ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
 

ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ 
TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN

HOAN - HỶ
MINH  MẪN
23/4/07

Ba ngày Chẩn Tế tại Sóc Sơn đã hoàn mãn tốt đẹp ngoài dự đoán. Theo chương trình như Vĩnh Nghiêm và Diệu Đế, Tăng thân làng Mai luôn có khóa lễ vào ngày thứ hai, nhưng tại Sóc Sơn, chùa Non, ngày thứ nhì quy linh và ngày thứ ba, buổi chiều, chư tăng lại phụ trách thêm một khóa lễ cầu siêu, bởi vì nghi cúng của ban kinh sư Nam Định còn nhiều thời gian bỏ trống.

Lượng người tham dự không thuyên giảm, vì hôm chót trúng vào ngày chủ nhật, từ Hà Nội và các vùng cận biên đã ồ ạt đến từ tờ mờ sớm.Các quán nước ven dốc dẫn lên chùa thưa khách, vì khách thập phương đã được đoàn bao cơm nước chu tất, thậm chí, một ít kẻ lạm dụng xin cơm về bán lại tại quầy nước của mình.

4giờ sáng, anh em Tiếp hiện đã phải thức giấc chuẩn bị lên chùa tham dự tọa thiền và thiền hành, vì chỗ ở cách xa hơn cây số. Các tăng ni sinh bên Học viện cũng  đỗ về chùa. Thiền sư từ nhà nghỉ cách đó ba km cũng về chùa sớm. Các cụ bà  ngồi đầy bên ngoài và hai bên hông chùa có rạp che, bên trong chỉ đủ cho tăng ni sinh Học Viện và một số ít tăng thân làng Mai. Các bà ngồi kiết già rất thuần, khi xã, biết thao tác đúng cách, chứng tỏ các đạo tràng tại phía Bắc có sự hướng dẫn tu học nghiêm túc, và những đạo tràng nghiêm túc như thế chỉ được duy trì tại những chùa  thuần túy ăn chay. Độ nửa giờ toạ thiền, đoàn bắt đầu đi bộ từ chùa Non xuống Học viện  700m đường dốc rồi trở lên lại.Tất cả trong im lặng, mặc dù các bà các ông chưa hề biết nguyên tắc thiền hành của làng Mai. Tờ mờ sáng đã có hàng ngàn người tham dự , họ đã trú đêm tại chùa hoặc ngoài xe, và bất cứ nơi đâu. Một số người vừa đến bằng phương tiện riêng cũng vội nhập vào đoàn. Các xe ca  cũng lần lượt vào bãi. Đoàn lên lại chùa, chúng tôi tách đoàn xuống  chân núi, ghé vào lều nước bên đường, đối diện cổng Tam quan Học Viện. Anh em Tiếp hiện thích uống trà Bắc, một bình trà nhỏ chỉ đủ một ly lớn, đã phải 5 ngàn đồng. Ngồi nhìn ánh sáng bình minh chiếu những tia hào quang trên đỉnh núi, mặt nước hồ cạn cũng tan dần sương đêm.

- Ngày mai chấm dứt lễ, chắc các hàng quán thu quân tất? tôi hỏi anh chủ quán
- Không ạ, vẫn bán như thường. anh ta đáp. Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Anh bán cho ai?
- Có chứ, hàng ngày vẫn có người đi lễ, thứ bảy chủ nhật đông lắm. ngoài chùa Non còn có đền Sóc, đền Thánh Gióng, miếu Bà…
- Có đông như thế nầy không? Tôi hỏi
- Không bằng, nhưng vẫn có nhiều xe các tỉnh đỗ về như thế.lễ Phật Đản cũng tổ chức tại đây

Hoá ra, lễ Chẩn tế đưa về đây cũng không có gì lạ, nhờ thế mà đông hẳn. Người miền Bắc có tập quán lễ hội, hội chùa Hương, hội đền Hùng, hội thánh Gióng…nhất là ba tháng mùa Xuân, đó là những dịp để người dân thể hiện nhu cầu tín ngưỡng. và là cái khác biệt giữa lượng người đông đảo của miền Nam và miền Bắc trong cuộc Đại Chẩn  vừa qua. Tinh thần tín ngưỡng của người dân  phía Bắc thấm đậm hơn. Những người ở ven Sóc Sơn, cách hơn mươi cây số, họ gồng gánh hành lý trên đòn tre, rủ nhau cuốc bộ, ở lại suốt ba ngày, xe thồ xe đạp họ cũng hăm hở đến dự. Rất nhiều người cái khó cái nghèo  không dấu được qua trang phục và vóc dáng, họ vẫn có mặt trong trai đàn với niềm sung sướng mãn nguyện. Nghi lễ và hình thức tổ chức tuy đơn điệu hơn Vĩnh Nghiêm, nhưng tấm lòng của đức tin đã gắn bó với người dân như máu với thịt.

Hay tin miền Bắc thiếu thốn nhiều mặt, thầy Giác Thiện đã kêu gọi chị em phật tử Huế hổ trợ, chị Hoa, cháu bác Siêu thay mặt họ, mang ra cúng một trăm năm chục triệu tiền mặt cho làng và ở lại, hàng ngày nấu ăn cúng dường cho chư tăng thân.

Vào giờ chiều, làng Mai bố thí và cấp học bổng cho học sinh địa phương. 16 giờ nhập đàn, qua nghi thức, đây là loại Đại mông Sơn, một số chi tiết của những Đàn trước, ở đây không có, không có cung thỉnh Bồ Tát Giám Đàn, Giám Môn, không có Hàn Lâm sở và rất nhiều cái thiếu sót của một Đại đàn chẩn tế. Đặc biệt, ngoài sám chủ, cả hai vị hộ đàn cũng đội mão Địa Tạng. Khi Lục cúng, các sư cũng múa theo kiểu Bóng rỗi.
Một số người có thân nhân gởi cầu siêu, đã cảm động khóc sướt mướt. Lễ kết thúc hơn 22g. Sư ông ngỏ lời cảm tạ GH TW, ĐĐ trụ trì chùa Non, tặng quà cho nhau, có lẽ buổi chẩn đàn nầy đã tạo cảm hứng cho sư ông nhất, nên âm điệu và sắc diện của sư ông qua những buổi pháp thoại có vẻ hưng phấn và nội dung pháp thoại sâu sắc, mang nhiều ý nhị. Qua ba cuộc Đàn chẩn tại ba miền, trời đều tuôn mưa nhưng không kéo dài và khí hậu thay đổi dễ chịu. Tại cầu Rạch Chiết ở TP HCM, sau nghi dẫn linh, quý thầy cần đến tám người mới kéo  nổi tấm vải trắng mỏng vớt linh từ dưới nước lên mà lẽ ra chỉ cần một người. Cả ba nơi, những ai tham dự chẩn đàn đều xúc động và cảm thấy nhẹ nhàn đối với thân quyến quá cố,  cảm nhận  sự tác dụng và hiệu quả tâm lý rõ rệt .

Đoàn đã về một tốp lúc tối, sau khi mãn chẩn, sáng nay, số Tiếp Hiện phải ở lại phụ dọn dẹp làm vệ sinh, có người nói: “Thầy trò làng Mai làm thì thầy trò làng Mai dẹp”, đúng vậy, họ chỉ cho mượn mặt bằng chứ không cho mượn người, dù đây là việc chung, vì thế từ A đến Z, nhân sự, chi phí đều từ làng Mai cả. Trong khi chờ nhận công tác, thầy Pháp Bảo gọi mấy anh Tiếp Hiện đến trách: Lúc nầy Tiếp hiện mê anh Minh Mẫn quá rồi, bài vở viết không lợi cho làng Mai vậy mà các anh cũng say mê đọc. Quý thầy đã đọc và có chung một nhận xét…anh Hà đáp:Bạch thầy, anh M.M là người viết trung thực, có gì nói nấy, biết gì viết nấy, không thiên bên nào hết. Viết vừa lòng làng Mai thì kẻ chống đối chưởi anh ấy, chụp mũ là tiếp tay C.S. Viết bất lợi thì làng Mai phiền trách…

Cuộc nói chuyện khá lâu, và rất nhiều điều phê phán, tôi và một số anh em ngồi ngoài quán nước, anh Hà đã cho biết như thế. Tôi chả còn gì để buồn hay vui, vì không làm cho bất cứ cá nhân nào. Bác Sĩ đã theo sư ông từ lâu, cũng nói: tôi tính viết phê phán lối hành sử của một số thầy cô trong tăng thân, nhưng anh MM đã nói rồi nên tôi khỏi viết, anh cứ trung thực như thế là tốt.

Tôi dự tính ở lại phụ dọn dẹp với anh em Tiếp Hiện, chiều theo đoàn về lại Hà Nội, nhưng bác Do và mấy anh em rũ nhau đi Sapa, ngỏ ý mời tôi, thế là sáu người kéo nhau đón xe đò, không ai rành đường, đã bị cò mồi, thay vì tốn 400 ngàn đến Sapa, anh em phải chi 800 chỉ tới Lào Cai, thêm một chuyến xe Taxi mới đến Sapa vào quá 20g trong ngày.

Lào Cai cách TP Hà Nội gần 400km, diện tích 17km2, thuộc vùng cao. Từ Yên Bái về Lào Cai 200km đường đèo đốc, ngoằn ngoèo khúc khuỷu và hẹp; hai bên đường là núi, cây cối sát lộ phủ bóng mát. Nhiều nhà sắc tộc Dao nằm ven lộ và chạy sâu vào núi, sống bằng nông nghiệp và chăn nuôi, Dân cư các thị tứ phồn thịnh, nhưng ra vùng xa, vẫn còn nghèo. TP Lào Cai khá sầm uất và đẹp. Tại Yên Bái, các biểu ngữ và cổng chào chuẩn bị cho ngày giổ Tổ vua Hùng trưng bày khắp nơi, mồng 10 tháng ba  âm lịch sắp tới.

 Vùng đất núi mầu mỡ nên cây lá xanh tươi. Giống Hà Nội và một số vùng, từ Sóc sơn lên Yên Bái, Lào Cai, các quán thịt cầy mọc nhan nhãn, hảnh diện như món ăn truyền thống. Trong Nam, ngoài một số người Bắc di cư vùng ông Tạ, Gò Vấp, Hố Nai… người dân ít ai nở làm thịt con vật thân cận và trung thành với con người như thế, người thích ăn và kẻ thích giết biểu hiện một nhân cách thiếu tình cảm đạo đức đối với gia súc.

Sapa cách Lào Cai 40km, khí hậu mát dễ chịu, giáp giới Trung Quốc.  Sapa có nét đẹp tao nhã gợi cảm hơn Đà Lạt. Màn đêm trùm phủ Sapa để những ánh sáng lấp lánh tạo thêm nét diễm kiều mà thành phố du lịch miền cao đang có. Sapa chưa có sự phức tạp như các TP công nghiệp, người dân vẫn còn thành tín như các sắc tộc sống tại miền cao của Lào Cai.  Ánh sáng đầu ngày đã lột trần một Sapa huyền nhiệm, một góc phố nhìn lên đỉnh núi vời vợi, bên cạnh độ 50m  nhiều khách sạn cũng tựa lưng vào vách núi
Sau nhiều ngày mệt mỏi với chuyến đi dài ngày theo đoàn, chúng tôi có những giờ phút thư giản và hoan hỷ, hoà cùng sự hoan hỷ của làng Mai thành công theo nguyện ước của TS Nhất Hạnh giúp các vong linh được siêu bạt hầu tạo từ trường thanh khiết cho một dân tộc được vươn lên.

MINH  MẪN
23/4/07
 

20/4  Thứ Sáu (4/3 âl) đến Chủ nhật 22/4  (6/3 âl)
Đại Trai Đàn Chẩn Tế  tại chùa Non, Sóc Sơn, Hà Nội 
Từ thứ Sáu 20-4-2007 đến  Chủ nhật 22-4-2007

VƯỢT   QUA
21.04.2007 - Minh Mẫn

4 giờ sáng mọi người đánh thức nhau dậy, mặc dù đêm qua thức khuya. Anh em Tiếp hiện nối chân kéo nhau đi trong màn đêm, băng qua đọan đất gập gềnh để lên láng bếp; mọi người đã tụ tập đông, tuần tự lấy thức ăn!

Trên chùa Non, kèn trống bắt đầu inh ỏi, người lao nhao leo dốc thở hổn hển, trên các bậc thang cấp, thế mà các cụ vẫn bảo có Phật độ nên leo núi rất khỏe. Trong  chánh điện và vỉa hè đều chật ních người. Các phật tử ở xa về trước một đêm, nằm bờ ngủ bụi trong cái lạnh thấu xương của núi rừng miền Bắc. Trời sáng đủ nhìn rõ lằn chỉ tay, các kiệu trang trí hoa đèn, tua reng thờ tượng Địa Tạng để sẳn ngoài sân bên hông chùa Non Nước. Những phật tử có mặt đều được phát tấm phướng giấy gắn trên que tre nhỏ thay thế lá cờ, sắp dọc hai hàng, chờ lễ thỉnh sư, xuống đầu dốc, ngay cổng Học Viện để  tiếp linh. Nghi lễ ngoài nầy không thờ Tiêu Diện Đại Sĩ, không thượng phang mà đàn chẩn miền Nam, miền Trung đã có. Những chuyên gia nghi lễ đã thẩm định nghi thức tán tụng tại  Sóc Sơn còn quá nhiều sơ sài, nhưng cũng lấp được khoảng trống to lớn mà nhiều người e ngại sẽ vấp phải.

Loa phóng thanh được nối dài dọc xuống lối đi.  Nguời dẫn chương trình đọc chương trình hành lễ, ý nghĩa Đại Đàn Chẩn Tế, và thông báo, nhắc nhở các nhân sự thừa hành! Bên hông chùa, ban nhạc lễ Tứ Phủ bày biện nhạc cụ, chiếc đàn cò một giây được  thử âm thanh, bốn người đàn ông còn lại kẻ trống người kèn, tất cả khăn đóng đen, áo dài lụa mỏng, lót vải bông đỏ bên trong; hai cô Đào son phấn loè loẹt như bà bóng, mặc áo tứ thân màu hồng, chít khăn trắng, cầm nhịp phách; xa hơn một tí, 22  người  trung niên,  trang phục đồ tây trắng, đội két trắng, tay cầm bộ kèn đồng đủ cở, trống, chập chả.. sẳn sàng ứng chiến; Cặp lân và con gà trống cồ nằm sau chiếc trống hai người khiên, dẫn đầu đàn. Bên trong, chư tăng cũng đã đắp y, HT Thanh Nhiễu đội mão Địa Tạng, TT Pháp Ấn thay mặt sư ông và Làng Mai cùng vài Phật tử Tiếp Hiện quỳ đội sớ. Chủ  sám và  sư ông niêm hương bạch Phật, tán tụng có nhạc kèn đệm thật inh ỏi. 

Trống nổi lên, cặp Lân bắt đầu nhún nhảy, xoay mặt  hứơng về đoàn thỉnh lễ, bước thụt lùi xuống dốc, chú gà trống phe phẩy cặp cánh dài đỏ chói tới chân, thay thế vị trí ông Địa trong các đoàn Lân phía Nam. Chỉ có miền Bắc mới có chú gà trống cồ trong trang phục lễ hội; có lẽ tập tục cúng gà trong các đền chùa miền Bắc nên họ đã làm chú gà mà không là cô vịt! Đội Lân của tỉnh Thái Bình, phần lớn là anh em lớn tuổi, tình nguyện góp vui miễn phí cho  buổi lễ. Người trong đội Lân-Gà, đều đội nón cối và đồ xanh cứt ngựa, có người từng là bộ đội phục viên, có người là dân thuần túy, nhưng  trang phục hàng ngày của họ cứ như bộ đội, mà thời chiến, toàn dân được phủ lên người một màu thống nhất như thế, có lẽ những bộ đồ đó thích hợp với đời sống lao động, bền và rẽ, nên các cánh đàn ông thường xử dụng. Có điều, vành mũ cối và vai áo có nhiều dấu sờn, mòn, màu bạc thếch, chứng tỏ mức nghèo khó vẫn còn dai dẳng đeo theo cuộc đời họ sau hơn 30 năm thống nhất tổ quốc. Ngay cả cái trống gỗ hai người khênh, quai xỏ và mặt trống cũng mòn lẳng mà đáng ra đủ tuổi về an dưỡng trong viện bảo tàng 
 Quần chúng ồn ào lao nhao như hội hè. Hơn 7 giờ, đoàn bắt đầu xuống núi. Đội kèn mở đầu bằng nhạc bản Phật Giáo VN, đó là bản giáo ca của Lê Cao Phan được chọn sau thời 1963 cho GHPGVNTN. Hôm nay, bài đó mới phản ánh đúng ý nghĩa thống nhất PG  Nam Bắc. Điệu nhạc trầm hùng bởi nhạc khí làm phấn khởi và xúc động những ai đã từng là nhân chứng trong giai đoạn PG vượt qua pháp nạn thời Ngô. Có lẽ, đội kèn biết rất ít nhạc PG, nên chỉ có thêm bài Kính Mến Thầy…nếu có bài Trầm Hương Đốt thì buổi lễ sẽ thâm trầm ý nghĩa hơn.

Kèn và đờn Cò ò e của nhạc lễ Bát Âm, nhịp phách hoà âm, hai cô ả Đào trông như hai chị em sinh đôi,vóc dáng thanh tú, ỏng ẹo lả lơi, môi đỏ, lúc nào cũng tươi cười nhìn mọi người, nhịp bước. Tiếng niệm Phật của Phật tử miền Bắc, tiếng đọc kinh trên loa phóng thanh tạo thành một tạp âm của lễ hội.

Ban dẫn lễ hai hàng cầm bê tích, phang lọng. thầy Pháp Ấn thay mặt sư ông đi giữa lọng tàng, tiếp đến là HT chủ sám và tăng thân làng Mai cùng chư vị khách tăng đắp y nghiêm cẩn. Phật tử tháp tùng với lá phướng giấy trên tay, có những tấm phuớng chưa kịp viết chữ.

Đoàn chậm rải xuống địa điểm tiếp Linh độ hơn 600m, trên bãi đất trống, mượn tạm ngôi nhà cổng của Học Viện PG làm điểm kết tập thỉnh linh. Hơn nửa giờ làm lễ, đoàn trở lên chùa Non, hàng trăm tăng ni sinh Học Viện đã tháp tùng đoàn lên chùa tiếp tục dự tiến lễ.

Xe ca 50 chỗ, xe du lịch 4 chỗ, 7 chỗ tiếp tục tràn vào sân. Bãi đất trên một ngàn m2 đã không đủ chứa, một số xe phải cho khách xuống ngoài lộ cách đó gần một km. Có 2 chiếc của Đạo tràng Pháp Hoa thuộc Ban Hoằng Pháp Trung Ương , những xe còn lại từ Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hoá, Nam Định,Nghệ An, Hà Tỉnh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Ninh Bình…có đến 143 chiếc xe lớn, 51 xe trung và 33 xe du lịch 4 chỗ có mặt tại bãi. Ngoài ra, ba chiếc xe máy cày kéo thùng chở các cụ từ vùng lân cận đến muộn. Xe hai bánh mấy trăm chiếc nằm thứ lớp trong khu vực riêng giống các kho bãi tạm giữ bị cảnh sát giao thông phạt vạ.

Khí hậu râm mát mà đêm trước rét thấm tủy, mưa bụi lâm thâm lất phất nhưng không lạnh đã làm tăng phần phấn khởi cho người tham dự. Tiếng kinh tụng rền vang, ngoài vách núi sạt lỡ một mãng lớn, đất và tảng đá chùi xuống nhưng không gây tai nạn. Rừng người  tiếp tục khấn vái nguyện cầu. Một tập quán đặc biệt của người dân xứ Bắc, các bà đổi một trăm tiền lẻ giấy bạc tờ 200 đồng, đặt ngay vế đùi của tượng Phật một tờ, trên tay ngài một tờ, cứ thế mỗi vị trí thích hợp mà không chịu bỏ vào thùng công đức, và giấy tiền vàng mã là món sở thích của các cụ nhà ta. Đặc biệt, nơi đây chưa thấy các tay trộm vặt thèm thuồng những tờ giấy bạc vô chủ như thế. Với cái nhìn kinh tế, đốt vàng mã và thuốc lá là đốt tiền để giải khuây!

Đêm trước, 19/4/07, BBC có hỏi tôi về đức tin của quần chúng và cán bộ về hưu hiện nay, nhất là miền Bắc, tôi đã phân tích:  Ngoài vật chất, tâm linh vẫn là nhu cầu không thể thiếu, từ khi nhà nước mở cửa, người dân miền Bắc như nắng hạn gặp mưa rào, họ ào ạt đến với tín ngưỡng bằng niềm tin không phân biệt, vì thế có tệ nạn mê tín, các đền chùa đều đốt vàng mã , cúng gà heo, xin xăm bói quẻ.Khấn vái van xin không phải là tinh thần đạo Phật, Chẩn Tế, niệm Phật không phải là van xin để đựợc bố thí mà là khấn nguyện hồi hướng công đức cho đối tượng mình nghĩ đến. Tinh thần Xin và Cho không có trong đạo Phật. Cốt tủy PG là sự công bình của Nhân và Quả trong mỗi hành nghiệp nơi chúng ta, tác động lên Cọng nghiệp của tập thể và Biệt nghiệp của cá nhân. Đạo lý Nhân Quả hướng dẫn mọi hành trạng của người Phật tử vào quỷ đạo thiện nghiệp. Đạo Phật không ràng buộc mọi người phải tuân thủ tất cả, mỗi người tự nguyện giữ những giới điều mìnnh cảm thấy có thể, để trở thành một Phật tử, không tạo cho tín đồ có tinh thần ỷ lại; bước đầu là quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới. Không khó lắm để trở hành một Phật tử chánh tín, tuy không dễ từ bỏ tập quán mê tín. Mê tín là khởi đầu để đến với tín ngưỡng dân gian, và là đức tin nền tảng để trở lại với đạo Phật…PG không chống mê tín, nhưng chuyển hoá mê tín thành chánh tín bởi chánh niệm…

Nhìn các cụ lưng gấp song song mặt đất, tay chống gậy vẫn hí hửng leo dốc. Nam thanh nữ tú hướng mắt lên đấng Từ Tôn khấn nguyện, các hàng quán bày biện vịt lộn mực khô ít người ghé mắt, ngoại trừ vài ba thanh niên có bộ dạng và trang phục không bình thường ngồi nhậu mà mắt không rời xa đám đông, toàn cảnh đó gợi lên sự xót xa nơi tâm hồn người tin Phật chân chánh.
Có nhiều đoàn thể Phật tử, mặc áo dài  màu xám tro, choàng lên cổ dải tua màu vàng của đạo tràng Pháp Hoa, áo tràng nâu của đạo tràng Mai nội, và nhiều đạo tràng ở Hànội và các tỉnh. Đặc biệt, các đạo tràng tự điều hành và sinh hoạt rất nghiêm túc dù không có thầy hướng dẫn, nhưng phần lớn, giáo lý chưa đạt đến mức thâm dịu.

9 giờ, sư ông mở đầu pháp thoại bằng giọng xướng : Cành Dương Liễu Quán Thế Âm, giọng lảnh lót đến rợn người của thầy Pháp Niệm, đại chúng tiếp theo bài xưng tán Quán Thế Âm để thanh tẩy từ trường, tạo hưng phấn cho buổi pháp thoại. Quần chúng đổ lên chùa, người bên trên phải giạt xuống ngồi dọc lối đi. Không còn chỗ chen chân; bên dưới chân núi, quần chúng tự tìm chỗ ngồi nghe pháp thoại qua  bốn loa sắt đặt trên cây thông. Vốn giọng Huế, tại Hà Nội, sư ông pha thêm gịọng Bắc dễ nghe, Xe thồ hoạt động liên tục chuyển người từ ngoài đuờng vào, và những ai muốn ra thị trấn. Quán nước bên đường cũng không còn ghế trống, Các bếp nấu ăn phải tăng cường mướn thêm người địa phương  ngoài số phật tử và sinh viên tình nguyện. Ngày đầu, riêng nhà bếp cư sĩ đã cung ứng trên 7 ngàn phần ăn mỗi buổi. chưa kể chư tăng và tăng đoàn làng Mai trên tám trăm vị. Số người tham dự vượt khỏi dự đoán của ban tổ chức và chính quyền gấp 7 lần.

Có người nói rằng, chính vì địa thế nầy mới thấy tấm lòng và niềm tin của quần chúng đối với đạo Phật thông qua lễ hội; nếu tổ chức tại Hà Nội, sẽ không có chỗ cho xe đậu và không chùa nào có đủ cho lượng người như thế. đồng thời nơi vùng núi rừng như thế, nơi địa linh của cổ nhân như thế cũng là chỗ dễ kiểm soát sinh hoạt cho số lượng người mà tại TP khó có thể. Ví dụ tại Huế, tăng đoàn đã bị kẻ trộm viếng nhiều lần.

Tối về, màn đêm quét lên cảnh vật thành khối đen mập ờ, những ngọn núi vòng quanh ôm trọn chùa Non và quần thể đền miếu Thánh Gióng; cũng con Lân dẫn đầu và kèn đồng mở màn giáo ca, các ngọn bạch lạp lập loè trong các cánh sen giấy sắp dọc hai bên lề đuờng. Ban nghi lễ vẫn bê tích và lọng, sám chủ và sư ông từ tốn đổ xuống mép hồ cách hơn 700m. theo sau là rừng người hai tay nâng đèn hoa. Các xe ở xa đã về một số vào buổi chiều, thế mà dòng người phóng đăng chen chúc nhau lô nhô trong đêm như đạo binh hành quân trong thầm lặng, từ dưới nhìn lên cao thật thiêng liêng, hồ hởi. Dân địa phương cũng như quần chúng miền Bắc được dịp ngàn năm hiếm có.
Hồ không rộng, đáy không sâu, Ban kinh sư, sư ông và đoàn nguời vây quanh, một thời kinh tán tụng, từng chiếc đèn xuống nước, gió đẩy từng cánh đèn hoa ra khơi, dòng người còn trên dốc cao vẫn chưa xuống hết, ánh sáng trên cao, ánh sáng dưới nước bập bùng trong đêm như những vì sao  nhảy múa mừng hội. Các lồng chim mở cửa ngục, các con chim vổ cánh lạc hướng, có con rơi xuống nước, có con mất sức ngã  trên đường  bị bóng đêm nhận chìm duới chân rừng người tham dự dẫm bẹp.

Sáng hôm sau, ngày thứ hai của Đàn Chẩn, dòng xe các nơi lại lũ lượt kéo đến, rừng người tiếp tục vây kín chùa Non. Mưa bụi hay sương muối vẫn rơi, thời tiết vẫn mát và không ánh nắng. Sư ông qua buổi pháp thoại là lễ quy linh. Hàng ngàn người lao nhao bổng im bặt một cách linh thiêng, người có mặt đọc theo sự hướng dẫn của sư ông như chính tự mình được quy y, vì trong ta đã có hạt giống thiêng liêng của ông bà cha mẹ tổ tiên, trong ta có gen của người quá cố, quy linh hay quy y cho ta cũng thế, tất cả đều quay về với Phật pháp.

Trong nước, thời gian qua sống nhờ đồng tiền của thân nhân vượt biên; 

Đất nước, thời gian qua xây dựng một phần có đồng tiền của con dân bỏ nước ra đi; 
Chùa miếu, nhà thờ khang trang  cũng nhờ tín đồ bôn tẩu nhọc nhằn nơi đất khách tha phương. Tất cả  là sự xây dựng từ vật chất, nhưng tâm linh, sư ông là người đầu tiên khởi xướng sự đoàn kết và tha thứ cho nhau, tại sao không thể? nếu thế thì tại sao chúng ta ngoảnh mặt chối từ hoặc không tiếp tay xây dựng? 

Những dấu hiệu đầu tiên từ địa điểm hành lễ tại phía Bắc, tạo một phiền muộn lo âu cho những người luôn theo dỏi cuộc hành trình của làng Mai, mà qua vài địa phương đã có lắm bất cập. Một  điểm then chốt cuối cùng, quyết định việc thành bại hoằng hoá tại quê nhà của thiền sư Nhất Hạnh, đã xoay ngược thế  cờ mà những áp lực muốn đẩy ngài vào thế bế tắt. Tất cả đã vượt qua. Thiền sư Nhất Hạnh đã vượt qua lắm khó khăn vào giờ chót, tiền hung hậu kiết, biểu  hiện PGVN cũng sẽ vượt qua  sự đen tối trước áp lực vô minh, và dân tộc ta cũng sẽ vượt qua những chướng ngại từ mọi phía. Đó là sự vượt qua nhiều ý nghĩa hơn lễ Vượt qua của các quốc gia Âu Mỹ hiện tại.
Tuy hình thức Chẩn đàn tại Sóc Sơn theo tập quán lễ hội, nhưng nội dung đã chuyển tải được mục đích của thiền sư, sự thành công về lượng số đã hơn hẳn Vĩnh Nghiêm, Thủ đô Hà Nội đại biểu bộ mặt một đất nước đã thành công một Đại Trai Đàn Chẩn Tế ngoài mọi dự tính và lo âu.
                                                        Tất cả đều Vượt Qua thật tốt đẹp!!!
MINH  MẪN
21/4/07
 
 

.
Hà Nội: Khai đàn chẩn tế tại Sóc Sơn,
hơn 500 Tăng Ni, 3000 Phật tử tham dự
[20.04.2007 06:54]

Sớm nay 20/4/2007, tức 04/3/ Đinh Hợi, vào lúc 5 giờ 30 phút, Tại khu di tích Lịch sử Văn hoá chùa Non Nước - xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn - Hà Nội, Thành hội Phật giáo Thủ đô cùng Tăng thân Quốc tế Làng Mai đã tổ chức Khai mạc Đại Trai đàn Chẩn tế Xuân Đinh Hợi. 

5 giờ sáng,  tiết trời se se lạnh, trên núi Sóc bảng lảng đôi chút sương sớm. Trong khu di tích, khắp nơi đèn điện sáng chưng, trang hoang lộng lẫy, trang nghiêm. Các Ban thờ Phật, Toà Đại Phật tuyên dương, Ban thờ Thập điện Diêm vương, Ban thờ vong trên sân chùa Non Nước và Ban thờ Địa Tạng Vương dưới chân núi, trước cổng Tam quan Học viện Phật giáo Việt Nam, được trần thiết theo lề lối Phật giáo cổ truyền miền Bắc đã được trang hoàng thập phần mỹ hảo. Mọi sự chuẩn bị đã hoàn thành. Chư Tôn đức Tăng ni, khoảng gần 250 vị đang chuẩn bị Pháp phục, khoảng hơn 500 Phật tử ở lại từ hôm trước và đến sớm nay, đã tề tựu.

5 giờ 30 phút, Lễ Nghinh sư duyệt định được cử hành với nghi thức rước rất long trọng. Thượng tọa Thích Thanh Nhã - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo Hà nội, Viện chủ Tổ đình Trấn Quốc ở ngôi Sám chủ, dẫn đầu Tăng Ni chúng rời Tổ đường lên Đại điện. Thượng tọa Thích Quang Hà đến từ Nam Định ở ngôi dẫn lễ. Tiếng chuông, trống, mõ, thanh la, não bạt... qua tăng âm, rền vang núi rừng, lay động không trung.
 

Đúng 6 giờ, đoàn rước khởi giá xuống núi. Đi đầu là cảnh múa lân dẹp đường của đội múa lân xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình. Tiếp sau là đoàn Kim nhạc (nhạc kèn) đến từ huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Theo sau là đoàn vũ nhạc cổ dân tộc đến từ nhà hát tuồng Trung ương, v.v. Cả đoàn rước kéo dài hàng trăm mét. Càng đi càng đông, do Phật tử từ khắp nơi nườm nượp đổ về. Nhìn biển số xe thì thấy hầu khắp cả miền Bắc, kể cả nơi xa xôi như Yên Bái, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, v..v. Khi đoàn rước xuống đến chân núi, ước tính có tới hơn 2.000 người tham dự.

Đoàn rước khởi giá xuống núi

Đúng 9 giờ, Lễ Bạch Phật được cử hành tại Đại điện, trong khi cả khu chùa Non Nước “đen đặc” người. Hệ thống truyền thanh, truyền hình được mắc khắp nơi, tải mọi hoạt động từ  nơi hành lễ tới mọi người.

Tham dự đại lễ có sự hiện diện của: chư Tôn đức Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Tăng, Ni Văn phòng I Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Hà Nội, Học viện Phật giáo Việt Nam, Đại diện chư Tăng chùa Non Nước: Hoà thượng Thích Thanh Chỉnh -Phó Chánh thư ký HĐCM, Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà nội, Viên chủ Tổ đình Bà Đá; Hoà thượng Thích Mật Trọng - Thành viên HĐCM, Viện chủ Tổ đình Ninh Hiệp - Chùa Nành; Hoà thượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Sư ông Làng Mai; cùng chư vị Thượng tọa: Thích Gia Quang, Thích Bảo Nghiêm, Thích Thanh Nhã, Thích Thanh Đạt; chư Đại đức Thích Đức Thiện... và đông đảo Tăng Ni trong nước, trong đó có hơn 300 Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Tăng thân Quốc tế Làng Mai, đại biểu các cấp hữu quan, báo giới trong và ngoài nước và  khoảng hơn 3.000 Phật tử gần xa.

Hoà thượng Thích Thanh Chỉnh chủ tọa Đại lễ Bạch Phật và ban Đạo từ. Trong đó, Ngài tán thán công đức của Lịch đại Tổ sư, đặc biệt là Tam Tổ Trúc Lâm Huyền Quang, đã khai sinh ra khoa cúng Chẩn tế giàu tinh thần nhân văn, lưu truyền cho tới ngày nay. Ngài ca ngợi Hoà thượng Thiền sư Nhất Hạnh đã có nhiều Phật sự trong và ngoài nước “bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”, kế tục Tiên Tổ, đóng góp cho sự phát triển và hội nhập của Phật giáo Việt nam trong thời đại ngày nay.

Hòa thượng Thích Thanh Chỉnh, Phó Thư ký Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội

Bên ngoài, trời u ám, lắc rắc mưa, rất gợi. Tuy là đi “hội” Trai đàn mùa Xuân mà tôi bỗng nhớ đến ngày Xá tội vong nhân mưa dầm tháng  Bảy. Lòng chợt thấy se lại, trỗi dậy từ trong lòng, những vần thơ đứt ruột:

Đàn Chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của có chi? Bát cháo nén hương,
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây, dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu,
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.
Phật hữu tình Từ Bi phổ độ,
Chớ ngại rằng có có không không...
Nam vô Phật, Nam vô Pháp, Nam vô Tăng,
Nam vô! Nhất thiết siêu thang thượng đài!”

Lại thấy rất thâm trầm, Tâm Phật, ý Tổ để tổ chức trai đàn ở chùa Non trên Núi, đường đầy góc khúc, quang co, chập chùng, đứng chỗ nào cũng không thể nhìn thấy toàn cảnh Trai đàn. Đi đến chỗ nào, góc nào, cửa nào thì chỉ thấy chỗ đó, chỗ khác đã chỉ còn lại là ảnh tướng. Giống như xem tranh cuộn cổ điển vậy. Vừa mở xem lại vừa cuộn lại cất đi. Phải chăng cũng là ý chỉ “Hiện pháp lạc trú” của nhà Phật?

Lại giật mình thảng thốt, khi đoàn rước vừa tới Ban thờ Đức Địa Tạng Vương Bồ tát dưới Núi để rước Vong lên chùa, bỗng  một chiếc cốc nến đang cháy trên toà đột ngột rơi xuống vỡ tan, một con bướm đen chấm nhạt vật vờ bay ra chập choạng, vờn quanh Chủ lễ, cứ như muốn níu lấy cái gì đó ở chư Tăng. Hồi lâu rồi mới bay đi. Chả biết là làm sao, nhưng tự trong lòng thấy hơi lạnh...

Sau lễ Bạch Phật là Thời Pháp của Thiền sư cho Đại chúng tới 11 giờ cùng ngày.

Chương trình của Trai đàn sẽ tiếp diễn theo kế hoạch đã định.

PTVN xin gửi tới độc giả chùm ảnh về Đại Trai đàn Chẩn tế tại Sóc Sơn:


Xem Tiep:
http://www.phattuvn.org/index.php?nv=News&at=article&sid=1786

.
Đằng sau chuyến trở về 
của Thầy Nhất Hạnh
BBC 20 Tháng 4 2007 - Cập nhật 09h04 GMT


Đại đức Pháp Ấn là phát ngôn nhân của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh và phái đoàn Phật giáo quốc tế Làng Mai đã có mặt ở Hà Nội để chuẩn bị cho lễ cầu siêu giải oan, tiến hành cuối tuần này. 
Giới quan sát nhận định trong ba miền, thì miền Bắc là nơi Thiền sư Thích Nhất Hạnh ít được biết tới nhất. 

Thầy Pháp Ấn, phát ngôn nhân của tăng đoàn Làng Mai, đã cho phóng viên Lê Quỳnh của đài BBC có mặt cùng thời gian ở Việt Nam biết suy nghĩ về vấn đề này. 

Thầy Pháp Ấn nói rằng ở Việt Nam vẫn chưa có sự đồng thuận về chuyến đi lần này của Thầy Thích Nhất Hạnh.

BBC: Thưa thầy, có ý kiến cho rằng người dân ở miền Nam và miền Trung biết đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh nhiều hơn là ở miền Bắc. Thầy nghĩ thế nào ạ?

Sư ông có nhiều duyên với miền Bắc, đã có một số đệ tử đã qua Làng Mai tu học và ham chuộng pháp môn của làng. Tuy nhiên, đa số quần chúng không biết nhiều về Sư ông, đặc biệt là giới trẻ. 

Trong khi đi tiền trạm, tôi thấy trong tầng lớp thanh niên trí thức tại miền Bắc, cũng đang đi tìm một hướng đi tâm linh, nhưng phần lớn đi vào con đường tín ngưỡng (lễ bái, cúng sao giải hạn…). 
 

  Đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có viết thư mời Sư ông về với một số điều kiện. Làng Mai hoàn toàn tuân theo vì muốn có sự hài hòa giữa trong và ngoài nước.
 

Đại đức Pháp Ấn 

Điều đó rất quý vì qua những cách thực tập đó, sẽ có cơ hội đi sâu hơn vào con đường tâm linh. Nhưng tôi nghĩ pháp môn của Sư ông ở Việt Nam, nếu được quần chúng và nhà nước yểm trợ, nó sẽ giúp ích cho đất nước rất nhiều.

Hiện tại ở góc độ nào đó, có lẽ chưa có sự yểm trợ của giáo hội. Về phía chính quyền, sự yểm trợ đã có nhưng còn giới hạn. Đó là cái nhìn của tôi.

BBC: Số lượng người ở miền Bắc tu theo phương pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tuy còn ít, nhưng đã có. Có người còn chuyển cho chúng tôi bài thơ họ viết với hy vọng gửi được tới cho Sư ông. Thầy nghĩ gì về những điều như thế?

Trong Phật giáo có rất nhiều pháp môn. Miễn sao chúng ta tụ tập để trong lòng có bình an, hạnh phúc, xây dựng xã hội, giúp ích cho đất nước. Đạo Phật Việt Nam rất gắn bó với đời sống thường nhật, từ những ngày dựng nước và giành lại độc lập từ tay người Trung Hoa. Thiền phái Trúc Lâm hay các pháp môn tịnh độ đều đóng góp rất nhiều cho đạo Phật Việt Nam. 

Điều mà Sư ông muốn thêm vào là làm sao mọi người chú ý nhiều hơn đến việc quán chiếu nội tâm để từ đó có thể chuyển hóa những khổ đau của mình, hàn gắn lại liên hệ giữa người với người. Tôi không ngạc nhiên khi các bạn trong Thiền phái Trúc Lâm đã đến và tỏ tình cảm thân thiện với Làng Mai. Giữa Sư ông Làng Mai và Sư ông Trúc Lâm cũng đã có giao tình thân thiết từ trước.

BBC: Đạo tràng Mai thôn không có ý định xây dựng cơ sở ở trong nước?

Tại Tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng đã xây dựng cơ sở vật chất để tăng thân Làng Mai có thể tổ chức việc tu tập theo pháp môn của Làng Mai. Làng Mai chỉ đóng góp về kỹ thuật thực tập chứ không có chủ trương xây dựng cơ sở trong nước. Khi trong nước đã nắm vững pháp môn, các giáo thọ Làng Mai sẽ rời Việt Nam và Việt Nam hoàn toàn độc lập trong việc xây dựng và phát triển pháp môn. 

BBC: Xin thầy cho biết việc tiến hành trai đàn ở miền Nam và miền Trung đã diễn ra như thế nào?

Thượng tọa Gia Quang, Phó ban Phật giáo Quốc tế và là đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có nói Giáo hội rất muốn cùng hợp tác với Sư ông Làng Mai để thực hiện ba trai đàn ở ba miền. Điều này rất hợp với chủ ý của Làng Mai chúng tôi.

Theo pháp môn của Làng Mai, để có tương lai bền vững, chúng ta phải nhìn vào quá khứ chứ không phải là vùi lấp nó.

Tại miền Nam, Đại Trai đàn Chẩn tế đã diễn ra rất thành công. Ước tính ngày đầu tiên có 7, 8 ngàn người, và đến ngày cuối thì có trên 17.000. Làng Mai rất biết ơn Thành hội Phật giáo ở TP. HCM, đặc biệt là Thượng tọa Lệ Trang, Tâm Mãn, Đồng Văn cùng tất cả các thầy trong Ban Kinh sư. Về tài chính, các thầy đã bỏ trên nửa tỉ đồng để thực hiện trai đàn mà không lấy một đồng nào từ tăng thân Làng Mai.

Tại miền Trung, khi tôi đi tiền trạm, các thầy trong Ban Trị sự nói các trai đàn này là do cá nhân Sư ông tổ chức mà thôi, rằng kỳ này Sư ông về với tư cách cá nhân chứ không có lời mời của Giáo hội.

Tôi rất ngạc nhiên, vì Sứ quán Việt Nam từng gửi công văn nói rằng Thủ tướng Việt Nam đồng ý về chuyến đi và sự yểm trợ để tổ chức ba đại trai đàn. Đồng thời, Hòa thượng Thích Hiển Pháp, đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có viết thư mời Sư ông về với một số điều kiện.

Điều kiện thứ nhất là không nên dùng chữ “giải oan”; vì thế Làng Mai đã đổi thành Đại Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế. Điều kiện thứ hai là trước đó Sư ông viết lá thư gọi là Phổ cáo quốc dân và đồng bào Phật tử, thì được yêu cầu là không dùng “phổ cáo quốc dân” mà chỉ nên nói là “thông bạch cho tăng ni Phật tử.” Làng Mai hoàn toàn tuân theo vì muốn có sự hài hòa giữa trong và ngoài nước. 

Tôi đã trình bày lại với quý hòa thượng ở Huế rằng đây không phải là công việc của cá nhân Sư ông. Đây là công trình hợp tác giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tăng thân Làng Mai. Tuy nhiên ở Huế có lo ngại rất lớn là đại trai đàn sẽ khơi lại những kinh nghiệm khổ đau của quá khứ. Nhưng theo pháp môn của Làng Mai, để có tương lai bền vững, chúng ta phải nhìn vào quá khứ chứ không phải là vùi lấp nó. 

Sau đó, trong lần tiền trạm thứ hai, quý hòa thượng đã có sự thông cảm, nói rất rõ rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở Thừa Thiên – Huế sẽ hết lòng đóng góp về mặt tổ chức, nhưng trai đàn này vẫn là của cá nhân Sư ông tổ chức. Quý hòa thượng nói về hình thức, sẽ không được như buổi lễ ở miền Nam, nhưng về nội dung cũng rất phong phú, kéo dài 6, 7 tiếng, không thiếu nghi thức nào. Buổi lễ ở miền Trung đã diễn ra một cách mở, quần chúng được ngồi chung quanh tăng đoàn thành ra không khí rất ấm cúng. 

Tôi cũng muốn nói thêm là hai đại trai đàn vừa qua, khi diễn ra, đã chứng kiến nhiều sự linh ứng kỳ lạ. Ví dụ, tại Huế, trời lúc ấy rất oi bức, sau buổi trai đàn thứ nhất, thì đêm đó, trời nổi dông rất lớn, và hôm sau, mưa tầm tã. Mấy ngày tiếp theo, trời tiếp tục mưa. Và khi đại trai đàn kết thúc, tăng đoàn rời Huế, trời trở nên nắng, rất đẹp.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh (bên trái) tại chùa Sùng Phúc ở Hà Nội 

BBC: Còn lần ra Bắc lần này, phía Làng Mai đã chuẩn bị thế nào cho đại trai đàn ở Sóc Sơn?

Lúc đầu tiên, ý định là làm trai đàn ở chùa Quán Sứ, nhưng địa điểm ở đây nhỏ quá. Học viện Phật giáo Việt Nam ở Sóc Sơn có gợi ý rằng lên trên ấy thực hiện. Nhưng qua nhiều sự bàn bạc, Học viện quyết định chỉ cho mượn mặt bằng, không cho mượn nhân sự. Làng Mai phải chuyển sang chùa Non để tổ chức đại trai đàn.

Nhưng sau trai đàn ở Huế, thì đã diễn ra buổi họp ở Hà Nội và suy nghĩ rằng trai đàn này là của cá nhân Sư ông lại được lặp lại. Do đó, Làng Mai đã gửi ra một phái đoàn để chuẩn bị trước về cơ sở vật chất. 

Làng Mai đang kêu gọi sự đóng góp và mở lòng ra của những người chưa hiểu chủ trương của Làng Mai. Nhiều hòa thượng nói những trai đàn thế này đã được tổ chức hàng năm. Nhưng thực sự, các đại trai đàn đó chỉ chẩn tế cho các nạn nhân của miền Bắc. 

Có một điều rất lạ, những người đã đóng góp hết lòng cho cuộc chiến ở cả hai phe thì không bao giờ nhận rằng có khổ đau. Bên tả, bên hữu đều nói đó là cuộc chiến có chính nghĩa, bên tả có chính nghĩa của họ, bên hữu cũng vậy. Nhưng có những người Việt Nam không chấp nhận cuộc chiến vừa qua, vì mình chỉ là con cờ trong cuộc cờ thế giới, giữa hai phe tư bản và cộng sản.

Sư ông thường nói người Đức cũng bị chia đôi đất nước, nhưng họ đã khéo léo để không có chiến tranh. Và sáu, bảy triệu người Việt đã chết trong chiến tranh là chết oan, dù trong đó có thể có những binh sĩ nghĩ rằng mình đã hết lòng hy sinh cho chế độ. Đó là cái nhìn của Làng Mai.

Nay thì ở Hà Nội, tình hình chuẩn bị cho buổi lễ có sự thay đổi. Quý hòa thượng, thượng tọa đã hết lòng hỗ trợ, mời các ban kinh sư ở Nam Định để cùng tổ chức. Chúng ta phải chờ xem Đại Trai Đàn Chẩn Tế ở miền Bắc từ 20 đến 22.04.07 sẽ được thực hiện thế nào.

BBC 20 Tháng 4 2007 - Cập nhật 09h04 GMT

Mở Trai đàn chẩn tế tại Sóc Sơn
Lê Quỳnh BBC
Hà Nội


Trai đàn chẩn tế sẽ tiếp tục tới 22-4 

Trai đàn Chẩn tế Giải oan, do Thiền sư Thích Nhất Hạnh cử hành, đã diễn ra sáng thứ Sáu tại chùa Non nằm trên núi Vệ Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. 
Riêng trong buổi sáng khai mạc, ước chừng khoảng 5000 người từ nhiều tỉnh miền Bắc đã đến tham dự. 

Bà Đặng Thị Huệ, Hà Nội, cho biết lý do đến dự lễ: "Các thầy về mở đàn chẩn tế, tôi cùng đạo tràng tới đây để cầu nguyện cho các vong linh được siêu thoát.

Trong lần trở về Việt Nam lần này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được nhà nước cho phép tổ chức trai đàn cầu siêu giải oan tại ba miền. 

Đã có nhiều tranh cãi và cả sự thờ ơ. Khi tôi về Hà Nội và hỏi chuyện nhiều người, đa số tỏ ra không quan tâm, thậm chí là không biết về Sư ông Nhất Hạnh và sự kiện trai đàn. 

Buổi lễ đầu tiên ở TP. HCM diễn ra trót lọt, nhưng khi ra Huế, nhiều người trong Giáo hội Phật giáo tỏ ý không tán đồng. Và tại Hà Nội cho đến giờ chót cũng còn nhiều ý kiến cho rằng trai đàn này chỉ là do cá nhân Thiền sư Thích Nhất Hạnh tổ chức, chứ các vị hòa thượng trong Giáo hội không can dự. 

Theo Thầy Pháp Ấn, người phụ trách tiếp xúc báo chí của tăng đoàn Làng Mai, chuyến đi lần này không tránh khỏi gây tranh cãi: 

"Làng Mai đang kêu gọi sự đóng góp và mở lòng ra của những người chưa hiểu chủ trương của Làng Mai. Nhiều hòa thượng nói những trai đàn thế này đã được tổ chức hàng năm. Nhưng thực sự, các đại trai đàn đó chỉ chẩn tế cho các nạn nhân của miền Bắc." 

Bản thân Thiền sư Nhất Hạnh cũng nói trong chuyến về Việt Nam lần này, đã có những yếu tố tiêu cực, nhưng ông tin rằng tựu chung lại vẫn có nhiều người ủng hộ chủ trương của tăng đoàn. 

"Dĩ nhiên có những yếu tố tiêu cực, có sự hiểu lầm, chê bai, ganh tị. Nhưng cũng có rất nhiều tâm hồn tri kỷ, họ đem hết thì giờ, tâm lực cho việc tổ chức trai đàn.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh 

Ảnh hưởng

Những vết thương trong lòng nhiều người, gây ra do chiến tranh và ý thức hệ, sẽ không biến mất chỉ qua một lễ trai đàn như thế này. Tuy vậy, qua số lượng hàng ngàn người tới dự trai đàn ở ba miền, việc tổ chức lễ cầu siêu giải oan của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã là một thành công. 

Thậm chí một cô bé tuổi thiếu niên, Chu Thị Minh Phương từ Hải Dương, không biết nhiều về nội dung trai đàn, nhưng nói khi nghe Thầy Nhất Hạnh giảng bài, cô thấy trong lòng thư thái. 
 

"Em nghe cảm thấy tinh thần thoải mái hơn. Nói chung, những mệt mỏi trong lòng tan biến đi khi nghe thầy." 

Tâm sự giản dị này gợi ra cho người ta một ý, đó là những ý tưởng nhân bản, một khi được có điều kiện lan tỏa, có thể có ảnh hưởng tức thời và ngay cả những quần chúng bình thường cũng sẵn sàng tiếp nhận như một sự tất yếu. 

Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng chuyến về của Thiền sư Thích Nhất Hạnh lần này đã có ảnh hưởng nhất định. 

Trai đàn rồi kết thúc, nhưng có lẽ đó chỉ mới là cố gắng mở đầu của một quá trình lâu dài. Nói như Thiền sư Thích Nhất Hạnh, xã hội "phải có một đường hướng tâm linh, một nền tảng đạo đức" (tác phẩm Tuổi Trẻ Tình Yêu Lý Tưởng).

 BBC 20 Tháng 4 2007
 


 

.
TRƯỚC NGÀY KHAI ĐÀN 
Ở CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN
19.04.2007 - Minh Mẫn

Sáng 17/4, anh em cư sĩ Tiếp hiện cùng một số chư tăng di chuyển lên Sóc Sơn để hỗ trợ cho việc thiết lập Chẩn Đàn, vì mọi việc đều bắt đầu bằng số không, ngoại trừ mặt bằng độ 500m2.

Sau khi làm vệ sinh khu vực, các  hàng quán bán quanh chùa Sóc được dẹp, ban thiết trí nổ lực làm việc, hai ngày sau, địa điểm hành lễ tương đối màu mè, vàng, đỏ, xanh, trắng vải phủ bốn bề đàn tràng. Tràng phang bảo cái lòng thòng trông đẹp mắt. Tiền mướn thợ từ Hà Nội lên cắm hoa cũng đã bảy triệu đồng. Hoa cắm trông đẹp nhưng chưa thể hiện tinh thần thiền của đạo Phật, còn lắm rườm rà! Mỗi lần cần mua đồ cho việc trần thiết, nếu không vượt 50km về Hà Nội thì cũng phải năm, mười cây số để mua đinh, kẽm hay những vặt vảnh khác.


...ban thiết trí nổ lực làm việc, hai ngày sau, địa điểm hành lễ tương đối ..

Sáng nay, buổi pháp thoại vẫn theo đúng quy định; ngoài tăng thân làng Mai, Từ Hiếu, Bát Nhã, có một số rất ít của Hà Nội hoặc các tỉnh tham dự; ngồi vừa đủ nội vi chánh điện độ năm chục mét vuông. Phật tử Hà Nội chưa tới mười người. Trước đó nửa giờ, đoàn Phật tử Nam Định đến tham quan, cũng vội xuống núi để kịp đi nơi khác. Các tỉnh phía Bắc, Nam Định là vùng Phật giáo phát triển nhất. Đặc biệt, giới trẻ đi chùa nhiều, những đoàn thể sinh hoạt đều do cư sĩ tự quản lý điều hành. Trong tỉnh có trên 500 ngôi chùa. Ban văn hoá Phật giáo Nam Định phát triển về mặt nghi lễ rất vượt trội. Sau 1990, các cư sĩ và một ít thầy vào Nam tham gia học hỏi các trai đàn và những nghi lễ cổ truyền của các sư Bắc sống trong Nam, để bổ sung cho lễ nghi Nam Định suốt thời dài bị mai một. Ban thiết trí lễ đàn của Nam Định chỉ có 15  cư sĩ, do Ban Nghi Lễ trung ương mời, họ làm việc năng nổ; việc ăn uống của họ cũng thất thường, vì không có bếp núc củi lửa; từ hôm quý ni của đoàn lên che trại nấu ăn cho quý thầy, họ mới có bửa cơm đàng hoàng, thường thì mì ăn liền, đó là những người làm công không bao giờ có lương!


Cái chái che bạt nilon làm chổ nấu ăn...

Mỗi ngày, làng Mai phải cung ứng một trăm can nước 20L tại chỗ. Lương thực, thực phẩm cũng phải mang từ Hà Nội lên, vì thế, mọi sự không đầy đủ như các chùa đoàn trú ngụ. Tôi phải lấy cơm và thức ăn vào cái ca múc nước, chợt nhớ lại sự thiếu thốn nơi trại học tập cải tạo những ngày đầu. Cái chái che bạt nilon làm chổ nấu ăn sát với căn nhà sàn chư tăng trú ngụ, một ngôi nhà gỗ của một cán bộ bỏ trống, họ cho mượn tạm, cách địa điểm đàn tràng 600m đồi dốc, vị trí nhìn sang các dãy nhà lầu Học Viện Phật giáo sang trọng, màu gạch nung, giữa núi xanh bạt ngàn. Các tăng ni vô tư dạo quanh chiêm ngưỡng Học Viện như những trẻ thơ nhìn gia sản của cha mẹ khi chia tay mà không hề nghĩ đến lý do hay có một một ước vọng. Giờ cơm trưa, chư ni chùa Bồ Đề và chư tăng chùa Sùng Phúc phải trở lại Hà Nội, vì nơi đây chưa đủ phương tiện cung cấp đầy đủ cho số đông. Ở đây, tăng ni đều tự lo, không có Phật tử phụ giúp như các nơi khác. Trông mấy thầy mấy cô vất vả thật tội nghiệp. Họ làm cho ai, vì ai? Họ ở làng Mai, ở Từ Hiiếu, Pháp Vân, Bát Nhã chỉ biết tu, nếu phải lao tác, cũng đầy đủ phương tiện và có cư sĩ phụ giúp. Mỗi lần di chuyển, tăng đoàn hành trang ba lô, tư trang như chiến sĩ ra trận. Sư ông đi hoằng hoá các nơi trên thế giới, tăng thân tháp tùng cũng di chuyển theo, nhưng tại VN, kéo theo một số Phật tử, vì vậy quý thầy trong ban điều hành vất vả tính toán nơi ăn chốn ở, phương tiện đi lại, từ tổng quát đến tiểu tiết trong điều kiện khó khăn mà khó khăn nhất là ở Sóc Sơn!


Mỗi ngày, làng Mai phải cung ứng một trăm can nước 20L tại chỗ. 
Lương thực, thực phẩm cũng phải mang từ Hà Nội lên,..

Một sư cô trong đoàn Mai ngoại, thường trú tại Hà Nội, đi vào nhà dân để tìm nhà mướn cho tăng ni và Tiếp hiện cư sĩ tạm trú; gọi là nhà dân chứ đó là những tửu quán, nhà nghỉ cho khách du lịch Hà Nội cuối tuần đưa em út ra hưởng gió núi gà rừng! nhà dân phải xa trên 3km. Một cô chủ trên dưới 50 nhiệt tình giúp đoàn cư trú mà không phải tốn đồng nào; nơi đây, xa hơn nhà sàn quý thầy và nhà bếp hơn nửa km, đến địa điểm hành lễ trên một cây số; anh em cư sĩ Tiếp hiện nghĩ tạm; với chiếc xe minilam, cô chạy lên chạy xuống chở các anh em và hành lý về nhà tạm. Tôi đi đầu tiên, cô từ chối : Bác còn trẻ lắm, để các cụ đi trước ạ! một vị trong đoàn nói đùa : trông trẻ thế chứ là cụ đấy cô ạ! Nhưng rồi tất cả mười mấy người cũng được cô đèo qua dốc “ngoạn mục”. Tôi quen lối dời trại trên 20 năm về trước nên thích ứng ngay với môi trường vất vả và hiu quạnh giữa núi đồi. Cũng lạ, nhà tu với nhau lại chối từ giúp nhau để làm việc chung, dù thừa thải chỗ ở, nhưng người dân chưa hề hiểu Phật giáo là gì thế mà có thừa tấm lòng để dung chứa bao nhiêu con người xa lạ!

Trời ngã bóng lưng núi, hồ nước nhân tạo nằm giữa chân núi vây quanh lấp loáng mây trời, gió se se lạnh, chúng tôi kéo về láng lấy cơm, mỗi người theo đoàn, tay nâng bình bát, mặc áo Tiếp hiện, làm nổi cộm giữa đám Thiên Nga một người đầu đuôi vừa chẳn 1m50, bộ bà ba màu gỗ bạc, lếch thếch lạc loài, nâng chiếc ca múc nước, cũng vái vái trước khi lấy thức ăn, làm đúng động tác của người trong đoàn nhưng không dấu được cái khác biệt của người “ khách không mời” nơi tôi. Khi xong bữa, về đến chỗ ở, chả biết mình đã ăn chưa, năng lượng rơi rớt trên đoạn đường mòn hiu quạnh!


...căn nhà sàn chư tăng trú ngụ, một ngôi nhà gỗ của một cán bộ bỏ trống, 
họ cho mượn tạm...

Về đêm, trời trở lạnh, bốn bề trống gió, không ai ngủ được. Tôi thức dậy để làm việc; ánh sáng tù mù từ chiếc bóng điện tròn không đủ rõ từng con chữ trên laptop, đánh chữ nầy lộn chữ nọ, đến sáng xem lại, biến thành một thổ ngữ mới mà loài người chưa từng có. Ba giờ sáng, cơn mệt quên đi cái lạnh, tôi cố nhắm mắt, nhưng lại hiện lên trong đầu cái lạnh khác hơn, đó là cái lạnh “như tiền”, một loại lạnh vô hồn vô cảm của kim loại hiện lên khuôn mặt thâm tái của Hòa thượng Thanh Tứ khi tiếp chuyện với Thiền sư.

Sáng ngày 17, Thiền sư Nhất Hạnh và tăng thân làng Mai đến chùa Quán Sứ. Bên ngoài cổng, các bà bày các nia, các mâm trưng bày xâu chuổi, vàng mã, ảnh tượng ngồi bệch dưới đất mời khách; Sư ông và tăng đoàn đứng ngắm toàn cảnh, không thấy ai đón tiếp, đoàn dợm chân bước vào, có hai thầy trong Ban Trị Sự mặc hậu vàng bước ra; đoàn chen lẫn những tín đồ đang xúng xính cầm nhang tìm chỗ cắm, trong chánh điện cũng lúc nhúc người lễ lạy, khung cảnh sinh hoạt thường ngày của chùa Quán Sứ là thế, không có một biểu hiện đón Thiền Sư và đoàn như chương trình đã định, có lẽ  vì Phật sự đa đoan mà Trung ương Giáo hội quên bẳng sự có mặt  của làng Mai tại Hà Nội. Trong phòng khách, từ ngoài nhìn vào, đối diện Hòa thượng Thanh Tứ phía tay mặt là Sư ông, các ghế còn lại, không nhiều lắm, dành cho các vị cao lạp trong đoàn, phần lớn còn lại đều đứng. Không quá mười câu xã giao, nhưng Hòa thượng trưởng thượng Thích Thanh Tứ không hề nhìn mặt Sư ông, Sư ông làng Mai điềm nhiên ngõ lời tri ân của hàng hậu duệ đối với tiền hiền liệt tổ khi trở về quê mẹ. Tất cả chìm lặng trong không khí chết, thầy Pháp Ấn giới thiệu từng vị sư ngoại quốc, và sau đó bắt nhịp cho một bài Bát Nhã tâm kinh bằng tiếng Anh trước khi cáo lui. Cũng sáng hôm đó, làng Mai đến viếng Ban Tôn giáo chính phủ và vụ Phật giáo, không khí dễ chịu hơn, bớt cô đặc hơn!

Thời gian tiền trạm hơn nửa năm trước, Hòa thượng Thanh Tứ từng nói : Làng Mai về đây thiếu gì người ủng hộ, cần gì Giáo hội Trung ương… Ngài không đồng ý cho Giáo hội hợp tác, nhưng với tư cách thành viên Giáo hội Trung ương, thầy Thanh Quyết và Hòa thượng Hiển Pháp ký giấy, thế là báo Giác Ngộ đăng tin, Tuổi Trẻ, Thanh niên cũng dựa vào đó mà phổ biến. Nhưng qua những tình cảnh và suốt thời quá khứ của Ngài, cho thấy tiền hung hậu kiết vào phút chót, luôn có quới nhơn hộ trì.

Sáng 19/4  tại chùa Non, Sóc Sơn, 8g30, Sư ông pháp thoại cho hơn 200 tăng ni sinh Hà Nội và độ 50 Phật tử các nơi về dự, có cả sư Bửu Chánh, giáo thọ Học Viện, từ Sài Gòn ra. Âm thanh chỉ hạn chế trong khuôn viên chùa; sinh  khí có vẽ chộn rộn hơn, báo hiệu ngày khai đàn không đến nổi bi quan. Một số các cán bộ về hưu cũng kéo nhau viếng đền Thánh Gióng, tạt vào nghe pháp thoại. Mấy hôm nay, cơ quan truyền thông Hà Nội cũng phổ biến chương trình Đại Đàn Chẩn Tế dân chúng lác đác đến chùa Non ghi danh cầu siêu cho tộc họ và cầu an cho thân quyến hiện tiền. 

Khu vực quanh đây là quần thể đền chùa, quá chùa Sóc độ 700m là đền Trình, đền Mẫu và xa hơn tí nữa là đền Thánh Gióng. Bên trong đền Thánh Gióng, chính tượng là ngài Phù Đổng, tay mặt ngài là đức Vu Điền quốc vương; Natra Thiên tử và lực sĩ tả Xuyên Xuyên, tay cầm chùy. Tay trái Phù Đổng Thiên Vương là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Nữ Oa ổ Thiên, và Hữu Vạn Vạn Tinh Binh tay cầm chùy.

Tất cả đình đền chùa miếu đều nằm giữa lòng chảo núi non bạt ngàn. Hàng ngàn năm trước, đường sá chưa thông, phương tiện đi lại không thuận tiện, rừng rú bao la, cha ông ta làm sao vào chốn mịt mù như thế để chọn địa linh mà sanh nhân kiệt! Ngày nay hậu thế biết trân quý cổ tích và văn hoá cha ông, tái tạo xây dựng, tuy không bề thế nhưng giữ được đường nét Việt tộc. Các Thánh tượng có thần khí. Để chuẩn bị kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, nhà nước sẽ hoàn tất tượng Thánh Gióng phóng ngựa về trời cao 50m trên đỉnh Sóc Sơn, vào năm 2009, một biểu trưng tinh thàn chống ngoại xâm từ phương Bắc của dân tộc ta.

Thế hệ chúng ta cũng đang nổ lực thể hiện tinh thần đoàn kết bảo vệ tổ quốc qua nhiều mặt, trong đó có tôn giáo, nhưng một số sư lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đã xem cái ngã của mình lớn hơn vận mệnh dân tộc, ngăn trở cái lợi chung mà Sư ông làng Mai vất vả từ phương xa trở về đóng góp; trong nước, các ngài an phận, vừa lòng với hiện tại bằng chức phận hư danh, vận mệnh Phật giáo chả đáng cái vái lạy của những tín đồ vây quanh quý ngài, đem lại cho quý ngài cuộc sống tiện nghi vật chất và quyền lực vô hình. 

Lời khấn nguyện cho đàn chẩn tế tại Hà Nội lọt thỏm giữa núi đồi như âm binh vô vọng giữa chốn vô cùng. Có thể Âm Dương đồng cảm giữa lòng khí thiêng sông núi, nhưng thế giới có đồng cảm với Việt Nam khi họ đang theo dỏi việc làm của làng Mai bị trôi giạt nơi chón vắng người. Dù sao, thể diện một quốc gia, chúng ta đều có trách nhiệm như nhau.

MINH  MẪN
19/4/07
 

.
VĂN  MIẾU
Phóng sự cuối tại Hà Nội của Minh Mẫn 25-4-2007 

8.20 tối 24/4, tôi và 5 người bạn đã đáp tàu hỏa về Hà Nội, sau một ngày sống với Sapa tuyệt đẹp, một đêm với khí hậu Sapa trong lành yên tĩnh. 5g sáng hôm sau đã đến ga Hàng Cỏ và kịp theo đoàn đến thăm khu Văn Miếu.

Nói đầy đủ hơn là: Văn Miếu Quốc Tử Giám, một trường đại học đầu tiên tại VN. Sau khi lên ngôi, 1010,  vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về  Đại La, đổi tên là Thăng Long. Chiếu dời đô, Lý Thái Tổ viết: “Thành Đại La là nơi ở cũ của Cao Vương ( tức Cao Biền ) nơi trung tâm đất nước, có hình thế rồng chầu hổ phục, chính giữa Nam, Bắc, Đông, Tây có núi sông che chở bao bọc tiện lợi. Đất ở đấy rộng mà bằng phẳng, cao mà khô ráo, dân cư không phải khốn đốn vì nỗi tối tăm, ẩm thấp, vạn vật phong thịnh tưoi tốt. Xem khắp nước Việt ta, đấy là nơi thắng địa, chỗ bốn phương tụ hợp, có thể làm thượng đô kinh sư cho muôn đời.”.

1070 vua Lý Thánh Tông xây dựng khu Văn Miếu, 1076 vua Lý Nhân Tông đổi tên Quốc tử Giám.  1236 đổi tên là Quốc Tử Viện, sau gọi là Quốc Học Viện.

Nhà Lý bắt đầu chăm lo giáo dục, học tập và thi cử để đào tạo nhân tài cho đất nước, từ đó đã lập Văn Miếu. Sừ gia Ngô Sĩ Liên đã viết:” năm Canh Tuật niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa Thu tháng tám dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử,, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế…”

Văn Miếu Quốc Tử Giám gồm có: Bia hạ mã - tứ trụ - cổng Văn Miếu - cổng Đại Trung – Khuê Văn Các – 82 bia Tiến sĩ và giếng Thiên Quang - cổng Đại Thành – khu điện Đại Thành - cổng Thái Học – khu Thái Học – khu Hồ Vân – và khu Vườn Giám 

Ông cha ta đã xem trọng việc giáo dục và đào tạo nhân tài, vì thế mà gần 10 thế kỷ, đất nước ổn định thịnh trị, nhiều lần thắng ngoại xâm phương Bắc do tinh thần dân tộc đoàn kết và có mức độ văn hoá cao trong nhân dân. Qua nhiều cuộc chiến, kể cả chiến tranh nhân dân mà Hà Nội lãnh đạo để thống nhất tổ quốc trong thế kỷ XX, một số đình chùa miếu mạo bị trưng thu, nhưng Văn Miếu Quốc Tử Giám vẫn được bảo tồn đến ngày nay.( ngoài di tích có tầm vóc mà nhà nước đã bảo tồn, một di cổ đáng nói, do người dân bảo tồn, đó là chùa Pháp Vân ở Hà Nội, vào thời Cải Cách Ruộng Đất, người dân đã chôn dấu một bảo tượng bằng đồng, bây giờ đã phát hiện khi trùng tu chùa. ) Một số khu vực bên ngoài thuộc phần đất Văn Miếu bị dân lấn chiếm, nhà nước đang tìm cách thu hồi để trả lại nguyên trạng cho khu di tích lịch sử văn hoá, một danh thắng biểu trưng tầm vóc văn hoá dân tộc vào niên kỷ XI. Và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long sắp tới, nhà nước sẽ có nhiều công trình  mang tầm vóc quốc gia cho tiền đồ văn hoá dân tộc để  tưởng nhớ công ơn tiền hiền liệt tổ cha ông chúng ta. Thời kỳ chiến tranh đã qua, hiện tại nhà nước và nhân dân phải có bổn phận xây dựng đất nước và bảo tồn văn hoá tiền nhân

Đoàn làng Mai chia làm hai cánh, một bên chư tăng và cư sĩ nam, một bên chư ni và cư sĩ nữ vào cổng Tam Quan. Chia làm nhiều nhóm có sự hướng dẫn, giải trình của nhân viên du lịch. 82 bia Tiến sĩ đặt dưới hai hàng hiên. Bên trong các phòng có trưng bày đồ lưu niệm, nhạc khí bằng gỗ. Gian chính là tượng đức Thánh Khổng, phía sau nữa là tượng Chu Văn An; Ở vùng cao có những thắng cảnh hùng vĩ của thiên nhiên như Sapa thì tại đồng bằng không thiếu những di tích trầm lặng hào khí như Văn Miếu, cố đô Thăng Long, cổ thành Huế và bao thắng tích rãi rác ba miền. Có chứng khiến, có đi đến mới thấy đất nước ta đáng trân quý, cha ông ta thật vĩ đại, để lại cho cháu con một gia tài văn hoá và một địa dư tuyệt đẹp cần phải bảo vệ.

Thiền sư Nhất Hạnh ngồi ngay bực thềm phía Tây từ cổng đi vào sân chính, một số tăng thân và phật tử vây quanh trò chuyện hát xướng; hôm nay các cháu học sinh tiểu học được kết nạp vào đội, tổ chức tại Văn Miếu, được quý thầy cô hướng dẫn, trống chiêng gióng lên, sau khi kết nạp, các cháu kéo nhau đến  đối diện sư ông để hát: “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, Như có Bác Hồ Trong ngày vui đại thắng, cháu lên ba”…Một số tăng thân khác kéo nhau vào nội viện ngắm nhìn sờ mó, tinh nghịch các nhạc khí và đồ lưu niệm, nhờ thế các gian hàng tiêu thụ được một số  mặt hàng mà ngày thường du khách chỉ đứng ngắm!

Sau khi một số bạn bè đến tâm sự, chị Hoàng Xuân Hương tiếp chuyện tôi tại sân Trình cửa Khổng ở Văn Miếu, điện thoại từ SG gọi ra: Anh ư ?sao anh không về lo gia hạn giấy phép kinh doanh gas, bây giờ họ phạt ba triệu, không có tiền đóng nên họ đòi kiểm kê tịch thu, mẹ con tôi lấy gì sống! Anh đi mấy tháng bỏ bê gia đình, đi như vậy để làm gì, lợi cho ai mà không nghĩ đến cuộc sống gia đình, không lo làm ăn cứ lo chuyện vớ vẫn chẳng ai cần mình, anh chỉ biết sống bản thân anh…Giữa đám đông, tôi không muốn phiền phức, tôi đáp: thì cứ để họ tịch biên, cho con nghĩ học, đi xin ăn có sao đâu!...Tôi sợ nghe giọng than oán, vội cúp máy, nói như thế, nhưng lòng không yên, quyết định tối đáp xe về lại TP HCM. Suốt hai tháng theo đoàn, ba lần bị gọi về lo giấy phép kinh doanh, tôi tản lờ, thật lòng tôi chẳng bao giờ thoải mái suốt chuyến đi, áp lực cuộc sống gia đình, áp lực việc học của con mà nhiều lần định cho  cháu nghĩ học dù cháu là học sinh xuất sắc TP, thỉnh thoảng nghe làng Mai than phiền hoặc được thầy Pháp Khâm đoàn làng Mai  triệu tôi và thầy Minh Thủ đến để làm việc, tôi nhớ lại những khi bị an ninh kêu lên thẩm vấn, tuy vắng mặt khi đi Sapa, nhưng tôi hiểu nội dung những điều thầy muốn giáo hoá, vì hầu như tăng đoàn không vừa lòng lối viết khách quan của tôi.và áp lực của những độc giả khó tánh, thiên kiến, cực đoan.

Tuy vậy, tôi rất vui khi ba cuộc Chẩn tế ba miền đã thành công tốt đẹp. Riêng tại Hà Nội, tuy người dân còn nghèo, nhưng niềm tin của họ đáng cho người miền Nam nghiêng mình bái phục; Những cụ già gần chín  mươi tuổi vẫn kiên trì chống gậy lên non tham dự thiền hành; những chiếc xe cải tiến không tới 6m vuông mà chứa 15 cụ ông cụ bà ngồi lóc ngóc đưa cái đầu khỏi thùng xe như bầy vịt nhốt trong giỏ bội; những chiếc xe đạp không phanh, chỉ còn cái sườn và hai cái bánh, thế mà nhiều bà vượt trên 50 cây số để ghi danh con mình bỏ mạng trên đất Campuchea, chồng mình mất xác trên đường vào B, để nhờ công đức chư tăng mà siêu bạt, họ cúng tờ giấy bạc 2.000 đồng VN để được lấy tấm giấy ghi nhận Công Đức, đem về để trên bàn thờ như tấm Tổ quốc ghi Công. Những bữa ăn tại chùa Sùng phúc, Đình Quán, Bồ Đề, Pháp Vân… do các đạo tràng thiết đãi thật trọng hậu mà chắc gì trên mâm cơm gia đình, chồng con họ có được món ăn ngon miệng.

Ngày về lại TP Hà Nội, đoàn thăm chùa Bằng A,  gần sông Tô Lịch, thuộc làng Bằng, sau thời Pháp thoại cho tăng ni sinh trung cấp Phật học, một cuộc thiền hành trật tự,  hàng ngàn người thành tâm rão bước. Trong buổi nói chuyện với Ủy Ban Người Việt Nước Ngoài, trên lầu là nhân sĩ, quan khách có giấy mời, bên dưới đông đảo đồng bào các giới có mặt. Ông Nguyễn Phú Bình, Thứ trưởng bộ Ngoại giao tỏ lời ca ngợi và mong sư ông tiếp tục giáo hóa hàng năm tại quê nhà. Họ đã xem thiền sư là một sứ giả văn hoá.

Miền Nam có sự nhộn nhã của cuộc sống sung túc, miền Bắc có sự nhộn nhã của niềm tin, qua hai tháng trên quê hương, chúng ta có đủ cơ sở thấy rằng những hiện tượng tiêu cực đối với đoàn chỉ là bề ngoài, ngoại trừ Ôi Huế của ta…ôm Huế vào lòng..Huế nhớ, Huế thương…có niềm chua chát, nhưng cũng có người bảo rằng:chắc gì được thế nếu có chuyến về lần thứ ba!  Tất cả phát biểu chỉ là cảm quan cá nhân, còn tùy thuộc uy đức của một chân sư và tấm lòng của quần chúng. Nhưng hồn thiêng sông núi có đủ từ lực để vực dây một đất nước quá nhiều khổ đau tuy đã từng có những triều đại đề cao văn hoá giáo dục và trưởng dưỡng nhân tài như các thời đại Lý Trần của PG. PG đã từng xây dựng thịnh vượng cho tổ quốc chống xâm lăng, tại sao PG ngày nay không thể? phải chăng thiếu đoàn kết từ nội bộ và tha hoá từ mỗi cá nhân trong giới tu sĩ.

Tăng đoàn thăm viếng Văn Miếu Quốc Tử Giám không chỉ đơn thuần là cuộc thăm viếng, mà phải là Bồi Đắp Gốc Rễ, Khai Thông Suối Nguồn đúng như tiêu chí của thiền sư Nhất Hạnh đang về nguồn. Chư tăng trong tăng đoàn làng Mai cũng ý thức như thầy mình như thế thì mới tạo sự cảm thông, tránh sự phân biệt để ước vọng của thầy mình được hanh thông từ nội bộ PGVN.
                                                                                                                          Minh Mẫn 
25-4-2007