|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CHIỀU
THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
|
|
TU
VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐẾN
VIỆT NAM:
|
|
|
|
|
|
TIN
TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
NỘI
DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
TIN TỨC
& chuyến đi
Việt Nam của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007
 |
 |
TỪ
QUÊ HƯƠNG
NGHĨ
VỀ NỖ LỰC GIẢI OAN CHẨN TẾ
Minh
Mẫn
Đúng
như chương trình đã sắp xếp, ngày 20/2/07, Thiền sư Nhất
Hạnh và phái đoàn Tăng Thân Làng Mai, cùng 100 tín đồ Phật
giáo quốc tế đã đến Phi Trường Tân Sơn Nhất lúc 15giờ
30. Hàng ngàn người ra đón tiếp phái đoàn một cách trật
tự, đặc biệt số tu sĩ trẻ ra đón đoàn rất đông, đông
hơn cả chuyến về của Sư ông năm 2005.
Tối
22 và 23, hai thời Pháp Thoại tại chùa Pháp Vân và chùa Vĩnh
Nghiêm với số lượng thính chúng tham dự ngoài sức dự tính
của ban tổ chức. Bãi giữ xe tại Tân Phú của tư nhân, có
6 điểm đều hết chổ. Riêng trường Trần Phú kế Pháp Vân,
bên trong sân cũng như ngoài vòng rào, hàng ngàn xe gắn máy
san sát nhau, nên đến khi ra về, chủ xe thật vất vả mới
tìm và nhận được xe mình, và ra khỏi bãi giữ xe phải mất
rất nhiều thời gian! Các điểm giữ xe khác phải tận dụng
cả nhà dân gần đó. Còn xe hơi thì đậu dọc dài hai bên
đường. Tân Phú, Pháp Vân rộng hơn Vĩnh nghiêm, trong sân
chứa hàng ngàn người, thế mà vẫn thiếu chổ. Người đến
sau phải đứng ngoài vòng rào, trên vỉa hè. Cả Vĩnh
Nghiêm và Pháp Vân, các điểm giữ xe đều nâng giá 3.000 đồng
mỗi chiếc, trong khi đó thì ngày thường, có nơi chỉ có
một ngàn. Các thợ nhiếp ảnh cũng giới thiệu hình ảnh
Sư ông nhiều kiểu thật đẹp.
Mỗi
chuyến về và mỗi nơi đến của Sư ông đều đã giúp cho
nơi đó, cho một số đông người có thêm thu nhập khấm khá.
Trong chuyến về năm 2005 của Làng Mai, một người thợ làm
băng dĩa CD, VCD, DVD chứa đầy đủ các thời giảng
của Sư ông, nhờ vậy, ông ta kiếm được gần 13 triệu đồng.
Họ không cần đi đâu xa, chỉ cần ngồi một chổ, ghi lại
hình ảnh, lời pháp thoại qua mạng, rồi làm thành bộ và
bán sạch trong một tuần. Sau đó, copy tiếp, gửi đến các
phòng phát hành tiêu thụ. Các xe đò do Phật tử hợp đồng
đi theo đoàn, ghe thuyền tại Huế được mướn cho Làng Mai
và người tháp tùng vào chuyến trước cũng trên trăm triệu.
Các tiệm ăn chay, ăn mặn cũng trúng mùa khi đoàn đến
sinh hoạt gần đó. Tín đồ Phật giáo quốc tế theo đoàn
cũng phải ở khách sạn suốt ba tháng. Phật tử ở các tỉnh
thành xa về tham dự các buổi sinh hoạt của Sư ông cũng phải
ngụ tại nhà nghỉ.
Tóm
lại, các ngành nghề liên hệ trong cuộc sống đều được
ăn theo, đó là Xuân Đoàn Tụ. Bây giờ, xuân 2007 với chủ
đề Bồi đắp ốc rễ, Khai thông Cội nguồn, Thiền sư và
50 vị tăng Thân Làng Mai, một trăm cư sĩ quốc tế đã có
mặt tại Việt Nam. Trai đàn Chẩn Tế để siêu bạt vong linh,dĩ
nhiên, là để giúp cho kẻ đã mất, còn người hiện
tiền có một tâm lý nhẹ nhàng khi thân nhân quá vãng được
chiếu cố, chấp nhận một cách bình đẳng trên phương diện
tình người, một cách nhân đạo, phi giai cấp, phi chính kiến
ngỏ hầu đoàn kết dân tộc, xoá bỏ mặc cảm thù hằn,
cùng đưa đất nước vào kỷ nguyên mới.
Khi
chủ trương Làng Mai đưa ra, các “oan hồn uổng tử” (còn
sống mà như đã chết !) từng phủ đám mây đen trên quê
hương lại trổi dậy chống phá, vì bản thân họ không muốn
làm người, tâm họ đang là Atula. Họ không chấp nhận đứng
chung với kẻ đối đầu vì tự ái, vì quyền lợi cá nhân
và tập thể họ, chứ họ không vì tương lai của một dân
tộc đã có nhiều khổ đau,hận thù dầy xéo. Trên thế
giới, biết bao nhiêu quốc gia đang nỗ lực tìm cho mình một
thế đứng, kể cả Trung Cộng, bây giờ đã ổn định nhiều
mặt, nhất là an ninh và kinh tế, và cũng đang phát triển
đòi sống tâm linh và tín ngưỡng. Việt Nam đang có những
lợi thế, thế mà vẫn có nhiều kẻ luôn tìm cách bôi tro
trét trấu vào mặt dân tộc, cứ muốn đất nước phải lùi
vào kỷ nguyên đồ đá. Có lẽ ngoài hận thù quá khứ, bây
giờ họ còn ngờ vực lẫn nhau. Xin hảy nhìn nước Mỹ, sau
cuộc nội chiến Bắc Nam, bao nhiêu hận thù nghi kỵ đều
đã được dẹp bỏ để cùng nhau xây dựng đất nước phú
cường như hôm nay, tuy ho chỉ mới hơn 200 năm lập quốc.
Phải chăng, quyền lợi tổ quốc của họ vẫn trên hết!
Hơn
tám ngàn người đến nghe pháp thoại của Thiền sư Thích
Nhất Hạnh tại chùa Vĩnh Nghiêm - TP. Hồ Chí Minh
Những
oan hồn vất vưởng, hoặc mất thân xác, hoặc mất địa
vị quyền lợi, hoặc oán thù vì không đồng chánh kiến,
luôn luôn mang tâm chất quậy phá, cho dù bao nhiêu lời kêu
gọi đoàn kết, hoà hợp, cũng không lay chuyển được tâm
chất mông muội đó. Họ nghĩ rằng Cọng sản Việt Nam là
“cao thủ” về lọc lừa, là xảo trá gian manh, vì quá khứ
đã cho họ bài học đó. Nhưng trên đời nầy có gì
không thay đổi. Thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội phạm
nào cũng có tương lai, tại sao ta không tạo một cơ hội để
cùng thay đổi, chuyển hoá? Cái gì dù cá biệt cũng có mẫu
số chung, nhìn nhau bằng mẫu số chung thì sẽ có lối thoát
cho nhau, sẽ hiểu nhau và chấp nhận nhau.
Một
tôn giáo như đạo Phật, thì chỉ hành xử trên cơ sở tình
thương, góp tay xoá bỏ mọi thành kiến và đau thương mà
quê hương vốn đã rách nát. Sở dĩ đất nước và dân tộc
ta luôn đen tối, vì cứ bị bao phủ bởi âm khí hận thù.
Tẩy sạch âm khí đó bằng tình thương và sự chú nguyện
thì bầu trời Việt Nam sẽ trong sáng hơn. Cô hồn đã chết
luôn luôn mong mỏi sự quan tâm của kẻ sống, nhưng “cô
hồn sống” lại cứ phủ nhận tình thương đồng loại để
biến mình làm những linh hồn vất vưởng tha phương, đau
thương bất mãn và hận thù.
Vầng
hào quang yêu thương của một Thiền sư vừa móng khởi, thì
những bóng ma đen tối đã nổi sóng tỵ hiềm đòi nhận chìm
Thiền sư. Họ muốn phá hoại Phật giáo bằng những xuyên
tạc kết án vu vơ. Những kẻ ngoại đạo chống phá còn can
đảm đứng tên như Tú Gàn Lữ Giang, còn những kẻ nội đạo
thiếu can đảm, với nặc danh Quách Thị Song Phu, thì tuy hàm
tàng nhiều ý, viết lách thâm thúy đối với kẻ kém hiểu
biết, nhưng vô cùng ấu trỉ đối với người quá hiểu về
một vị Thiền sư. Những kẻ muốn phá hoại nỗ lực đoàn
kết của Phật giáo Việt Nam đã kích động anh em đồng đạo
không nhìn mặt nhau trong chuyến về 2005, bây giờ lại
tìm cách bêu xấu đời tư Thiền sư trên diễn đàn quốc
tế với ý đồ thúc dục người dân, nhất là Phật tử,
tẩy chay chuyến về lần nầy.
Chuyện
tốt đẹp không ai khởi xướng, khi có người muốn xoa dịu
vết thương cho dân tộc thì lại lắm kẻ phá rối. Người
Phật tử Việt Nam lấy làm lạ và buồn khi một HT Huyền
Tôn lại có thái độ và ngôn ngữ kém đạo hạnh khi từ
chối lời mời của Thiền sư tham dự Trai Đàn Chẩn Tế trên
ba miền của đất nước Việt Nam. Phật giáo vốn chủ trương
Vô Ngã, nhưng cái ngã của một số sư quá lớn khi vì đố
kỵ đã chỉ trích việc làm của Thiền Sư hoặc các vị chân
tu tại Việt Nam. Đã từng có những thư rơi với lập luận
ấu trỉ đã kích thầy Nhật Từ (về bài giảng Bốn Thách
Thức đối với Phật giáo Việt Nam), chống đối Hoà thượng
Thanh Từ, thì Thiền sư Nhất Hạnh dĩ nhiên cũng không tránh
khỏi những phê phán. Tuy nhiên, những điều mà họ phê phán
các bậc chân tu thì chính họ lại không hề có khả năng
làm được việc đó. Một tu sĩ chân chánh, một tín đồ
hiểu đạo, không ai làm chuyện phá hoại nội bộ Phật giáo
như vậy. Chỉ có ngoại đạo không muốn Phật giáo Việt
Nam đoàn kết, chỉ có những con nội trùng Phật giáo tâm
lượng vị kỷ nên không muốn kẻ khác hơn mình.
Hòa
thượng Thích Nhất Hạnh thăm Văn phòng II Trung ương Giáo
hội Phật giáo Việt Nam
Đành
rằng một Thiền Sư Nhất Hạnh, một Hòa thượng Thanh Từ
hay bất kỳ một ai đó đều không thể hoàn hảo như
một thánh nhân, nhưng dẫu sao họ vẫn tốt hơn những kẻ
vu vạ một cách phàm tục như thế. Ngay cả Đức Phật còn
bị dèm xiểm thì lạ gì những đố kỵ của ma chướng
đối với một hành giả đời thường. Điều rất lạ là
gần nửa năm trước ngày về của Thiền sư Nhất Hạnh và
Tăng thân làng Mai, người ta đã “dàn chào” bằng những
công kích hàng loạt, những bêu xấu bôi lọ, xuyên tạc
vu khống, thế mà Sư ông vẫn thản nhiên. Và một phần kết
quả của chính những chỉ trích đó là hàng ngàn Tăng tín
đồ Phật giáo đã nghinh đón đoàn tại phi trường với
rừng cờ Phật giáo tung bay. Cũng vậy, chính nhờ chướng
duyên của ma quân mà hai điểm pháp thoại tại Pháp Vân và
Vĩnh Nghiêm đã dày đặc số lượng người ái mộ. Điều
đó đã chứng tỏ người dân bình thường, với tâm trong
sáng, thì vẫn sáng suốt hơn những kẻ ngậm máu phun người.
Vì
ác cảm cá nhân và mâu thuẫn chính trị, việc làm của Sư
ông Nhất Hạnh bị hiểu lầm là tiếp tay cho chế độ,
hoá giải hận thù. Nếu là hòa giải và đoàn kết, thì chả
lẽ đó là một việc xấu? Kẻ chống đối cứ muốn Việt
Nam mải mải là một bãi chiến trường hay sao? Hình như bất
cứ việc nào của Phật giáo mà không ồn ào hô hào chống
Cộng thì đều bị quy kết là “thân Cộng”. Phật giáo
đã bị những thế lực cuồng tín đẩy vào thế mâu
thuẫn lưỡng cực, “bắt” Phật giáo Việt Nam hoặc chống
Cộng hoặc thân Cộng mà không biết rằng Phật giáo có một
lối hành xử Trung Đạo, một hành xử không thiên vị, miễn
đem lại từ hoà cho xã hội. Phật giáo Việt Nam không chống
đối để lật đỗ một chế độ, cho dù đó là chế độ
có manh tâm tiêu diệt Phật giáo như chế độ độc tài Công
giáo trị Ngô Đình Diệm. Phật giáo chỉ góp phần chuyển
hóa cho một chế độ đến chổ tốt đẹp, nếu chế độ
đó chưa thích hợp lòng dân.
Tuy
những lời kích động có làm cho một thiểu số nông nổi
chống báng Phật giáo, nhưng thật tế đã cho thấy rằng quần
chúng đã sáng suốt khi tỏ lòng tôn kính một thiền sư Việt
Nam đã làm rạng danh người Việt trên thế giới. Những bôi
lọ chống báng tội nghiệp đó, cuối cùng, cũng chỉ là những
viên sạn lót đường để Thiền sư Nhất Hạnh trở về trong
vinh quang và ngưỡng mộ của Phật tử Việt Nam. Sự thành
công của Thiền sư trong chuyến về quê lần thứ hai nầy
đã nhận chìm những chống đối vì rõ ràng là sự có mặt
của Thiền sư không những đã mang lại lợi lộc vật chất
cho một số người dân lao động mà, quan trọng hơn rất nhiều,
còn tạo bầu không khí thâm tình cho những con dân đất Việt,
còn khai mở niềm phấn khởi cho giới trẻ và trí thúc muốn
trở về xứ sở tâm linh. Là một Phật tử Việt Nam, tại
sao ta lại không hãnh diện có một tu sĩ đồng hương có tầm
vóc quốc tế như Thiền sư, từng tạo sự ngưỡng mộ cho
bao nhà trí thức, lãnh tụ thế giới. Vì thật ra, chỉ
có ngoại đạo và nội trùng mới không hãnh diện và mới
manh tâm phá hoại chia rẽ Phật giáo Việt Nam.
Năm
2007 nầy, báo chí Việt Nam và nhiều cơ quan truyền thông quốc
tế đã không còn ngần ngại như lần đầu Thiền sư Nhất
Hạnh trở về quê hương hai năm trước, nên họ đã truyền
tải trung thực về Thiền sư, thậm chí cả một quá trình
hành hoá và lý lịch bản thân của Thiền sư cũng đã được
báo Tuổi Trẻ và phần lớn các báo tại Việt Nam rộng rãi
loan tải. Chương trình du hoá gần ba tháng của Thiền sư và
Tăng thân Làng Mai đang được trong và ngoài nước theo dỏi
từng ngày.
Bồi
đắp Gốc rể, Khai thông Cội nguồn là một tiêu chí vừa
đạo vừa đời, mang nhiều ý nghĩa xây dựng đất nước
và dân tộc trong lãnh vực văn hoá và tâm linh mà Việt Nam,
vì đặc biệt đang đứng trước nhiều thách thức và cạm
bẩy của thời đại, đã được Thiền sư Nhất Hạnh mang
về cống hiến cho quê hương. Hy vọng mọi loại “cô hồn”,
vô hình lẫn hữu hình, đều được triêm ân công đức trong
cuộc Chẩn Tế nầy.
MINH
MẪN
24/02/07
|
GÓP
Ý VỚI CHUYẾN ĐI "ĐÀN TRÀNG GIẢI OAN"
của
H.T Thích Nhất Hạnh
Việt
Nguyên
Wednesday,
February 21, 2007
HOUSTON
(NN) – Hồi nhỏ, mồng một Tết tôi thường hay theo mẹ lên
chùa để lễ Phật và nghe cha tôi “lẩy” mấy câu Kiều
“Ngày Xuân con én đưa thoi...”. Lớn lên tôi vẫn giữ thói
quen đi chùa ngày mồng một Tết nhưng không còn thích chuyện
Kiều của Tiên Điền Nguyễn Du bằng những vần thơ 184 vế
trong “Văn tế thập loại chúng sinh. Bài thơ sau của
cụ thi sĩ Nghệ An cùng quê với cha tôi, có nhiều điểm trùng
hợp với ý và lời với Truyện Kiều như cụ Hoàng Xuân Hãn
một người Nghệ An khác nhận xét. Thơ “Văn tế thập loại
chúng sinh” khi tôi lớn đọc lại thấy ngắn và thấm thía
hơn truyện Kiều. Một bài thơ thấm ngôn ý Phật pháp viết
về ngày Vu Lan nhưng lại hợp với những ngày đầu năm đến
chùa lễ Phật.
Từ
phần một “dựng đàn giải thoát” cho đến phần hai “Thập
loại chúng sinh” từ vua chúa, qúi nữ, tể thần, đại tướng
cho đến nhà giầu, người nghèo, kẻ ham danh lợi, binh lính,
thương gia, kỹ nữ đều được nhà thơ Tiên Điền đề cập
đến. Cả một bài thơ là một ngậm ngùi sót xa. Những dòng
thơ như những dòng tâm sự của nhà thơ phù Lê ở thời Lê
mạt Nguyễn sơ :
“Lòng
nào lòng chẳng thiết tha
Cõi
dương cũng thế, nữa là cõi âm.
.
. . . . .
Thương
thay thập loại chúng sinh
Phách
đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương
khói đà không nơi nương tựa”
.
. . . . . . “
Những
vua chúa sa cơ thất thế:
“Nào
những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chỉ
những lăm cướp gánh non sông
Nói
chi đang thuở thị hùng
Tưởng
khi thế khuấât tận cùng mà đau”.
Cho
đến kiếp của mỹ nhân “chim sa cá lặn”, cung phi mỹ nữ:
“Nào
những kẻ màn lau trướng huệ
Những
cậy mình cung Quế Hằng Nga
Một
phen thay đổi sơn hà
Tấm
thân manh lá biết là làm sao
.
. . . . .
Khi
sao đông đúc vui cười
Mà
khi nhắm mắt không người nhặt xương”.
Phải
qua những nỗi khổ, mới thấm hết được cảnh người chết
trên biển trong “văn tế” của Nguyễn Du:
“Lại
có kẻ vào sông ra bể
Cánh
buồm dơi chạy xế gió đông.
Gặp
cơn giông tố giữa đường
Đem
thân vùi rập vào lòng kình nghê”
Toàn
bài thơ có cái tâm vô lượng của Phật Quán Thế Âm không
cần đến một trong những câu kết khi linh hồn con ngươì
phải trải qua cầu Nãi Hà:
“Ai
ai lấy Phật làm lòng
Tự
nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi”
Tinh
thần của bài thơ “Văn tế thập loại chúng sinh”
là tinh thần của kinh Liên Hoa, cuốn kinh ở thế kỷ thứ
nhất, viết từ phần đất ở Bắc Ấn Độ, có lẽ là A
Phú Hãn bây giờ. Cuốn kinh mang nặng tinh thần từ bi vô lượng
của Phật giáo. Tấm lòng yêu người (compassion) khắp cả
bốn góc trời, làm giảm được đau khổ, giận dữ của kiếp
người, tinh thần của bồ tát Avalokitesvara.
Năm
400 sau Tây lịch, kinh được dịch ra tiếng Trung Hoa, tên Quán
Thế Âm “người nghe được tất cả những tiếng thống
khổ của nhân loại” được thay cho Avalokitesvara. Phật bà
Quán Thế Âm thay cho ông Bồ tát có râu quai nón Avalokitesvara
ở Ấn Độ nhưng tinh thần từ bi, tấm lòng nhân ái không
thay đổi dù có khác biệt tinh thần, xã hội hay quan điểm
chính trị. Tình yêu đã nuôi dưỡng nhân gian, như một thiền
sư già đã nói:
”Chiếc
áo cà sa của ta rộng lớn để góm đủ những nỗi khổ trong
thế gian”.
C.P.
Fizgerald trong cuốn lịch sử văn hóa Trung Hoa năm 1954 đã cho
rằng sự thay đổi phái tính từ ông Bồ Tát sang Phật Bà
đã xảy ra vào thế kỷ thứ 9 ở Trung Hoa “Quán Thế Âm
bồ tát khi thành Phật đã tự ý quay trở về cõi đời để
nghe những tiếng khóc đau khổ trên mặt đất, bà tự ý đình
trệ không trở thành Phật cho đến khi mọi sinh linh được
giải thoát lên đến cùng trình độ của bà”. Phái Đại
thừa giải thích, Bồ Tát Avalokitesvara có thể thay đổi bất
cứ hình dáng nào, có thể mang nhiều hình dáng trong nhiều
kiếp. Nhân gian Trung Hoa lại giải thích khác. Đã là Phật
ở trên trời thì không có Phật ông hay Phật bà. Phật không
có phái tính nhưng Phật Quán Thế Âm ở Trung Hoa phải là
Phật Bà vì mang kiếp đàn bà Phật mới có thể hiểu và
nghe hết nỗi khổ của kiếp đàn bà ở xã hội Khổng giáo
Trung Hoa; Một xã hội bắt đàn bà mang nặng, đẻ đau, phải
chiều chồng, bó chân trong nhà, gánh vác giang sơn nhà chồng,
phải chịu cảnh nghèo, đau khổ hơn đàn ông, phải chịu
những tàn nhẫn của cuộc đời khi con chết, chồng chết
ngoài mặt trận.
Qua
nhiều thế kỷ, Bồ Tát Avalokitesvara và Phật Bà Quán Thế
Âm, nghe được tiếng khóc của nhân loại, được thể hiện
qua nhiều hình dáng ở đền chùa. Có khi là Phật Bà, gương
mặt an nhiên trầm lắng, hai cánh tay dang rộng, hai cặp mắt
mở lớn, hiện thân tinh thần lĩnh hội. Có khi Phật đứng
hay ngồi trên tòa sen, tay cầm bình cam lồ hay cầm nhánh dương
liễu. Cành liễu tượng trưng cho khả năng cuốn theo chiều
gió hay cơn bão của cuộc đời mà không bị gẫy. Có khi Phật
Quán Thế Âm như một dũng sĩ mang nhiều vũ khí cung thương
và khiên mộc tượng trưng cho lòng nhân, không nhượng bộ,
người quyết chiến đấu chống lại những nguyên nhân gây
ra khổ ải trên thế gian.
Đàn
tràng giải oan
Gần
200 năm sau Nguyễn Du với “Văn tế thập loại chúng
sinh”, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh và đoàn tăng lữ
Làng Mai về Việt Nam lập “Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải
Oan” ở Saigon, Huế và Hà Nội.
Gần
200 trước, thi sĩ Nguyễn Du đã viết văn tế với một tự
do tuyệt đối còn Hòa thuợng Thích Nhất Hạnh phải xin phép.
Trong thơ gửi chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết, Hòa
thượng giải thích mục đích “cầu siêu cho tất cả những
ai đã chết oan ức trong cuộc chiến không phân biệt chính
kiến, Nam Bắc, trai gái, ý thức hệ, già trẻ.” Đúng tinh
thần của kinh Liên Hoa, của Phật Quán Thế Âm, cầu siêu
cho những người đã “chết oan ức trong rừng sâu, ngoài
bể cả”, trong trại tù, ngoài Côn Đảo, dưới hố chôn
tập thể.”
Tôi
đọc lại “Văn tế thập loại chúng sinh” ở cái
thời Lê mạt Nguyễn sơ, không thấy ai phản đối bài thơ
của cụ Nguyễn Du, bài thơ thuần túy tôn giáo với cái tâm
bồ tát còn các chuyến đi của thầy Nhất Hạnh lại đem
đến nhiều phê bình giận dữ từ cả hai phía, cả trong lẫn
ngoài nước. Có lẽ vì chiến tranh Việt Nam vừa qua kéo dài
quá lâu, vũ khí quá tàn nhẫn, lòng người phân hóa lâu dài,
chiến tranh chấm dứt rồi thì kẻ chiến thắng kiêu căng,
không giữ lời hứa xóa bỏ hận thù lừa người bại trận
vào trong những trại tù cải tạo vĩ đại ra đi không biết
ngày về, những tiếng khóc trong tù, những giọt nước mắt
lặng lẽ của cô nhi quả phụ, những tiếng kêu của thuyền
nhân trên biển cả... Khác hẳn những thời đại xa xưa sau
khi nước nhà chia cắt trong lịch sử như thời Trịnh Nguyễn
phân tranh, thời Lê Nguyễn hay thời Trung cổ với nước nhà
bị nhà Minh đô hộ rồi Lê Lợi toàn thắng quân Minh “lấy
nhân nghĩa thắng cường bạo” xong chiến tranh xóa bỏ hẳn
hận thù để “trong thôn cùng, xóm vắng không còn một tiếng
oán hận”.
Chuyến
về Việt Nam lần đầu của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh
đã bị lu mờ vì quá khứ phản chiến của thầy. Mọi người
kêu gọi quên quá khứ nhưng quá khứ vẫn còn. Những con số
tổn thất, người và nhà, sai lạc ở Bến Tre năm nào được
nhắc lại lần cầu siêu cho những nạn nhân hai tòa nhà thương
mại ở Nữu Ước ngày 11/9/ 2 001, lại được nhắc lại một
lần nữa trước chuyến về VN ngày 13/1/2005 đến 11/4/2005.
Tôi nghĩ, giá mà Hòa thượng có thể cải chánh hay nhận những
lỗi lầm như bà ca sĩ Joan Baez thì chắc mọi người VN sẽ
kính trọng Hòa thượng Nhất Hạnh hơn và chuyến đi sẽ thành
công và có ý nghĩa hơn. Khi lòng lắng nguội lại, tôi nghĩ
cần có một sự công bằng hơn cho nhà sư “Đường xưa
mây trắng”, thầy Nhất Hạnh được xem là một trong
những nhà sư nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay, với
số sách Phật giáo xuất bản và số đệ tử, thầy đã được
sắp hằng thứ hai sau Đạt Lai Lạt Mai nhưng “Bụt nhà
vẫn không thiêng”. Có lẽ chiến tranh Việt Nam mới chấm
dứt 30 năm, thời gian ngắn hơn so với thời gian cần thiết
để giáo hội Công Giáo La Mã nhận lỗi với dân Do Thái về
thảm họa Holocaust (hơn nửa thế kỷ). Chuyến đi lần đầu
của nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo đứng hàng thứ hai
sau Đạt Lai Lạt Ma đã bị chê trách về tính cách trình diễn
“sư có tàn có tán, sư có lọng...” (thơ Tú Xương) nhưng
tổ chức tôn giáo có khác với tu hành “từ bỏ cuộc đời”
người ta đã khắt khe với Hòa Thượng, Đạt Lai Lạt Ma đi
đâu cũng có tàn có lọng, yết kiến Lạt Ma ở Ấn Độ phải
qua nhiều cửa ải bảo vệ và Giáo Hoàng được nhiều người
yêu mến nhất John Paul Đệ Nhị đi thăm dân luôn ngồi trong
xe chắn đạn.
Chuyến
đi của Hòa thượng Nhất Hạnh về Việt Nam ngày Tết năm
nay khởi hành ngày 19/2//2007 được một tăng lữ Làng Mai mô
tả như là một chuyến đi cô đơn bị đã kích từ hai phía
cả trong và ngoài nuớc. Chuyến đi còn bị hiểu lầm như
là một đáp ứng với lời kêu gọi của cựu thủ tướng
Võ Văn Kiệt vào năm 2006 khi ông làm lễ trồng cây Bồ Đề
ngày Vu Lan xá tội vong nhân, “cầu nguyện cho mọi sinh linh
đã ngã gục trên quê hương và những chặng đường tha hương
lưu lạc trong tinh thần đoàn kết hòa hợp”. Nhưng tinh thần
của ông Võ Văn Kiệt khác hẳn tinh thần của nhà sư Nhất
Hạnh. Tiếng nói của cụ Võ Văn Kiệt (90 tuổi) vẫn là tiếng
nói của một người “bên trong vòng cương tỏa” tiếng
nói có tha thiết nhưng là tiếng nói hối hận của những
người chiến thắng quên giữ lời hứa thiếu một tâm vô
lượng.
Chúng
ta đã chỉ trích nhiều chi tiết trong lần về Việt Nam đầu
tiên của Hòa thượng Nhất Hạnh nhưng chúng ta đã bỏ quên
một chi tiết, thiền sư và tăng lữ Làng Mai nhất định từ
chối không đi thăm lăng Hồ Chí Minh. Những người đã về
VN và đã từng phải đối đầu với công an không thể không
nhận thấy đây là một hành động can đảm. Cái Phật tánh
trong tâm những người công an đã thắng ác tâm của họ nhờ
vậy chuyến đi của Hòa thượng được tiếp tục.
Giá
mà trong “phổ cáo quốc dân và đồng bào Phật tử về các
Đại trai đàn chẩn tế giải oan” của Đạo tràng Mai Thôn
lần nay vắng bớt đi những danh từ chính trị thì chuyến
đi sẽ có một ý nghĩa tôn giáo hoàn chỉnh. Những chi tiết
13 triệu tấn bom, 72 triệu lít chất độc khai quang không cần
thiết. Chữ “giải oan” với ý nghĩa Phật giáo trở thành
ý nghĩa chính trị dưới cặp mắt của nhà cầm quyền Việt
Nam. Bản phổ cáo tôn giáo lại còn có tính cách văn nghệ
hoang mang khi đưa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào để: “Khóc
cho tất cả đồng bào như Trịnh Công Sơn đã khóc qua bản
tình ca Người Mất Trí: Tôi có người yêu chết trận Pleime,
tôi có người yêu ở chiến khu D, chết trận Đồng Xoài,
chết ngoài Hà Nội...” (người tu đạt đạo, giải thoát,
thương chúng sinh lầm than không khóc vì họ hiểu được lẽ
trời)
200
năm sau Nguyễn Du, Hòa thượng Nhất Hạnh đi cùng một con
đường từ bi đã bị chỉ trích cũng chỉ vì chính trị.
Hai lần về Việt Nam, ông cô đơn như một dũng sĩ đi giữa
hai lằn thương chỉ trích của Phật giáo trong và ngoài nước.
Tôi chỉ mong ông sẽ như cành dương trên tay Phật Quán Âm
oằn nhưng không gẫy và tôi lại nhớ đến một truyện ngắn
của nhà văn Nhất Hạnh. Truyện “Cửa tùng đôi cánh gài”
một truyện tôi yêu thích từ hồi còn trẻ. Câu chuyện viết
về một chàng dũng sĩ xuống núi giúp đời, được sư phụ
dặn dò dùng thanh bảo kiếm để trừ ma chướng, lưỡi gươm
trí tuệ hàng phục mê chướng và si vọng. Sau bẩy năm hành
hiệp chàng dũng sĩ trở về nhưng đôi cánh cửa tùng vào
động khép chặt. Hóa ra, dưới kính, bóng chàng dũng sĩ sau
bẩy năm hành hiệp đã trở thành yêu quái. Những ngày tháng
mê ngộ đã làm chàng dũng sĩ lạc đường.
Tôi
nghĩ rằng, với tâm vô lượng, chuyến đi giải oan sẽ có
tính cách thuần túy tôn giáo cao đẹp, với những con người
chánh trị đứng hẳn bên ngoài, cửa tùng đôi cánh vẫn mở
cho tăng đoàn Làng Mai trở về.
Việt
Nguyên
6/2/07
(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=55994&z=100)
|
ĐÀN
TRÀNG CHẨN TẾ:
SIÊU
ĐỘ NGƯỜI CHẾT VÀ CẢM HÓA NGƯỜI SỐNG
Huỳnh
Kim Quang
Trong
truyền thống Phật Giáo Đại Thừa nói chung và Phật Giáo
Việt Nam nói riêng, Đàn tràng Chẩn tế là pháp thức để
siêu độ vong linh của những người đã chết mà vì oan nghiệp
chưa siêu thoát hay chưa tái sinh được. Những người
bị oan nghiệp đó có rất nhiều nguyên do, rất nhiều thành
phần, mà đại để đã được tổng hợp trong mười loại
gọi là Thập loại Chúng sinh (như Văn Tế Thập Loại Chúng
Sinh của Nguyễn Du đã đề cập) hay Thập loại Cô hồn.
Theo bộ Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi do
ngài Tam Tạng Bất Không Kim Cang (Amoghavajra) dịch từ Phạn
sang Hán vào đời Đường, thì Thập loại cô hồn [1] gồm:
1.
Thủ hộ quốc giới: Loại oan hồn vị quốc vong thân;
2.
Phụ tài khiếm mạng: Loại oan hồn chết vì trái chủ
oan gia, trụy thai, sẩy thai;
3.
Khinh bạc Tam Bảo: Loại oan hồn vì tạo nghiệp bất
hiếu, phụ nghịch, vô đạo;
4.
Giang hà thủy nịch: Loại oan hồn chết sông, chết biển;
5.
Biên địa tà kiến: Loại oan hồn ở nơi biên ải hẻo
lánh xa xăm;
6.
Ly hương khách địa: Loại oan hồn phiêu bạc tha hương,
chết đường, chết bụi;
7.
Phó hỏa đầu nhai: Loại oan hồn chết vì tự tử, trầm
mình xuống sông, núi, chết đâm, chết chém;
8.
Ngục tù trí mạng: Loại oan hồn chết vì bị tra tấn,
khổ nhục trong lao tù;
9.
Nô tì kết sử: Loại oan hồn chết vì bị nô lệ, hành
hạ, đày đọa;
10.
Manh mung ám á: Loại oan hồn lúc sống bị đui, què, câm,
điếc, cô quả không ai chăm sóc.
Đàn
tràng là một trong các nghiã của Mạn đà la (Mandala),
tức là dùng đất (Thổ đàn), gỗ (Mộc đàn) hay nước (Thủy
đàn) lập lên một cái đàn trong đó tôn trí những biểu
tượng, hình tượng và pháp khí của chư Bổn Tôn để hành
lễ theo thể thức Mật giáo. Đàn tràng còn gọi là Đạo
tràng vì là nơi thực hiện Đạo, thực hiện Phật sự, thực
hiện sự tự giác và giác tha, như trong Kinh Duy Ma Cật, Phẩm
Bồ Tát thứ tư, đoạn Bồ Tát Duy Ma Cật giải thích cho Quang
Nghiêm Đồng Tử về ý nghiã của Đạo tràng.
“Tâm
chính trực là đạo tràng, vì không giả dối… Tâm bồ đề
là đạo tràng, vì không thể sai lầm. Bố thí là đạo
tràng, vì không cầu đáp trả. Trì giới là đạo tràng,
vì giúp hoàn thành tâm nguyện. Nhẫn nhục là đạo tràng,
vì tâm vô ngại đối với hết thảy chúng sinh. Tinh tấn
là đạo tràng, vì lìa xa biếng nhác. Thiền định là
đạo tràng, vì là tâm điều thuận nhu hòa. Trí tuệ
là đạo tràng, vì trực kiến các pháp.
“Từ
là đạo tràng, vì đối xử bình đẳng với tất cả chúng
sinh. Bi là đạo tràng, vì nhẫn nại các khổ nhọc.
Hỷ là đạo tràng, vì là pháp an vui khoái lạc. Xả là
đạo tràng, vì dứt bỏ yêu hay ghét.”[2]
Đàn
tràng chẩn tế cũng gọi là Trai đàn vì lấy sự trang nghiêm
thanh tịnh làm gốc để nhất tâm hồi hướng cho cô hồn,
ngạ quỷ được ân triêm công đức. Mạn đà la còn
có nghĩa là Luân viên tức là tròn đầy, được tựơng trưng
bằng hình hoa sen nở tròn. Đàn tràng chẩn tế cô
hồn là nơi tổ chức các khoá lễ thực hiện theo khoa nghi
Mật Giáo để cứu tế các loại cô hồn hay vong linh vì oan
nghiệp chưa siêu thoát vẫn còn sống trong thế giới đói
khổ, điêu linh, thống hận. Đàn tràng chẩn tế thông
thường được thiết lập theo hình thức và pháp thức của
Mạn Đà La (Mandala). Theo Mật giáo có hai loại đàn tràng:
1.
Kim
Cang Giới Mạn Đà La (Vajradhàtu-mandala): Đây là tượng
trưng cho Trí tuệ chứng đắc của Phật, thuộc trí môn.
Trí tuệ liễu ngộ bản thể chơn không diệu hữu của vạn
pháp. Trí tuệ không gì phá hoại được như kim cương
bất hoại. Trí tuệ có khả tính tiêu trừ tận gốc
vô minh và phiền não. Trí tuệ thấu đạt từng căn cơ
sai biệt của hữu tình để cứu độ.
Kim
Cang Giới Mạn Đà La vì là trí môn cho nên lấy Ngũ Trí Như
Lai làm gốc. Đàn tràng được thiết trí trong vòng tròn
Nguyệt Luân giống như mặt trăng tròn đầy ngày Rằm.
Ở trung tâm tôn trí biểu tượng, hình tượng của đức Đại
Nhật Như Lai (MahaVajrocana-Tathàgata). Phía Đông là đức
Bất Động Như Lai (Aksobhya-Tathàgata). Phía Nam là đức
Bảo Sinh Như Lai (RatnaSambhava-Tathàgata). Phía Tây là đức
A Di Đà Như Lai (Amitabhà-Tathàgata). Phía Bắc là đức
Bất Không Thành Tựu Như Lai (AmoghaSiddhi-Tathàgata).
2.
Thai
Tạng Giới Mạn Đà La (Garbhadhàtu-mandala): Biểu thị
cho phương tiện độ sinh của Phật, thuộc lý môn. Từ
lý tánh nhất thể hàm tàng bồ đề tâm để thi thiết đại
nguyện từ bi cứu khổ chúng sinh. Nhờ sức phương tiện
của từ bi dẫn dắt chúng sinh quay về với chân tánh bất
sinh bất diệt của nhất tâm pháp giới.
Thai
Tạng Giới Mạn Đà La là lý môn, từ lý tánh uyên nguyên
hàm tàng đầy đủ các đức tánh viên mãn của Như Lai trong
tất cả vạn hữu giống như đóa sen từ bùn vươn lên nở
hoa thanh khiết, cho nên được thiết trí theo hình đóa sen
tám cánh. Ở phần Trung Đài Bát Diệp Viện, tôn trí
biểu tượng, hình tượng và pháp khí của đức Đại Nhật
Như Lai ở giữa, bên phía Đông là đức Bảo Tràng Như Lai
(Ratnaketu-Tathàgata), phía Nam là đức Khai Phu Hoa Vương Như
Lai (KusumitaRàja-Tathàgata), phiá Tây là đức Vô Lượng Thọ
Như Lai (Amitayus-Tathàgata), phía Bắc là đức Thiên Cổ Lôi
Âm Như Lai (Divyadundubhi-Tathàgata). Ở bốn góc có bốn
Đại Bồ Tát: Đông Nam là đức Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra-Bodhisattva),
Đông Bắc là đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokitesvara-Bodhisattva),
Tây Nam là đức Diệu Cát Tường Đồng Tử (Manjusri-Kumara),
Tây Bắc là đức Từ Thị Bồ Tát (Maitreya-Bodhisattva).
Qua
cách thiết lập đàn tràng Kim Cang Giới Mạn Đà La và Thai
Tạng Giới Mạn Đà La như đã trình bày ở trên cho thấy
đàn tràng chẩn tế cô hồn mang ý nghiã triết lý Đại thừa
Phật Giáo thâm sâu. Kim Cang Giới Mạn Đà La và Thai Tạng
Giới Mạn Đà La đều là hình thức thu nhỏ của pháp giới
vô biên về thời gian và không gian vào trong một phạm vi thời-không
hiện thực và cụ thể trước mắt mà phàm nhân đều có
thể chứng kiến được. Kim Cang Giới biểu thị cho trí
tuệ giác ngộ siêu việt của chư Phật. Trí tuệ ấy
sắc bén và rắn chắc như kim cương không gì có thể phá
hoại được và không gì mà nó không thể tiêu trừ được
kể cả vô minh và phiền não huân nhiễm qua vô thỉ kiếp.
Trí tuệ ấy thể nhập vào tận cùng bản thể của các pháp,
quán triệt được rằng chư pháp do duyên sinh, không có tự
tánh, cho nên là tánh không; rằng chư pháp cũng do duyên sinh,
vô tánh mà hiện hữu, vì vậy mà giả hữu; như thế,
các pháp vốn không thật có, vốn không thật không, chư pháp
cũng không phải vừa có vừa không, không phải không vừa
có không vừa không; chư pháp vốn lìa tứ cú, thường
vắng lặng ở trung đạo đệ nhất nghiã, đó chính là chơn
không diệu hữu. Như vậy, các pháp: nào khổ, nào vui,
nào tham, nào si, nào oan ức, nào thù hận, nào phân biệt bỉ
thử nhân ngã xưa nay đều chỉ là vọng động chấp trước
của tâm sinh diệt điên đảo vì vô minh tập khởi. Khi
được khai thị bởi trí tuệ ấy thì tức khắc có thể buông
bỏ mọi vọng trần, viễn ly mọi điên đảo tưởng để
giải thoát tự tại.
Thai
Tạng Giới là nơi hàm tàng, chứa giữ đầy đủ mọi phẩm
đức vi diệu vốn có của Như Lai. Nó giống như bào
thai nuôi dưỡng một sinh mạng đang bắt đầu có mặt để
một ngày nào đó khai hoa nở nhụy thì là một hữu tình với
đầy đủ căn tính ra đời. Tất cả các pháp đều được
dung dưỡng trong Thai Tạng Giới, đều từ Thai Tạng Giới
mà xuất sinh. Như Lai là phẩm đức cực diệu, là quả
vị tối thắng nhất của Thai Tạng Giới. Cho nên, trong
mọi pháp có phẩm đức của Như Lai và trong Như Lai có chất
liệu từ bi ban phát xuống cho vạn hữu. Nguồn suối
từ bi của Như Lai không do gắng gượng dụng tâm mà tuôn
chảy, nhưng đó là đức tính nhiệm mầu trong một phẩm cách
đặc hữu như nước từ nguồn chảy xuống một cách tự
nhiên, không chút dụng tâm. Đức từ bi ấy trang trải
đến tất cả muôn loài một cách bình đẳng như mưa đổ
xuống không phân biệt thào mộc lớn hay nhỏ, tùy theo căn
cơ mà cảm ứng[3] . Đại nguyện từ bi là dưỡng
chất nuôi lớn tình thương yêu chân thật nơi tất cả chúng
sinh. Đại nguyện từ bi thấm nhuận đến đâu thì nơi
ấy tình thương yêu được phát triển, lòng khoan dung độ
lượng được mở bày, và vì vậy thù hận, oan trái được
giải kết.
Trong
pháp thức thực hiện khoa nghi chẩn tế, vị Chủ Gia Trì và
ban Kinh Sư Hộ Đàn đảnh lễ Phật, Bồ Tát, tán, tụng chân
ngôn và thủ ấn để thanh tịnh đàn tràng, nhiếp phục ma
quân, thỉnh Phật, Bồ Tát quang lâm đàn tràng để hộ niệm,
vị Chủ Gia Trì gia trì ba nghiệp: Thân bắt thủ ấn,
miệng tụng chân ngôn, tâm quán niệm hình tướng Phật để
nhất tâm thể nhập vào Tam Mật Du Già. Từ đây, vị
Chủ Gia Trì sẽ được chư Phật trực tiếp hộ niệm để
đại diện cho quý Ngài mà ban phát tài và pháp thí Ba la mật
cho chúng cô hồn, ngạ quỷ. Bấy giờ vị Chủ Gia Trì
là hóa thân Phật có đầy đủ diệu lực mầu nhiệm để
khai mở địa ngục và những cõi tối tăm khổ nhục của
cô hồn, ngạ quỷ, triệu họ vân tập về đàn tràng để
nhận lãnh sự bố thí tài và pháp, làm cho họ không những
hưởng dụng tài thí mà còn thâm nhập Phật pháp, giải thoát
mọi trói buộc của nghiệp lực bấy lâu để có thể siêu
sinh.
Trong
phần kinh văn của khoa nghi, chứa đựng nội dung thâm áo của
Phật pháp hầu khai mở trí tuệ, hưng phát từ bi tâm; đặc
biệt diễn bày những nỗi u uất, thống hận, khổ lụy mà
cô hồn, ngạ quỷ phải gánh chịu vì nghiệp lực của họ,
cũng như những lời giải bày thực trạng giả tạm của cuộc
đời, tính chất hư huyễn của mọi hiện tượng sinh diệt
trong thế giới hữu vi. Chẳng hạn:
Hội
khởi Mông Sơn tối thắng duyên
Giác
hoàng thùy phạm lợi nhân thiên
Kinh
tuyên bí điển siêu đồ thán
Giáo
diễn chân thừa cứu đảo huyền
(Lời
dịch của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ: Do nhân duyên đặc
biệt mà lễ hội Mông Sơn được tổ chức. Đức Giác
Hoàng đã chỉ dạy một nghi thức làm lợi ích cho cả chư
thiên và loài người. Lời kinh nêu rõ pháp điển bí
mật có khả năng siêu hóa từ chốn lầm than. Giáo thuyết
diễn rộng ba thừa để cứu vớt khổ đau bị treo ngược)[4]
Trong
phần mở đầu của Mông Sơn Thí Thực có đoạn:
Mãnh
hỏa diệm diệm chiếu thiết thành
Thiết
thành lý diệm nhiệt cô hồn
Cô
hồn nhược yếu sinh Tịnh độ
Thích
tụng Hoa Nghiêm bán kệ Kinh:
Nhược
nhơn dục liễu tri
Tam
thế nhất thiết Phật
Ứng
quán pháp giới tánh
Nhất
thiết duy tâm tạo
(Lửa
dữ thiêu đốt thành địa ngục, khi thành địa ngục bị
thiêu đốt thì sẽ nung cháy cô hồn trong đó. Cô hồn
nếu muốn thoát khỏi điạ ngục để cầu sinh về cõi Tịnh
độ thì hãy trì tụng bài kệ trong Kinh Hoa Nghiêm: Người
nào muốn liễu tri được tất cả chư Phật trong ba đời
thì nên quán chiếu rằng trong pháp giới tánh tất cả vạn
hữu đều từ tâm mà sinh).
Và:
Trước
thỉnh kẻ hoàng vương đế bá
Triều
đại xưa trải quá biết bao
Đền
đài chín lớp ở cao
Non
sông muôn dặm chén vào một tay
(Hòa
Thượng Bích Liên diễn Nôm)
Hoặc
là:
Đỗ
quyên kêu suốt tàn canh
Máu
hờn nhuộm mãi trên cành đào hoa
(Hòa
Thượng Bích Liên)
Hay
là:
Kinh
song trăng thảm lạnh lùng
Nhà
thiền leo lét đèn chong canh dài
(Hòa
Thượng Bích Liên)
Lại
như:
Thương
thay thập loại chúng sinh
Phách
đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương
khói đã không nơi nương tựa
Phận
mồ côi lần lữa đêm đêm
Còn
chi ai khá ai hèn
Còn
chi mà nói ai hiền ai ngu
(Nguyễn
Du, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh) [5]
Những
kinh văn như vậy được tuyên xướng trong một hoàn cảnh
trang nghiêm thanh tịnh của đàn tràng, thì không phải chỉ
giải thoát được kết nghiệp của vong linh kẻ chết mà còn
cảm hóa được tâm thức của người sống đang chứng kiến
và lắng nghe. Người sống qua đó nhận thức được
rằng những hành động bất thiện mà mình gây ra trong đời
này, hoặc trong những đời sống khác sẽ là sợi dây nghiệp
lực trói chặt họ vào trong thế giới oan khiên, khổ đau
chập chùng. Người sống cũng nhân đó mà ý thức sâu
sắc rằng trên thế gian này chỉ có từ bi mới chuyển hóa
được mọi hận thù, vì tham si, thù hận do mình gây ra hay
do người khác gây ra sẽ là những bức tường thành kiên
cố vây hãm kiếp nhân sinh trong vòng khốn đốn, lầm than,
khổ não!
Hiệu
lực giải nghiệp và chuyển hóa của đàn tràng chẩn tế
sẽ tùy thuộc vào hai yếu tố căn bản: Một là cách
thức tổ chức đàn tràng, hai là tâm thức của cộng đồng
xã hội nơi mà đàn tràng được cử hành. Cách thức
tổ chức đàn tràng gồm hai điều quan trọng: Một là
việc tổ chức đàn tràng phải thật sự đúng pháp thức
của khoa nghi Mật Giáo, từ hình thức thiết lập đàn tràng,
các phẩm vật hiến cúng, đến việc hành lễ chẩn tế của
các vị Chủ Gia Trì và ban Kinh Sư Hộ Đàn. Hai là
việc vận động trong phạm vi rộng lớn của nhân gian để
mọi thành phần xã hội có thể tham gia vào đàn tràng chẩn
tế qua hai bình diện trực tiếp và gián tiếp. Đàn tràng
càng được sự tham dự rộng rãi của mọi giới chừng nào
thì càng vận động được sức mạnh hộ trì về cả tinh
thần lẫn vật chất của tập thể.
Ở
đây yếu tố tâm thức của người tổ chức đàn tràng và
của cộng đồng xã hội tham dự vào đàn tràng đóng một
vai trò rất trọng yếu. Các pháp lấy tâm làm đầu mà
cũng lấy tâm làm chung quyết. Điều này có nghiã là từ tâm
mà khởi niệm làm điều thiện hay điều ác, từ tâm mà quá
trình thực hiện các phương tiện để dẫn đến thành tựu
được quyết định, từ tâm mà kết quả được thẩm định
là tốt hay xấu. Với thiện tâm thiện ý thì mọi việc đều
đưa đến thành tựu thắng phước. Với cơ tâm ác ý thì
dù là nhân danh việc thiện cũng chỉ dẫn đến kết quả
khổ đau. Yếu tố tâm thức không những đóng vai trò
chủ yếu trong đời sống cá nhân mà còn là thành tố quan
trọng trong sinh hoạt cộng đồng xã hội.
Trong
đàn tràng chẩn tế, thì yếu tố tâm thức này sẽ là
thuận hay nghịch duyên để mang lại lợi lạc hay phiền lụy
thêm cho các vong linh, cô hồn, ngạ quỷ và người sống.
Trong đàn tràng chẩn tế từ người đứng ra tổ chức, những
vị Gia Trì Sư và người tham dự cầu nguyện đều cần phải
phát khởi tâm thức như Chánh pháp, nghiã là nhất tâm thành
ý hồi hướng thắng duyên cho những cô hồn, ngạ quỷ để
họ có thể nhờ “thính pháp văn kinh thọ tài hưởng thực”
mà trút bỏ những oan khiên, giải thoát những trói buộc của
phiền não. Từ tâm thức thuần tịnh của mỗi cá nhân đến
cả cộng đồng xã hội sẽ tạo thành chánh báo trang nghiêm
để chuyển vận y báo chung quanh. Nhờ y báo trang
nghiêm thanh tịnh của cộng đồng xã hội này sẽ chuyển
hóa được nghiệp lực của cô hồn, ngạ quỷ, hay ít ra có
thể cảm hóa được tâm thức của những vong linh, oan hồn,
uổng tử. Không những thế, ngay đối với người sống
trong cộng đồng xã hội, nơi mà đàn tràng chẩn tế được
tổ chức đúng pháp, vận khởi được tâm thức thuần tịnh
trang nghiêm, cũng là một cơ duyên qúy giá để được cảm
hóa. Khi toàn bộ cộng đồng xã hội đang hướng về
điều thiện, đang vận dụng tâm thức từ bi, thanh tịnh để
cứu khổ vong linh, cộng với nội dung được biểu thị của
đàn tràng, sẽ là chất liệu có sức mạnh không nhỏ để
cảm hóa các thành viên đang sống trong cộng đồng xã hội
ấy. Đây chính là ý nghiã tại sao, khi Tôn Giả Đại
Mục Kiền Liên thỉnh cầu đức Phật chỉ dạy pháp thức
cứu độ cho mẹ ngài đang thọ khổ ở địa ngục, đức
Thế Tôn đã dạy Tôn Giả Mục Liên phải nương nhờ oai lực
thanh tịnh của mười phương Chúng Tăng mới có đủ sức
mạnh vi diệu mà giải thoát cho mẹ ngài.
Sức
mạnh cảm hóa đó thấm sâu đến đâu thì còn tùy thuộc
vào đàn tràng được thực hiện tinh mật đến mức nào,
và nội lực tâm thức của cộng đồng xã hội, nơi đàn
tràng được tổ chức, phát khởi dũng mãnh, đồng nhất và
thanh tịnh đến chừng nào.
[1]
Xin đọc bài viết “Lễ Tháng Bảy” của Thượng Tọa Thích
Tuệ Sỹ đăng trong tạp chí Phương Trời Cao Rộng, số 3,
tháng 8, 2006, hoặc trang nhà: www.phatviet.com.
[2]
Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, bản dịch Việt của Tuệ Sỹ,
Ban Tu Thư Phật Học, 2002, trang 116, 117.
[3]
Xin đọc Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Dược Thảo Dụ thứ
5.
[4]
Trích từ bài “Lễ Tháng Bảy” của Thượng Tọa Thích Tuệ
Sỹ, xem chú thích ở trên.
[5]
Mấy bài diễn Nôm này cũng trích từ bài “Lễ Tháng Bảy”
của Thượng Tọa Tuệ Sỹ, xem chú thích ở trên
Huỳnh
Kim Quang
Tạp
chí Phương Trời Cao Rộng số 9 tháng 2, 2007
|
.
ĐẠI
TRAI ĐÀN CHẨN TẾ GIẢI OAN
MỤC ĐÍCH
VÀ Ý NGHĨA
Tôi
được nghe nói vào đầu năm 2007 Hoà thượng Thích Nhất Hạnh
sẽ về Việt Nam tổ chức ba trai đàn chẩn tế thật
lớn tại ba miền Việt Nam gọi là Đại Trai Đàn Chẩn Tế
Giải Oan. Vậy xin quý ban biên tập hoan hỷ cho tôi biết
mục đích và ý nghĩa về lễ trai đàn chẩn tế này và lễ
này có phải là một lễ lớn truyền thống của Phật giáo
không? (Nguyễn Văn An, Hải Phòng Việt Nam)
TRẢ
LỜI:
Trai
Đàn Chẩn Tế Giải Oan hay còn gọi là Trai Đàn
Thủy Lục là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho
những vong hồn người chết không có ai thờ tự, không có
nơi nương tựa, đang sống vất vưởng ở dưới nước và
ở trên cạn.
Duyên
khởi pháp hội này như sau:
“...
Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo hòa
thượng Ðạo An [01], “vốn không
phải là một tập tục truyền thống của Phật giáo”.
Tập tục này chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà
Ðường. Ðiều này có thể đúng vì theo sử chép, thì năm
738, vua Ðường Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc,
ở mỗi quận đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là
chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua
Huyền Tông). Ðó là chùa công, do các quan lại địa phương
trông coi, dùng làm nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu
quốc thái dân an. Việc làm này vừa có ý nghĩa đem ân huệ
của Phật ban đến quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền
uy của chính quyền trung ương. Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn,
kéo binh về chiếm kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy
vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau thì quân triều đình
dẹp yên giặc loạn. Trong một năm chiến tranh này, số người
chết - chiến sĩ của cả hai bên và thường dân -, nhiều
vô số kể. Triều đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa
Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức,
thiết lễ tụng kinh cầu siêu độ cho chiến sĩ và thường
dân đã chết trong cuộc chiến, đồng thời an ủi các gia
đình nạn nhân. Dân chúng thấy triều đình làm như thế,
bèn bắt chước làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết,
liền thỉnh chư tăng tụng kinh cầu siêu độ. Từ đó mà
lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục
trong dân gian.”[02] |
Tập
tục cầu siêu độ này được truyền qua Việt Nam không rõ
vào thời nào nhưng có thể bắt đầu từ thời đại nhà
Lý. Ðó là việc tổ chức các trai đàn chẩn tế, gọi
là “diệm khẩu phổ thí pháp hội” có nghĩa
là những đại hội về Phật Pháp để bố thí thức ăn cho
loài quỷ đói. Pháp này được thực hành trên căn bản một
tác phẩm mang tên là “Thí Chư Ngạ Quỷ Ẩm Thực Cập
Thủy Pháp” do Ngài Bất Không (Amogha) dịch vào thế kỷ
thứ tám, đời Ðường. Và hiện nay, trong thời khóa
tụng niệm buổi chiều, các chùa ở Việt Nam thường có một
nghi thức thí thực cô hồn ngắn, gọi là Mông Sơn Thí
Thực Văn. Nghi thức này bắt đầu từ đời nhà
Tống tại Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên bên Trung Quốc, vì thế
mới có danh xưng là "Mông Sơn Thí Thực".
Trong
“Thiền uyển tập anh”: Tăng thống Huệ Sinh (-1064)
đời vua Lý Thánh tông, có để lại tác phẩm “Pháp Sự
Trai Nghi” nói đến nghi thức chẩn tế.
Vào
năm 1789 sau khi đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu Vua Quang Trung
đã ban sắc lệnh làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ hữu
công và tiến cúng cô hồn tử sĩ, kể cả mấy vạn quân
Thanh đã tử trận.
Vua
Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng thiết đàn siêu độ
cho quan quân tử sĩ và những oan hồn uổng tử vì chiến cuộc
do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ tế với bài
văn tế viết bằng quốc âm Tướng Sĩ Trận Vong và Cô Hồn
Thập Loại (1802).
Vào
năm Giáp ngọ, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho tổ chức trai đàn tại
chùa Linh mụ cầu cho quốc thái dân an, cho các quân linh tử
trận được siêu thoát.
Và
vào những năm đầu thập niên 70, do chiến tranh gây ra nhiều
cảnh chết chóc hãi hùng, khoa nghi chẩn tế được thực hiện
rất nhiều, nhất là tại Huế. Hầu như tháng nào ở
đây cũng có ít nhất một đàn.
******
Theo
niềm tin của người dân, nghi thức Trai đàn nhằm cầu siêu
cho người chết được siêu thoát và qua đó cũng cầu an cho
người sống được an lạc. Trong tín ngưỡng dân gian này
không thể thiếu vai trò của Phật giáo vì người dân quan
niệm đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ.
Theo
giáo lý nhà Phật, Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ,
sự từ bi này không chỉ đối với người sống mà còn
với người chết, không chỉ từ bi với con người mà còn
từ bi với các loài chúng sinh không phải con người, từ bi
bình đẳng đến cả các vong linh khổ não, các oan hồn uổng
tử vất vưởng, không nơi nương tựa, lang thang khắp mọi
nơi, mọi cõi, lang thang ở bụi dậm, bờ ao. Chính
vì lòng từ bi đó mà người ta lập ra Trai đàn để cầu
siêu cho các vong hồn được siêu thoát, hoá giải mọi tai
ương hận thù mà người dân tin là có thể xảy đến,
để cuộc sống được ấm no, yên ổn. Đó cũng là “điểm
nổi bật của vai trò Phật giáo trong tập tục phong hóa dân
gian chính là khuynh hướng “dân tộc hóa” nghi lễ tập tục
Phật giáo, có nghĩa là hòa quyện hình thức nghi lễ giữa
đạo và đời…” [03]
Theo
Phật giáo, trong thế giới hiện tượng tương đối này, hết
thảy vạn sự vạn vật đều chịu tác động bởi quy luật
Nhân Quả. Tất cả đều có những tương quan tác động qua
lại với nhau, duyên vào nhau mà sinh diệt, tồn tại. Do đó,
các nghi lễ cầu an, cầu siêu và trai đàn phổ độ có thể
được xem là những trợ duyên cho sự sống và sự chết
của con người về mặt tinh thần. Đứng về phương diện
đạo lý thường tình sống trong thế giới hiện tượng tương
đối mà xét thì "lễ" là sự thể hiện cho cái "nghĩa" sống
của con người, song để thể hiện cái "lễ" ấy thì cần
phải dựa vào "nghi thức" để thực hiện cho phải lẽ.
Trong
Phật giáo Nguyên Thuỷ không có kinh cầu siêu, kinh cầu an
mà chỉ về sau các nhà sư Phật giáo Bắc tông, do nhu cầu
phát triển nên uyển chuyển áp dụng các loại kinh khác nhau
cho hai mục đích vừa nêu, ví dụ như dùng kinh A Di Đà
và kinh Địa Tạng để cầu siêu cho người quá
vãng, dùng phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa
và
kinh
Dược Sư để cầu an cho người lâm bệnh, v.v… Phải
chăng, ý nghĩa căn bản của cầu siêu và trai đàn chẩn tế
phổ độ là để biểu tỏ tấm lòng chân tình thương mến
người thân quá vãng, thương xót đồng bào tử nạn, thương
xót những cô hồn đói lạnh và nhất là để an tâm cho người
sống?
******
Trong
pháp hội “Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan” được
hoà thượng Nhất Hạnh dự trù tổ chức tại ba miền Việt
Nam vào đầu năm 2007 có mục đích, theo lời hoà thượng:
“để cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất
cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của
cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế…, để
cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết
đi một cách oan ức, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trong
trại tù, ngoài côn đảo và dưới những hố chôn tập thể,
để cùng cầu nguyện cho nhau, cho những người đã khuất
và những người còn đang tiếp tục gánh chịu oan nghiệt,
và để tất cả cùng có cơ hội chữa lành những vết
thương rướm máu lâu ngày chưa lành, để nối kết lại tình
đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức
đã được chứa chất lâu nay”. [04]
Như
vậy Trai đàn mang hai ý nghĩa cho cả người sống và người
chết. Người chết, được thân nhân tin tưởng là
sẽ được siêu thoát và người sống được bớt khổ
đau, “chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày
chưa lành và để nối kết lại tình đồng bào ruột thịt,
và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất
lâu nay”.
Để
hiểu thêm về ý nghĩa pháp hội Trai đàn chẩn tế Thuỷ Lục,
ban biên tập chúng tôi mời quý độc giả đọc lại bài pháp
ngắn của Đại lão Hòa thượng Hư Vân thuyết giảng
trong dịp kiến lập pháp hội Thủy Lục để truy điệu các
chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn tại Quảng Châu Trung
Quốc vào ngày 18-8-1946:
“Hôm
nay, các giới chức đồng phát tâm kiến lập pháp hội Thủy
Lục để truy điệu các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử
nạn. Vì vậy, tôi sẽ giảng thuyết sơ về duyên khởi của
sự kiến lập đàn tràng Thủy Lục.
Sao
gọi là Thủy Lục ? Thủy tức là nước tại sông biển ao
hồ. Lục tức là đất đai tại núi non, cao nguyên, đồng
bằng. Thủy Lục (đất nước) bao hàm cả hư không. Nếu là
vật có hình tướng thì không vượt ngoài ba vật này (đất,
nước, hư không).
Đấng
Như Lai của chúng ta khởi tâm đại từ bi, cứu tế khắp
loài hữu tình, nên mới lập ra pháp môn này. Duyên khởi của
pháp hội Thủy Lục là khi tôn giả A Nan tu tập thiền định
trong rừng, có một con quỶ chúa đến cầu xin cứu độ. Tôn
giả A Nan liền trở về núi Linh Thứu, cầu Phật dạy bảo.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhân đó mà thuyết pháp Thủy Lục.
Con qủy chúa vốn là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì
thương xót chúng sanh trên đất liền đang chịu bao thống
khổ, và muốn giúp cho âm hồn trong cõi địa ngục U Minh được
vãng sanh lên cõi Cực Lạc, nên thiết pháp siêu độ.
Pháp
hội này khởi đầu từ đời vua Lương Võ Đế ở nước
Tàu. Nhà vua phát tâm Bồ Đề rất mực chân thành mà cung
thỉnh hòa thượng Chí Công, định chế nghi thức lập đàn
tràng "Thủy Lục" để làm lợi ích cho các oan hồn uổng tử.
Sắp đặt đèn cầy xong, vua Lương Võ Đế lễ một lạy;
kế đến thắp đèn "Tận Minh", rồi lễ thêm một lạy. Khi
đó, cung điện chấn động. Vua lễ lần thứ ba thì trời
mưa hoa báu. Công đức đàn tràng "Thủy Lục" như thế.
Đời
Đường, tại chùa Pháp Hải, thiền sư Anh Công lại kiến
lập đàn tràng Thủy Lục để cầu siêu độ cho vua Tần Trang
Nhượng, Phạm Tuy, Bá Khởi, Vương Long Vũ, Trương Nghị, Chẩn
Muội, v.v... đã bị trầm luân cả ngàn năm, khiến họ siêu
thăng cõi trời. Cư sĩ Tô Đông Pha đời Tống, đại sư Liên
Trì đời Minh, v.v..., cùng chư thánh hiền bao đời bổ sung
thêm vào, khiến cho nghi thức lập đàn tràng Thủy Lục ngày
một hoàn bị. Muôn pháp do tâm tạo. Mọi người đều thành
tâm, tất sẽ có cảm ứng.
Hư
Vân tôi thể theo lời khẩn thỉnh của các vị đại hộ pháp
mà làm pháp chủ cho đàn tràng này, thật khó từ chối được.
Các
chiến sĩ trận vong trong thời kỳ kháng chiến, xả thân báo
quốc, nhưng hồn họ vất vưỡng, không nơi nương tựa. Vì
tôn sùng ân đức này, chúng ta kiến lập đàn tràng để cầu
siêu độ cho họ. Nghĩa dân bất khuất, lưu lạc đường hoang,
nhà tan người mất, không hàng phục quân địch, trung thành
vì nước. Cô hồn vô chủ, lang thang khắp nơi. Lại có những
vong hồn uổng tử, chết vì bị trúng đạn, xe cán, bịnh
dịch, chết đuối, chết oan v.v... Chúng ta phải đều cầu
siêu độ hết để an ủi chúng sanh ở cõi u linh. Kẻ chết
được an, người sống được ích lợi, tức là làm lợi
ích khắp cõi dương và cõi âm.
Đây
là lý nhân quả tuần hoàn. Xoay lại đạo lý nhân tâm, không
ngoài các việc ác chớ làm mà phải hành theo những việc
lành. Bao việc khổ sở trên thế gian đều do đã trồng nhân
xấu đời trước. Nếu tán tận lương tâm, bỏ quên hiếu
để, trung tín, lễ nghĩa, khiêm, sĩ, cứ làm càn làm bậy,
thì khiến lụy đến người hiền, và thế giới mãi mãi vẫn
còn loạn lạc. Đất nước vừa được trùng quang độc lập,
phải cực lực hưng thiện dẹp trừ việc xấu, cải ác theo
lành, thì mới không bị nước ngoài xâm lăng. Nếu không lo
chuyện đại cuộc mà vẫn cứ khởi nội loạn, thì nhân dân
không biết sẽ chết nơi nào. Lúc này, nếu người có lương
tâm phải sớm giác ngộ, biết đoàn kết, giải trừ kiếp
vận cho đất nước. Nước Tàu từ lúc Hoàng Đế khởi binh
đánh vua nước Cửu Lệ cho đến ngày nay, chiến tranh mãi
không dừng.
Nếu
muốn hòa bình mãi mãi thì mọi người phải nên phát tâm
Bồ Đề, và tâm đại từ đại bi. Bồ Đề là chữ Phạn,
nghĩa tức là giác. Giác tức là đất tâm sáng chiếu. Sự
khác biệt giữa chư Phật và chúng sanh là việc giác ngộ
hay chưa giác ngộ. Những vị đã giác ngộ tất cả các pháp
trên thế gian đều do duyên sanh như mộng như huyễn, và thể
tánh vốn không, chẳng bị nhiễm ô, được gọi là thánh
hiền. Bất giác tức là vô minh. Một khi vô minh khởi lên
thì mê mờ sự lý. Từ tự tâm của chúng ta, sanh ra mười
pháp giới. Mười pháp giới đều do tâm tạo. Mười pháp
giới gồm có bốn pháp giới thánh hiền và sáu pháp giới
phàm phu. Bốn pháp giới thánh hiền là pháp giới của Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Gọi là cảnh giới thánh hiền
vì nơi đó các ngài đã vượt ngoài ba cõi, không còn thọ
luân hồi. Nếu phân biệt thì giữa bốn pháp giới thánh hiền
có phân chia cao thấp. Pháp giới tối thượng tức là pháp
giới của chư Phật. Kế tiếp là pháp giới của Bồ Tát,
rồi đến pháp giới của Duyên Giác, và cuối cùng là pháp
giới của Thanh Văn. Sáu pháp giới phàm phu vẫn còn nằm trong
biển khổ luân hồi là pháp giới của trời, người, A Tu
La, súc sanh, địa ngục, ngạ quỶ. Pháp giới của cõi trời
có ba mươi hai tầng trời. Sau khi thọ hết phước báu, chư
thiên vẫn bị luân hồi như thường. Con người từ đế vương,
tể tướng cho đến nông dân, công thương, sĩ thứ, đều
thọ hết tất cả khổ của sanh già bịnh chết. Loài A Tu
La có phước nhưng không có đức như chư Thiên nên cuối cùng
vẫn phải bị hoại diệt.
Trong
loài súc sanh, cũng có sự khác nhau về việc hưởng lạc và
thọ khổ, như loài rồng phượng, sư tử, lân giác thì thường
hưởng lạc, và ít thọ khổ hơn loài trùng kiến thấp sanh,
hóa sanh. Khổ nhọc hay an lạc trong loài quỶ cũng không đồng.
Các quỶ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng
lạc nhiều mà thọ khổ ít hơn những loài quỶ cô hồn vô
chủ. Khổ nhất là loài ngạ quỶ. Chúng sanh trong địa ngục
thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung sướng.
Mười
pháp giới không ngoài một tâm. Giác ngộ hay chưa giác ngộ
cũng từ tâm này ra. Đức Phật của chúng ta thật rất đại
từ đại bi. Ngài giảng kinh thuyết pháp để khiến cho mọi
người phát tâm Bồ Đề. Phát tâm Bồ Đề cũng sai khác.
Bậc lớn thì phát tâm tu hành thành Phật. Bậc trung thì phát
tâm tu hành thành Bồ Tát. Bậc nhỏ thì phát tâm tu hành thành
Thanh Văn Duyên Giác. Chư thiên cũng có vị phát tâm Bồ Đề.
Do sự phát tâm rộng hẹp, lớn nhỏ, nên việc thành tựu
đạo quả mau chậm không đồng. Chúng ta đang sống trong cõi
người, phải nên phát tâm Bồ Đề rộng lớn, cứu độ chúng
sanh, thay họ chịu khổ. Lại nữa, nên nguyện rằng sẽ dẹp
trừ khổ lụy và khiến chúng sanh được siêu thăng. Nếu
người người đều phát tâm như thế thì cõi nhân gian sẽ
không còn khổ đau.
Có
người hỏi tôi về thần thông biến hóa, thế giới chừng
nào hòa bình, vận nước tốt xấu như thế nào ? Tuy nhiên,
tôi vốn là phàm phu, không biết việc chi, lại chỉ là cây
gỗ già nua khô mục, không thể chạm khắc. Bất quá, so với
quý vị thì ăn cơm hơn nhiều năm, ngu si hơn nhiều năm, nghe
các ngôn ngữ lời nói nhiều hơn, xem nhiều quyển kinh hơn.
Nhận biết làm người là khổ đau, nên tôi mới nói ra những
lời này. Quý vị chớ nên hỏi việc quốc gia có hòa bình
an lạc hay không, mà chỉ nên tự hỏi ngay tâm địa của mình.
Ngày đêm sáng tối, chớ nên phân biệt quan dân, nam nữ. Tự
khắc phục tâm tánh, chớ để tự tâm mê mờ. Phải thật
hành hiếu để trung tín, và cùng mọi người hỗ tương khích
lệ. Phải nên trung thành với quốc gia, giáo dục con cái đàng
hoàng, hòa thuận vợ chồng, lễ kính thân bằng quyến thuộc
bà con láng giềng, có tín nghĩa khi giao hảo với bạn bè.
Nếu người người làm được như thế thì thế gian tự nhiên
thái bình. Ngược lại, nếu biết sai mà không sửa đổi thì
khổ não tất sẽ chạy theo, không thể tránh được. Dầu
nhân tâm có phức tạp như thế nào, vẫn tự giữ bổn phận
của mình, không chìm đắm trong muôn ngàn mong cầu.” [05]
|
Ban
Biên Tập TVHS
Chú
Thích:
[01]
Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp
Tạng Việt Nam ấn hành
[02]
Ngài Ðạo An (312-385), một danh tăng lỗi lạc thời Ðông Tấn,
Trung Quốc. Ngài là đại đệ tử của ngài Trúc Phật Ðồ
Trừng, một vị đại tăng người Ấn Ðộ vào Trung Quốc
truyền giáo. Do tình trạng chiến tranh Ngài đã phải
rời bỏ quê hương Hà Bắc (nhà Hậu Triệu) dẫn đồ chúng
khoảng 500 người chạy về thành Tương Dương lánh nạn và
tu tập tại đâỵ Vào thời điểm này thì PG đã phát triển
khá mạnh mẽ tại Trung Quốc, các vua chúa Trung Quốc nói chung
đều rất sùng mộ đạo Phật, đặc biệt là vua Phù Kiên
(nhà Tiền Tần) hùng mạnh nhất trong số 16 tiểu quốc thời
đó vì hâm mộ danh tiếng của Ngài, đã đích thân mang nhiều
ngàn quân đánh chiếm thành Tương Dương để cung thỉnh Ngài
về làm quốc sự. Suốt đời Ngài chỉ lo hoằng dương
chánh pháp, đệ tử theo học có đến hàng ngàn người. Ngài
đã đào tạo nên những môn đệ rất lừng danh, trong đó
có Ngài Huệ Viễn (hay còn gọi là Tuệ Viễn), được xem
như là sơ tổ của pháp môn Tịnh Ðộ Tông tại Trung Quốc.
[03]
TT. Thích Đồng Bổn,
[04]
Thích Nhất Hạnh, Phổ cáo quốc dân và đồng bào Phật tử
Về các Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan http://www.langmai.org/TNH/Dac%20Biet/Thong%20Bach/HTML/traidoangiaoan.htm
[05]
Hư Vân Thiền Sư, Pháp Ngữ, Thích Hằng Đạt Việt dịch -
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2004 http://www.thuvienhoasen.org/u-huvanluc2.htm#8)
|

|
|