ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
...
QUYỀN LỰC VÀ HẠNH PHÚC

Tháng IV 2007 - Chân Giác Quang & Chân Tịnh Minh phiên tả và biên tập 
Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 1. IV.2007 tại Trung tâm Festival, Huế
Âm thanh MP3 : Phần 1 (20MB)  Phần 2 (17.5MB)

Kính thưa quí vị Tôn Đức, kính thưa các Thầy, các Sư cô, các Phật tử và chư vị quan khách, 

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng xướng tụng bài Tào Khê một dòng biếc và sau đó niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm. Tào Khê là một dòng Thiền đã nuôi dưỡng chúng ta trong bao nhiêu thế kỷ, nó có khả năng trị liệu, nuôi dưỡng đời sống của chúng với tư cách một cá nhân, một gia đình, một cộng đồng, một quốc gia. 

Trong chúng ta có nhiều người đói và khát. Chúng ta Đói Tình Thương, chúng ta Khát Hiểu Biết, và suốt đời có lẽ chúng ta đang đi tìm đã đi tìm hiểu biết và thương yêu. Chúng ta biết rằng Hạnh Phúc chân thực không thể nào có được nếu mà trong trái tim chúng ta không có Hiểu và Thương và có những người trong chúng ta chưa bao giờ từng được hưởng hai cái gia bảo đó, chưa bao giờ cảm thấy mình được Hiểu và mình được Thương.

Tào Khê là một dòng suối, một dòng suối  Tâm Linh, một dòng suối Văn Hóa đã cung cấp cho chúng ta không biết bao nhiêu lần những giọt nước Cam Lồ để chúng ta thỏa mãn được cái đói, cái khát, cái Hiểu và cái Thương của chúng ta. Trong đạo Phật chúng ta nói đến những con quỷ đói, những con ma đói, cái bụng của nó rất lớn và cổ họng của nó rất nhỏ bằng một cái kim và cái đói nó kéo dài, đói này là đói Hiểu và đói Thương. Khi một giọt nước Cam Lồ của Tào Khê rót vào trong cổ họng thì cổ họng nhỏ bé bằng cây kim đó lấy lại được hình dáng trước kia của nó, cái tầm cỡ trước kia của nó và nó bắt đầu có khả năng tiếp nhận được cái Hiểu và cái Thương. 

Nhiều khi chúng ta được hiến dâng cái Hiểu và cái Thương nhưng chúng ta không có khả năng tiếp nhận được cái Hiểu và cái Thương đó. Chúng ta là những đứa con, cha mẹ đã và đang hiến tặng cho chúng ta rất nhiều Hiểu và Thương nhưng chúng ta vì giận hờn, vì tri giác sai lầm chúng ta hờn oán cha mẹ, vì vậy chúng ta không có khả năng tiếp nhận cái tình thương và cái hiểu biết của cha mẹ và suốt đời sẽ oán trách cha mẹ. Nhưng mà nếu chúng ta có một giọt nước Cam Lồ của Tào khê thì chúng ta sẽ có khả năng đó. 

Tào Khê một dòng biếc 
Chảy mãi về phương Đông

Chắc quí vị cũng biết rằng Thiền Tào Khê bắt đầu từ Lục Tổ Huệ Năng và trong Việt Nam cũng có một bài nói Tào Khê:

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

Tào Khê  dòng Thiền đó là gia sản văn hóa Việt Nam và nếu chúng ta biết bảo quản, khai thác thì dòng Thiền đó có thể cung cấp cho chúng ta những giọt nước Cam Lồ, khiến cho đứa con có thể hiểu được Cha, có thể hiểu được Mẹ, truyền thông lại được với Cha Mẹ và đem lại hạnh phúc trong gia đình. Nếu chúng ta có một giọt nước của dòng Tào Khê, chồng có thể nói chuyện được với vợ bằng ngôn từ hòa ái và vợ hiểu được những khó khăn, những bức xúc, những lo lắng của chồng.

Trong đời sống chúng ta mỗi người cần phải có một chiều hướng Tâm Linh, chúng ta là nhà Chính trị, chúng ta là nhà Văn Hóa, chúng ta là nhà Doanh thương, chúng ta là nhà Giáo dục, chúng ta là người Cha, người Mẹ, chúng ta là một Công Dân. Chúng ta cần phải có một chiều hướng Tâm Linh trong đời sống hàng ngày của chúng ta, có chiều hướng Tâm Linh đó rồi chúng ta sẽ  có khả năng tháo gỡ những khó khăn, những bức xúc, những buồn tủi, những giận hờn để chúng ta có khả năng tái lập lại truyền thông với những người trong gia đình, trong cộng đồng, trong xã hội.

Tào Khê một dòng biếc 
Chảy mãi về phương Đông
Quan Âm bình nước Tịnh
Tẩy sạch dấu phong trần. 

Đức Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho khả năng Hiểu và Thương, tại vì vị Bồ Tát này thực tập lắng nghe với tâm Từ Bi và sử dụng Ái Ngữ giúp cho người khác có thể hiểu được mình và hiểu được người đối diện. Chữ Quan Thế Âm có nghĩa là lắng nghe tiếng nói đau thương để mà tìm tới và giúp đỡ. 

Quan Âm bình Nước Tịnh 
Tẩy sạch dấu phong trần 

Trong cuộc đời chúng ta có nhiều bụi bậm, có những đau khổ, có những khó khăn và bình nước Cam Lồ của Quan Thế Âm có thể rửa sạch tất cả những dấu vết đau buồn, oán khổ cuả quá khứ. 

Cành dương rưới Cam Lộ 
Làm sống dậy mùa Xuân, 

Chúng ta có thể nghĩ rằng mùa Xuân đã mất rồi, bây giờ chúng ta chỉ có mùa Đông lạnh lẽo. Cái vườn xanh tươi không còn nữa chỉ còn những cây khô héo đã chết nhưng có giọt nước Quan Thế Âm của bình Cam Lồ, giọt nước Tào Khê có thể làm sống dậy một mùa Xuân. Khi nào mà cái Hiểu và cái Thương nó được tái sinh thì chúng ta có hạnh phúc trở lại, là có một mùa Xuân trở lại.

Tào Khê một dòng biếc 
Chảy mãi về phương Đông
Quan Âm bình nước tịnh 
Tẩy sạch dấu phong trần 
Cành dương rưới Cam Lộ
Làm sống dậy mùa Xuân 
Đề hồ trong cổ họng 
Làm lắng dịu muôn lòng. 

Khi cái cổ họng ta bỏng cháy có một giọt nước Cam lồ đề hồ thì chúng ta thấy lắng dịu lại Thân Tâm, chúng ta biết rằng Hạnh Phúc là điều có thực. Avalokitesvara là tên của Đức Quan Thế Âm, Avalokita có nghĩa là nhìn cho sâu, nhìn cho sâu, lắng nghe cho kỹ, lắng nghe cho sâu. Esvara có nghĩa là tự do tự tại, nhờ quán chiếu, nhờ nhìn sâu mà mình đạt tới tự do  và không có hạnh phúc nào mà không có thiết lập trên tự do, khi chúng ta hệ lụy, chúng ta ràng buộc khi chúng ta đánh mất tự do thì chúng ta không còn hạnh phúc nữa cho nên tự do là nền tảng của hạnh phúc mà tự do đó chúng ta đạt được là do quán chiếu chúng và khám phá sự thật cho nên goi là Avalokita quán chiếu, Esvara là trở thành con người tự do. Bằng tự do, bằng thực tập quán chiếu lắng nghe. Khi các Thầy, các Sư cô xướng tụng bài này, chúng ta có thể tham dự vào bài thực tập, chúng ta không cần xướng tụng theo, chúng ta chỉ cần ngồi cho thật thoải mái, buông thư tất cả các bắp thịt ở trong cơ thể và chúng ta để ý đến hơi thở, chúng ta mở lòng ra, nếu chúng ta có những đau nhức, những căng thẳng trong cơ thể chúng ta để những năng lượng đó đi vào mà chuyển hóa những đau nhức và những căng thẳng đó trong Thân. Và nếu có những căng thẳng và đau nhức trong Tâm, nỗi lo hoặc cơn giận hay  những niềm đau thì chúng ta cũng có thể mở trái tim ra để cho năng lượng Đức Bồ Tát và Tăng Thân đi vào ôm ấp và chuyển hóa như những năng lượng của chư Phật trong ta. Chỉ cần thực tập 5 phút, chúng ta sẽ thấy những đau nhức trong Tâm chuyển hóa và ta sẽ thấy nhẹ nhàng hơn. Chúng ta có người thân đang bị bịnh khổ, đang trong tình trạng lo lắng và tuyệt vọng không thể tới hôm nay, chúng ta cũng có thể gởi năng lượng này về cho người đó bằng cách nghĩ tới người đó hay gọi thầm tên người đó thì năng lượng của Đức Quan Thế Âm và Tăng Thân sẽ chuyển về ngay trong giờ phút này và người đó ở nhà sẽ thấy bớt khổ.

Tào Khê một dòng biếc
Chảy mãi về phương Đông
Quan Âm bình nước tịnh
Tẩy sạch dấu phong trần
Cành Dương rưới Cam Lộ
Làm sống dậy mùa Xuân
Đề hồ trong cổ họng
Làm lắng dịu muôn lòng
Nam mô Bồ tát Cam lộ vị
 
 

Tiền bạc, Danh vọng, Quyền hành và Sắc dục.

Kính thưa liệt vị,
Chúng ta ai cũng có quyền lực, ai cũng có quyền hành, ai cũng có quyền uy, nhưng mà cái cách chúng ta sử dụng quyền lực của chúng ta  khác nhau. 

Chúng ta là người Cha, chúng ta có quyền của người Cha, nếu chúng ta không biết sử dụng quyền của Cha thì chúng ta sẽ gây đau khổ cho người con và đau khổ luôn cho người cha tức là cho chính chúng ta. 

Chúng ta là môt bậc Thầy, chúng ta có quyền của một vị Thầy nhưng mà nếu chúng ta lạm dụng quyền làm Thầy, nếu chúng ta sử dụng sai lầm cái quyền làm Thầy của mình thì chúng ta sẽ gây đau khổ cho người đệ tử, cho người học trò và do đó gây đau khổ cho chính chúng ta. 

Chúng ta là một vị Giám Đốc một doanh nghiệp, chúng ta có quyền lực và quyền hành và cái cách chúng ta sử dụng quyền lực và quyền hành của chúng ta nó có thể gây đau khổ trong cái doanh nghiệp chúng ta và cho chính chúng ta. 

Chúng ta là một vị Tổng thống, một vị Quốc Truởng, một vị Chủ tịch nước, chúng ta có quyền hành, chúng ta là một vị Tổng bí thư, chúng ta có quyền hành và nếu chúng ta không biết sử dụng quyền hành đó đúng cách, chúng ta cũng gây đau khổ cho chính bản thân và cho rất nhiều người khác. 

Thường thường chúng ta nghĩ rằng, càng nhiều quyền uy, càng có  nhiều quyền lực thì càng có nhiều hạnh phúc, điều này không có chắc. 

Hoa kỳ là một siêu cường có rất nhiều quyền lực, có những quân đội rất là lớn, rất là đông, rất là mạnh, có vũ khí  tối tân, có nền kinh tế đứng đầu. Khi mình làm Tổng thống Hoa Kỳ  thì mình có nhiều quyền lực và biết bao nhiêu người thanh niên Mỹ đang mơ ước trở thành Tổng thống Mỹ. Nhưng nếu chúng ta có thì giờ để  nhìn vào đời sống của Tổng thống Hoa Kỳ như là Tổng thống Bush chẳng hạn, chúng ta có thể thấy được tầm mức hạnh phúc của một người như ông. Theo tôi thì một người như Tổng thống Bush là một người có rất nhiều đau khổ, có rất nhiều tuyệt vọng, có rất nhiều khó khăn, có rất nhiều bức xúc, có rất nhiều lo lắng. Chúng ta có rất nhiều người nghèo trong nước của chúng ta nhưng họ có thể ngủ ngon được sau một ngày làm việc nặng nhọc nhưng tôi không thể nghĩ rằng Tổng thống Busch có thể  ngủ ngon được. 

Chúng ta hãy nói đến chiến tranh Iraq và Tổng thống Mỹ điên đầu vì cuộc chiến này, ban đầu mình nghĩ mình có quyền lực rất lớn, mình có thể giải quyết được vấn đề Iraq theo ý muốn của mình và sau đó bị kẹt vào trong tình trạng Iraq, bây giờ đi tới cũng không được, mà đi lui cũng không được. Làm sao có hạnh phúc được khi biết rằng những người trai trẻ trong nước mình mỗi ngày đang chết ở bên đó, tình trạng càng ngày càng xấu ở bên đó và mình đang tạo ra sự chết chóc của những người dân Iraq thuộc về các Đảng phái khác nhau, đang chết mỗi ngày. Và vì vậy tôi không có tin là Tổng thống Bush có thể ngủ ngon được. Triết gia Pháp Jean-Jacques Rousseau  có nói rằng, một người mà có quyền lực nhiều nhứt trên thế giới và ngưòi đó vẫn cảm thấy bất lực, thỉnh thoảng người đó cảm thấy quyền lực của mình không đủ để làm chủ và làm theo ý muốn của mình. Mà nếu quyền lực của một người như Tổng thống Bush chưa đủ để có hạnh phúc thì quyền lực bằng năm mươi phần trăm của quyền lực đó hay ba mươi phần trăm của quyền lực đó làm sao có hạnh phúc được. 

Chúng ta là một nhân viên Cảnh sát, một người Công An, chúng ta cũng có quyền lực của chúng ta và khi mà chúng ta không biết sử dụng cái quyền lực của một người Cảnh sát thì chúng ta làm đau khổ những người khác và chúng ta làm đau khổ cho chính mình. Hầu hết chúng ta đều biết rằng nếu mà lạm dụng quyền lực thì đau khổ cho bản thân và cho những người khác. 

Tuy vậy, một số rất đông trong chúng ta nghĩ rằng hễ có quyền nhiều là có hạnh phúc nhiều và quyền lực đó không hẳn là quyền lực chánh trị hay là quyền lực của một vị Giám đốc của một công nghiệp lớn. Khi chúng ta có rất nhiều tiền thì chúng ta có nhiều quyền, khi chúng ta có nhiều danh thì chúng ta cũng có nhiều quyền và vì vậy cho nên bốn cái đó có dính líu tới nhau. 

Tiền bạc, Danh vọng và Quyền hành, thêm vào một cái nữa là Sắc dục, khi nào có quyền hành  nhiều thì sẽ có sắc dục nhiều, bốn cái đó ít nhiều làm cho bao chúng ta điên đảo. Sắc Dục, Tiền Bạc, Tiếng Tăm và Quyền Hành. 

Trong thời gian cư trú và giảng dạy đạo Phật ở Tây phương, chúng tôi có cơ hội gặp nhiều người có quyền hành, rất nhiều tiền bạc, rất nhiều danh vọng, nhưng chúng tôi đã  khám phá rằng trong giới những người đó có những người cực kỳ khổ đau. Và chúng ta có thể đi đến kết luận là dầu chúng ta có đầy đủ bốn cái -Tiền bạc, Danh vọng, Quyền hành và Sắc dục- đó thì chúng ta cũng có thể khổ đau một cách là  da diết như thường. 
 
 

Đoạn Đức, Trí Đức, và Ân Đức

Trong khi đó thì trong đời sống tâm linh chúng ta cũng đi tìm một thứ quyền lực và thứ quyền lực trong nếp sống tâm linh nó không tạo ra đau khổ cho mình hay cho người khác, trái lại nó có thể ban phát rất nhiều hạnh phúc cho chính mình và cho người khác. Chúng ta hãy dùng danh từ Đạo Đức, Đạo là con đường, mỗi người trong chúng ta phải có một con đường đi, một con đường lý tưởng, một con đường tinh thần, một con đường tâm linh, với con đường đó chúng ta có thể chế tác ra cái quyền lực tinh thần gọi là Đức, chữ Đức có thể dịch là Vertu, là cái quyền năng tâm linh. 

Trong truyền thống đạo Phật, chúng ta nói đến ba thứ Quyền Uy Tâm Linh, đó là ba cái Đức.

- Loại Đức thứ nhất gọi là Đoạn Đức, đoạn có nghĩa là chặt đứt. Người nào tu tập, biết được con đường tu tập thì có khả năng chặt đứt những cái thèm khát, những cái hận thù, những cái si mê của mình, tại vì hận thù, thèm khát, si mê đem đến rất nhiều đau khổ, nó là địa ngục ngay trong trái tim của mình và vì vậy cho nên có con đường tâm linh để đi tới khả năng chặt đứt những thèm khát đó, những hờn oán đó, và những si mê đó, thì đó là cái quyền lực rất lớn, nó đem lại cho người thực tập nhiều hạnh phúc và nó làm cho người chung quanh có  rất nhiều hạnh phúc, cái đó gọi là đoạn đức, đoạn đức tức là cái khả năng có thể cắt đứt được gốc rễ của khổ đau mà chúng ta có thể gọi được những cái gốc rễ đó bằng tên thật của nó là những cái thèm khát, những cái đam mê, những cái oán thù, oán hận và những cái si mê.

- Quyền uy tâm linh thứ hai là Trí Đức tức là có trí tuệ, đi theo con đường tâm linh đó, thực tập thì mình có trí tuệ, trong đạo Phật gọi là Prajna tức là Bát Nhã, là một thứ tuệ giác có khả năng giúp mình tháo gỡ được những bức xúc, những mâu thuẩn, những xung đột, những tuyệt vọng trong nội tâm của mình, nhung đây không phải là thứ ân huệ được ban xuống từ một đấng thần linh mà là do công phu thực tập của mình. Trí đức không phải là sự chất chứa những điều mình học hỏi trong kinh, trong sách, sách triết học, sách tôn giáo, sách khoa học, những kiến thức đó không phải là tuệ giác và có khi những kiến thức đó có thể ngăn cản tuệ giác. Tuệ giác là một cái thấy sâu sắc vào trong lòng thực tại, nó có khả năng giúp mình tháo gỡ tất cả những cái bức xúc, những cái oán hờn, những cái mâu thuẩn, những cái khổ đau trong chính bản thân và giúp tháo gỡ những cái đó ở nơi người khác, trước hết là người mình thương. Khi mà mình có trí đức thì những vấn đề kia đối với mình nó rất là dễ , nhưng mà người kia đi vòng ba năm, năm năm, mười năm vẫn chưa đi ra khỏi được mà người đó tới với mình, mình gở một cái người đó thoát liền lập tức. Trí Đức là cái quyền lực vô song, nó giải phóng mình được ra khỏi những cái phiền não, những cái tuyệt vọng, những cái bức xúc, những cái mâu thuẫn trong nội tâm và nó giúp mình, giúp những người khác làm đươc như vậy.

- Đức thứ ba gọi là Ân Đức, Ân Đức nghĩa là cái quyền lực giúp mình có thể tha thứ, có thể chấp nhận và có thể thương yêu. Thường thường mình chỉ thương những người dễ thương và mình muốn trừng phạt những người không dễ thương. Với Ân Đức thì mình không những thương được người dễ thương và mình có khả năng thương được người khó thương và thương được người rất là dễ ghét. Những người tội phạm, những người gọi là kẻ thù, mình cũng thương được và muốn cho họ chuyển hóa, được hạnh phúc và không hề có  tâm niệm muốn trừng phạt, muốn làm cho họ khổ, cái đó gọi là Ân Đức.

Thỉnh thoảng ta thấy ta một vị chân tu thực hiện được ba cái Đức đó. Vị đó không cần phải làm gì nhiều, sự có mặt của vị đó trong một Tỉnh làm cho Tỉnh đó đẹp, sự có mặt của một vị đó trong một gia đình làm cho gia đình đó có hạnh phúc. Mục đích của sự tu học, của sự thực tập là để đạt tới ba cái Đức đó là Đoạn Đức, Trí Đức và Ân Đức. 

Tôi đã từng quán sát và tôi thấy rằng người nào có khả năng buông bỏ, có khả năng quán chiếu, có khả năng tha thứ và thương yêu là những người hạnh phúc nhất, là những người có khả năng làm hạnh phúc cho rất nhiều người chung quanh. 

Khi mình đã có được ba cái loại quyền uy đó, quyền lực đó thì những quyền lực khác như tiền tài, danh vọng nó trở thành những lợi khí rất là mầu nhiệm, có thể giúp dân, giúp nước được. Nhưng mà nếu không có ba cái Đức này của đời sống tâm linh thì những quyền lực kia, những danh vọng kia, sự giàu có kia nó có thể gây ra đau khổ rất là lớn.

Đạo Phật không có lên án những người làm giàu, đạo Phật không chống báng những chuyện làm cho nước giàu, dân mạnh. Nhưng mà đạo Phật nói là phải có một chiều hướng tâm linh để cho cái quyền lực, cái danh vọng và cái tiền tài kia được dùng, được sử dụng vào những mục tiêu tốt đẹp, có thể làm dịu xuống, làm vơi bớt những nỗi khổ niềm đau ở trong xã hội.

Có nhà doanh thương Đức tên là Federick, ông là nhà doanh thương trẻ, rất có tài, ông thành công khá nhiều trong sự nghiệp doanh thương của ông và bà vợ tên là Claudia cũng có hạnh phúc và rất yểm trợ cho chồng. Lúc ban đầu thì hai người có rất nhiều hạnh phúc, hai người chia sẻ giấc mơ của một sự thành công trong doanh nghiệp và biết rằng sau này nếu mình làm giàu được, mình sẽ có nhà cao cửa rộng, có xe đẹp, mình sẽ có một cuộc sống rất là hạnh phúc. Lúc ban đầu Claudia, phu nhân của Federick rất tự hào được tổ chức những buổi tiếp tân cho chồng, rất tự hào về sự thành công của chồng trong lãnh vực doanh nghiệp. Nhưng mà từ từ cái doanh nghiệp của Federick trở thành nhà độc tài, nó chiếm tất cả thì giờ, nó chiếm tất cả năng lượng của Federick. Federick ngày đêm chỉ nghĩ tới doanh nghiệp, chỉ nghĩ tới sự thành công của mình mà thôi và vì vậy cho nên bắt đầu không có thì giờ cho chính mình, cho người vợ và hai đứa con. 

Là một nhà doanh thương thế nào mình cũng nghĩ đến sự thành công và mình chú tâm tới sự thành công đó và ngày đêm mình suy nghĩ thế nào để cho mình thành công. Vì vậy cho nên cái doanh nghiệp của mình trở thành nhà độc tài, nó muốn chiếm hữu hoàn toàn con người của mình, nó muốn tất cả thì giờ và năng lực của mình để dành cho nó. Nếu quí vị từng là một nhà doanh thương, quí vị hiểu điều này hơn ai hết. Mình không có mặt cho chính mình, mình có những đau nhức, những căng thẳng trong tâm, mình không có khả năng, không có thì giờ bảo quản và chăm sóc cái thân của mình và như vậy mình làm gì có thì giờ để chăm sóc và thương yêu những người trong gia đình của mình. 

Và vì vậy Claudia ngày càng thấy cô đơn, ban đầu bà nghĩ là những công việc xã hội sẽ làm cho bà bớt buồn và bà sẽ có được niềm vui trong công tác làm việc xã hội. Về sau bà ghi tên học ở các trường Đại học để lấy thêm một bằng Tiến sĩ nữa, bà học ngành tâm lý trị liệu và trở thành nhà tâm lý trị liệu. Cái mục đích là để quên đi những thì giờ trống vắng không có chồng bên cạnh, nhưng tất cả những cái đó đều không lấy đi được sự cô đơn, buồn tủi vì chồng bà không có mặt cho bà và cho hai con. Ngày mà đứa con trai Phillip đi nhà thương để mổ tim, các bác sĩ mổ tới 7 tiếng đồng hồ và Claudia phải ở với đứa con trai 7 giờ đồng hồ mà Federick không có thì giờ để tạt qua nhà thương thăm con một chút. Federick bận cho đến nỗi là khi Claudia bị mổ cái bướu mà Federick cũng không có về đuợc. Người chồng đang chạy theo sự thành công, chạy theo quyền lực và nghĩ rằng nếu có được quyền lực đó thì sẽ có được hạnh phúc lớn. Claudia có những đêm khóc thầm, có những đêm khóc với Federick, anh không có thì giờ cho chúng ta, anh không có thì giờ cho con, chừng nào anh mới có thể dành thì giờ cho em và cho các con? Federick nói rằng, trong doanh nghiệp chưa có người nào có thể thay anh ta được và nếu mà anh ráng thì trong ba năm, anh sẽ tìm ra được người thay thế thì anh sẽ có thì giờ cho em và cho các con. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, lời hứa đó chưa kịp thực hiện thì Federick bị tai nạn xe hơi và chết năm anh 51 tuổi và giấc mơ đó chưa bao giờ thành, không bao giờ thành, sẽ không bao giờ thành, cái giấc mơ có thì giờ để sống thoải mái với vợ và các con. Quí vị có biết gì không, trong vòng ba hôm người ta tìm được vị giám đốc mới khác thay thế chỗ của Federick. Claudia đã ghi tên tham dự một khóa tu ở Làng Mai và Claudia đã kể lại câu chuyện đó cho chúng tôi nghe. 

Chúng tôi có tổ chức khóa tu dành cho giới doanh thương, trước đó tôi phải đọc một ít tài liệu để biết về nỗi khổ niềm đau, sự lo lắng của các nhà doanh thương. Khóa tu đó được tổ chức tại Làng Mai ở Pháp,  các nhà doanh thương từ Mỹ châu, Âu châu, Úc châu tới tham dự rất là đông. Và họ đã học được pháp môn để có thể dừng lại, để có thể đừng sa vào, đừng đi vào những vết chân của Federick.

Đạo Phật không có chống lại sự làm giàu, đạo Phật không có chống lại sự thành công nhưng đạo Phật nói với chúng ta là Quyền lực, Danh vọng và Tiền tài không đủ để có hạnh phúc chân thật, phải có một chiều hướng tâm linh, phải chế tác Đoạn Đức, phải chế tác Trí Đức, phải chế tác Ân Đức. 

Bên Mỹ có tờ báo của giới doanh thương tên là Fortune [1] (Cơ nghiệp). Mỗi năm tờ báo này nó làm ra một danh sách các doanh nghiệp đứng hàng đầu, để hướng dẫn cho người ta đầu tư và đi theo nó. Mỗi năm nó có một danh sách 100 doanh nghiệp [2] đứng đầu. Khi mình nghiên cứu cái bản chất của 100 doanh nghiệp đó thì mình thấy có những điểm giống nhau trong cả 100 doanh nghiệp. Là trong các doanh nghiệp đó, họ thực tập ba cái mà mình thấy trong đạo Phật có nói tới là Đoạn Đức, Trí Đức và Ân Đức. Họ nghĩ tới vấn đề chăm sóc trẻ em của công nhân, họ nghĩ tới công việc chăm sóc bệnh tật, những ngày nghỉ mát cho công nhân. Khi công nhân có những tai nạn, có những bệnh tật, có những khó khăn thì có cơ quan có những quy chế có thể giúp được cho công nhân. Khi công nhân có những khó khăn về tinh thần được những nhà tâm lý trị liệu tới chăm sóc. Nói tóm lại, cái nét chung của 100 doanh nghiệp lớn đó là có tình thương, có sự ưu ái đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, và doanh nghiệp nó biến thành một cộng đồng, thành một gia đình. 

Khi mà có khả năng đoạn trừ các tham vọng, hiểu và biết được những bức xúc, những khó khăn của những người trong cùng doanh nghiệp, có khả năng chấp nhận tha thứ và thương yêu thì mình biến doanh nghiệp đó thành cái cộng đồng, thành cái gia đình. Khi đó cái doanh nghiệp đó trở nên lớn  mạnh và lợi nhuận không có giảm đi mà nó càng ngày càng tăng. 

Kết luận là khi quyền lực tâm linh đi chung với quyền lực thế gian thì mình có sự thành công trong lãnh vực chính trị cũng như là trong lãnh vực thương mãi.

Chúng ta có những ông Vua Dầu hỏa, chúng ta có những ông vua Điện ảnh, chúng ta có những ông vua Xe hơi, và nếu chúng ta lắng nghe họ chúng ta thấy được những nỗi khổ niềm đau của họ và chúng ta biết rắng họ khao khát tình thương, họ rất khao khát sự hiểu biết. Phần lớn những người trong các giới đó đều là những người cô đơn, đều là những người không có bạn. Những người tới với họ, họ đều nghi ngờ rằng những người tới với mình đều là những người muốn lợi dụng mình chớ không phải là bạn thật. 

Giám đốc hãng xe hơi Ford, tức là William Ford [3]có tới tu viện chúng tôi để tu 48 giờ đồng hồ, ông là thế hệ thứ tư của gia đình Ford, ông có chi nhánh ở tại Việt Nam. Ông tới  để tập ngồi thiền, tập đi thiền hành, tập để thở, tập ôm ấp và làm cho lắng dịu những căng thẳng trong thân và trong tâm, những căng thẳng, những đau nhức đó có những rất nhiều  lo lắng, rất nhiều sợ hãi. Tôi có tặng cho ông ta một cái chuông nhỏ, tôi nói mỗi ngày thỉnh cái chuông này và thở nhiều lần để làm lắng dịu thân tâm và ông đã kể cho tôi biết bao nhiêu chuyện về những nhà tỷ phú ở bên Mỹ những khổ đau da diết của họ, những cô đơn, những cái sợ hãi của họ.

Chúng tôi có một tu viện ở tiểu bang Vermont miền Đông Bắc nước Mỹ gọi là tu viện Rừng Phong. Và tu viện Rừng Phong đã giúp lập nên những trung tâm thực tập Thiền cho những tiểu bang gần đó. Trung tâm Thực Tập Chánh Niệm Mindfulness Practice Center và chúng tôi trình bày lối thực tập nó không có tính cách tôn giáo, trong tu tập đó không có tượng Phật, không có đốt hương, không có cúng lạy. Người ta tới đó chỉ để thực tập ngồi, ngồi như thế nào cho nó khỏe, cho nó lắng dịu thân tâm. Thực tập đi, đi như thế nào để cho thảnh thơi, an lạc. Thực tập thở, thực tập ăn cơm, ăn cơm như thế nào để khi ăn cơm có hạnh phúc. Ăn là một sự thực tập, có nhiều người ăn mà suy nghĩ những chuyện khác, ăn hấp tấp và không có hạnh phúc trong khi ăn. Những người đến đó để học thở, học mỉm cười, học thư giãn, học buông thư, học uống trà, học đi, học ngồi. Và chúng tôi muốn trình bày, muốn cống hiến sự thực tập trong đạo Phật với cái dạng không tôn giáo để cho mọi người tới thực tập mà không có cảm tưởng mình bị dụ vào trong tôn giáo mới.

Bửa đó bên bờ sông có một ông già, ông đang ngồi đọc cuốn sách đã nhàu nát, một người đệ tử Hoa kỳ của tôi đi ngang qua thấy ông già này thấy tội nghiệp quá, ghé lại ngồi một bên thì thấy ông đang đọc cuốn sách  Peace is every step, An Lạc Từng Bước Chân của Thầy Nhất Hạnh, Thầy của mình thì cô ta có cảm tình liền với ông vì ông đang đọc sách của Thầy mình, thấy ông ta có vẻ cô đơn, lủi thủi một mình cho nên cô mới nói, nè bác, gần đây chỉ có 7 cây số thôi có Trung tâm Thực Tập Chánh Niệm, do chúng tôi, đệ tử của Thầy lập ra, nếu bác muốn thực tập thì mời bác tới thực tập với chúng tôi ? Ông già cảm ơn và tiếp tục đọc sách. Cô đệ tử người Mỹ đó nghĩ rằng ông già này không có xe hơi, thành ra cô mới nói, nè bác cho con địa chỉ, chừng nào có dịp sinh hoạt, con sẽ tới nhà bác chở bác đi ? Và ông già móc túi ra lấy card visit của mình và trên card visit đề tên  Rockefeller Laurence, nhà tỷ phú số một ở New York. 
 
 

Bảo vệ và phụng sự -  Căng thẳng và sợ hãi

Cách đây gần 14 năm, tháng 10 năm 1993, chúng tôi có tổ chức một khóa tu dành riêng cho những người có phận sự giữ an ninh trong xã hội, trước hết là những nhân viên cảnh sát rồi tới các vị quan tòa, các ban giám đốc các nhà tù. Chúng tôi có nhiều khó khăn lắm khi mà tổ chức các khóa tu đó, khóa tu đó có chủ đề là bảo vệ và phụng sự mà không có sự căng thẳng và sự sợ hãi ( Protecting and serving without stress or fear)  - Bảo hộ an ninh và phụng sự xã hội mà không có căng thẳng và sợ hãi  - Khóa tu đó chỉ dành cho các vị cảnh sát, các vị quan tòa, các vị chưởng khế, các luật gia và những người cai tù, những người trong ban gíám đốc các trại cải tạo. Người đứng ra giúp chúng tôi tổ chức là Đại úy cảnh sát viên tên là Cheri Maples [4] và bà này đã được dự khóa tu vào năm 1991. Phận sự của bà là đào tạo và huấn luyện nhân viên cảnh sát. Bà có nghe câu nói là mình có thể ôm súng, mình có thể cầm súng với chánh niệm và vì vậy bà ghi tên trong khóa tu. Và trong khóa tu bà khám phá ra được rằng tu tập chánh niệm nó đem tới cho bà một thứ quyền lực mới mà bà không có khi bà làm nhân viên cảnh sát. Khóa tu này được tổ chức tại  Madison tại tiểu bang Wisconsin. Chúng tôi gặp nhiều khó khăn là vì có nhiều người viết thư phản đối, là tại sao trộn lẫn tôn giáo vào trong chính quyền ? Chúng tôi mới thanh minh là cái này không phải tôn giáo. Những người nhân viên cảnh sát, những ông tòa, những người cai tù đến đây để học thở, học mỉm cười, học thư giản, học đi, học ngồi như thế nào để buông bỏ căng thẳng, đau nhức trong thân, trong tâm, để đừng có sợ hãi, để có khả năng truyền thông lại  với những  người đồng nghiệp và những người trong gia đình, hoàn toàn không có tính cách tôn giáo, sẽ không có tượng Phật, sẽ không có đốt nhang, sẽ không có tụng kinh, sẽ không có lễ lạy và rốt cuộc chúng tôi tổ chức được khóa tu đó ở tại Greenlake Madison Wisconsin và Cheri Maples vị thiền sinh cảnh sát đó đã hết lòng tổ chức. Khóa tu rất là khó nhưng mà thành công viên mãn. 

Các vị biết không những nhân viên cảnh sát bên Mỹ sống cuộc sống rất là căng thẳng, nhiều khi họ không biết dùng quyền lực của người cảnh sát, họ dùng quyền lực đó với vợ con, như vậy hư hết, mình đi ra ngoài với bộ đồng phục, họ ngán mình, ghét mình nhưng cũng sợ mình, rồi mình quen, mình về nhà, mình cũng ra oai như ở ngoài, rồi mình dùng quyền lực đó với vợ con mình, hư hết. Quí vị có biết rằng số lượng những người cảnh sát Mỹ dùng súng của mình để tự sát nó nhiều hơn số lượng những người cảnh sát bị những người trong băng đảng bắn, những người tội phạm họ bắn cảnh sát chết, số người chết vì những người đó ít hơn số những ngưòi cảnh sát tự dùng súng mình để tự tử và vì vậy cho nên cảnh sát đó, những người cai tù đó, những luật gia đó có rất nhiều căng thẳng,  nhiều khổ đau, họ cần tới những giọt nước Cam Lồ của dòng suối Tào Khê.

Sau khi đã tổ chức thành công khóa tu ở tại Wisconsin, người cảnh sát đó đã được mời đi tổ chức những ngày thực tập chánh niệm tại các trung tâm cảnh sát khác. Và từ đó tới bây giờ đã tổ chức 400 khóa tu cuối tuần hoặc là ngày chánh niệm cho giới cảnh sát ở trong nước. Hiện bây giờ Cheri Maples chịu trách nhiệm về tất cả các cảnh sát viên đang chăm sóc cho những người đang bảo quản và những người đang phóng thích với sự giám sát trong toàn bang Wisconsin. Cheri Maples đã thọ tam quy ngũ giới và 14 giới Tiếp Hiện, tuy rằng chưa được truyền đăng làm giáo thọ nhưng mà đã có khả năng tổ chức, giảng dạy, hướng dẫn thực tập cho giới cảnh sát, không những trong tiểu bang Wisconsin mà còn trong các tiểu bang khác ở Hoa Kỳ. Cheri Maples biết là có một tiểu bang đứng sau lưng mình mình và cho mình quyền lực rất lớn, nhưng Cheri Maples biết sử dụng quyền lực của mình rất là đúng phép, khi gặp một người làm bậy thì Cheri  sẽ không nói rằng anh làm bậy, anh sẽ bị bỏ tù. Cheri nói, rủi cho anh quá, tôi cảm thấy rủi cho anh quá, ngày xưa tôi cũng có làm những lầm lỗi như vậy, nó làm cho tôi đau khổ và tôi thoát khỏi được nhờ sự thực tập và mong rằng anh cũng làm được như tôi. Cheri có thể nói được những lời dễ thương như vậy, trong đạo Phật gọi là Ái ngữ thay vì dùng lời dọa dẫm, dùng quyền lực của mình. Ông thị trưởng của thành phố Madison đã tặng một văn phòng khá lớn ở tại Tòa Thị sảnh khá lớn để  Cheri huấn luyện thiền sinh. Cheri đã thành lập tăng thân, một đoàn thể tu tập, tuần nào cũng tới thực tập và hướng dẫn thực tập không những cho những người cảnh sát mà còn cho dân chúng trong vùng. 

Bộ trưởng bộ tư pháp của tiểu bang Wisconsin mời Cheri Maples [5] tới và yêu cầu Cheri làm việc chung với tất cả các nghành cảnh sát trong tiểu bang, tại vì Cheri có bằng cấp tiến sĩ luật. Cheri đã quy y Phật, đã giữ năm giới, đã thực tập rất giỏi, đã giúp Thầy truyền bá phương pháp thực tập Thiền quán để giúp người ta tháo gỡ những đau nhức, những căng thẳng trong thân, trong tâm. Giúp người ta tái lập lại truyền thông và đem lại hạnh phúc. Cheri còn làm nhiều công tác rất là hay để giúp cho những cộng đồng nghèo đói nhiều bạo động chuyển hóa. 

Kỳ này về thăm quê hương và chia sẻ pháp môn tu tập thì trong số mấy trăm vị thiền sinh cư sĩ có mặt Cheri Maples đang ngồi đâu đây, có lẽ lát nữa mời Cheri lên đây để quí vị thấy. Đó là một người phụ nữ, đã thực tập 21 năm với tư cách của một nhân viên cảnh sát và hiện bây giờ đang chịu trách nhiệm với tất cả nhân viên cảnh sát lo cho các phạm nhân bị quản chế và các phạm nhân sắp được thả ra, đang được thả ra và đã được thả ra nhưng mà dưới sự giám sát. Người cảnh sát thực tập hiện giờ đang mặt áo tràng Việt Nam, Phật tử Việt Nam. 
 
 

Chất liệu tình thương

Trước khi để thì giờ cho quí vị đặt vài câu hỏi và chia sẻ, tôi xin kết luận bài nói chuyện hôm nay như thế này. 

Khi mình có tình thương ở trong lòng, khi mình có chất liệu từ bi ở trong lòng, thì cái doanh nghiệp mình đang thực hiện nó sẽ đem lại cho mình hạnh phúc, sẽ đem lại cho những người khác trong doanh nghiệp đó hạnh phúc, nêú mình chỉ nghĩ tới chuyện thành công của mình mà thôi, mà không có đặt chất liệu tình thương vào trong cái doanh nghiệp của mình thì doanh nghiệp của mình có thể tạo ra khổ đau cho mình, cho gia đình mình, cho những người trong doanh nghiệp. Nếu mình là nhà chính trị, nếu mình có tình thương ở trong trái tim của mình và mình hành động trên cơ bản của tình thương đó, mình sẽ không bao giờ đau khổ và sẽ gây đau khổ cho người khác. 

Quyền lực,danh vọng, tiền tài khi có tình thương nó trở thành ra những dụng cụ rất mầu nhiệm, khi vắng mặt của tình thương thì những cái đó trở nên những yếu tố phá vỡ hạnh phúc và vì vậy cho nên  theo đưổi một sự nghiệp chính trị, một sự nghiệp xã hội, một sự nghiệp văn chương, môt sự nghiệp doanh thương mình phải có cái chất liệu của từ bi, của tình thương ở trong lòng của mình và cái đó chính nó bảo vệ cho mình, nó bảo vệ cho sự nghiệp của mình, nếu mà một trăm cái doanh nghiệp đứng hàng đầu mỗi năm mà báo Fortune  nêu ra đó mà nó là  những doanh nghiệp đứng hàng đầu tại vì trong đó có chất liệu tình thương. Những người giám đốc, những người điều khiển doanh nghiệp đó luôn luôn nghĩ tới những người cộng sự,  biết được những cái khó khăn, những khổ đau, những bức xúc của những người trong doanh nghiệp và vì vậy cho nên có thì giờ để lân mẫn, để hỏi han, để cứu giúp, để hỗ trợ và vì vậy cho nên cái tình thương đó đã làm cho doanh nghiệp trở thành một cộng đồng, một gia đình và khi làm việc đó căn cứ trên tình thương, mình không có đánh mất thì giờ, mình không có đánh mất năng lượng mà thâu nhập của mình càng ngày càng lớn, đó là sự thật đã được chứng minh. 

Đứng về phương diện chính trị cũng vậy, nếu có thì giờ để chăm sóc mình, chăm sóc những người thân trong gia đình mình, chăm sóc của những người trong cộng đồng của mình thì mình sẽ tạo dựng ra được sự cấu kết, được sự đoàn kết, được sự tin tưởng chung và điều này đem lại sự thành công trong sự nghiệp chính trị của mình.

Cho nên ba cái Đức kia rất cần thiết trong tất cả mọi người trong chúng ta, chúng ta làm Cha, chúng ta làm Mẹ, chúng ta làm Anh, chúng ta làm Thày giáo, chúng ta làm Thị trưởng, chúng ta làm Giám đốc, chúng ta làm Tổng thống, chúng ta làm Bộ trưởng, chúng ta phải biết rằng hạnh phúc có được khi mà chúng ta có chiều hướng tâm linh, chúng ta biết chế tác tình thương và chính tình thương đó nó sẽ giúp cho chúng ta sử dụng những quyền  lực của chúng ta một cách đúng phép. 
 
 

Kính thưa quí vị, nếu có điều gì muốn phát biểu hay có câu hỏi gì, đây là lúc chúng ta chia sẻ với nhau.

Hỏi : Trong các quốc gia chậm phát triển, nền kinh tế đang còn thấp thì dù có trí tuệ bao nhiêu đi nữa, có tình thương đến mức đại từ bi nhưng không có đủ năng lực về kinh tế thì làm sao giải quyết được vấn đề nghèo khổ, đói khát và bệnh hoạn ?

Đáp :  Mình muốn thành công trong lãnh vực kinh tế, chính trị, kỷ thuật là phải có trí tuệ, mình rất là cần chất xám, sở dĩ mình nghèo là tại mình thiếu chất xám, thiếu trí tuệ, sở dĩ mình không có đoàn kết được vì mình thiếu tình thương. Trí tuệ và tình thương rất cần cho sự phát triển kinh tế và xã hội như vậy rồi, tại sao mình không có thấy ? Mình có nạn tham nhũng nhưng mình chưa có trừ được nạn tham nhũng tại mình chưa có đủ trí tuệ để tìm ra những giải pháp hữu hiệu để chống tham nhũng. Thành ra vấn đề không phải tại mình dư trí tuệ mà tại mình thiếu trí tuệ. Vấn đề không phải là tại mình dư tình thương mà tại mình thiếu tình thương, thiếu tình thương cho chính mình và cho những người khác.

Hỏi : Một con người mà có ba Đức: Đoạn đức, Trí Đức và Ân Đức. Những người như vậy thì Tùy xử tác chủ,  Lâm xứ tác chân  xin Hòa thượng giảng lại những điều mà Hoà thượng dịch ra từ sách Lâm Tế Ngữ Lục.

Đáp : Tùy xử tác chủ là đi đâu mình cũng làm chủ được mình, mình không đánh mất mình, mình không trở thành công cụ nô lệ cho kẻ khác. Tùy xử tác chủ là ở đâu mình cũng nắm được cái quyền tự chủ của mình. Lâm xứ tác chân là đứng ở đâu mình cũng là con người thật của mình, chớ không phải là ra giữa công chúng thì mình như thế này, mà đi vào buồng riêng thì mình trở thành con người khác. Đi vào trong hoàn cảnh này mình cũng con người đó, đi vào hoàn cảnh kia mình vẫn là con người đó, mình có cái chân thật của mình, mình không có mang mặt nạ. Khi mà muốn được việc thì phải mang cái mặt nạ, khi xong việc thì gở mặt nạ xuống. không có khả năng, không có năng lực để cho người ta thấy được con người thật của mình. 

Một con người mà có được ba cái Đức: Đoạn Đức, Trí Đức và Ân Đức, hạnh phúc rất là lớn, những người đó ban phát hạnh phúc rất là nhiều. Và sự thành công đó là sự thành công mà không có đem lại một cái tai hại nào. Vì có nhiều người thành công trong sự nghiệp của mình thì chính là nạn nhân trong chính sự thành công của mình. Những người sống bằng gươm giáo, sẽ chết vì gươm giáo. Những người sống bằng doanh nghiệp của mình, làm giàu, leo lên mức địa vị cao chính là nạn nhân của cái địa vị của chính mình. Còn sự thành công trong ba cái  phương diện Đoạn Đức, Trí Đức và Ân Đức đó là sự thành công không có mang theo cái tiêu cực đó. Chỉ có một sự thành công mà trong đó mình không là nạn nhân cho sự thành công của mình, đó là sự thành công vể đạo đức.

Mình không có làm là nạn nhân cho sự thành công của mình còn ngoài ra bất cứ với một ngành nào, mình theo đuổi sự nghiệp nào, mình có thể chết vì cái sự nghiệp đó. Như tướng De Gaules giải phóng nước Pháp, đã được xem như là người hùng nước Pháp nhưng mà cuối sự nghiệp của vị Tổng thống ông đã khổ đau rất nhiều, ông đã không giải quyết được vấn đề rối loạn trong nước. Ông đã mở ra một cuộc trưng cầu dân ý và người ta đã trả lời "Non" (Không) và ông đã đau khổ rất nhiều. Nhìn quanh ta thấy rất nhiều người thành công trên bước đường sự nghiệp của họ, cho đến cuối cùng họ chết vì sự thành công đó. 

Lâm xứ tác chân là chỗ nào mình cũng là con người thật của mình và sự thành công của đạo đức đó không bao giờ làm hại mình hết, nó chỉ gây hạnh phúc mà thôi, đó là lời dạy Tổ của Lâm Tế Ngữ Lục.

Hỏi : Như Thầy giảng, quyền lực như là phương tiện để mang lại hạnh phúc cho con người nếu hội đủ ba cái Đức (Đoạn Đức, Trí Đức, Ân Đức ) mà ở đây có thể nói ngắn gọn là  từ bi và trí tuệ. Vậy thì nếu có một người, họ có cái quyền lực đó, khi ra ngoài xã hội, họ có mang lại hạnh phúc cho mình và cho tha nhân nhưng ở trong gia đình của họ, họ có một gia đình tồi tệ, cụ thể có một bà vợ quá quắc, có một đàn con hư đốn và sự thực trong gia đình ông không bao giờ có hạnh phúc, vậy thì liệu rằng với quyền lực đó thì ông sử dụng như thế nào để hóa giải trong gia đình để mang lại hạnh phúc cho bản thân ông, cho vợ ông, cho bản thân ông ? Câu hỏi thứ hai như Thầy giảng, ở những khóa tu bên Mỹ, không có thắp hương, lể bái gì, nếu như ở Việt Nam nhiều người có tâm huyết muốn tổ chức khóa tu Thiền cho những người có quyền lực, có rất nhiều căng thẳng trong cuộc sống, thì đâu là những yếu tố cần thiết để thực hiện ở Việt Nam trong thời điểm này ?

Đáp : Những người mà không có hạnh phúc, những người mà làm khổ người thương của mình, những người đó mình không có tin tưởng giúp được cho xã hội có hạnh phúc. Cho nên tôi thường nói các bạn, khi mình muốn bỏ phiếu cho ai, mình nên nhìn vào đời sống cá nhân và gia đình của người ứng cử viên. Coi họ đối xử với vợ họ, với con họ bạn bè họ như thế nào để mình biết được con người của họ. Nếu họ không có khả năng truyền thông được với vợ, thương yêu được con thì làm sao họ có thể làm hạnh phúc cho dân, cho nước. Cho nên trước khi mình bỏ phiếu cho ứng cử viên nào, mình phải có quyền biết về đời tư ứng cử viên đó. Chứ không phải đọc một bản tiểu sử người đó, những bằng cấp của người đó và công việc của người đó mà mình có thể có một cái thấy đầy đủ để chọn lựa được. Con người là căn bản, mà nếu con  người là con người hư thì sẽ mang lại đau khổ cho những người khác.

Còn vấn đề thực tập, những phương pháp trong đạo Phật có thể trình bày như là một phương pháp không cần một niềm tin tôn giáo. Tại vì đạo Phật là truyền thống tâm linh mà trong đó tôn giáo chỉ là một phần nhỏ, nhiều người trong đạo Phật chúng ta chỉ nghĩ là sự cúng lễ, bái sám, cúng dường, tín ngưỡng nhưng mà đó chỉ là cái vỏ ngoài của đạo Phật thôi, đạo Phật không phải chỉ là cái vỏ của tôn giáo, tín ngưỡng đó, nếu mình chọc thủng được cái vỏ đó, mình đi vào được một kho tàng tuệ giác rất là lớn. 

Đạo Phật lúc ban đầu là một kho tàng tuệ giác, và tuệ giác đó mình đạt tới được thì mình có thể tháo gỡ những khó khăn, những muân thuẩn, những bức xúc, những tuyệt vọng, những hờn tủi của mình và sau khi mình làm được rồi thì mình cũng giúp người khác làm được như vậy và tự độ, độ tha. Bản chất của đạo Phật trước hết là tuệ giác, phần tôn giáo chẳng qua là phần phụ nhưng hầu hết chúng ta chỉ thấy đạo Phật là một tôn giáo cho nên đem cái tuệ giác đó ra để cống hiến mọi người, để giúp cho mọi ngưòi tháo gỡ mọi khó khăn trong đời sống của họ mà không cần họ trở thành Phật tử, đó là những chuyện chúng tôi đã làm trong bốn mươi năm qua. 

Mục đích của mình không phải là có thêm tín đồ Phật giáo tại vì tín đồ Phật giáo có quá nhiều rồi mà tu hành cũng không có đàng hoàng gì mấy, mình đã chăm sóc số lượng đó cũng đã hết hơi rồi, dù người ta theo đạo thêm cũng không đủ sức lo cho họ. Thành ra phương pháp của chúng tôi ở Tây phương là khuyên người nào, đạo nào cứ giữ đạo đó. Quí vị có thể tới học hỏi những pháp môn, những thực tập Phật giáo mà quí vị cũng không cần phải trở thành tín đồ Phật giáo, và vì vậy cho nên các thiền sinh từ các truyền thống khác như Do thái giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo tới thực tập rất nhiều và sau khi mà họ thực tập tháo gỡ được những khó khăn của họ, họ có thể trở về  với truyền thống của họ mà giúp đào sâu rồi chuyển hóa những truyền thống đó cho thích hợp với thời đại mới, tại vì những truyền thống đó, tuổi trẻ cũng bắt đầu từ bỏ vì không có khả năng làm mới để thích hợp với những cái nhu yếu của thời đại mới. 

Hôm trước tôi có tổ chức một ngày Quán niệm cho giới Doanh thương của thành phố Hồ chí Minh và những vùng phụ cận, có rất nhiều người Công giáo tới tham dự và họ cũng thực tập, cũng nghe Pháp thoại, họ cũng dự Pháp đàm, họ cũng Thiền hành được và cũng có hạnh phúc như những người Phật tử. Thực tập để lắng dịu căng thẳng, những đau nhức trong thân và trong tâm, đó là cái thực tập mà ai cũng có thể làm được mà mình không cần phải quy y, thọ giới gì hết. Và khi mà làm được rồi, thì tuy là chưa quy y, chưa thọ giới nhưng mà trong nội dung đã có chất liệu của tam quy và ngũ giới rồi. Nó hay như vậy đó. 

Trong khóa tu mà tôi tổ chức cho những cảnh sát viên đó, cố nhiên là chúng tôi không có lập bàn thờ và tổ chức lể quy y thọ năm giới nhưng mà chúng tôi đã trao truyền tam quy ngũ giới bằng một đường lối khác, chúng tôi có một văn bản mà các cảnh sát viên đã đọc, đã chấp nhận và đã long trọng hứa trước quần chúng của khoá tu. 

- Thay vì nói là con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời, tự quy y Phật thì mình nói rằng, tôi có niềm tin nơi khả năng hiểu biết và thương yêu nơi tôi. Nghĩa là tôi công nhận rằng nếu tôi thực tập thì tôi có thể phát triển trí tuệ và từ bi trong tôi và cái đó nó tương đưong với quy y Phật tại vì Phật là trí tuệ và từ bi. Trí và bi viên mãn. 

- Thứ hai là tôi có đức tin nơi con đường nó làm cho tôi phát triển được mỗi ngày cái trí tuệ và từ bi đó, đó là quy y Pháp, một câu nói không có tính cách tôn giáo. 

- Tôi có niềm tin nơi những đoàn thể thực tập với nhau, nâng đỡ nhau để mà chế tác năng lượng của Hiểu biết và Thương yêu, cái đó là quy y Tăng. Và cố nhiên năm giới mình đã trỉnh bày với ngôn ngữ hoàn toàn không có tôn giáo. 

- Ý thức được rằng đã có quá nhiều đau khổ gây ra bởi sự chém giết và tàn sát, tôi nguyện từ đây về sau tôi sẽ làm đủ cách để tôn trọng sự sống của mọi người, mọi loài, đó là giới bất sát. Không cần danh từ Phật, Pháp và Tăng trong đó. 

Có một số đông những vị công an cảnh sát, các vị luật sư, các vị chánh án, các vị giám đốc các trại cải tạo đã tiếp nhận ba quy và năm giới với hình thức không tôn giáo đó. Thành ra tất cả mọi người đều có thể thừa hưởng cái tuệ giác của đạo Phật mà không cần tới cái màu sắc của tôn giáo, điều này là một điều rất là khích lệ.

Hỏi : Xin Ôn Nhất Hạnh đọc lại bài thơ  Một mũi tên rơi hai lá cờ ảo tưởng  và lý giải yếu nghĩa của kinh Pháp Hoa trong bài thơ đó ? 

Đáp : Trong đạo Phật đó chúng ta được nghe đến con đường Trung Đạo tức là con đường không có bị kẹt vào ý niệm chống đối nhau như là Sinh và Diệt, Có và Không, Tới và Đi, Một và Khác. Khi mà chúng ta quán sát thực tại, chúng ta thấy hình như mọi vật đều có sanh, có diệt, có có, có không, có tới có đi, có một có khác nhưng mà nếu chúng ta quán chiếu sâu sắc, chúng ta sẽ tìm thấy rằng thực tại nó thoát ra khỏi những khái niệm mà chúng ta có tức là sanh, diệt, có, không, tới, đi, một và khác. 

Ví dụ như đám mây, chúng ta nghĩ rằng đám mây có sanh có diệt, sanh tức là từ chỗ không có đó, sanh trở thành đám mây và diệt là từ những đám mây có đó tới những đám mây không có đó. Đứng về phương diện hình thức thì ta thấy đám mây có sanh và có diệt nhưng mà quán chiếu cho kỹ, thì chúng ta thấy rằng là đám mây không phải từ không trở thành có, trước khi nó là đám mây, nó đã là cái gì rồi. Nó là nước sông, nước hồ, nước biển, nó là sức nóng của mặt trời, và đám mây chẳng qua là sự tiếp tục của những cái đó thôi. Đám mây không phải từ không mà trở thành có, cho nên bản chất của đám mây là vô sanh. 

Khi đám mây trở thành mưa, thành tuyết đó, thì nó đâu có phải từ có trở thành không đâu, nó chỉ thay hình đổi dạng thôi. Một đám mây không bao giờ thể chết được, nó không bao giờ từ có trở thành không được, đám mây chỉ trở thành tuyết, thành mưa mà thôi. Bởi vậy bản chất của đám mây là vô sanh bất diệt. Và vì vậy cho nên sanh và diệt là hai cái ảo tưởng, hai cái tri giác sai lầm, hai khái niệm. Và khi mình tu tập, quán chiếu cho sâu, mình tiếp xúc được bản chất vô sanh bất diệt của đám mây cũng như của bản thân mình và cái ý niệm có và không cũng vậy. Ý niệm có là một khái niệm và không cũng là một khái niệm, quán chiếu cho kỹ thì thấy thực tại nó vượt khỏi ý niệm có và không. 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương nói, Đâu có lẽ có chiều qua mà không sáng nay. Và vì vậy cho nên những quan niệm đó, những ý niệm là đó là những cái ảo tưởng và nếu mình có thiền quán, có sức mạnh của Niệm và của Định thì cái thiền quán đó giống như cái vùng năng lượng. 

Một mũi tên nếu mà nó bắn trúng được cái đích tức là cái chủ đề của Thiền quán, thì nó làm rơi một lần hai cái ảo tưởng mà mà chính cái ảo tưởng đó thường đi đôi với nhau. Có và không, (to be or not to be) là một cặp ảo tưởng, sanh và diệt (to be born or to die ) cũng là một cặp ảo tưởng.

Và chuyện này là mình đang nói về Thiền quán chứ không nói về chính trị. Có người nói rằng Thầy chống Quốc gia và chống cả Cộng sản, muốn cho lá cờ này rơi xuống và lá cờ kia rơi xuống. Tôi bị oan ức nhiều nhưng có cái điều là tôi không có khổ. Tôi mỉm cười là vì tôi hiểu được thiên hạ có sự sợ hãi, có sự nghi kỵ. Có cả triệu người nghi mình là Cộng sản trá hình, có cả triệu người nghi mình là CIA trá hình nhưng mà mình tỉnh bơ, mình biết mình đang đi đâu, là ai thành ra đâu cần phải khổ, vì vậy cho nên những điều người ta nói đó đâu có đụng được tới tôi, là nhờ tôi có quán chiếu, có tu tập.
 
 

Trong Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, chúng ta sẽ khai mạc vào ngày mai tại Quốc tự Diệu Đế, tôi sẽ nói ba bài Pháp thoại, đề tài ba bài Pháp thoại là Người thương của tôi đã chết, tôi phải đi tìm ở đâu? Tôi có thể làm gì để cho người thương tôi được nhẹ nhàng và siêu thoát và nếu quí vị có thì giờ thì xin tới Chùa Diệu Đế. Bài giảng đầu và bài giảng thứ hai  vào lúc 5 giờ rưỡi chiều. bài pháp thoại thứ ba vào 8 giờ sáng. Cũng một đề tài đó nếu chúng ta đi liên tiếp ba ngày chúng ta sẽ nghe từ đầu đến cuối của bài giảng. 

Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan Bình Đẳng có mục đích là đưa chúng ta về với nhau và công nhận rằng có những khổ đau, những oan khuất đã xẩy ra trên đất nước và trên dân tộc trong mấy mươi năm chinh chiến. Chúng ta tới với nhau không phân biệt Nam, Bắc, trai, gái, già, trẻ, tôn giáo hay là đảng phái chánh trị. Chúng ta tới với nhau như những ngưòi đồng bào và chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người đồng bào xấu số đã tử nạn trong chiến tranh, có những đồng bào đã chiến đấu và đã chết vẻ vang trong cuộc đời tranh đấu của họ cho độc lập, tự do, cho đất nước nhưng cũng có biết bao nhiêu người chết trong tăm tối, trong oan khổ, trong tủi nhục, có những người đã chết mà hài cốt chưa tìm ra được, quân nhân cũng như thường dân. 

Sở dĩ chúng ta gọi trai đàn này là Trai Đàn Bình Đẳng là vì chúng ta muốn cầu nguyện cho tất cả mọi người đồng bào của chúng ta. Họ có thể là cha, là chồng, là con trai, là em trai của chúng ta. Họ có thể là mẹ, là vợ, có thể là em gái, con gái, con dâu của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện là cầu nguyện cho tất cả mọi người không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo, chủng tộc, đảng phái chánh trị vì vậy cho nên trai đàn được gọi là Trai Đàn Bình Đẳng. Chúng ta cũng sẽ cầu nguyện cho nạn nhân cuộc tàn sát, cá nhân hay là tập thể, chúng ta sẽ cầu nguyện cho những người vượt biển đã trở thành nạn nhân của hải tặc và của sóng gió.

Kỳ này về nước chúng tôi được phép của Thủ tướng chính phủ hợp tác với Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tổ chức những trai đàn như vậy. Giải oan lập một đàn tràng  bên sông, cầu nguyện cho tất cả những người thân của mình.
 
 

Ngày hôm qua chúng tôi đi thực tập Cổ Phật Khất Thực, tất cả các Thầy, các Sư cô, tám chín trăm người đã cầu nguyện bằng từng bước chân của mình, mỗi bước chân là một lời cầu nguyện, mỗi bước chân là một lời chú nguyện cho tất cả các đồng bào tử nạn trong cuộc chiến. Chúng tôi đã đi như thế nào để cho các đồng bào đó có thể sử dụng hai chân của chúng tôi để đi trên quê hương. Mỗi bước đã về, mỗi bước đã tới, mỗi hơi thở đã về, mỗi hơi thở đã tới để cảm thấy rằng những oan khổ của mình đã dược công nhận và sự chuyển hóa bắt đầu ngay trong trái tim của người cầu nguyện. Chúng tôi đã hoàn tất cùng với Giáo Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh và Giáo Hội Trung Ương Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan tại Chùa Vĩnh Nghiêm và điều làm tôi cảm động hết sức là tất cả mọi người tham dự Trai Đàn Chẩn Tế đã cầu nguyện bằng tất cả trái tim của họ, đã đóng góp tất cả những gì mình có thể đóng góp để xây dựng nên Đàn Tràng, để tổ chức cầu nguyện và cả vạn người tới cầu nguyện trong suốt ba ngày đêm liên tiếp. 

Đại Trai Đàn Chẩn Tế  Giải Oan Vĩnh Nghiêm là một Phật sự vĩ đại, có nhiều đồng bào Công Giáo đã tới cầu nguyện với người Phật Tử và ai cũng thực tập nghiêm chỉnh hết lòng. Không ai nghĩ đến sự thành công của tổ chức, ai cũng để hết tâm tư cầu nguyện với tất cả tình thương và vì vậy cho nên Trai Đàn Chẩn Tế Vĩnh Nghiêm là một tổ chức, một hoạt động rất là thánh thiện, rất là thần thánh. Khi mà có cuộc tranh đấu của đồng bào Phật Tử cho nhân quyền vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, thì tôi thấy rằng là cuộc đấu tranh dân quyền đó, rất là thần thánh, mọi người không ai nghĩ tới thành công của riêng mình, danh vọng của riêng mình, mọi ngưòi đều tham dự vào cuộc tranh đấu với một trái tim rất là trong sáng, rất là thánh thiện thì Trai Đàn Chẩn Tế Vĩnh Nghiêm xảy ra y hệt như vậy, tôi có thể cảm thấy được tình đồng bào, tình đồng đạo nó rất là đẹp, của tình huynh đệ nuôi dưỡng tất cả mọi người qua Phật sự rất là đẹp lúc đó. Có bao nhiêu người đã khóc trong Trai Đàn Chẩn Tế và những giọt nước mắt đó đều có khả năng làm lành những vết thương ở trong lòng lâu nay bị bít lấp bởi những lo lắng buồn khổ hằng ngày.

Chúng tôi đã đề nghị là tất cả mọi người gia đình đều thiết lập bàn thờ linh ở trước hiên nhà trong ba ngày ba đêm liên tiếp, ngày nào cũng thắp hương, đêm nào cũng thắp hương, ngày nào cũng cúng cháo, thay cháo mới, thay nước mới và trong suốt ba ngày ăn chay cho tinh khiết, thực tập phóng sanh, cứu giúp cho những người nghèo đói bệnh tật, và nhứt là giữ cho ba nghiệp thanh tịnh, chủ yếu chỉ nói những điều lành, chỉ làm những điều lành và hồi hướng tất cả công đức đó để cho các hương linh được chuyển hóa và được siêu thăng và chúng ta cầu nguyện như là một dân tộc của cả một nước. Ở miền Nam chúng  ta đã làm được như vậy.

Chúng tôi nhớ đến buổi đi chiêu linh ở cầu Rạch Chiếc, nơi đó có những trận đánh rất là lớn và bao nhiêu người chết, chính tôi đã tới cùng với Ban Kinh Sư để làm lể chiêu linh tại đó, chúng tôi đã thả xuống dưới sông Rạch Chiếc một dãi lụa để làm chiếc cầu cho các vong linh đi lên linh vị và sau khi tuyên điệp, cầu nguyện, thí thực, chúng tôi kéo các dãi lụa đó lên, tưởng là nó nhẹ, một người kéo không có lên, hai người kéo cũng không có lên, ba người kéo cũng không có lên, rốt cuộc phải tám người  mới kéo lên được dãi lụa đó từ dưới nước đi lên, một điều đó thôi chứng tỏ rằng những oan khổ, những uất ức mà dân tộc ta đã chịu đựng trong bao nhiêu năm chiến tranh nó lớn như thế nào. 

Hôm nay chúng ta có cơ hội tới với nhau như những người đồng bào ruột thịt hướng tâm hồn về hướng đó cầu nguyện hết lòng cho tất cả các hương linh, cho tất cả các đồng bào của chúng ta đã bỏ chúng ta mà đi trong cái thời gian của cuộc chiến, thì đây là một phương pháp tâm lý trị liệu cho người sống, để người sống có thể chữa lành được những thương tích đó, những cái oan khổ đó, những cái bức xúc đó mà không có trao truyền lại cho các thế hệ sau này. Theo nguyên tắc trị liệu tâm lý thì nếu mình cứ đè nén những cái đau khổ, những cái oan ức đó xuống tiềm thức thì nó không bao giờ được chuyển hóa, và có khi mình hành động, mình nói năng là do những oan khổ, những bực bội đó nó thúc đẩy. Không biết tại sao mình nói những câu nặng như vậy, mình có hành động thô bạo như vậy đối với những người thương. Mình đâu có biết rằng chính những hành động đó, những lời nói đó phát xuất từ những cái khổ đau, những bức xúc, những cái oan khổ đang có mặt ở chiều sâu tâm thức. Và phép thực tập là phải đưa nó lên trên mặt phẳng của ý thức công nhận, cầu nguyện, thực tập để chuyển hóa nó.

Như vậy chúng ta không nên trao truyền những oan khổ đó cho con cháu, nếu không sau này con cháu sẽ bạo động, sẽ dữ dằn với những người thương của chúng nó và chúng nó không hiểu tại sao mà chúng nó hành xử như vậy ? Cho nên chúng ta không có quyền trao truyền những nỗi khổ niềm đau lại cho con cháu, chúng ta hãy thực tập ngay bây giờ để, chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau đó trong khi đó chúng ta có làm đuợc vì vậy cho nên Trai Đàn Chẩn Tế là một cái phương tiện rất là khoa học để mà chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau đang có trong mỗi chúng ta và đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện được cho âm siêu dương thái và kết quả của cầu nguyện này nó không thể lường đuợc.

Đất nướcchúng ta đang ở trên một vận hội mới, nếu chúng ta không có chữa lành những thương tích, nếu người Nam không xích lại gần với người Bắc, người ngoài nước không xích lại với người trong nước thì chúng ta đánh mất cơ hội này của dân tộc, và vì vậy sự thực tập để thống nhất lòng người, để chuyển hóa những cái nghi kỵ, những cái hận thù đã gây ra trong quá khứ là một phép thực tập rất là quan trọng và đứng về phương diện hình thức cầu nguyện cho người chết giải oan nó có như hành động tôn giáo mê tín nhưng nhìn cho kỹ phương pháp thực tập rất là khoa học, vì vậy xin mời tất cả liệt vị Tôn đức, các Thầy, các Sư cô, các vị Phật tử, các vị quan khách hết lòng thực tập, nếu mình không có tới dự lễ được ba ngày đó thì mình nên thiết lập bàn thờ linh trước hiên nhà mình và mình thực tập hết lòng trong khu phố của mình hay là nơi thôn ấp của mình. Xin nhắc lại Trai  Đàn Chẩn Tế sẽ được khai mạc lúc 5giờ30 sáng mai, chúng ta sẽ chiêu linh tại địa điểm mà có rất nhiều đồng bào tử nạn và mỗi ngày chúng ta có một bài pháp thoại ngày đầu là 5 giờ 30 chiều và ngày chót vào 8 giờ sáng. Xin cám ơn các vị Tôn đức và chư vị.

---------------------------- 

Phụ lục : 

Lời chia sẻ của Cheri Maples 
( Sư cô Đẳng Nghiêm thoát dịch )

Kính bạch Thầy,
Con cảm thấy lòng tràn ngập tình thương khi nói tới vị Thầy mà con trân quí nhất. Con muốn nói là đất nước Việt Nam đã làm cho con rất là xúc động, có một phụ nữ Việt Nam đã mời con về nhà ăn cơm, đối với con đây là một biểu hiện của sự cởi mở, của sự bao dung, của tình thương rất là lớn của con người Việt Nam, con xin cúi đầu khâm phục.

Năm 1991, con đến Làng để tham dự khóa tu đầu tiên với Thầy, với Sư cô Chân Không và các Thầy, các Sư cô. Đó là lần đầu tiên con tiếp xúc với Pháp Môn tu tập Chánh Niệm và nó đã làm thay đổi cuộc đời của con. Lúc đó con còn là nữ cảnh sát viên còn trẻ làm việc được 7 năm. Sau khóa tu khi mà con trở về sở làm của mình thì con không hiểu tại sao mọi người rất là  dễ thương với con ? Nhưng sau đó con nhận thấy rằng, với cái năng lượng mới của con đã làm thay đổi mọi người, và trái tim của con từ từ mở ra lần nữa. Thay vì dùng cái quyền của mình để ép buộc người khác, bắt  người khác nghe theo, thì con bắt đầu tìm hiểu về họ, tập nhìn từ cái nhìn của họ. Và điều quan trọng nhất mà con đã học được là khi mình được cái quyền lực của cả tiểu bang giao cho mình và được rất nhiều người hậu thuẩn sau lưng mình thì mình phải rất là khiêm cung với điều đó. Vì khi người cảnh sát lạm dụng dùng quyền lực đó khi không cần thiết thì nó sẽ làm ảnh hưởng đến danh tiếng của người cảnh sát cho cả nước và cho toàn thế giới.

Có một điều rất tuyệt vời xảy ra là trong khóa tu có cảnh sát viên và người dân trong thành phố đó đến thực tập chung với nhau, sau khóa tu này thì khi mà một người cảnh sát phải bắt giữ một phạm nhân thì người cảnh sát đó xá chào những người trong đoàn thể, cộng đồng đó và con có nói với người cảnh sát làm việc với con là một khi mà mình xá chào những người phạm nhân coi như là mình đã về, đã tới rồi đó.

Bây giờ con thấy điều quan trọng nhất của con là tạo dựng nên những cộng đồng mà người ta có thể đến làm việc với nhau và nâng đỡ cho nhau và giữ gìn an ninh trật tự trong cái khu phố của họ mà không cần đến sự can thiệp của những người cảnh sát. Như vậy chúng con, những người cảnh sát khỏi cần phải làm việc nữa.

Và điều cuối cùng mà con muốn nói là bây giờ việc làm của con không còn khó nữa, ngày xưa con khổ rất là nhiều với công việc. Nhưng nhờ với sự thực tập con biết học cách để tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc, đó là sự có mặt cho chính con và cho những người khác. Nếu mà con có sự như lý tác ý ở trong cái tâm của con thì con có thể làm những điều tốt, những điều đúng mà không cảm thấy như mình có quyền làm những việc đó.

Tất cả những điều mà con đã và đang làm được, đó là nhờ công ơn của vị Thầy và con là một đệ tử rất thành tâm. Con mang ơn tất cả các Thầy và các Sư cô đã giữ cái nền tảng căn bản này cho tất cả chúng con. Con rất mang ơn là được về Việt Nam và có mặt trên đất nước này và con sẽ mang đất nước của quí vị, đất nước của Thầy đi bất cứ nơi nào mà con đi và con sẽ  thực tập cho tất cả quí vị và con sẽ  thực tập cho tất cả  mọi người trên thế giới này.
 

--------------------------------------------------------------------------------

 [1] Fortune magazine là tạp chí Mỹ, có từ 1930. Tạp chí này nổi tiếng do bảng xếp hạng hàng năm về 500 công ty Mỹ có lợi nhuận cao nhất, giàu nhất. Tổ hợp Time Warner, xuất bản tạp chí này cũng xuất bản tờ Times. 

[2] Fortune 500 – Danh sách những công ty giàu nhất nước Mỹ – xếp hạng hàng năm – Danh sách 100 lấy từ đây. 

[3] William Clay Ford, Jr. cháu đời thứ 4 (chắt) của ông Henry Ford – người sang lập công ty xe ô tô Ford.

[4] Đại úy  (bà) Cheri Maples,  giám đốc về huấn luyện và tuyển quân  (director of training and recruiting) cho Nha cảnh sát thành phố Madison, Wis. Vốn là một Phật tử Mỹ (a practicing Buddhist), sau đó bà đến Làng Mai và  đã gia nhập dòng Tiếp Hiện.
 
 

.
 
.
 
.