất nước này và con
sẽ mang đất nước của quí vị, đất nước của Thầy đi
bất cứ nơi nào mà con đi và con sẽ thực tập cho tất
cả quí vị và con sẽ thực tập cho tất cả mọi
người trên thế giới này.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Fortune magazine là tạp chí Mỹ, có từ 1930. Tạp chí này nổi
tiếng do bảng xếp hạng hàng năm về 500 công ty Mỹ có lợi
nhuận cao nhất, giàu nhất. Tổ hợp Time Warner, xuất bản
tạp chí này cũng xuất bản tờ Times.
[2]
Fortune 500 – Danh sách những công ty giàu nhất nước Mỹ –
xếp hạng hàng năm – Danh sách 100 lấy từ đây.
[3]
William Clay Ford, Jr. cháu đời thứ 4 (chắt) của ông Henry Ford
– người sang lập công ty xe ô tô Ford.
[4]
Đại úy (bà) Cheri Maples, giám đốc về huấn luyện
và tuyển quân (director of training and recruiting) cho Nha cảnh
sát thành phố Madison, Wis. Vốn là một Phật tử Mỹ (a practicing
Buddhist), sau đó bà đến Làng Mai và đã gia nhập dòng
Tiếp Hiện.