ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
BÌNH ĐẲNG TƯỞNG NIỆM
Trần Khải

Bất kỳ nền văn hóa nào cũng có những nghi lễ hay một số hình thức để tưởng niệm người đã chết. Các tôn giáo đều có những nghi lễ riêng. Và ngay cả những người vô thần cũng thế, vẫn nghĩ tới những người đã chết bằng một số nghi thức nhất định. Vì không có quá khứ, thì không có hiện tại và tương lai. Trong thế giới chúng ta, ngay trứơc mặt chúng ta, vẫn có dấu ấn của những người một thời đã đến với trần gian này, đã góp cho cuộc đời những gì họ tin là tốt đẹp nhất, và rồi lại biến vào một cõi mịt mờ bên kia cửa tử. Giữa những dòng lục bát của Nguyễn Du hiển hiện hàng chục thế kỷ tiền nhân của những bài đồng dao, bài ru con, bài quan họ…  Người chết vẫn gắn liền với chúng ta trong một cách nào đó - và trong hơi thở của chúng ta hôm nay, vẫn mang hơi ấm một thời tổ tiên, ông bà, cha mẹ chúng ta phả vào.

Ngày tưởng niệm đó, trong Phật Giáo khi biến thành một nghi thức siêu độ tập thể còn được gọi là đại trai đàn chẩn tế. Trong hình thức đơn lẻ, cá nhân, thường được gọi ngắn gọn là cầu siêu. Nghĩa là, một buổi lễ để cầu nguyện cho các vong linh được sinh trở lại vào cõi an lành, như cõi trời hay cõi người. Không chỉ Phật Giáo, tất cả các tôn giáo khác cũng có nghi thức tương tự. 

Nhưng để biến nghi lễ nội bộ Phật Giáo này trở thành một bản tin ngòai đời, chỉ duy có Thiền Sư Nhất Hạnh làm được. Thật là không dễ khi đem được một nghi thức trong chùa biến ra thành một sự kiện xã hội xúc động. Tất nhiên là có nhiều lý do. Đơn giản nhất, có lẽ nên nghĩ rằng, mọi người đều thấy rằng chuyện này lý ra phải làm từ lâu lắm rồi. Nghi lễ cho người chết, nhưng thực sự cũng là một hàn gắn cho ngừơi sống, ít nhất là phần nào. Nghĩa là, hòa hợp hòa giải thực sự đã có từ lâu rồi, đã có từ các bàn thờ vong trong chùa, khi người chết không phân biệt chính kiến, dù là tử sĩ VNCH hay liệt sĩ du kích VC, đều được các chùa đọc kinh cầu nguyện mỗi buổi chiều. Nhưng để công nhận tinh thần hòa hợp hòa giải đó giữa ngừơi sống thì vẫn còn gian nan, cực kỳ gian nan, nhất là đối với người thắng trận. 

Theo dõi tình hình Thiền Sư Nhất Hạnh thực hiện lễ Đại trai đàn chẩn tế ở Chùa Vĩnh Nghiêm cũng có thể cho chúng ta thấy tình hình đó.

Hôm Thứ Sáu, giờ California, chỉ thấy vài báo mạng của nhà nứơc loan tin đơn sơ. Nhưng các tin về lễ này đã loan trên một số trang web Phật Giáo - cần ghi nhận, tất cả các mạng này đều đặt máy chủ ở hải ngọai.

Trang web Phật Tử Việt Nam, thực hiện bởi ban biên tập là một nhóm Phật Tử trẻ ở VN, hầu hết ở Hà Nội, nhưng máy chủ hình như ở hải ngọai, loan tin về buổi lễ ở địa chỉ: http://phattuvn.org/index.php?nv=News&at=article&sid=1640. Một số chi tiết trong bản tin cho thấy rằng đây là một buổi lễ lớn, với hơn 10,000 người dự. 

Bản tin trích như sau:

"TP. Hồ Chí Minh: Khai mạc Đại trai đàn chẩn tế, hơn 10.000 Tăng Ni, Phật tử tham gia

Sáng nay 16/3/2007, tại chùa Vĩnh Nghiêm, quận 3 TP. Hồ Chí Minh, Ban Nghi lễ Trung ương GHPGVN, THPG TP. Hồ Chí Minh và Tăng thân Làng Mai (CH. Pháp) đã tổ chức Đại trai đàn chẩn tế. Tới dự và chứng minh có Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng Thích Trí Quảng, Hòa thượng Thích Giác Nhiên... Hơn 10.000 Tăng Ni, Phật tử cùng tham dự buổi lễ.

Sau khi chư tôn đức quang lâm, Hòa thượng Thích Thiện Tánh, Phó Ban thường trực Ban Trị sự THPG TP. Hồ Chí Minh đã đọc lời khai mạc. Lời khai mạc có đoạn "Đại lễ Trai đàn chẩn tế bình đẳng bạt được diễn ra vào đầu xuân mới, mùa của sự đâm chồi nảy lộc, mùa của tăng trưởng sự sống và cũng là mùa bắt đầu cho một năm mới thịnh đạt, an vui, hạnh phúc."…" (hết trích)

Một ghi nhận, là không có cán bộ cao cấp trung ương nào, chỉ trừ ông Lê Hồng Phúc, phó Ban Tôn giáo, Trần Trung Tín, phó ban MTTQVN. Nhưng bản tin của Phật Tử Việt Nam đã không nhắc tới các quan chức này. Tên và chức vụ của hai quan chức này chỉ có đăng trên bản tin của Chùa Vĩnh Nghiêm (http://vinhnghiemvn.com/).

Bản tin Phật Tử Việt Nam không ghi tên các quan chức có lẽ là muốn cho nghi lễ mang tính nội bộ nhà chùa hơn? Hay là có chỉ thị từ các Thầy lớn? Không có câu trả lời cụ thể nào được đưa ra. Nhưng hẳn nhiên là các bạn trẻ Phật Tử VN cũng có cân nhắc, có suy tính… khi không ghi tên các quan chức vào bản tin. Có thể vì chức nhỏ? Nhưng chúng ta biết chắc rằng, nếu ông Thành Ủy Sài Gòn, hay ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố tới tham dự lễ này, thì sẽ không ai xóa tên các vị này trong bản tin.

Điều đặc biệt là về cách sắp xếp của Ban Biên Tập  trang Phật Tử Việt Nam, cột bên phải bản tin Đại trai đàn chẩn tế là một lọat các tin về nhờ các nhà ngọai cảm gọi hồn, tìm mộ, những bản tin mà nhà nứơc từ nhiều năm vẫn giấu kỹ, hoặc khi loan tin thì rất là dè dặt. Phải chăng muốn nhắc nhở rằng Đaị Trai Đàn Cầu Siêu này có liên hệ tới hàng trăm ngàn chiến binh chết giữa rừng núi một thời?

Trang web duy nhất tại Hoa Kỳ loan tin đầy đủ về nghi lễ này là Thư Viện Hoa Sen (link: http://thuvienhoasen.org/daitraidanchante-05.htm#khai%20mac%20dai%20trai%20dan) thì hoàn tòan không nói gì về các chuyện ngoại cảm, gọi hồn với tìm mộ… 

Còn trang web Làng Mai (http://langmai.org/ChuyenDiVietNam2007/HTML/traidanchante/index.htm) lại không viết theo hình thức bản tin... Dù vậy Làng Mai tất nhiên biết rằng đây là một nghi lễ mang tính lịch sử, khi trở thành nghi lễ đầu tiên cầu nguyện cho tử sĩ hai miền và cho những người chết liên hệ tới cuộc chiến, cả nhiều năm sau nữa dù chết trong tù hay ngoài biển.

Ong Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết không tham dự nghi lễ ở Chùa Vĩnh Nghiêm, dù có được thư mời từ Thiền Sư Nhất Hạnh. Cũng không có câu trả lời cụ thể nào. Hay phải chăng, trong khuôn viên Chùa Vĩnh Nghiêm không có cuốn Kinh Điển Mác-Lê nào để ông Triết đọc tụng?

Một điều cần ghi nhận nữa, về cách nhà nước loan tin. Trong khi Chùa Vĩnh Nghiêm (http://vinhnghiemvn.com/) loan  tin là có 10,000 Tăng ni Phật Tử tham dự lễ hôm Thứ Sáu, thì báo Tiền Phong ghi là chỉ có 2,000 người dự, và báo Tuổi Trẻ ghi là 3,000 người dự. 

Đặc biệt đaì VOA hôm Thứ Saú ghi nhận rằng, trích:

Chính phủ ở Hà Nội phản đối tên gọi “giải oan” của các buổi lễ cầu siêu của Thiền sư Nhất Hạnh. Họ nói rằng tuy sẵn sàng tha thứ cho những chiến sĩ trận vong của miền Nam, nhưng họ vẫn xem những người đó là những người phản bội dân tộc và trở thành tay sai của chính quyền mà họ gọi là “ngụy quyền” do chính phủ Mỹ khống chế. 

Vì có sự phản đối như thế, Tăng Đoàn Làng Mai đã đổi tên gọi Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan thành Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng. Một thỏa hiệp khác cũng đã đạt được trong lễ cầu siêu ngày hôm nay ở chùa Vĩnh Nghiêm. Theo tiết lộ của Thượng Tọa Pháp Ấn, người phát ngôn của Làng Mai, Thiền sư Nhất Hạnh vốn định tiến hành hai buổi lễ Chiêu Cô tại Nghĩa Trang Liệt Sĩ của bộ đội Cộng sản và Nghĩa Trang Biên Hòa của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Nhưng kế hoạch đã gặp sự chống đối của giới hữu trách Việt Nam. Rốt cuộc một buổi lễ Chiêu Cô đã diễn ra hôm nay ở Cầu Rạch Chiếc, nơi đã diễn ra một trận chiến khốc liệt trong thời chiến tranh trước năm 1975...” (hết trích) 

Đúng vậy. Có biết bao nhiêu là bất đồng trên cuộc đời này. Kể cả những bất đồng về chuyện có nên cầu nguyện cho người chết hai miền hay không... Với người chết, có lẽ đã xong, hình như họ không tranh cãi gì nữa -- cuộc chiến đã xong rồi. Họ đang ngồi bình đẳng trên bàn thờ vong ở trong các chùa.

Và hơn 10,000 Tăng Ni Phật Tử trong nghi lễ ở Chùa Vĩnh Nghiêm đã có câu trả lời riêng cho họ, rằng cần phải giúp những vong linh chưa siêu thóat được một trợ giúp tâm linh để tìm về cõi an lành. Đó là chuyện nhà chùa, tất cả các chùa, từ ba thập niên nay đã làm, đang làm, và sẽ làm.

Không chỉ cho người chết, mà chính người sống như chúng ta vẫn cần các nghi thức tương tự. Chính ngay trong lòng chúng ta đó, đã là những cõi với đủ thứ lành dữ… Hãy đưa tất cả các giận dữ, các căm thù, các suy nghĩ, các cảm xúc, các tâm thức còn ẩn ức, còn bóng quế dày vò trong thâm tâm chúng ta ra, để cùng chuyển hóa tất cả các tâm này về chốn an lành, về cõi bình an của tâm hồn. Bao giờ thì nhà nứơc mới chịu hiểu như thế, để có thể làm như thế, để những ngừơi chết sẽ không còn oan ức, khi hàng triệu người đã chết mà hình ảnh một đất nứơc trong tâm tưởng họ, một đất nứơc của hạnh phúc, của tự do và dân chủ, vẫn còn xa vời?

TRẦN KHẢI 
(Việt Báo Chủ Nhật, 3/18/2007, 12:02:00 AM)


PHỎNG VẤN 
THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH
về chuyến hoằng hoá tại quê nhà lần thứ 2
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐƯỢC PHẬT GIÁO VIỆT NAM,
chúng ta sẽ phụng sự cho dân tộc, đất nước và cả thế giới(*)
LTS: Qua một số phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như theo thông báo từ trang nhà Làng Mai, được biết, phái đoàn của Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai sẽ về thăm quê hương Việt Nam lần thứ 2 trong dịp Tết Nguyên Đán Đinh Hợi. Nhân dịp này, phóng viên Giác Ngộ đã có một cuộc phỏng vấn từ xa với Thiền sư Nhất Hạnh xoay quanh về chuyến đi này.  Giác Ngộ xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc. GN
 

- Được biết theo lịch trình chuyến về Việt nam của Thiền sư và Tăng thân Làng Mai năm 2007, đoàn sẽ ghé nhiều nơi và tổ chức nhiều khóa tu cho Tăng Ni, Phật tử cũng như nhiều thành phần trí thức khác của xã hội. Trong số những hoạt động đó, thưa Thiền sư, điều nào khiến ngài quan tâm nhất?

- Thiền sư Nhất Hạnh: Tất cả mọi sinh hoạt đều quan trọng như nhau. Qua những sinh hoạt như ngồi thiền, đi thiền hành, tham dự pháp đàm, ngồi thiền trà, nghe pháp thoại, học làm mới, ăn cơm im lặng, bái sám, tụng kinh, chúng ta sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa thân tâm do sự thực tập đem lại, nhất là khi ta thực tập cùng với Tăng thân. Ta sẽ cảm thấy đạo Bụt không chỉ là một tôn giáo tín ngưỡng có công năng xoa dịu những thương tích khổ đau, mà còn là một kho tuệ giác có công năng trị liệu, nuôi dưỡng và chuyển hóa thân tâm. Tôn giáo tín ngưỡng chỉ là lớp vỏ ngoài của đạo Bụt. Nguồn tuệ giác do sự thực tập niệm định tuệ khơi mở mới là tinh hoa của đạo Bụt, có công năng chữa trị tận gốc khổ đau và làm thỏa mãn những nhu yếu tâm linh sâu sắc nhất của con người. Người xuất gia cũng như người tại gia trong khi thực tập những pháp môn ấy với nhau, thấy được rằng chạy theo những đối tượng ham muốn như giàu sang, quyền lực, danh vọng và sắc dục không những không đem lại hạnh phúc chân thực mà lại còn tàn phá thân tâm và đem lại khổ đau cho ta và cho người. Hạnh phúc chân thực chỉ có thể có được nếu trái tim ta có được hiểu biết và thương yêu. Có hiểu và thương thì liên hệ giữa ta với người sẽ tốt đẹp, và dù nếp sống ta có đơn giản không cần tiêu thụ nhiều ta vẫn có rất nhiều hạnh phúc.

- Thiền sư được biết đến như là người chủ trương pháp môn tu thiền. Thế nhưng trong chuyến về Việt Nam lần này, Thiền sư lại tổ chức nhiều Đại trai đàn chẩn tế - một lễ mang nhiều yếu tố Mật giáo và dân gian. Phải chăng đã có một sự đổi mới trong nhận thức cũng như phương pháp của Thiền sư?

- Thiền sư Nhất Hạnh: Thiền có khả năng chuyển hóa và trị liệu. Đất nước và dân tộc ta qua một cuộc chiến tranh kéo dài đã phải gánh chịu nhiều khổ đau. Hàng triệu người đã chết vì bom đạn, hàng trăm ngàn chiến sĩ đã bỏ mình trên mọi nẻo đường của đất nước và hài cốt chôn vùi ở đâu vẫn còn chưa tìm ra hết được. Bao nhiêu người đã chết trong lao tù, bao nhiêu người đã chết ngoài biển cả. Bao nhiêu người tuy còn sống nhưng vấn tiếp tục gánh chịu oan khổ. Những oan khổ ấy nếu chưa được công nhận, chưa được đưa lên vùng ánh sáng của ý thức, thì vẫn còn âm thầm nuôi dưỡng khổ đau, và truyền về cho những đời sau, oán oán chập chùng. Vì vậy, các Trai đàn Chần tế bình đẳng cầu siêu độ được tổ chức mùa Xuân năm nay là những thực tập chuyển hóa, trị liệu rất cần thiết; nhìn bằng con mắt thiền học thì ta thấy được như thế, mà nhìn bằng con mắt sử học và tâm lý học ta cũng thấy được như thế. Thiền, trước hết là chính niệm: thấy được những gì đang xảy ta trong tâm ta và nơi hoàn cảnh ta. Thấy được rồi mới biết phải làm gì để chuyển hóa, trị liệu và nuôi dưỡng. Chân ngôn là lời nói phát sinh từ định: ba nghiệp thân, miệng và ý một khi được thống nhất trọng định thì lời nói sẽ là chân ngôn và sẽ có khả năng chuyển hóa và trị liệu. Trai đàn chẩn tế bình đẳng cầu siêu độ được tổ chức trong tinh thần ấy, đem ý thức sáng tỏ chiếu vào những niềm đau khổ của người đã khuất và người còn sống, nói lên lời thương xót và cầu nguyện; đó là chân ngôn của cả một dân tộc để tự trị liệu cho mình. Ai trong chúng ta mà đã không gánh chịu oan khổ của cuộc chiến? Tới với nhau để cùng cầu nguyện cho tất cả những người đã xấu số, không phân biệt già trẻ, gái trai, Bắc Nam, chủng tộc, tôn giáo và đảng phái chính trị, đó là một sự thực tập trị liệu rất Thiền, và rất cần thiết. Đất nước đang đứng trước một vận hội mới, nếu thống nhất được lòng dân thì ta sẽ không bỏ mất cơ hội này.

 - Sau hơn 40 năm rời xa quê hương, Thiền sư đã có một chuyến trở về đầy ý nghĩa cách đây hai năm. Những cảm xúc, ấn tượng và kỷ niệm nào còn đọng lại trong lòng Thiền sư sau chuyến trở về ấy?

- Thiền sư Nhất Hạnh: Về nước sau 40 năm xa cách, tôi rất xúc động khi thấy lại chùa Tổ. Trong khóa tu cho 900 người xuất gia tổ chức tại chùa Từ Hiếu, được ngồi thiền và đi thiền hành trên đồi Dương Xuân, tôi có hạnh phúc rất lớn. Tại Sài Gòn, được ngồi lại trong giảng đường năm xưa với bốn chúng Phật tử, tôi cũng đã sống những giờ phút rất xúc động. Cùng đại chúng đi thiền hành bên Hồ Gươm cũng thế. Trong thời gian vắng mặt tại quê hương, 40 triệu người trẻ đã được sinh ra. Những sinh hoạt tu học đã được tổ chức phần lớn cho lớp người trẻ đó. Nhìn họ, tôi có cảm tưởng gặp lại thế hệ phụ huynh của họ, thành ra không hề có cảm giác xa cách. Dù là đi thiền hành, thiền tọa, pháp thoại, pháp đàm, tụng giới hay ăn cơm chính niệm, sinh hoạt nào cũng đem lại nhiều năng lượng hạnh phúc. Sinh hoạt nào cũng giống như một lễ hội, ăn mừng sự sống, ăn mừng sự đoàn tụ. Điều mầu nhiệm nhất là thấy được mức độ nghi ngờ, hiểu lầm, sợ hãi mỗi ngày mỗi thấp xuống, và tình huynh đệ mỗi ngày mỗi lớn rộng thêm ra. Tuy còn có những hạn chế, e ngại, nhưng vẫn có được rất nhiều cảm thông. Nếu chúng ta có niềm tin nơi pháp môn thực tập và vào tình huynh đệ thì những tiêu cực ấy thế nào cũng được vượt thắng trong tương lai: đó là một cảm tưởng rất rõ rệt. Các thầy ở Thừa Thiên Huế có cơ hội trở về tụng giới với nhau sau 12 năm tách biệt, đó là một thắng lợi của tình huynh đệ mà không phải của bất cứ cá nhân nào. Tôi nghĩ đây là phước đức của chư Tổ để lại. Tôi có cái phước là chưa bao giờ cảm thấy xa cách tuổi trẻ, về nước cảm giác ấy vẫn còn nguyên vẹn. Tôi nghĩ, được tuổi trẻ tin cậy đó là một hạnh phúc rất lớn.

- Thưa Thiền sư, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đang trên hành trình “đi ra biển lớn”, theo quan điểm của Thiền sư, Phật giáo Việt Nam cần có những động thái nào cho sự hội nhập ấy cùng với nhịp sống của dân tộc, xã hội?

- Thiền sư Nhất Hạnh: Đất nước đang đi vào giai đoạn phát triển công nghiệp, toàn cầu hóa; thiếu đi một nếp sống tâm linh, chúng ta sẽ bị kéo theo đà phát triển ấy và không có khả năng ngăn chặn được những tệ nạn xã hội luôn luôn phát triển và lớn mạnh trong đà phát triển ấy. Vì vậy, giới xuất gia cũng như người tại gia cần tự đào luyện cho mình khả năng tu tập vững mạnh, thiết thực, có khả năng đối phó với những hối hả, bức xúc, bận rộn dồn dập đua tranh đang mỗi ngày mỗi lớn và mở ra cho quốc dân thấy một con đường tâm linh, một nếp sống trong đó con người có thì giờ để chăm sóc, bảo hộ và thương yêu người khác. Làm sao cho các giới thương gia, chính trị gia, nhà giáo, nhà văn, nhà nghệ sĩ, người công nhân, người nông dân, người y sĩ, người sinh viên, v.v... đều có được một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày để họ không tự đánh mất mình trong sự bận rộn mà trái lại có thể sống và làm việc một cách thành thơi và hạnh phúc? Đó là sứ mạng của đạo Bụt trong thời đại toàn cầu hóa. Chúng ta đến với nhau trong các khóa tu và các sinh hoạt khác là để học hỏi và chứng nghiệm được nhu yếu và khả năng ấy nơi chính mỗi chúng ta.

Ý niệm chung của nhiều người là tiền bạc và chức vị đem lại uy quyền: đó là hạnh phúc. Trong tuệ giác Phật giáo, thứ uy quyền ấy đưa lại thèm muốn, ganh tị, chống đối và tranh chấp. Thứ uy quyền mà đạo Phật cho là căn bản của hạnh phúc là uy quyền tâm linh: đó gọi là Đức. Có ba thứ Đức: đoạn đức, trí đức và ân đức. Đoạn đức là khả năng cắt đứt mọi thèm khát, hận thù và si mê; Trí đức là khả năng giúp giải quyết những khủng hoảng tâm linh và hoàn cảnh bằng trí tuệ, và Ân đức là khả năng tha thứ, thương yêu và đùm bọc. Có ba thứ đức ấy thì chính mình có hạnh phúc và mình có thể tạo hạnh phúc được cho rất nhiều người. Ba đức ấy chính là cái mà con người và xã hội ta cần có, nếu chế tác được bằng sự tu tập thì ta mới có khả năng bảo vệ ta và xã hội ta không để đất nước trở thành nạn nhân của các tệ nạn xã hội do đà phát triển, kinh tế, xã hội tiêu thụ và toàn cầu hóa gây ra.

- Mặc dù đã bước qua độ tuổi 80, lại phải hành đạo tại nhiều quốc gia trên thế giới, thế nhưng trông Thiền sư vẫn luôn... “thường tại”. Thưa, yếu tố nào đã giúp cho Thiền sư luôn có được sắc diện và sức khỏe như thế?

- Hồi còn là một ông thầy tu trẻ, mộng ước của tôi là dựng lên được một chúng xuất gia “dễ thương” sống với nhau như một gia đình trong tình huynh đệ. Trong những năm 1954 -1960 tại Ấn Quang, tôi đã cố gắng thực hiện điều này và đã thành công với một mức độ nào đó. Tại Làng Mai, giấc mộng kia đã trở thành sự thật. Chúng xuất gia tại Làng Mai tuy gồm cả gần 30 quốc tịch, văn hóa khác nhau, nhưng là một chúng có hạnh phúc, điều này nuôi dưỡng tôi rất nhiều. Sức khỏe tôi nhờ đó mà được thăng tiến và bảo hộ. Tại Làng Mai, chúng tôi tổ chức các khóa tu và đi giảng dạy cũng nhiều, nhưng nhờ pháp môn “hiện pháp lạc trú” vừa làm vừa thư thả (như chơi), nên ai cũng không bỏ quên hơi thở và bước chân chánh niệm. Điều đó giúp cho chúng tôi không tự đánh mất mình trong công việc, và đây cũng là một yếu tố giúp cho sức khỏe. Với lại cách tôi làm việc là giao hết cho chư Tổ lo, mình chỉ làm công cụ của chư Tổ, mình không nghĩ rằng mình có tài năng gì cả, tất cả đều do chư Tổ sắp đặt, cho nên mình khỏe ru. Tại Làng Mai cũng như Lộc Uyển hay Rừng Phong, không có chùa to Phật lớn, nhưng có đủ tình huynh đệ, tại vì mình có thì giờ xây dựng chúng xuất gia chứ không phải suốt ngày lo cho chúng tại gia. Mỗi ngày được ngồi thiền, đi thiền hành, tập khí công và chấp tác với chúng xuất gia, mỗi ngày được trao truyền cho chúng những hạnh phúc của thực tập mình, thấy chúng lớn lên, tiếp nối được sự nghiệp của chư Tổ, điều này rất có khả năng nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe của mình cũng như của chúng.

- Nhân chuyến về Việt Nam lần thứ hai và dịp xuân mới Đinh Hợi, Thiền sư có gửi gắm gì đến Tăng Ni, Phật tử cũng như đối với người dân Việt Nam nói chung?

- Đạo Phật Việt Nam là một di sản quý báu của đất nước Việt Nam. Nếu ta hiện đại hóa được đạo Phật Việt Nam, không những chúng ta có thể phụng sự cho dân tộc và đất nước mà còn phụng sự được cho thế giới. Ta hiện có đủ điều kiện để làm việc ấy; và đó là công trình tu tập của chúng ta trong những thập niên mới. Kỹ thuật, công nghệ và kinh tế đang đi tới bằng những đôi hài bảy dặm. Đạo Bụt không làm mới lại thì không thể nào theo nổi, và không làm thỏa mãn được những nhu yếu tinh thần cho thời đại mới. Trong chuyến về này, tôi mong sẽ có dịp đàm đạo với chư vị đạo bạn trong hai giới xuất gia và tại gia về viễn tượng này. Cúng ta có rất nhiều cơ hội để thành công.

- Xin chân thành cảm ơn Thiền sư và kính chúc đạo tràng Mai Thôn gặp nhiều thắng duyên trong chuyến hoằng hóa tại quê nhà.

Chúc Phú-Quảng Kiến thực hiện
(Giác Ngộ số 366 1-2-2007 Tết Đinh Hợi trang 8-11)

(*) Tựa đề của Báo Giác Ngộ

.

CHUYẾN ĐI CỦA THIỀN SƯ NHẤT HẠNH 
BBC London 23 Tháng 2 2007 - Cập nhật 17h27 GMT

Ngày 20/2 vừa qua, tức ngày mùng 4 Tết nguyên đán Đinh Hợi, thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng tăng đoàn Làng Mai gồm 200 vị đã hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam kéo dài hơn hai tháng, cho tới tận ngày 9/5.

Đây là lần thứ hai sư ông Thích Nhất Hạnh, một trong các vị thiền sư nổi tiếng nhất thế giới quay trở lại Việt Nam sau khi ra nước ngoài lưu vong gần bốn chục năm qua.

Nghe chương trình Việt Nam Ngày nay

Đại đức Thích Chân Pháp Ấn, đại diện của sư ông Thích Nhất Hạnh, cho chương trình Việt Nam Ngày nay biết số người tới tham dự các buổi thuyết pháp của sư ông tại TP Hồ Chí Minh cao hơn mong đợi nhiều lần.

Hoạt động lớn nhất và cũng thu hút sự chú ý nhất trong chuyến đi lần này của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai là việc lập Đại Trai Đàn Chẩn Tế để Cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho đồng bào nạn nhân chiến cuộc.

Đại Trai Đàn Chẩn Tế thứ nhất sẽ được cử hành tại chùa Vĩnh Nghiêm, TP.HCM, theo nghi lễ cổ truyền miền Nam từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 3 năm 2007.

Đại Trai Đàn Chẩn Tế thứ hai sẽ được cử hành tại quốc tự Diệu Đế, Huế, theo nghi lễ truyền thống Huế từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 4.

Và Đại Trai Đàn Chẩn Tế thứ ba sẽ được tổ chức tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Sóc Sơn, Hà Nội, từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 4 năm 2007.

Tranh cãi

Phổ cáo của tăng đoàn Làng Mai có nói rõ: "Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan là một trong những hình thức thực tập chữa trị thương tích, nối kết lại tình đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất lâu nay."

"Chúng tôi biết, tổ chức những Đại Trai Đàn như vậy không phải là một chuyện dễ. Sẽ có những người đồng bào không đồng ý với công việc này."

"Tuy nhiên, trái tim của đại đa số đồng bào ta hiện tại đã mở ra trên chiều hướng tha thứ, chấp nhận; hầu hết đều ước ao có cơ hội chữa lành những thương tích rướm máu còn lại trong tâm hồn."

Thiền sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai tới Tân Sơn Nhất (ảnh của Làng Mai)

Đây là chuyến thăm lần thứ hai của tăng đoàn Làng Mai

Họa sỹ Hồ Thành Đức, người từng giảng dạy cùng Thiền sư Nhất Hạnh ở đại học Vạn Hạnh hồi trước 1975 nói việc cầu siêu giải oan là điều tích cực và 'hợp lý'.

Tuy nhiên chuyến đi của thiền sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai cũng đã gặp phản ứng dữ dội từ một số nhân vật và tổ chức, những người cho rằng chuyến đi này trở nên công cụ tuyên truyền của chính quyền trong nước, 'gây ảo tưởng về tự do tôn giáo'.

Ông Võ Văn Ái, giám đốc phòng Thông tin Phật giáo quốc tế tại hải ngoại của Giáo hội Phật giáo VN thống nhất, vốn không được cho phép hoạt động tại Việt Nam, nói thay vì cầu siêu cho người đã chết, sư ông Nhất Hạnh nên can thiệp để đòi nhân quyền và tự do tôn giáo cho người đang sống.

Có cảm tưởng, những tranh cãi xung quanh chuyến đi của thiền sư Thích Nhất Hạnh, tựu trung cũng quay về tranh cãi xung quanh một chủ đề chính trị, đó là tự do tôn giáo.

Nghe phỏng vấn sư cô Chân Không
 
 

.

THIỀN SƯ NHẤT HẠNH TRỞ LẠI VIỆT NAM 
BBC - 23 Tháng 2 2007 - Cập nhật 10h29 GMT

Thiền sư Thích Nhất Hạnh về làm ba lễ cầu siêu giải oan ở Việt Nam

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một trong những nhà tu hành nổi tiếng nhất thế giới, đã quay trở lại Việt Nam để thực hiện lễ cầu siêu giải oan ở trong nước.

Thiền sư, một người có nhiều cuốn sách bán chạy, đã sống lưu vong từ bốn thập niên qua.

Ông trở lại quê nhà lần đầu tiên năm 2005 sau khi đã bị buộc phải sống ở nước ngoài từ thời chiến tranh Việt Nam.

Lần này ông quay trở lại, với dự định lập "Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan" tại TP. HCM, Huế và Hà Nội.

Các lễ dự kiến được tổ chức vào các ngày 16-18.03.2007 ở chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn, sau đó từ 4 đến 6.04 tại chùa Diệu Đế ở Huế. 

Cuối cùng, chương trình sẽ kết thúc ở chùa Non, Sóc Sơn gần Hà Nội, từ 20 đến 24 tháng Tư 2007. 

Bản tin vắn của Thông tấn xã Việt Nam nói thiền sư Nhất Hạnh sẽ ở Việt Nam từ mùng 4 Tết âm lịch tới 9/5/2007, với "sự đồng ý của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam".

Cầu siêu

Thông cáo của tăng đoàn Làng Mai nói mục đích là để "cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế."

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất hôm thứ Ba 20/2, và dự định đi vòng quanh đất nước cho đến ngày 9/5.
 
 

Mục đích là cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh
Thông cáo của Tăng đoàn Làng Mai

Ông là người rất có uy tín tại phương Tây, và một số người cho rằng có lẽ ông là nhà sư nổi tiếng thứ hai ở phương Tây, sau đức Đạt Lai Lạt Ma.

Là một người cổ vũ cho hòa bình, ông nhận sự lạnh nhạt từ cả hai phía chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc trong cuộc chiến.

Chuyến trở về lần này của thiền sư sẽ gây chú ý, vì các lễ cầu siêu được nói là cầu nguyện siêu độ cho tất cả những đồng bào nào "từng là nạn nhân của chiến cuộc, không phân biệt Bắc Nam, chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, già trẻ hay trai gái."

Tranh luận

Việc thiền sư Thích Nhất Hạnh được Đảng Cộng sản Việt Nam cho phép về nước lập đàn chay cũng gây ra một số dấu hỏi cho cộng đồng người Việt ngoài nước.

Có tác giả đã lưu ý rằng vào năm 2000, để đánh dấu thời điểm 25 năm kết thúc cuộc chiến, hòa thượng Thích Huyền Quang, viện trưởng Viện Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã đề nghị nhà nước cho giáo hội lập đàn giải oan.

Tuy vậy đề nghị này bị bác bỏ, vì giáo hội này không được chính quyền thừa nhận.

Một thông cáo của tăng đoàn Làng Mai kêu gọi người theo các tôn giáo khác cũng cầu nguyện cho những người đã chết trong chiến tranh.

Thông cáo cũng nói: "Đồng bào tin theo chủ nghĩa Mác Xít cũng xin thiết lập một bàn thờ như thế và sử dụng một văn bản tương đương trong truyền thống Mác Lê-nin."

Chuyến đi của thiền sư Nhất Hạnh, dù kẻ khen người chê, cũng thu hút sự chú ý rộng rãi.

"Giải oan'

Họa sĩ Hồ Thành Đức, người cùng giảng dạy tại trường đại học Vạn Hạnh trước đây cùng thiền sư Thích Nhất Hạnh, nói người ta để ý tới từ "giải oan" trong hoạt động của Tăng đoàn Làng Mai.
 

Hòa hợp, hòa giải đến đâu, phụ thuộc phần nhiều vào nỗ lực của trong nước
Họa sỹ Hồ Thành Đức

"Trong kinh kệ, có hai từ 'oan nghiệt'. Không có oan ức, thì không có giải oan."
"Giải oan theo tinh thần của thầy Thích Nhất Hạnh là đúng với tinh thần Phật giáo."

Thế nhưng, họa sỹ Hồ Thành Đức cũng băn khoăn là liệu việc 'giải oan' có phù hợp với tinh thần các tôn giáo khác hay không và có được đông đảo quần chúng chấp nhận hay không.

Cũng theo ông Đức, thời điểm mà thiền sư Nhất Hạnh chọn để về Việt Nam, khi các chữ 'hòa hợp, hòa giải' được nói đến nhiều, cũng là một thông điệp chính trị.

"Thế nhưng hòa hợp, hòa giải đến đâu, phụ thuộc phần nhiều vào nỗ lực của trong nước."


Một thính giả
Thực hiện được lễ cầu siêu giải oan là một việc làm tốt, rất cần thiết cho những ai có tầm nhìn thấu suốt của cuộc chiến tranh mà lẻ ra không phải có. Gây nên nổi oan uổng của các oan hồn lang thang tức tửơi rài đây mai đó không sao siêu thoát được. Tổ chức cầu siêu là điều cần làm ,nhưng phải biết tiết kiệm,không nên lợi dụng tổ chức nầy mà làm tiền bá tánh.(học thói nhà cầm quyền )đau lòng con quốc quốc lắm ! Tôi là người VIỆT NAM nên rất hiểu các đức tính của người VIỆT NAM là :" tham lam đủ thứ ..." cái tốt thì học quá dở, cái xấu không ai dạy thì lại quá rành. Tự hỏi tại sao ? cùng là CON NGƯỜI NHƯ NHAU mà ta lại dùng mọi thủ đoạn, mọi mánh khoé, tất tất quyền huy để thúc ép người khác phải cúi đầu phục tùng ta, cung phụng ta, ta mới chịu!ta rất lấy làm hảnh diện và tự hào là hay nhất, tốt đẹp nhất. 

Phuong Nguyen, Da nang, Việt nam
Tôi không hiểu người ta nói gì về lễ cầu siêu đầy chính trị!nhưng tôi biết thiền sư là ai.và tôi tin vào uy danh của ngài, của Đạo phật. Việc làm tốt đẹp như vậy không mang lại lộc gì cho chính mình, ma dêm tinh thương gieo khắp quần sanh vì vậy không một lý do gì để chê trách trái lại chúng ta dáng khâm phục .đừng vì cái hận thù sâu xa mà làm mất đi tinh thần truyền thống thuần túy tốt đẹp của dân tộc .hãy nhìn và suy nghĩ cùng cầu mong cho một viêt nam hòa bình, một thế giới an lạc.

Nick, San Jose, California
Theo tôi, chắc phải đợi cho mấy bác của thế hệ 75 nhắm mắt đi hết, bên nào cũng vậy, mới có hòa giải quá. Thầy Nhất Hạnh chỉ là người tu hành, làm được cái gì ông thấy là tốt đẹp thì ông làm, chính là cầu siêu niệm Phật. Làm sao ông có thể làm hài lòng hết mọi người được? Oan ức thì thời nào, nơi nào cũng có. Chẳng phải chỉ là do chiến tranh gây ra. 

Nhà sư đã có nói rõ: Trai đàn cho người chết này cũng là một phương pháp kéo người sống lại với nhau. Người không có tâm hồn trong sáng và không có ý muốn dân tộc hòa giải thì không thể hiểu được ước nguyện này của nhà sư Nhất Hạnh. Dân chủ nhân quyền là một chuyện phải làm nhưng đó là một việc tách bạch. Mỗi người chỉ có thể đóng góp một ít nhưng nếu tất cả đều chung sức thì dân tộc Việt Nam không những sẽ hòa thuận, đoàn kết mà còn sống trong thịnh vượng, dân chủ! 

Tích Hoàng
Bạn "Một Thính Giả" yêu cầu nhà nước CS "cũng nên giúp cho dân tộc Việt Nam hoà giải" thế mà bị "Một Phật tử ở Việt Nam" lên án thì kể cũng lạ. Đã tự nhận là Phật tử, tức là thấm nhuần từ bi hỷ xả mà lại cay cú với lời lẽ "Họ là người không cần giải oan! Không có gì oan uổng với họ cả", thật đáng buồn cho thế thái nhân tình. 

Lưu Đình Vong, Little Saigon, California
Ngài Nhất Hạnh quả là đang làm một việc có thể gọi là "tăng cường hậu cần" tối đa cho "chiến trường hoà giải hoà hợp" do Hà Nội vừa phát pháo tấn công vào các cộng đồng Việt tị nạn CS ở hải ngoại. Tất cả những người lính của 2 miền nam bắc trong cuộc chiến VN đâu có chết "oan" đâu mà cần ngài giải thoát. 

Những ngưới lính miền bắc CS được Bác và Đảng giao cho "lý tưởng giải phóng miền nam". Còn những người lính miền nam như lão già 86 tuổi tôi đây thì mang "lý tưởng bảo vệ cho một miền nam tự do và dân chủ" (ít ra thì miền nam lúc đó cũng có tự do báo chí, tự do biểu tình và cả tự do đốt hình nộm tổng thống). 

Như thế những người lính của cả 2 miền dù đã chết hay còn sống nhăn như lão đây chẳng có nỗi oan nào để cho Thầy Nhất Hạnh phải giải cả. Khi đi VN lần trước, Thầy Nhất Hạnh xin được gặp Thầy của ngài là HT Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện, nhưng HT Quảng Độ nhất quyết từ chối. Nguyên sự kiện này cũng đủ thấy Thầy Nhất Hạnh thuộc về "phe" nào rồi. 

Duy Văn, Pháp
Tôi có ý nghĩ việc lập trai đàn của thầy Nhất Hạnh là tốt về việc Đạo Phật đi vào đời hỷ xả từ bi bác ái nhưng phải tránh để Đời đi vào Đạo vì rất dễ bị coi là lạm dụng. Việc lớn này nên phải do chinh quyền CSVN đích thân lập một ủy ban trung ương chủ trì mời các đại diện tôn giáo hỗ trợ. Tôi tưởng việc này là buớc đầu của sự hòa giải mà ai cũng mong muốn và nghĩ rằng đảng CSVN có thể làm được vì đó có thể là ngày đại hội của toàn dân.

Nguyễn Hiếu, HCM
Tôi hy vọng đây là một việc làm thuần túy về mặt tâm linh, không bị chi phối bởi ai khác.

Văn Thanh Hòa, Pasadena, US
Theo tôi lập Trai Đàn Giải Oan cho những vong linh chết thảm trong chiến tranh "huynh đệ tương tàn" là điều tốt, nhưng việc này nên để cho Hội Đồng Liên Tôn làm thì tốt hơn ông sư Thích Nhất Hạnh. Ngày nào ông nhà nước không đủ can đảm hòa giải với người sống và thân nhân của họ là tử sĩ của hai phía Quốc Cộng, thì ngày đó đừng hòng làm những việc trơ trẻn tâm linh với người chết, e rằng phản tác dụng! 

Dù đã trên 30 năm qua, những vết thương rướm máu vẫn còn rỉ máu, vẫn còn hằn xâu vào lòng người nhiều nổi hận thù bất tận. Nếu ông nhà nước thực tâm xây dựng tình người thì hãy chứng tỏ bằng hành động và thiện chí, hơn là "cấu kết" làm cái việc...trời ơi đất hỡi ! Hãy giải oan cho người sống thì người chết sẽ ngậm cười nơi chín suối. Đừng làm trò hề giải oan cho người chết trong cùng lúc ra tay hành hạ người sống. E rằng việc làm đó quá ư tráo trở, không thể chấp nhận. 

NMP, HCM
Tôi cảm thấy sự kì diệu của thiền định tối qua tại chùa Pháp Vân. Tôi nghĩ việc lập "Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan" của ngài có ý nghĩa. Giáo hội Phật gíao Trung ương dường như chỉ đứng ngoài để giám sát. Lịch sử sẽ nhắc đến ngài như một nhà sư có công trong việc hòa hợp, hòa gỉai dân tộc, chứ không phải nhà cầm quyền Cộng Sản theo chủ nghĩa vô thần xa lạ. 

Một Phật tử ở Việt Nam
Tôi đã biết tin này qua các phương tiện thông tin trong nước. Tôi rất đồng tình với việc làm này của tăng thân Lang Mai (Pháp) và Phật Giáo Việt Nam! Chỉ có những người đầu óc còn thù hận thì không thể hiểu và đồng thuận với việc làm nhân ái này! Họ là ai? Trên diễn đàn này họ là Thính giả ẩn danh,Tam Keo Thanh Quy,Trần Hùng, Minh Nam, Một thính giả... Họ là người không cần giải oan! Không có gì oan uổng với họ cả.

Thính giả ẩn danh
Lần đầu Làng Mai về thì mọi người còn ngỡ ngàng, hân hoan đón tiếp; Lần này thì "ai nấy đều thấy cần... lánh xa" (nếu không muốn ...tốn tiền). Vì trong buổi họp trù bị để đón rước phái đoàn này, chủ toạ do TT Thích Phước Trí và Sc Giới Minh chủ toạ tại chùa Pháp Vân, đã yêu cầu các vị trụ trì có mặt phải đóng góp mỗi vị theo một trong hai khung giá: 5 triệu hoặc 10 triệu. Gọi là tiền đóng góp cho giáo đoàn Làng Mai nghỉ ngơi tại chùa Pháp Vân. Kết quả là nhiều vị trụ trì đã ... bỏ không dám tham gia. Còn với người cư sĩ tại gia là 200.000. 

Phan Phan
Tôi hoàn toàn ủng hộ việc đồng ý cho Thiền Sư Thích Nhất Hạnh lập "Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan". Tất cả những ai từng chết trong chiến tranh Việt Nam, dù theo phe nào cũng là người Việt Nam, cũng vì lí tưởng cao đẹp của mình nên tất cả đều xứng đáng được "cầu nguyện và giải trừ oan khổ". Cho dù có sự can thiệp, ủng hộ từ bên ngoài nhưng cuối cùng thì người Việt Nam vẫn chịu tổn thất (nhân mạng, kinh tế, văn hóa...) lớn nhất. Mong rằng đừng bao giờ có thêm một cuộc chiến tranh nào xảy ra trên mảnh đất nhỏ bé này nữa. Như thế đã là quá đủ. Cảm ơn Thiền sư đang làm một việc đạo vô cùng cao đẹp.

Tam Keo Thanh Quy, St Louis, USA
Chuyện nói chung chung giải oan cho mọi người thì dễ quá! Nhưng xin Ông Nhất Hạnh và ttang thân Làng Mai xác định thế nào là oan trong cuộc chiến Việt Nam? Có xác định thế nào là oan thì mới giải được chứ! Như ông Nhất Hạnh sau khi đi "giải độc" bị không cho về nước là oan hay không? Sau 75 ông cũng không về nước để xem GHPGTN trong đó ông là một thành viên bị đánh tơi tả thì ông bị oan hay GHPGTN bị oan? 3 triệu lính chết được kể là từ miền Bác vào hay là bộ đội miền Nam, không kể lính Cộng Hòa vì không có ai hơi đâu tính sổ dùm cho họ thì ai oan ai không? 

Nói oan mà không có tiêu chuẩn thì làm sao Phật chứng mà cứu độ cho giải thoát được? Lại còn chuyện "Đồng bào tin theo chủ nghĩa Mác Xít cũng xin thiết lập một bàn thờ như thế và sử dụng một văn bản tương đương trong truyền thống Mác Lê-nin." thì quả là ông Nhất Hạnh chưa học được bài học số một trong các trại cải tạo "Phân biệt rõ bạn và thù" của kinh sách Mác Lê. Hay sử gia Lê Mạnh Thát biết mà cố tình làm ngơ để tỏ ra mình có kêu gọi cả hai phía, ba bên. Lại ông Nhất Hạnh kỳ này có lập đàn riêng giải oan cho các tù nhân chính trị hiện còn sống trong tù hay chỉ giải cho người chết? 

Trần Hùng, Melborune, Úc
Thiết nghĩ việc giải oan là việc của người sống, hay nói đúng hơn là trước hết phải do những người cộng sản tiên xướng. Vì họ là những người cầm trịch, nắm chính quyền nên mới thúc đẩy được. Ông Võ Văn Kiệt thời gian gần đây cũng muốn theo chiều hướng thúc đẩy hoà hợp dân tộc, xoá hận thù. Nhưng tiếc là ông đợi đến lúc hết chức rồi mới dám nói. Còn thì chính quyền bây giờ hầu như chẳng quan tâm. 

Chiến tranh đem vô vàn đau thương, oán hận cho cả 2 phía Việt Nam. Ngày xưa như thế, ngày nay thật ra cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tôi tuổi sinh viên, lớn lên tại Sài gòn, có cơ hội gặp nhiều nhân vật và gia đình Nam Bắc. Mặc dù ít ai nói ra thẳng thừng nhưng cái sự thành kiến Bắc Nam nó ăn sâu vào máu của từng người rồi. Người Nam oán hận, tức tưởi vì mất nhiều quá. Người Bắc say men chiến thắng, muốn định đoạt mọi sự cách duy ý chí. Thầy Nhất Hạnh muốn giải oan người chết thôi, chứ bao cái oan người sống cả 2 đàng ở đấy đến bao giờ mới được giải xong. 

Minh Nam, Việt Nam
Nước VN chúng ta bị chia cắt làm hai nửa, mỗi nửa đứng vào một phe không đội trời chung. Mỗi phe đều tận lực giúp cho mỗi nửa VN thắng nửa kia bằng bạo lực, đủ hiểu cuộc nội chiến 20 năm thảm khốc tới mức nào. Phải nói rằng đảng ta phát động cuộc nội chiến này là rất sáng suốt, nếu không đảng ta sẽ thua to trong thi đua kinh tế (như Đông Đức và Bắc Triều Tiên). Đã là nội chiến thì tất cả đều là chết oan, vô ích cả thôi. Cần giải oan cho cả hai bên để tiến tới hoà giải thật sự. Hội phật giáo VN không tham gia có lẽ là theo lệnh đảng, nên thông cảm cho mấy vị sư quốc doanh này. 

Một thính giả
Bây giờ ta đã hồ hởi với hội nghị APEC thành công, với chào đón Bush, tiếp Clinton vui vẻ, và đang chuẩn bị "hò dô ta" đẩy con tàu Việt Nam "ra biển lớn" WTO, tôi đây mới thấy thày Thích Nhất Hạnh "cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế." là rất tinh thông đạo lý. 

Thật ra dân mình với lính mình ở cả Nam lẫn Bắc bị chết rất là oan nghiệt. Mong là sau các thánh, các thần hóa giải cho các oan hồn, thì đảng cũng nên giúp cho dân tộc Việt Nam hoà giải. Được như thế thì nhân dân rất đội ơn, và đảng có thể xuôi tay về nơi an nghỉ. 

Tran Anh, Long Beach, California
Lập đàn giải oan tại Việt Nam cho tất cả những ai đã từng gánh chịu những hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh là một hành động hợp lý của thiền sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai. Mặc dù “trai đàn giải oan” không được GHPGVN chính thức công nhận, nhưng hành động này có thể được xem là bước đầu của tiến trình hoà giải dân tộc. Hiển nhiên đây cũng là dịp để giải oan cho chính bản thân thiền sư Nhất Hạnh, bởi những lời nói và việc làm giữa và sau chiến tranh của thiền sư đã gây nên ấn tượng lầm lẫn thiền sư chỉ là một người háo danh, khoác lác và thân cộng. 

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/02/070221_thichnhat_hanh.shtml

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: 
"NẾU KHÔNG THAM SÂN SI, CÓ TÌNH THƯƠNG, ĐÃ LÀ PHẬT RỒI
10:15:13, 05/04/2007Lê Thị Thái Hòa (thực hiện) 

Trở về VN trong một chuyến hành trình dài nhất từ trước đến nay, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng phái đoàn tăng ni Làng Mai đã có nhiều hoạt động Phật sự trải dài khắp đất nước. Đây là một sự kiện được báo chí trong, ngoài nước dõi theo, ghi nhận. Có thể nói, đó cũng chính là một minh chứng rõ nét cho chính sách "Đại đoàn kết dân tộc", "Tự do tôn giáo và tín ngưỡng" của VN thời kỳ đổi mới. 

Thật khó để thu xếp được một cuộc hẹn dù tôi đã có hai lần đến gần Thiền sư. Nhưng tôi chỉ là một trong số “chúng sinh” vẫn ít nhiều đứng bên ngoài cửa Phật mà "kính nhi viễn chi". Đúng là "đi mãi rồi cũng tới", chùa Pháp Vân trong một cơn mưa trái mùa đầu chiều hạ, trong sự bồn chồn vì phải đợi hoài mà Thiền sư vẫn chưa có thời gian rảnh để dành cho tôi. Thầy Pháp Khâm mang tới một bình nước trắng, nói nhẹ nhàng: "Chị đã chờ rất lâu để được gặp thầy, phải không? Vậy thì ở đây và chờ thêm một xíu nữa cũng đâu có sao?". Tôi chỉ là một người thường, tôi chưa học được sự nhẫn nại, và trạng thái chờ đợi làm tôi thực sự căng thẳng. Ngoài trời mưa vẫn như trút nước xuống. Nên khi được lên căn gác nhỏ, ngồi xuống chiếc chiếu trúc, tôi đã như hốt hoảng thốt lên:

- Thưa thầy, con đã chờ lâu lắm để gặp được thầy hôm nay!

Hai tay bưng tách trà xanh, nhẹ nhõm và nâng niu, Thiền sư cười hóm hỉnh: 

- Tôi cũng đã chờ chị từ rất lâu rồi!

Bỗng nhiên mà cảm giác thư giãn tràn ngập và trạng thái căng thẳng của tôi dường như tan biến, Thiền sư đã xóa đi những khoảng cách để tôi tìm được cảm giác an lạc ngay trong sát na này, khi được ngồi bên bàn trà, mà thỏa sức hỏi những câu hỏi đã ở trong tâm mình từ lâu lắm…

"Quê hương sẽ không bao giờ nằm ngoài thực tại vì đó là trái  tim mà lúc  nào tôi cũng mang theo" 

Thiền sư ung dung nói 17 câu hỏi của tôi, ông đã xem qua, đã hiểu tôi còn quá nhiều thắc mắc, những thắc mắc dài hơn một khoảng thời gian mà ông có thể dành cho một phóng viên. Tôi biết, ở ngoài kia, có một đoàn làm phim của Đài truyền hình Ý đã đi theo Thiền sư 25 ngày rồi nhưng ngày mai, họ mới có được một cuộc gặp riêng với thầy, và tôi hiểu mình là người may mắn. Còn hơn thế, khi trước đó tôi được thầy Pháp Khâm cho biết, thường thì Thiền sư không trả lời câu hỏi phỏng vấn mà sẽ yêu cầu người hỏi đến, thiền hành rồi nghe thầy Pháp thoại và tự tìm ra điều mình muốn hỏi trong chính những điều Thiền sư đã nói. Tôi lại may mắn là một ngoại lệ, Thiền sư đồng ý trả lời từng câu hỏi của tôi, tất nhiên không phải tất cả.

* Thưa thầy, thầy đã nói chuyến đi này không phải là một cuộc viếng thăm mà là trở về. Sự trở về này được hiểu như thế nào ạ? Và thầy đã trở về vậy có ra đi nữa không? 

- Đi VN cũng là trở về mà đi Pháp cũng là trở về, chúng tôi thấy ở đâu cũng là quê hương của mình. Có lẽ điều tôi nói khác với hình dung của chị. Nhưng sự thật là đi đâu tôi cũng có ý thức là đã về đã tới. Khi đi bách bộ trong phi trường bên Pháp đợi máy bay, mỗi phút giây đã là sự trở về. Nếu mình chỉ trông về VN thì mình bỏ quên bước chân ở bên Pháp, bỏ quên hiện tại. Không phải về đến Tân Sơn Nhất mới là trở về. Tôi về tôi tới trong từng giây từng phút cũng chính là sự trở về vậy. Quê hương của mình chính là ở đây, bây giờ, trong giây phút hiện tại. Quê hương sẽ không bao giờ nằm ngoài thực tại vì đó là trái tim mà lúc nào tôi cũng mang theo. Do sự tu tập mà chúng tôi có được điều đó. Không phải do một lý thuyết nào cả. Khi giảng dạy cho người Tây phương chúng tôi cũng nói như vây, không để cho quá khứ ảnh hưởng mà luôn biết sống trong hiện tại. Có những người bị quá khứ giam hãm, lo lắng, sợ hãi, thiết kế tương lai mà quên đi hiện tại. Họ thật bất hạnh khi đã không biết sống cho từng giây phút hằng ngày. 

* Phật giáo ở VN có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Đã có câu thơ của nhà sư Thích Mãn Giác: "Mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông"..., riêng với thầy, cảm nhận của thầy về vị trí hiện tại của Phật giáo trong xã  hội VN? 

- Đạo Phật trong quá khứ đã là nền tảng, nếp sống văn hóa của người VN. Tâm đạo của Phật tử VN thực ra không hề thay đổi. Nhưng đạo Phật cũng cần phải được hiện đại hóa trong cách học, cách tu tập thì mới biết được mà tháo gỡ những khó khăn trong cuộc sống hiện đại. Nếu không thì người trẻ khó mà tiếp thu đạo Phật được. Theo tôi, sứ mạng của Phật giáo VN hiện tại là phải hiện đại hóa, không thể nói thao thao bất tuyệt bằng lý thuyết dù lý thuyết đó có thể rất bác học nhưng thiếu khoa học. Nếu tới đạo tràng Mai Thôn, sẽ là sự đi tìm những phương pháp hữu hiệu để tháo gỡ những khó khăn trong cuộc sống. Quan trọng là đạo giáo phải áp dụng được cho cuộc sống. Đạo Phật có phần tôn giáo tín ngưỡng, người Phật tử đến chùa chỉ để cúng dường thì chưa thể tháo gỡ được khổ đau, khó mà đến được với tuệ giác của đạo Phật. Tuệ giác rất vĩ đại, có thể giải quyết được những bế tắc, tháo gỡ những khó khăn trong lòng mình, trong cộng đồng. Điều này hiện tại ở đạo Phật đang thiếu cho người trẻ để học được. Có những người trẻ họ tự tử vì bức xúc lớn trong cuộc sống, vì họ không giải tỏa được, đạo Phật phải có ngôn ngữ mới, cách dạy mới… thì mới có thể đưa đạo Phật đến được gần với người trẻ và người trí thức. 

* Theo thầy, tinh thần nào đã khiến cho Phật giáo và những tín đồ của tôn giáo này  luôn giữ được một tinh thần khoan dung và ôn hòa đến thế ?

- Trong đạo Phật, có một thực tập gọi là phá chấp - nghĩa là sự buông bỏ thực tại của mình đi đến một cái cao hơn. Khi con người bị vướng vào những ý thức hệ khác nhau là bị kẹt. Người tự do và giải thoát là không bị vướng vào những điều đó nữa, chân lý tuyệt đối không thể nói bằng lời, bằng ngôn ngữ. Chân lý của đạo Phật là hướng dẫn cho con người đi tìm đến chân lý chứ không phải là chân lý. Ví như bản đồ của TP.HCM không phải là thành phố. Nhưng tấm bản đồ cần thiết để ta tìm đường trong thành phố. Chiếc bè không phải là bờ bên kia nhưng phải dùng chiếc bè để đi qua sông. Đạo Phật có tinh thần bao dung rất lớn. Không bao giờ đạo Phật tổ chức võ trang để chống lại bất kỳ thế lực nào mà luôn giữ một tinh thần bất bạo loạn. Hiện bây giờ, thế giới đang có hứng thú để nghiên cứu, thực hành đạo Phật chính vì tính không giáo điều, không có cố chấp. Đức Phật không phải là một thần linh. Đức Phật là một con người như chính chúng ta. Con người có thể cũng trở thành Đức Phật. Đó là một điều rất lạ đối với người Tây phương. Đạo Phật luôn đưa chúng ta về với bản chất của con người. Phật tại tâm, và chúng sanh chính là Phật. Nếu chúng sanh không tham sân si, có tình thương đã là Phật rồi còn đi tìm ở đâu nữa. 

* Năm 1995, Thiền sư được mời nói chuyện trước các vị nguyên thủ quốc gia, các nhà khoa học xã hội và kinh tế tại San Francisco ở Hội nghị State of the World Forum về "Chiều sâu tâm linh cho thế kỷ XXI". Xin thầy có thể nói một số ý chính về cuộc nói chuyện này? Phải chăng, sau hàng loạt những tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia, các tôn giáo, những nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới đã nhận ra rằng chỉ có tinh thần khoan dung mới là cốt lõi để hóa giải mâu thuẫn và khiến nhân loại có được một cuộc sống ổn định hơn?

- Trong diễn đàn "Chiều sâu tâm linh cho thế kỷ XXI", có rất nhiều lãnh tụ chính trị. Ngày hôm đó tôi thuyết trình 5 giới của đạo Phật một cách rất phổ thông. Đó thực ra là sự thực tập của tình thương, của sự bảo vệ, phát triển cuộc sống, và gìn giữ cho mình. 5 giới đó không chỉ có tính chất tôn giáo mà còn mang tính chất đạo đức. Thông điệp của UNESCO năm 2000 cũng được trình bày giống như vậy với sự đồng thuận của 80 triệu người, có nhiều nguyên thủ quốc gia tham gia mà Thủ tướng Phan Văn Khải là một trong số đó. Sau diễn đàn, chúng tôi quy tụ lại trong một gian phòng, rồi tập thở, tập đi những bước chân thanh thản, trong đó có những người như bà Margaret Thatcher, ông Bush cha cũng tham gia… Tôi không muốn lý thuyết mà muốn có sự tu tập và để cho họ tự lựa chọn. 5 giới đã được trình bày một cách rõ ràng mà ai cũng có thể làm được và nếu làm được thì trái đất sẽ có một tương lai. (Cũng là chủ đề cuốn sách Để có một tương lai của Thiền sư).

* Thưa thầy, đâu là nguyên do chính thôi thúc một người phương Tây đến với Phật giáo. Cách một người phương Đông và một người phương Tây tiếp cận với đạo Phật có gì khác nhau không? 

- Người phương Tây tới thực tập với chúng tôi không có mang theo pháp vật cúng dường như hương hoa đèn nến vì với họ, chúng tôi mang đến cho họ một hệ thống triết học. Họ tới để học cách lắng dịu những căng thẳng, đau nhức ở trong tâm. Những ông cụ bà cụ tới cúng dường như ở VN ở phương Tây là không có. Hiện tại, mỗi một mùa hè có khoảng 45, 50 quốc tịch trong Làng Mai. Lúc đó đạo Phật giống như là một phương pháp trị liệu vậy. Bởi với người phương Tây, đạo Phật rất là mới, không phải như là cách thức truyền bá ở VN. Nên những người phương Tây tham gia tu tập với chúng tôi đa số là những người trẻ và trí thức. Tôi nghĩ nó đã có hấp lực ở phương Tây thì mang về VN chắc chắn cũng được giới trẻ đón nhận. Sau này cũng có thể có những khóa học như vậy ở VN không phân biệt phương Tây hay phương Đông. 

* Thưa thầy, con đã đọc nhiều sách ghi lại lời giảng của thầy cũng như những gì thầy viết, con nhận thấy thầy không bao giờ né tránh cuộc sống như một số các nhà tu hành vẫn áp dụng mà ngược lại, thầy đi thẳng vào cuộc sống, lấy chính cuộc sống với những hỉ nộ ái ố của nó để làm bài học cho chúng sinh. Vậy cuộc sống với thầy thực ra là gì ạ? 

- Đạo Phật sinh ra vì cuộc sống. Vì cuộc sống có những khó khăn, có những khổ đau nên mới có đạo Phật. Đạo Phật ở VN là nhập thế nghĩa là không chỉ ở chùa mà ở khắp nơi, đi Thiền sư Thích Nhất Hạnh pháp danh Trừng Quang, xuất gia tu học từ năm 16 tuổi ở Tổ đình Từ Hiếu. Năm nay, Thiền sư 82 tuổi đời. Năm 1967, Thiền sư đã được đề cử giải Nobel Hòa bình. Thiền sư từng thuyết trình ở Quốc hội Hoa Kỳ, Canada, Ấn Độ và một số diễn đàn cao cấp khác về phương pháp sống chánh niệm. Trường đại học Long Island (New York) và Trường đại học Loyola (Chicago) đã tặng Thiền sư văn bằng Tiến sĩ nhân văn cho những hoạt động giáo dục, văn hóa và xã hội. Thiền sư từng giảng dạy tại Đại học Columbia, Boston và New York (Hoa Kỳ), Đại học Amsterdam (Hà Lan), Đại học Sorbonne (Pháp).Trên 100 tác phẩm của Thiền sư đã được lưu hành rộng rãi trên thế giới bằng nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Hoa, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha...

vào cuộc đời. (Đạo Phật đi vào cuộc đời là tựa đề một cuốn sách của Thiền sư). Không thể giữ đạo Phật chỉ ở trong chùa được. Hiện tại ở phương Tây, có nhiều cuộc tuần hành vì hòa bình, hay cổ động sự giúp đỡ dành cho người nghèo mà nhiều cuộc tuần hành đó xuất phát từ Làng Mai… 

* Vậy thưa thầy, "Phật pháp vô biên" nhưng còn lòng người thì sao ạ? 

- (Thiền sư im lặng một xíu, uống khẽ khàng một ngụm trà rồi mới thong thả nói) Tuệ giác giống như biển cả. Nó như một dòng sông, khi mình cần tới nước thì mình tới với dòng sông. Khi đó mình muốn uống nước thì đến, múc nước về là tùy. Có người để hết cuộc đời để đi vào dòng sông, có người chỉ ghé qua rồi lại đi. Từ bi và tình yêu trong đạo Phật không có ranh giới. Đó là từ bi hỉ xả. Từ chính là nếu thương mà chưa hết lòng vì người mình thương thì chưa phải là tình thương. Bi là biết lấy đi những đau khổ của người mình thương mới chính là thương. Hỉ là phải biết làm người mình thương vui - ấy là thương. Xả là không có ranh giới, không có sự phân bì hay kỳ thị. Thương hết mà không kỳ thị là xả, là ôm lấy hết. Bốn cái chất liệu từ bi hỉ xả đó có thể phát triển đến vô biên. Càng thương yêu càng hạnh phúc. Tứ vô lượng tâm - chính là 4 thứ tình yêu không có ranh giới. Và đó chính là cuộc sống.

* Trong nhiều bài thuyết pháp, thầy có khuyên mọi người sống an vui, thảnh thơi hòa hợp trong chính gia đình mình, nếu ai cũng vậy thì Phật giáo liệu có còn người xuất gia khi mà không thể thiếu "tăng" trong ba vị trí quan trọng tạo nên Phật giáo là "Phật - pháp - tăng"?

- Nếu ai cũng đã biết sống an vui trong hiện tại thì Phật giáo đã hiện diện khắp nơi. 

* Con được biết các nhà làm phim Hollywood muốn thực hiện bộ phim Đường xưa mây trắng do tỉ phú người Ấn Độ, ông Bhupendra Kumar Modi, tài trợ với khoảng 120 triệu đô la. Thầy đã không nhận bất kỳ khoản nhuận bút nào mà chỉ đề nghị các nhà làm phim tham gia một khóa tu tập. Thực hư chuyện này ra sao và dự án làm phim đã tiến hành đến đâu rồi ạ? 

- Tôi đã mở nhiều những khóa tu tập cho các người ở Hollywood, họ rất sợ hãi, sống rất nhiều khổ đau. Tôi đã gặp rất nhiều, tôi cho họ thực tập và nghe, họ đã khóc. Với phim Đường xưa mây trắng tôi đòi hỏi mọi người tham gia làm phim phải đến Làng Mai tu tập để thực sự thảnh thơi nhẹ nhàng. Chúng tôi không có lấy tiền nhưng có một điều kiện đó thôi để họ có thể có cuốn phim có chất lượng. Nếu không có gì thay đổi thì bộ phim sẽ tham dự LHP Cannes vào năm sau.

* Thưa thầy, "Phật tại tâm". Vậy các nghi lễ của Phật giáo nhiều khi bí ẩn và mang màu sắc huyền thoại có cần thiết không ạ? 

- Nó cần thiết vì chỉ những người đạt đến  trình độ vô tướng thì người ta mới không cần hình thức. Nhưng nhiều người cần cái đó người ta mới có thể cảm thấy gần gũi. Bàn thờ ông bà chẳng hạn, mình biết ông bà đâu phải ngồi trên bàn thờ. Nhưng hình thức hướng dẫn được cho cái tâm. Những người tu tập như chúng tôi không cần hình thức nhưng bây giờ thì nhiều người vẫn cần. Có chân tâm và vọng tâm. Nếu tu tập tốt thì chân tâm lớn lên và vọng tâm sẽ nhỏ đi. 

* Thầy tin là Phật giáo có thể làm được điều gì tốt nhất cho một con người? Và theo thầy, con người sẽ tìm thấy điều tốt đẹp gì khi thành tâm trở thành một Phật tử?

- Phật giáo có thể làm được điều tốt nhất cho con người đó là sự "từ bi hỉ xả" và khi luôn biết "an trú trong hiện tại" thì mỗi một con người đã là một Phật tử rồi. 

Tôi còn quá nhiều câu hỏi "tại sao", "như thế nào", "là cái gì" nhưng Thiền sư lại rất ung dung hóm hỉnh khẽ nói: "Những câu hỏi rất hay,Phật pháp là vô biên nhưng thời gian là hữu hạn" Và tôi hiểu thế cũng đã là nhiều cho một cơ duyên gặp gỡ…

L.T.T.H 
đăng ngày 05/04/2007 
http://www4.thanhnien.com.vn/TNTS/2007/4/5/187780.tno