LỊCH
SỬ
13
Dòng Đại Toàn Thiện của Nyoshul Khenpo
Surya
Das viết
Những
giáo lý và thực hành của Ati Dzogchen, Đại Toàn Thiện, truyền
xuống từ hai đạo sư không ai sánh kịp người Ấn ở thế
kỷ thứ tám là Guru Rinpoche và Vimalamitra qua một dòng phái
đặc biệt những đạo sư thành tựu và học rộng người
Tây Tạng, cũng như qua những khám phá phát hiện bằng linh
kiến. Trong thế kỷ mười bốn, những giáo lý hợp lại nơi
Longchen Rabjam toàn giác, cũng được biết với tên là Gyalwa
Longchenpa, con người trổi vượt của Cựu Phái Nyingma. Truyền
thống Đại Toàn Thiện này được biết như là Đại Toàn
Thiện Nyingthig
Sơ
Kỳ hay Tinh Túy Tâm Yếu.
Rigdzin
Jigme Lingpa là người kế thế của Longchen Rabjam. Vào thế
kỷ thứ mười tám ngài nhận lãnh những giáo lý và trao truyền
trọn bộ của Đại Toàn Thiện Nyingthig trong những linh kiến
từ Manjushrimitra (Jampel Shenyen), Guru Rinpoche, Vimalamitra và Gyalwa
Longchenpa. Trong ba linh kiến rõ ràng về Longchenpa, Jigme Lingpa
nhận những ban phước từ vị guru vô song của mình, ngài
là một với Phật Saman-tabhadra nguyên sơ, và đạt đến giác
ngộ.
Gyalwa
Longchenpa tạo ra hơn hai trăm tác phẩm, một số hiện nay vẫn
còn. Những bản văn giác ngộ do Rigdzin Jigme Lingpa viết, như
là Yonten Rinpoche Dzeu, chứa đựng tinh túy cô đọng của tất
cả những giáo huấn và bình giải vô tận của Gyalwa Longchenpa,
bao gồm Bảy Kho Tàng nổi tiếng của Longchenpa. Trong bản chất,
những tác phẩm này bao gồm tất cả Phật pháp vô lượng.
Những terma, những kho tàng Pháp được khám phá trở lại
– mà Jigme Lingpa đã nhận được trong năm (hay bảy) cuộn
sách màu vàng, cũng như từ tâm qua tâm – tạo thành nền
tảng của truyền thống được biết với tên là Longchenpa
Nyingthig, Tinh Túy Tâm Yếu của Pháp Giới Bao La. Cái này cũng
được biết như là truyền thống Đại Toàn Thiện Nyingthig
Hậu Kỳ.
Những
chi tiết về Gyalwa Longchenpa, Rigdzin Jime Lingpa và những vị
tổ khác của dòng Đại Toàn Thiện phát xuất từ Samantabhadra
và Garab Dorje được diễn tả trong nhiều sách và lời dạy
khác. Chương này diễn tả ngắn gọn dòng Longchenpa Nyingthig
mà Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje đã nhận lãnh và giảng dạy, truyền
từ Rigdzin Jigme Lingpa trong một dòng ban phước tiếp nối tương
tục. Đây là tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Rigdzin Jigme
Lingpa toàn giác, dòng cực kỳ tắt và trực tiếp đặc biệt
của Longchen Nyingthig, terma của Jigme Lingpa, hơi thở tươi mới
của các dakini, đường tắt kim cương của Dorje Sempa.
Trước
tiên, một diễn tả ngắn về dòng Đại Toàn Thiện tổng
quát, dòng dài hay ringyu. Dòng này truyền từ Phật Samantabhadra
nguyên sơ đến Dorje Sempa, Garab Dorje, Jampel Shenyen, Shri Simha,
Jnanasutra, Vimalamitra, Padmasambhava, và bao gồm nhiều lama giác
ngộ theo dấu chân của các ngài. Tất cả được ghi chép
trong dòng dài kahma, giải thích dưới đây. Với những pháp
danh của những lama truyền dòng, xin xem lời cầu nguyện dòng
của Nyoshul Khenpo, có tên là Osel sangwa nyingthig gi gyupai soldeb
mutig trengwa, Cầu Nguyện Dòng Chuỗi Hạt Trai Tinh Túy Tâm Yếu
Bí Mật.
Theo
dòng Đại Toàn Thiện Nyingthig tổng quát, giữa pháp sư Vimalamitra
thế kỷ thứ tám và Longchenpa, có mười hai vị nắm giữ
dòng kiệt xuất và giữa Longchenpa và Jigme Lingpa có mười
bốn vị. Điều này chỉ xét về những vị nắm giữ dòng,
chứ không kể đến những người thành tựu khác đã học
theo các vị. Dòng Đại Toàn Thiện dài này như vậy đi xuống
từ Phật Samantabhadra, từ thầy qua trò, trong một dòng chảy
không đứt đoạn cho đến ngày nay.
NHỮNG
GIÁO LÝ ĐƯỢC TRAO TRUYỀN NHƯ THẾ NÀO
Những
giáo lý của Nyingma hay phái Cựu Dịch được truyền qua hai
hệ thống chánh, dòng kahma và terma. Kahma để chỉ mọi giáo
lý và trao truyền trải qua những thế kỷ bởi dòng dài những
vị thầy và đệ tử. Terma để chỉ những giáo lý đã được
cất giấu từ trước rồi được khám phá trở lại của
dòng tắt và trực tiếp (nyegyu) từ Guru Rinpoche và những vị
giác ngộ khác. Những đạo sư này trao truyền giáo lý một
cách trực tiếp, qua các thân-trí huệ bất tử của các ngài,
trong kinh nghiệm linh kiến, đến vị terton người khám phá
và phát hiện những giáo lý này. Terma Longchen Nyingthig của
Jigme Lingpa là một trao truyền cực kỳ mãnh liệt và sâu xa,
tươi mới, tắt và trực tiếp như vậy. Trong chín bộ tác
phẩm của Jigme Lingpa, có hai bộ là gong ter, kho tàng tâm-trí
huệ.
Jigme
Lingpa nói rằng có bốn mục đích đối với sự khám phá
terma : để cho Pháp không bị biến mất ; để cho những giáo
huấn tinh túy không trở nên hư hao qua những thời kỳ lâu
dài, khi những lỗi lầm và vi phạm các cam kết và sự hiểu
lầm xảy ra ; để cho những ban phước gia bị không bị phai
nhạt ; và để cho dòng trao truyền trực tiếp được duy trì.
Những giáo lý terma do Guru Rinpoche Padmasambhava truyền lại thì
thích hợp với những nhu cầu và tính chất khác nhau của
đủ loại người ở những nơi chốn và thời gian khác nhau.
Người
ta có thể đạt được quả tối hậu của con đường bằng
cách thực hành chỉ một terma riêng biệt, bởi vì mỗi cái
tự nó đã trọn vẹn. Tuy nhiên để bảo tồn và xiển dương
tất cả những giáo lý của Phật pháp trong toàn bộ của
chúng, người ta cũng phải nhận sự trao truyền của dòng
kahma. Bởi thế, kahma và terma thường được thực hành và
chuyển trao không riêng biệt và tách lìa nhau.
Những
giáo lý Đại Toàn Thiện thường được xếp thành ba phạm
trù : Sem De, Loại Tâm ; Long De, Loại Pháp Giới ; và Men Ngag
Gi De, Loại Những Giáo Huấn Cốt Lõi. Sự xếp loại ba phần
này do Jampel Shenyen, đệ tử của Garab Dorje làm ra.
Hai
mươi mốt tantra chánh tạo thành nền tảng của Sem De. Chín
tantra (chia làm ba nhóm : trắng, đen và đủ màu) tạo thành
nền tảng của Long De. Phạm trù Men Ngag Gi De phân thành chín
loại nhỏ. Cái thứ tư của chín loại này, Gyu Rangshung, là
bản văn của những tantra gốc và những tantra giải thích
trong hình thức đầy đủ và tinh túy nhất. Chúng đích thực
là những giáo huấn cốt lõi.
Loại
Gyu Rangshung trong Men Ngag Gi De bản thân nó phân thành bốn nhóm
gọi là Thigle Korshi. Bốn nhóm này là Chikor, Vòng Ngoài ; Nangkor,
Vòng Trong ; Sangkor, Vòng Bí Mật ; và Yangsang Lame, Tối Mật
và Tối Thượng. Sự phân chia bốn nhóm này do Shri Himsa, đệ
tử của Jampel Shenyen làm ra.
Nyingthig
là rút ngắn của Nying Gi Thigle, nghĩa là Tinh Túy Tâm Yếu
hay Tinh Túy Sâu xa Nhất. Nó ám chỉ đến những giáo huấn
cốt lõi tinh túy nhất (men ngag) của Ati Dzogchen. Chữ “nyingthig”
chỉ gắn liền với Men Ngag Gi De, nhóm giáo huấn cốt lõi
của những giáo lý Dzogchen. Hơn nữa, nó thường ám chỉ đặc
biệt đến tâm lõi tận cùng, sâu xa và bí mật nhất của
những giáo huấn cốt lõi này, có tên là Yangsang Lame. Bởi
thế, những giáo lý cũng được biết như là Sangwa Nyingthig
(Tinh Túy Tâm Yếu Bí Mật), Osel Nyingthig (Tinh Túy Tận Cùng
Quang Minh), hay Men Ngag Nyingthig (Tinh Túy Tâm Yếu của Những
Giáo Huấn Cốt Lõi). Mỗi từ này ám chỉ đến những giáo
lý Nyingthig tìm thấy lúc đầu trong phần Yangsang Lame của
Men Ngag Gi De.
Mười
bảy tantra chánh của Men Ngag Gi De tạo thành nền tảng cho
Yangsang Lame. (Theo truyền thống của Vimalamitra, có mười tám
tantra ; theo truyền thống của Guru Rinpoche, có mười chín.
Chúng hầu hết cùng là những tantra y nhau, với vài thay đổi
chút đỉnh ; cả hai đạo sư đều nhận sự trao truyền từ
Shri Simha). Những tantra này được tìm thấy trong ba mươi sáu
bộ toàn tập của những tantra Nyingma, được gọi là Nyingma
Gyubum, được gom lại bởi Terchen Ratna Lingpa, vị vĩ đại
nhất của mười ba lingpa tối cao, những vị terton hay đạo
sư kho tàng.
Với
người bình thường thật khó khăn để hiểu những tantra
mà không có những giải thích của một vị thầy chứng ngộ.
Bảy Kho Tàng (Dzodun) của Gyalwa Longchenpa được viết để
làm sáng tỏ ý nghĩa cực kỳ sâu xa của mười bảy tantra
chính của Dzogchen, cũng như những giáo lý của chín thừa.
Vì mục tiêu của sự thực hành hiện thực của Đại Toàn
Thiện tùy theo những tantra này, Longchenpa gom các terma riêng
của ngài, cũng như của Chetsun Senge Wangchuk (vị về sau tái
sanh là Jamyang Khyentse Wangpo), và của Pema Ladrey Tsel (tiền thân
của Longchenpa), thành mười ba bộ toàn tập là Nyingthig Yabshi.
Yabshi này là phương diện thực hành của những tác phẩm
của Longchenpa và là nền tảng của Nyingthig Cổ. Trong đó
ngài tổng hợp Birma Nyingthig của Vimalamitra và Khandro Nying-thig
của Guru Rinpoche, và giải thích tất cả những chi tiết thực
hành trong ánh sáng của sự chứng ngộ của riêng ngài.
Tinh
túy cô đọng của mọi giáo lý tantra được soi sáng trong
Bảy Kho Tàng của Longchenpa được chứa đựng trong tác phẩm
kệ Yonten Dzo, Kho Tàng của những Phẩm Tính Giác Ngộ của
Jigme Lingpa. Sự thực hành bao gồm trong Nyingthig Yabshi được
cô đọng trong một hình thức dễ áp dụng, trong bốn bộ
Nyingthig Tsapod của Jigme Lingpa, trong đó có Triyig Yeshe Lama nổi
tiếng. Giáo lý cốt lõi này của Tsapod là nền tảng của
sự thực hành Đại Toàn Thiện Togal phi thường của Longchenpa
Nyingthig.
Những
giáo lý hiếm hoi sâu xa và phi thường này giải thích chính
xác những phương pháp chính yếu khác nhau để hiện thực
hóa trực tiếp những giáo lý tận cùng của Ati Dzogchen, Đại
Toàn Thiện, Thừa Tột Đỉnh, nó là phương pháp trực tiếp
để chứng ngộ nhanh chóng bản tánh tối hậu của tâm thức,
và đạt đến Phật tánh trong một thân ánh sáng cầu vồng.
Trong thời đại hiện nay, Longchenpa Nyingthig là thực hành chủ
yếu ở trung tâm của mọi giáo lý và giáo huấn cốt lõi
của Đại Toàn Thiện.
RIGDZIN
JIGME LINGPA
Được
biết như là một vidhyadhara toàn giác hay “người nắm giữ
tánh giác,” Rigdzin Jigme Lingpa (1729-1798) đã bỏ hai năm trì
tụng thần chú và cầu nguyện, và rồi nhận những giáo lý
Đại Toàn Thiện từ Lama Thugchog Tsel về bản văn sâu xa Drolthig
Gongpa Rangdrol, Tinh Túy Giải Thoát của Tâm Trí Huệ Tự Do
Vốn Sẵn. Rồi Jigme Lingpa đến ở trong một cái hang gần
Samye Chimpu nhiều năm, nơi đó ngài cầu nguyện thường trực
đến Gyalwa Longchenpa.
Trong
lần ẩn cư nhập thất ba năm lần thứ hai. Jigme Lingpa kinh
nghiệm ba linh kiến tỏa sáng về Longchenpa. Trong linh kiến
thứ nhất Jigme được ban phước bởi thân trí huệ của Longchenpa,
trong lần thứ hai bởi ngữ trí huệ của ngài và trong lần
thứ ba bởi tâm trí huệ của ngài. Tâm ngài và tâm Longchenpa
hòa lẫn không cách hở, và trong một khoảnh khắc ngài hiểu
tất cả kinh và tantra trọn vẹn và không sai lầm. Những chi
tiết của câu chuyện này được tìm thấy trong toàn thể
những bộ viết về ngài. Có cả một bộ viết hoàn toàn
về ngài. Sự thực hành và giáo lý vẫn còn là nguồn cảm
hứng chính yếu của chúng ta trong truyền thống Nyingthig hôm
nay. (Tiểu sử ngài được Steven Goodman đề cập trong đề
tài, “Rigdzin Jigme Lingpa và Longchen Nyinghtig” trong Phật giáo
Tây Tạng : Lý Do và Phát Hiện, của Steven D. Goodman và Ronald
M. Davidson.)
Để
nhanh chóng đạt đến chứng ngộ, người ta cần sự ban phước
gia bị của vị thầy. Điều này gọi là chinlab kyi gyud, dòng
ban phước gia bị. Sự trao truyền huyền bí qua tâm của Jigme
Lingpa từ Phật Longchenpa, người đã sống trước đó ba thế
kỷ, là một thí dụ của những làn sóng cảm ứng như vậy.
Sau những kinh nghiệm này những tác phẩm của Jigme Lingpa ngang
tầm với của Longchenpa, dù chính Jigme Lingpa hầu như không
từng nghiên cứu những bản văn và bình giảng.
Chúng
ta cũng có thể xem câu cuyện của Rabjam Orgyen Chodrak, ngài
là guru của vị thầy Nyingthig của Jigme Lingpa, Shri Natha (Rabjam
Orgyen hay Lama Palgon). Tiếc thay không có những tiểu sử tâm
linh viết đầy đủ của cả hai vị đạo sư truyền dòng
này.
NHỮNG
ĐỆ TỬ CỦA RIGDZIN JIGME LINGPA
Rigdzin
Jigme Lingpa có bốn đệ tử chánh giác ngộ, như đã được
tiên tri : “bốn Jigme” hay “những vị vô úy”. Họ là
Jigme Gyalwai Nyugu, Jigme Thrinley Odzer (Dodrup Chen đệ nhất), Jigme
Ngotsel Tenzin và Jigme Kundrol Namgyal. Những dòng của hai vị
sau không phát triển rộng rãi ; hiện giờ chúng không phân
biệt với hai dòng chủ yếu của Longchen Nyingthig, như ngày
nay được đại diện bởi những cháu chắt dòng dõi trực
tiếp của Gyalwai và Dodrup Chen đệ nhất.
Đệ
tử nổi tiếng của Gyalwai Nyugu là Dza Patrul Rinpoche (1808-1887)
có bốn đệ tử chánh, mỗi vị trong họ trở thành chodak
hay người kế pháp của một trong những chuyên môn của ngài
: Bát Nhã ba la mật, Luật và Luận, luận lý và tranh luận,
và Đại Toàn Thiện. Người đệ tử xuất sắc Patrul Rinpoche
tên là Nyoshul Lungtok Lama, Tenpai Nyima, là chodak Đại Toàn Thiện.
Chính dòng giáo lý của ngài trở thành truyền thống Nyingthig
ở Tu viện Kathok. Nyoshul Khenpo đã theo truyền thống Kathok
này. Có nói rằng một trăm ngàn thiền giả Kathok đã đạt
được thân ánh sáng cầu vồng của giác ngộ viên mãn qua
thực hành con đường đặc biệt này.
Tu
viện Nyoshul ở Derge, miền đông Tây Tạng, được những đệ
tử Kathok của ngài Nyoshul Lungtok xây dựng. Khenpo Ngawang Palzang,
vị kế pháp của Nyoshul Lungtok, trở thành vị trụ trì đầu
tiên ở đó. Vị khenpo chứng đạo này, Ngawang Palzang, đã
nuôi dạy hậu thân (tulku) của Nyolshul Lungtuk là Shedrup Tenpai
Nyima, người về sau tiếp tục ngài để trụ trì tu viện
Nyoshul Gompa. Dù Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje học với Khenpo Ngawang
Palzang, Shedrup Tenpai Nyima mới là guru gốc của Nyoshul Khenpo.
Nyoshul
Lungtok, đệ tử của Paltrul Rinpoche, có năm đệ tử xuất
sắc : hai vị là lingpa hay đạo sư kho tàng, và ba vị là những
khenpo thành tựu Đại Toàn Thiện. Trổi vượt nhất trong số
đó là Khenpo Ngawang Palzang đã nói ở trên, ngài cũng có tên
là Khenpo Ngakga. Ngài là một hóa thân của cả Longchenpa và
Vimalamitra. Toàn bộ tác phẩm của ngài gồm mười bộ, và
hậu thân của ngài hiện đang sống ở Tây Tạng.
Khenpo
Ngakga là guru gốc của Jatral Rinpoche Sangye Dorje. Ngakga là một
đệ tử sáng chói của Azom Drupka, một trong những đệ tử
chứng ngộ của Jamyang Khyentse Wangpo, và cũng là người kế
pháp của Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima. Bản thân Khyentse Wangpo đã
nhận sự trao truyền Longchen Nyingthig từ Jigme Gyalwai Nyugu,
cũng như từ những đệ tử của dòng Dodrup Chen, thế nên
trong những đạo sư kiệt xuất này cả hai dòng hòa lẫn.
Lerab
Lingpa là vị thứ nhất trong năm đại đệ tử của Nyoshul
Lungtok, và đã theo ngài nhiều năm. Một trong những vị khenpo
Kathok của thời đại đó có ấn tượng mạnh về sự xác
tín vĩ đại của Lerab Lingpa về cái thấy, thiền định và
hành động của Đại Toàn Thiện – mà ngài đã thành tựu
không qua nghiên cứu nhiều về mặt trí thức – đến nỗi
ông cũng trở thành một đệ tử sùng tín của Nyoshul Lungtok
Lama, sau khi Lerab Lingpa nói với ông rằng ngài đã đạt đến
chứng ngộ bằng chỉ Men Ngag Nyengyud Chenmo, những Giáo Huấn
Cốt Lõi Truyền Miệng của Nyoshul Lungtok và Patrul Rinpoche.
Khi Lerab Lingpa trở thành vị thầy Đại Toàn Thiện của Dalai
Lama thứ mười ba, và Jatral Rinpoche dạy cho Nhiếp Chính Reting
lên tiếp tục Dalai Lama thứ mười ba, thì dòng này trở nên
càng tiếng tăm hơn.
Dòng
Longchen Nyingthig này truyền như sau :
Vimalamitra
và Guru Rinpoche (thế kỷ thứ tám)
Gyalwa
Longchenpa (1307-1363)
Rigdzin
Jigme Lingpa (1729-1791)
Jigme
Gyalwai Nyugu
Patrul
Rinpoche (1808-1887)
Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima
Khenpo
Ngawang Palzang (1879-1941)
Nyoshul
Lungtok Tulku, Shedrup Tenpai Nyima
Nyoshul
Khenpo, Jamyang Dorje (1926-)
Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima xem nyongtri hay những giáo huấn thể nghiệm
của Nyingthig quý giá đến nỗi, ngài bắt những lama bác học
tầm cỡ – gồm Jamyang Loter Wangpo, Khenpo Tenphel và những khenpo
vĩ đại khác – chờ đợi thời gian lâu và hứa thực hành
thực sự từng bước, trước khi ngài ban cho họ Triyig Yeshe
Lama của Jigme Lingpa theo lối nyongtri, đưa cho những giáo huấn
và hướng dẫn từng người căn cứ trên kinh nghiệm tâm linh
của mỗi cá nhân hành giả. Về sau, Loter Wangpo – một trong
những guru gốc của Dilgo Khyentse Rinpoche, người đã truyền
những giáo lý này cho Khyentse Chokyi Lodro và Dilgo Khyentse –
đã ghi chép bên lề một bản văn Triyig Yeshe Lama (mà Khenpo
Rinpoche đã được thấy), những kinh nghiệm của ngài tiến
bộ qua rigpai tsebeb, cái thấy Togal thứ ba.
JIGME
GYALWAI NYUGU
Jigme
Gyalwai Nyugu là đệ tử lỗi lạc của Rigdzin Jigme Lingpa. Ngài
trở thành guru gốc của Dza Patrul Rinpoche. Ngài thường nhận
những lời dạy từ Jigme Lingpa, đi vào ẩn cư và thực hành
hàng tháng trong những nơi vắng vẻ, rồi trở về với vị
thầy giác ngộ của mình để có tiếp những giáo huấn khác.
Một
lần Jigme Gyalwai Nyugu đang thực hành thiền định Đại Toàn
Thiện trong một hang động ở Tsenrong trong hai hay ba năm. Mặc
dù những gian khó khắc nghiệt về vật chất, ngài thực hành
liên tục với sự chuyên cần vui sướng. Một hôm, sau thời
thiền định buổi chiều, ngài rời hang và nhìn vào bầu trời
xanh sáng rỡ với một đám mây trắng khổng lồ. Ngài có
cảm giác rằng lama của ngài, Rigdzin Jigme Lingpa, và mọi guru
của dòng phái ở trong đám mây ấy. Cầu nguyện đến các
vị với lòng sùng mộ nhiệt thành, ngài bất tỉnh.
Khi
ngài tỉnh lại, tâm thức ngài và của guru hòa lẫn, và ngài
nhận biết rigpai nelug, trạng thái bổn nguyên tự nhiên của
tánh giác nguyên sơ. Điều này là do sự cầu nguyện sùng
mộ không ngần ngừ, những ban phước của dòng phái và sự
thực hành mãnh liệt ngài đã dấn thân. Như thế ngài đã
chứng ngộ bản tánh tuyệt đối của tâm và của mọi vật.
Ba yếu tố tâm linh này là cần thiết để đạt chứng ngộ
: sùng mộ, ban phước và thực hành theo tánh Giác. Người
ta sẽ không thành tựu nếu chỉ nghiên cứu và phân tích.
Ngay
vào lúc tâm ngài Gyalwai Nyugu hòa nhập với tâm của guru tức
là pháp thân, ngài chứng ngộ chonyi kyi gong, sự chứng ngộ
pháp giới tuyệt đối hay tâm Phật. Đó là nyamshak, thiền
định. Như là je thob hay sau-thiền-định, năng lực của trí
huệ ngài khai triển rộng lớn bao la, và ngài tự nhiên hiểu
tất cả giáo lý của Phật pháp mà không cần được chỉ
dạy.
Khi
Gyalwai Nyugu đạt đến chứng ngộ, ngài quyết định từ bỏ
hang đá đi xuống núi để gặp lama của mình. Ngài đã ở
đó trong một cách khổ hạnh nhất, như một yogi vô danh không
thí chủ, không có trợ giúp hay giao thiệp, chỉ là một ẩn
sĩ trong núi bình thường, không ai hay biết. Về sau, Jigme Lingpa
đặt tên cho ngài là Jigme Gyalwai Nyugu, Đứa Con Vô Uý của
các bậc Chiến Thắng, vì sự thành tựu của ngài. Nhưng vào
lúc ấy, ngài hoàn toàn vô danh và một mình. Ngài đã quyết
định ở trong thất, thiền định trên núi, cho đến khi đạt
đến tỉnh thức hay chết trong nỗ lực thử thách. Ngài đã
đạt đến chứng ngộ, như thế đã hoàn thành lời nguyện
của mình.
Khi
quyết định xuống núi ngài ở trong một tình trạng sức
khỏe tồi tệ. Nửa đường, ngài suy sụp. Ngài nghĩ, “Ta
đã thành tựu, nhưng giờ đây ta chẳng có thể làm lợi lạc
cho ai. Ta sắp chết ở đây một mình trong hoang vu, nhưng cũng
tốt thôi.” Rồi ngài toàn tâm cầu nguyện đến Jigme Lingpa
cho ngài có thể làm tròn những mục tiêu và nguyện vọng
cho những người khác và cho mình.
Cuối
cùng có hai người hoang dã dữ tợn cắm lông chim trên tóc
xuất hiện mang đến bắp và thịt. Họ cho ngài thức ăn và
sau vài ngày ngài hồi phục. Rồi ngài tiếp tục đi cho đến
những làng xóm nơi có thể dừng chân. Khi cuối cùng đến
Jigme Lingpa, lama nói với ngài đó là hai vị hộ pháp của
vùng Tsari ấy, họ là những hóa thân của Shingkyong và vị
phối ngẫu, thành viên của chúng hội của Gonpo Mahakala. Họ
đã xuất hiện giả dạng thành hai người hoang dã để che
chở và cho ngài thức ăn. Rigdzin Jigme Lingpa nói ngài đã đạt
đến mức độ chonyi zaysar của Trekchod (không giống như chonyi
zaysar của Togal), cấp độ tối hậu của Trekchod, chứng ngộ
bản tánh hiện thực của tánh giác bổn nhiên. Sau đó, Jigme
Lingpa ban cho ngài pháp danh Jigme Gyalwai Nyugu, hợp theo lời tiên
tri Jigme Lingpa đã nhận được rằng ngài sẽ có bốn đại
đệ tử tên là Jigme
.
Jigme
Gyalwai Nyugu gốc người xứ Kham. Ngài đã bỏ quê hương nhiều
năm trước và dành nhiều năm để thực hành và nhận lãnh
những chỉ dạy trong vùng chung quanh Lhasa và Tsari. Sau đại
ngộ của Gyalwai Nyugu, Jigme Lingpa bảo ngài trở lại Kham và
thiền định nơi một ngọn núi gọi là Tramolung, một ngọn
núi có hình dạng núi Zangdok Palri màu đồng đỏ, nói thêm
rằng ngài sẽ làm lợi lạc cho đông đảo người. Theo giáo
huấn của thầy, Gyalwai Nyugu đến Tramolung.
Ngài
đã bỏ xứ Kham lâu đến độ không ai nhận ra hay biết ngài.
Ngài một mình, chỉ mang cái bị trên vai, khi đến núi ấy
ở phía bắc Derge. Nơi đây hoàn toàn hoang vắng, không người
không thú, rải rác một ít thực vật. Những người du mục
đem gia súc đến đấy vào mùa hè, nhưng họ sống xa hơn về
phía bắc, ở những cao độ thấp hơn suốt những mùa khác.
Những
người du mục đã bỏ đi khi ngài đến. Ngài không có đồ
cung cấp hay chỗ ở, nhưng ngài theo lệnh thầy và ở trong
một cái hang may mắn tìm ra. Những điều kiện sống cực
kỳ khắc nghiệt, nhưng ngài quyết tâm chẳng thà chết còn
hơn là không đáp ứng ý muốn của guru toàn giác của mình.
Và như thế ngài tồn tại, thiền định hầu hết thời gian
và tìm kiếm bất kỳ loại cỏ cây nào ăn được.
Sau
vài tháng, một nhóm người du hành bằng ngựa đi ngang qua.
Một người trong bọn họ, mặc đồ trắng cỡi một con ngựa
trắng, gọi ngài và nói, “Ông làm gì ở đây ? Ông cho là
đã theo lời của guru bằng cách ở đây ư !” Và ông ta chỉ
cho một chỗ lạnh lẽo, hoang vắng còn cao hơn sườn núi lộng
gió, nơi không có chỗ ẩn trú hay đời sống hoang dã.
Gyalwai
Nyugu biết đó là một vị hộ pháp trách cứ ngài, và lập
tức ngài dời đến chỗ đó. Tại đây ngài ở lại trong
hai mươi mốt năm, đến khi tiếng tăm lan rộng và những đệ
tử tụ hội tới. Về sau, Patrul Rinpoche trách móc các đệ
tử, nói rằng, Jigme Gyalwai Nyugu đã ở hai mươi mốt năm,
trong khi họ không thể thiền định ở đó chỉ vài năm.
Khenpo
Rinpoche nói rằng bản thân ngài chưa hề viếng nơi thiêng
liêng đó, vì nó xa chỗ ngài ở, nhưng Dilgo Khyentse Rinpoche
có đến thăm chỗ ấy, và nó hoàn toàn không có người ở.
Khenpo Rinpoche nhận xét rằng Gyalwai Nyugu, Patrul Rinpoche lẫn
Nyoshul Lungtok không một vị nào xây một tu viện hay giữ chứa
cái gì, mà chỉ để cho sự vật đến và đi một cách vô
tư nhất, chẳng nương dựa vào cái gì ngoài tinh thần sâu
xa của Pháp.
Lúc
ban đầu Gyalwai Nyugu ở đó, trước khi được biết tiếng,
ngài suýt chết vì những khó khăn khắc nghiệt phải chịu
đựng. Khi nghĩ mình sắp chết, ngài nhớ lại trước kia có
lần những hộ pháp đã xuất hiện để cứu ngài, thế nên
ngài lại cầu nguyện nhiệt thành đến guru Jigme Lingpa của
ngài.
Thình
lình một thiếu nữ xuất hiện trong vùng hoàn toàn trơ trụi
này, mang theo một bình da-ua làm ở nhà. Cô hỏi ngài làm gì
ở đây. Ngài nói ngài đang thiền định. Cô nói, “Làm sao
thầy có thể thiền định, khi thầy không có thức ăn ?”
Gyalwai
Nyugu nghi ngờ về sự việc này và không muốn chấp nhận
thức ăn cúng dường. Ngài nghĩ đây có thể là một âm mưu
của ma để cố gắng đánh lừa và ngăn chặn ngài. Ngài lại
cầu nguyện mãnh liệt đến Jigme Lingpa. Bầu trời hoàn toàn
trong trẻo và xanh ngắt, nhưng trong một đám mây trắng Jigme
Lingpa thình lình xuất hiện và nói, “Nếu những cội gốc
của những cam kết Mật thừa (samaya) của người yogi không
bị hư hoại, chư thiên và thần linh luôn luôn cung cấp nuôi
dưỡng.” Rồi ngài biến mất.
Như
thế, những nghi ngờ của Gyalwai Nyugu tan biến. Ngài nhận
ra cô gái là người bảo hộ Dorje Yudronma. Nhận bình da-ua,
ngài lấy lại sức khoẻ và có thể thiền định nhiều tháng
nữa.
Cuối
cùng, những người du mục trở lại với đàn gia súc của
họ. Một người thấy cái đầu của ngài từ đàng sau, trong
quang cảnh trống trải trơ trụi này. Người ấy không biết
là người hay ma quỷ, không dám đến gần. Người du mục
đến làng gần nhất và kể lại điều đã thấy. Người
ta hỏi cái đầu còn đó hay biến mất.
Khi
ông nói nó vẫn còn, các bạn ông nói rằng phải có một
con người ở đó. Người du mục trở lại, và kêu lên từ
xa, “Ông là ai ? Ông đang làm gì thế ?”
Ngài
trả lời, “Thiền định một chút.” Như thế ngài trở
nên được biết tiếng là một yogi đơn độc sống nơi vùng
hẻo lánh ấy.
Khi
những người du mục từ làng trở lại, họ cúng dường ngài
thức ăn, cùng với một tấm chăn dầy dệt bằng lông trâu
yak, mà ngài dùng làm một chỗ ẩn náu thô sơ. Ngài đã sống
trong một chỗ lõm hay cái hố trong đất, nhưng bây giờ ngài
dựng lên một cái lều nhỏ với vài cây chống tấm chăn.
Khi họ hỏi tại sao ngài sống ở đây, ngài nói rằng lama
của ngài bảo ngài thiền định ở đấy, và như thế ngài
có thể làm lợi lạc cho nhiều người, đó là điều ngài
làm. Dần dần tiếng tăm của ngài lan xa, vì ngài đã ở trong
sự cầu nguyện và thiền định hàng chục năm. Hàng trăm
yogi tụ tập quanh ngài trong những lều và chái trên núi ấy
suốt đời ngài.
Gyalwai
Nyugu được biết đến như một lama với sự chứng ngộ nội
tâm và những phẩm tính tâm linh kỳ diệu. Trong hàng ngàn
đệ tử của ngài, những người chủ yếu là Dza Patrul Rinpoche
và Jamyang Khyentse Wangpo, vị Khyentse thứ nhất danh tiếng. Dòng
của ngài – dòng thực hành của những giáo huấn cốt lõi
Đại Toàn Thiện – được truyền bá rộng rãi. Qua hai vị
đại đệ tử này và những người theo họ, dòng này còn
sống đến ngày nay. Theo cách ấy ngài làm lợi lạc cho vô
số chúng sanh trong thế giới này. Không thể ước lượng
hoạt động Phật sự không thể nghĩ bàn của ngài trong những
cõi sống khác.
Khi
những người thực hành này thiền định về Đại Toàn Thiện,
mục tiêu và quan tâm duy nhất của họ là chứng ngộ bản
tánh tuyệt đối của tâm thức và đạt đến giác ngộ hoàn
toàn. Họ không có mục tiêu nào khác, không làm công việc
nào khác. Họ không có nhiều tư tưởng, quan niệm và dự
tính. Jigme Gyalwai Nyugu tự nghĩ, “Tôi sẽ chứng ngộ bản
tánh của tâm thức. Dù tôi có chết, tôi cũng sẽ chỉ làm
điều này và không làm cái gì khác.” Ngài không giống như
người thế gian họ có nhiều việc để làm. Với những người
thực hành như Gyalwai Nyugu, thật rất đơn giản. Họ chỉ
nghĩ, “Tôi sẽ ở lại đây và thực hành cho đến khi chứng
ngộ.”
Từ
một quan điểm thế gian, hình như lạ lùng và khó khăn để
hiểu – một ai đó chỉ ngồi và thiền định một mình trên
núi gió lồng lộng, không thực phẩm, chỉ ăn cỏ. Thật là
kỳ lạ. Milarepa thiền định tám năm trong một cái hang chẳng
hạn. Thân thể ngài ốm o, tái xanh, hư hao, dù ngài đến từ
một gia đình khá giả. Những người Tây Tạng thường nói,
“Làm việc tốt hay mày sẽ kết thúc như Milarepa.” Nhưng
đối với Milarepa, đấy là việc duy nhất ngài thấy có ý
nghĩa và quan tâm. Một lần, Milarepa gặp những cô gái trẻ
và hấp dẫn trên đường, họ hoảng sợ với sự xuất hiện
khủng khiếp của ngài. Họ có một mong ước không bao giờ
sanh lại trong trạng thái ấy. Milarepa nói, “Dù các cô có
muốn, các cô cũng không thể nào sanh lại như thế này.”
Đấy
là câu chuyện của Jigme Gyalwai Nyugu và như thế nào ngài đạt
đến chứng ngộ. Dĩ nhiên có nhiều chuyện khác nữa, Patrul
Rinpoche tán thán đạo sư của mình trong bài kệ mở đầu
của bộ những giáo huấn cốt lõi truyền miệng về Đại
Toàn Thiện của thầy ngài, Tsiksum Nedek, Ba Lời Khuyên Xác
Đáng :
Cái
thấy thì giống như hư không bao la vô tận, Longchen Rabjam.
Thiền
định thì giống như những tia sáng của trí huệ và từ bi,
Khyentse Ozer (Jigme Lingpa).
Hoạt
động Phật giống như những bồ tát.
Jigme
Gyalwai Nyugu, con cầu nguyện ngài.
PATRUL
RINPOCHE
Dza
Patrul là đệ tử chánh của Jigme Gyalwai Nyugu. Ngài là hóa
thân lần thứ ba của một thành tựu giả về Quán Thế âm
có tên là Palgyi Samten Rinpoche. Hóa thân lần thứ hai đã chết
trong những năm hai mươi tuổi. Câu chuyện là trong một lễ
quán đảnh (wang), chuỗi hạt ngài đã chạm vào một cô gái
đang nhận lễ quán đảnh, một cử chỉ mà đối với một
nhà sư Tây Tạng được xem là xấu như chạm đến một xác
chết. Vị thầy của ngài trách ngài, nói rằng mọi người
đều thấy chuyện xảy ra và giờ đây thanh danh ngài đã sụp
đổ. Vị tulku trả lời đó là nghiệp và ngài không thể
làm gì để tránh được.
Sau
sự việc đó, ngài chết. Cô gái về sau có một đứa con
trai, tức là sự tái sanh của vị tulku ấy – Dza Patrul Rinpoche.
Ngài là Quán Thế Âm đại bi trong hình thức con người. Hơn
nữa, có nói rằng trong một đời trước, ngài là pháp sư
Ấn Độ thế kỷ thứ tám Shantideva, tác giả của Bồ tát
hạnh.
Patrul
nhận pháp danh từ Dodrup Chen Rinpoche thứ nhất, Jigme Trinley
Odzer (đệ tử của Jigme Lingpa), người đã xác nhận ngài
như là Palgyi Trulku (viết tắt thành Pal-trul hay Patrul). Ngài
học ở Tu viện Dzogchen và trở nên rất uyên bác.
Guru
gốc của Patrul Rinpoche về những giáo lý và trao truyền Đại
Toàn Thiện là Jigme Gyalwai Nyugu. Từ vị này ngài nhận lãnh
mọi giáo lý, trao truyền và những giáo huấn cốt lõi nói
thầm bên tai của Nyingthig. Ngài cũng nhận vô số giáo lý
Dzogchen từ nhiều lama, trong đó có Dodrup Chen Rinpoche thứ nhất,
Shenphen Thaye và những vị khác. Ngài nhận sự hướng dẫn
thực nghiệm hay nyongtri của Đại Toàn Thiện Longchen Nyingthig
từ Jigme Gyalwai Nyugu. (Điều này giống như Dilgo Khyentse Rinpoche,
người đã nhận vô số giáo lý Đại Toàn Thiện và những
cái khác từ nhiều lama, và nhận sự trao truyền chánh về
Đại Toàn Thiện từ Shechen Gyaltsab Rinpoche. Khyentse Rinpoche
nhận nyongtri Longchen Nyingthig đặc biệt này từ Jamyang Khyentse
Chokyi Lodro, như vị Dodrup Chen thứ tư hiện tại đã làm.)
Sau
khi nhận sự hướng dẫn cá nhân của thầy mình, Patrul Rinpoche
đi vào núi để thiền định, rồi thỉnh thoảng trở lại
cho những trao truyền thêm nữa. Đôi khi ngài thực hành rushen
(một thực hành căn bản độc nhất trong Đại Toàn Thiện)
trong nhiều tháng. Đôi khi ngài chỉ đơn giản trông chừng
bản tánh của tâm thức. Có nhiều câu chuyện về Patrul Rinpoche,
đã cực kỳ nổi tiếng suốt đời ngài, tuy nhiên ngài luôn
luôn vẫn là vị khiêm hạ nhất trong các đạo sư.
Patrul
Rinpoche có vài vị vua làm đệ tử, dù ngài không cất giữ
một cái gì và luôn luôn sống trong những nơi cô quạnh và
đi du hành vô danh không ai biết đến. Dù ở những nơi ngài
được mong chờ đến dạy, nơi người ta đến từ khắp nơi
để nghe ngài, ngài thường đi bộ đến những chỗ ấy, giữa
những người bình thường, không ai chú ý.
Trong
một dịp như thế, ngài gặp một người đàn bà khi đang
hành cước. Cô nhờ ngài mang giúp đứa con nhỏ, và sau vài
tuần đi chung, cô nói với ngài, “Ông là một người đàn
ông dễ mến. Chúng ta đã cùng đi với nhau rất tốt. Tôi
cảm thấy tốt đẹp khi đi với ông. Một người đàn bà
góa như tôi cần một người chồng, chúng ta nên lấy nhau
chứ ?” Ngài từ chối một cách tao nhã. Cô ấy không biết
rằng ngài là một lama học rộng và đã thành tựu hoàn toàn.
Về sau, cô rất đỗi ngạc nhiên khi thấy ngài ngồi trên
cái ngai giảng pháp của một vị đại lama trong một tu viện
gần đó, với đông người bao quanh.
Một
lần Patrul Rinpoche bị các thị giả nấu bếp đuổi đi khi
ngài đến thăm một đồng môn, Jamyang Khyentse Wangpo nổi tiếng.
Khi Khyentse Wangpo nghe điều gì xảy ra, ngài bảo những thị
giả đi tìm ngài Patrul, nhưng vô hiệu. Chính Khyentse Wangpo
cũng đã có những kinh nghiệm như thế khi ngài đi hành cước
một mình để học hỏi với những đại sư thời mình. Một
lần ngài ngủ bên ngoài, gần một cửa một tu viện ngài
đã viếng trong cuộc du hành. Vị trụ trì tu viện ấy sau
đó đến gặp ngài, chảy nước mắt và xin ngài tha thứ.
Một
lần Dza Patrul ở Laotang, trong một nghĩa địa đầy ma quỷ.
Chúng tìm cách lừa gạt ngài. Có sấm, chớp, những tiếng
nói trên không và những ảo ảnh huyễn thuật. Patrul Rinpoche
hàng phục tất cả bằng cách cầu nguyện bổn sư của mình
và trụ trong bản tánh tối hậu của mọi sự như chúng thật
sự là. Qua thể nghiệm này, sự hiểu biết bao la về tất
cả kinh điển tự nhiên khai mở trong lòng ngài. Dù ngài đã
nghiên cứu rộng trước đó, sự hiểu biết và thấu hiểu
của ngài trở thành vô cùng lớn hơn. Cầu nguyện và sùng
mộ rất là quan trọng. Đại thành tựu giả Do Khyentse Rinpoche
Yeshe Dorje nói với Patrul Rinpoche rằng cũng như Phật Thích
Ca đã hàng phục bốn loại ma trong một khoảnh khắc trước
dưới cội bồ đề, ngài Patrul cũng đã làm được như thế.
Tuyển
tập của Patrul Rinpoche gồm nhiều bộ, dù nhiều tác phẩm
đã không được sưu tập trong đó. Những bài thơ, kệ ngẫu
phát ngài tự nhiên viết hay hát thường được đưa cho bạn
bè hay những người tín đồ, rồi cũng biến mất như lá
trong gió. Ngài là tác giả của Kungzang Lamai Shelung rất phổ
biến, cũng như của nhiều tác phẩm sâu xa khác.
NYOSHUL
LUNGTOK TENPAI NYIMA
Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima là đệ tử thượng thủ của Patrul Rinpoche.
Trong hai mươi lăm năm ngài nhận nyongtri từ guru của mình,
thường đi vào núi và rừng để thiền định sau khi nhận
những giáo huấn cá nhân. Patrul Rinpoche luôn luôn ở nơi hoang
dã, với chỉ vài đệ tử, và Nyoshul Lungtok ở với ngài phần
lớn thời gian.
Một
lần họ thiền định chung trong núi. Patrul Rinpoche hỏi đệ
tử đã chứng biết bản tánh của tâm thức chưa. Nyoshul Lungtok
nói rằng ngài chưa thấy biết nó rõ ràng. Họ tiếp tục
thực hành. Một buổi chiều họ đốt lửa và nấu vài thức
ăn. Thầy lại hỏi đệ tử đã thấu biết bản tánh của
tâm thức chưa, và đệ tử lại nói không.
Nyoshul
Lungtok đã có một giấc mơ cứ tái đi tái lại, trong đó
ngài thấy một hạt đá núi của một xâu chuỗi màu đen và
Partul Rinpoche mở ra, lộ ra ở giữa là một tượng Phật Vajra-sattva
bằng vàng. Patrul Rinpoche nói, khi ám chỉ đến giấc mộng
đó, “Chúng ta hãy làm điều đó bây giờ.”
Trời
chiều. Họ đã thực hành namkhai naljor, yoga như hư không, nằm
trên đất, nhìn vào bầu trời tối đầy sao. Từ phía dưới
thung lũng họ nghe những tiếng chó sủa từ xa ở tu viện
Dzogchen. Patrul Rinpoche hỏi ngài, “Con có nghe tiếng chó sủa
không ?” Đệ tử bảo có. Patrul Rinpoche hỏi, “Con có thấy
sao trên trời không ?” Nyoshul nói có.
Nyoshul
nghĩ, “Vâng, ta có thể nghe những con chó sủa ; đó là thức
của tai. Vâng, ta có thấy những ngôi sao ; đó là thức của
mắt. Đó là toàn thể tánh giác !” Trong khoảnh khắc ấy
ngài chứng ngộ rằng tất cả đều bao gồm ở bên trong,
chẳng phải ở ngoài. Rigpa, tâm Phật nguyên sơ là vốn sẵn
ở bên trong. Mọi sự là trò phô diễn của rigpa, tánh giác
vốn sẵn đủ từ xưa nay.
Trong
giây phút ấy, xích xiềng của sự bám chấp nhị nguyên sụp
đổ, hoàn toàn tiêu hoại, và ngài thể nghiệm bản tánh của
tâm. Mọi nghi ngờ đều cắt tuyệt từ bên trong, và ngài
thấy biết tánh giác không chướng ngại, tánh Không bổn nhiên.
Đây là do sức mạnh thực hành thiền định ngài đã làm
– vì ngài đã thực hành rất miên mật – phối hợp với
sự gia bị của guru, người mà ngài đã tin tưởng và trông
cậy hoàn toàn.
Những
câu hỏi của Patrul Rinpoche hỏi vào lúc đó chỉ là chỗ dựa
cho sự trao truyền những ban phước tâm linh của ngài. Hỏi
đệ tử có thấy và nghe thì không phải là một khảo sát
trí thức, một giải thích về Pháp, hay bất cứ thứ gì đại
loại như vậy. Đó là một cách thức thân mật, trực tiếp
không thể nghĩ bàn để đổ rót những ban phước từ thầy
vào trò. Theo cách này, Nyoshul Lungtok đạt đến đại chứng
ngộ.
Patrul
Rinpoche bảo Nyoshul Lungtok chớ dạy Đại Toàn Thiện cho đến
khi ngài hơn năm mươi tuổi. Lúc ấy hãy dạy nó cho bất kỳ
người nào ngài muốn dạy. Dza Patrul Rinpoche cũng tiên đoán
rằng Nyoshul Lungtok sau này sẽ gặp một hóa thân của Vimalamitra,
người sẽ trở thành người nắm giữ dòng phái. Bởi thế,
Nyoshul Lungtok thiền định cho đến những năm năm mươi tuổi,
và bắt đầu chỉ dạy.
Patrul
Rinpoche nói rằng Vimalamitra xuất hóa mỗi một trăm năm, và
ngài, Patrul sẽ không gặp được vị ấy, nhưng Nyo-shul Lungtok
thì sẽ gặp. Điều này ám chỉ đến Ngawang Palzang, Khenpo
Ngakga. Patrul Rinpoche dạy Nyoshul Lungtok hãy giao dòng nyongtri
trọn vẹn cho vị ấy. Về sau Nyoshul Lungtok có năm đại đệ
tử, hai lingpa hay terton, và ba đại khenpo, trong ấy Khenpo Ngawang
Palzang là tối cao.
Như
thế Patrul Rinpoche trao truyền dòng nyongtri hay giáo lý thể
nghiệm của Đại Toàn Thiện Nyingthig cho Lungtok Tenpai Nyima.
Patrul Rinpoche truyền dòng shetri đặc biệt hay giáo lý lý thuyết
cho Orgyen Tenzin Norbu. Thực sự, Dza Patrul có bốn đại đệ
tử và những người nối Pháp (chodak), mỗi người trong họ
giữ một trong những chuyên môn của ngài, như đã nói ở
trên. Nyoshul Lungtok nắm giữ dòng Đại Toàn Thiện Men Ngag
Nyongtri, dòng sau này Nyoshul Khenpo nhận lãnh. Khi Patrul Rinpoche
lấy Nyoshul Lungtok làm người truyền thừa về Đại Toàn Thiện,
ngài đưa cho đệ tử bản chép tay của ngài Dzodun, Bảy Kho
Tàng của Longchenpa. Tuyển tập này, sau khi Patrul Rinpoche và
Nyoshul Lungtok Lama dùng, được lưu giữ như một vật để
thờ tại Tu viện Nyoshul cho đến nay, khi chính Nyoshul Khenpo
Rinpoche có dịp may thấy và tôn kính nó. Đã không có ai mở
nó ra từ nhiều thập kỷ.
Patrul
Rinpoche truyền dòng giáo lý giải thích (shetri) cho Orgyen Tenzin
Norbu, người cũng được biết với tên là Khenpo Tenga. Vị
thầy này sau đó truyền cho Khenpo Shenga và Khenpo Yonten Gyamtso
(cũng có tên là Yon-ga), hai đại khenpo của Tu viện Kathok,
họ là đệ tử của Orgyen Tenzin Norbu và đã gặp chính Patrul
Rinpoche. Khenpo Yonga là tác giả của bình giải tuyệt vời
về Yonten Dzod của Jigme Lingpa. Khenpo Shenga cũng viết một bình
giải chính thống về nó. Trong nhà của Dilgo Khyentse Rinpoche
có một bức tượng của đức bảo hộ Tseringma, do Orgyen Tenzin
Norbu an vị. Khenpo Yonga là cháu của Orgyen Tenzin Norbu, và đã
viết một bình giải nổi tiếng về Bồ tát hạnh của Shantideva.
Tất cả những vị khenpo học rộng này đều là những hành
giả vĩ đại cũng như là những học giả và vị thầy năng
động.
KHENPO
NGAWANG PALZANG
Khenpo
Ngawang Palzang là đệ tử và người nối pháp vĩ đại nhất
của Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima. Ngawang Palzang cũng được gọi
là Ngala hay Ngakga, và ngài cũng có một tên lúc nhỏ là Ngalu.
Khi còn là một đứa bé, ngài mang những đôi giày ống bằng
da và da trâu yak.
Một
hôm mẹ ngài đem ngài đến Nyoshul Lungtok, để nhận những
ban phước trong khi Nyoshul Lungtok đang nhập thất. Vào đúng
ngày hôm đó, Nyoshul Lungtok nói với thị giả rằng nếu có
ai tới ra mắt ngài thì hãy để họ vào, dù theo lệ thường,
thời gian ấy khách phải ra về. Khi bà mẹ và đứa con đến
ra mắt vị lama và để nhận ban phước, Nyoshul Lungtok nhận
họ. Ngài đặt tên đứa bé là Ngawang Palzang và cho nó một
tách trái nho đã cúng và một sợi dây bảo vệ màu đỏ để
sống lâu. Ngài cũng nói với bà mẹ hãy chăm sóc thật tốt
cho đứa bé, tránh cho nó khỏi những chỗ dơ uế và đem nó
trở lại sau này để được giảng dạy.
Khi
Ngawang Palzang lên tám, ba mẹ của ngài đưa đến gặp lại
Nyoshul Lungtok và nhận ban phước. Khi lên mười, đứa bé trở
thành người hầu hạ và đệ tử của vị lama vĩ đại này,
theo vị ấy đi khắp nơi, đi đàng sau khi đi nhiễu, nghe những
bài thuyết pháp ngài ban cho ở những nơi ngài đến, ngồi
với ngài trong chỗ riêng, hầu ngài trà và thức ăn, và thực
hành những thực hành sơ khởi (ngondro) và trì tụng vào thời
gian rỗi.
Khi
vào khoảng mười ba tuổi, ngài thực hành mạn đà la như
một phần của ngondro. Nyoshul ban cho ngài một thangka – một
bức tranh truyền thống của Tây Tạng – của Longchenpa, và
vài viên thuốc rilbu, những thánh tích trong những pho tượng
nhỏ, và một sợi tóc của Jigme Lingpa. Ngài được dạy cầu
nguyện đến Longchenpa với tất cả những vật nâng đỡ này,
chắc chắn sẽ có những ban phước lớn lao.
Một
hôm, trong khi đang thực hành mạn đà la, ngài có một thị
kiến : Có một ngọn núi trắng hình ốc tù và, trên đỉnh
là một cánh đồng cỏ phẳng, đẹp, đầy hoa. Và ngài thấy
Gyalwa Longchenpa cầm một viên pha lê hình trái tim tỏa ánh
sáng năm màu. Rồi Longchenpa ban cho ngài rigpai tsel wang, quán
đảnh thứ tư, sự giới thiệu vào bản tánh tuyệt đối
của tâm-trí huệ vốn sẵn đủ, rigpa.
Vào
khoảnh khắc đó ngài hiểu được bản tánh của tâm ; tuy
nhiên ngài còn thấy rằng Longchenpa là khác với ngài, rằng
họ là hai. Ngài nói với lama của mình về thị kiến này
và trạng thái nội tại của tánh giác ngài đã khám phá.
Vị lama bảo, “Đấy có thể là Pháp thân hay alaya (kun shi
tiếng Tây Tạng, nền tảng của tất cả các thức). Chúng
ta sẽ xét nghiệm sự vi tế này về sau.”
Lungtok
bảo Ngawang Palzang thiền định về Bồ đề tâm, và ngài đã
làm một thời gian dài. Sau đó vị thầy huấn luyện cho ngài
trải qua mọi nhánh của Đại Toàn Thiện, từ những thực
hành sơ bộ của ngondro đến Trekchod và Togal.
Trong
cái thấy đầu tiên này, ngài nhận ra bản tánh nền tảng
của tâm mình. Rồi khi thực hành Bồ đề tâm, ngài kinh nghiệm
bản tánh tuyệt đối của thực tại. Về sau, ngài tiếp tục
qua mọi thực hành, từng bước, từng bước đến Togal. Sự
chứng ngộ ban đầu của ngài là một cái gì chưa trọn vẹn.
Ngài còn có nghi ngờ và cần sự làm cho sáng tỏ, thế nên
ngài đi qua mọi phần nhánh này của sự thực hành. Đấy
là tại sao có những công việc ngondro, ý nghĩa sâu xa càng
lúc càng được thăm dò và làm cho sáng tỏ theo kinh nghiệm
cá nhân của mỗi hành giả.
Chỉ
có những trường hợp hiếm hoi nhất, trong đó chứng ngộ
và giác ngộ trọn vẹn xảy ra đồng thời. Những hành giả
như vậy, như Garab Dorje, được gọi là chik charpa trong tiếng
Tây Tạng, nghĩa là sự thức tỉnh tất cả-trong-một lần
hay thình lình đốn triệt. Thông thường, người ta có một
kinh nghiệm thức tỉnh, sự chứng ngộ tâm linh, và rồi khai
triển cho đến Phật tánh trọn vẹn.
SHEDRUP
TENPAI NYIMA
Đệ
tử chính của Khenpo Ngawang Palzang là Shedrup Tenpai Nyima, guru
gốc của Nyoshul Khenpo Rinpoche. Ngài là tulku của Nyoshul Lungtok,
và sinh ra làm con của Terton Yeshe Tenzin, một trong những đệ
tử của Nyoshul Lungtok. Một lần Nyoshul Lungtok cho Yeshe Tenzin
một lời tiên tri, nói rằng mọi sự luôn luôn đổi thay và
một ngày kia ngài, Nyoshul Lungtok sẽ được ban phước từ
Yeshe Tenzin, đệ tử của mình.
Vào
lúc đó. Yeshe Tenzin không hiểu điều thầy mình nói. Nhưng
khi có một đứa con trai, một thời gian sau sự ra đi của
thầy, và cũng trải qua một giấc mơ rõ ràng về Nyoshul Lungtok,
ông nhớ lại lời báo trước của guru và kết luận rằng
con mình là hóa thân của ngài. Bởi thế, ông đem đứa bé
đến Khenpo Ngawang Palzang và thuật lại cho ngài lời báo trước
cũng như giấc mơ của mình. Khenpo Ngawang xác nhận điều đó,
nói rằng trước đây ngài đã có mơ thấy đức Quán Thế
Âm bốn tay, và rằng Nyoshul Lungtok là một hóa thân của Quán
Thế Âm. Như thế, vị tulku đã được xác nhận.
Shedrup
Tenpai Nyima lớn lên với cha mình và nhận những lời chỉ
dạy từ cha. Khi lên chín, người cha tôn quý của ngài, Terton
Yeshe Tenzin, ra đi. Ngày thứ ba sau cái chết của cha, đứa
bé có một thị kiến về cha mình, mặc đồ trắng, như một
yogi, tóc cột thắt, đưa ngài vào bản tánh của tâm thức
ngài. Vào lúc ấy ngài thức dậy, nhận biết thực tánh của
tâm.
Về
sau, Shedrup Tenpai Nyima học với Khenpo Ngawang Palzang và nhận
tất cả giáo lý, từ ngondro đến Trekchod và Togal, theo truyền
thống nyongtri và khai triển mọi kinh nghiệm tâm linh, thị
kiến v.v… Khi ngài đã thấu hiểu rõ ràng bản tánh của
tâm thức. Shedrup Tenpai Nyima nói với Khenpo Ngawang Palzang về
kinh nghiệm đã có một cách ngắn ngủi sau cái chết của
cha mình, và thảo luận về trạng thái của tâm thức ngài
đã chứng nghiệm. Khenpo Ngawang Palzang nói rằng cái ấy quả
thật là bản tánh tuyệt đối đích thực, nhưng ngài còn
phải đi qua mọi thực hành để làm vững chắc sự chứng
ngộ của mình và làm cho nó không lay động.
Shedrup
Tenpai Nyima thấy guru của mình, Khenchen Ngawang Palzang và Kunkhyen
Longchenpa hoàn toàn đồng nhất : ba lần ngài trải qua những
thị kiến về sự bất khả phân của hai vị. Ngài cũng có
những thị kiến về Jigme Gyalwai Nyugu, Patrul Rinpoche, Terdak
Lingpa và những vị khác. Những sự kiện này không được
kể lại trong tiểu sử tâm linh hay namthar của ngài, nhưng
được ngài nói riêng với Nyoshul Khenpo Rinpoche.
Dòng
nyongtri này truyền trực tiếp từ Rigdzin Jigme Lingpa được
vẽ trong bản đồ sau.
NYOSHUL
KHENPO
Shedrup
Tenpai Nyima truyền thừa cho Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje. Nyoshul
sinh ở Derge, miền đông Tây Tạng. Tuổi nhỏ, ngài chăm sóc
thú vật, vào một Tu viện Sakya vào lúc còn nhỏ (gia đình
mẹ ngài thuộc phái Sakya) và về sau trở thành đệ tử của
Shedrup Tenpai Nyima ở Tu viện Nyoshul (trong hệ thống Tu viện
Kathok), một gompa ở Derge với khoảng một trăm vị tăng và
một trường học tu viện.
Ngài
phục vụ guru của mình như một thị giả riêng (shabshu) trong
ba năm khi còn là một đứa trẻ, chịu nhiều gian khổ. Một
tập sự nghèo, ngài phải thường xuyên chống lại những
đàn chó loại lớn thuộc giống Tây Tạng trên đường đi
khất thực. Ngài vẫn còn những vết sẹo trên đùi chứng
tỏ điều đó. Ngài quá nghèo đến nỗi không có cả một
hạt gạo để cúng khi thực hành những cúng dường mạn đà
la, trong khi tu hành ngondro vào tuổi mười hai. Sau cùng, vì
quyết tâm mạnh mẽ, ngài vượt trội trong việc học và trở
nên rất uyên bác, hoàn thành việc huấn luyện để trở thành
khenpo ở trường học tu viện chùa Nyoshul dưới sự hướng
dẫn của Shedrup Tenpai Nyima, trong khi vẫn tu hành Đại Toàn
Thiện và nhiều kỳ nhập thất, gồm trọn một năm thực
hành tsalung yoga trong một cái hang. Khenpo Rinpoche là một trong
số ít khenpo Đại Toàn Thiện còn lại ở ngày nay.
Ngài
là một đệ tử lâu năm của Đức Dudjom Rinpoche, Dilgo Khyentse
Rinpoche và Kangyur Rinpoche (Longchen Yeshe Dorje), và là một huynh
đệ kim cương thân thiết của Jatral Rinpoche Sangye Dorje. Ngài
cũng là một Rimé hay một vị thầy không bộ phái. Nyoshul
Khenpo có hai mươi lăm vị thầy tâm linh. Ngài nhận những
lời nguyện Giới luật từ vị trụ trì phái Nyingma Thubten
Gomchok Lekden, người đã nhận chúng từ đại khenpo của Nyoshul,
Ngawang Palzang. Khenpo Rinpoche đã viết một cuốn sách biên niên
về cuộc đời của những vị nắm giữ dòng chủ yếu trong
hệ này, từ đức Phật và các đệ tử của ngài cho đến
ngày nay.
Khenpo
Rinpoche kể lại một câu chuyện về guru Đại Ấn của ngài,
Rigdzin Jampel Dorje, vị này đã nhập thất bảy năm tu về Tara,
trong thời gian đó ngài hoàn thành một trăm ngàn lần trì
tụng Hai Mươi Mốt Tán Thán Đức Tara cho mỗi bài kệ của
bài tán ca dài và đẹp đẽ này – hai mươi mốt lần một
trăm ngàn trì tụng tất cả. Vị đại lama thấy toàn bộ
những cõi Phật và mạn đà la bày hiện của Tara. Khi ngài
ra đi, ngài thở ra một hơi thật dài, nói rằng ngài sắp
đi đến cõi Phật của Tara, rồi ngài tắt hơi, ngồi ngay
thẳng trong thugdam, thiền định tịnh quang, một tuần sau khi
chết.
Một
vị thầy Đại Ấn khác của Khenpo, Lama Tashi Tsering, vốn xuất
thân từ một tu viện Sakya. Về sau, ngài bỏ mọi thứ và
sống như Gyalwai Nyugu. Ngài thực hành Đại Toàn Thiện Nying-thig
trên một ngọn núi hẻo lánh phía đông Derge và trở thành
một đại sư của bốn thị kiến Togal. Khi xác ngài được
hỏa táng, nhiều xương xá lợi còn lại trong tro trong hình
dạng Dorje Sempa, Hevajra, Tara và những hóa thần bổn tôn khác,
cũng như có in khắc những chủng tử tự Mật thừa.
Vị
thầy Sakya của Khenpo Rinpoche là Khenchen Kunga Gyaltsen. Khenpo
nhận Lam Dray hay những giáo lý Con Đường và Quả và những
trao truyền liên hệ từ vị lama này, ngài cũng đồng thời
là một nhà Đại Toàn Thiện. Chuyện kể rằng Kunga Gyaltsen
đã nhận quán đảnh rigpai tsel từ một người có tính khí
điên, vị này để hết thì giờ này này sang ngày khác khiêng
những tảng đá từ một con sông ở xa về xây một bức tường
bao quanh nhà cầu nguyện, và ai cũng cho rằng người ấy điên
khùng. Về sau trở nên rõ ra rằng rushen chính là thực hành
chủ yếu của vị ấy, và vị ấy đã làm thế trong hai mươi
năm. Điều này giải thích tính khí thái độ kỳ lạ, ngoài
quy ước của ngài.
Kunga
Gyaltsen cảm thấy con người có vẻ điên khùng này là một
người đặc biệt, bởi thế ngài xin vị yogi điên này kiểm
nghiệm sự thiền định của mình. Khi lama Kunga Gyaltsen ngồi
thiền, vị yogi điên đánh ngài đàng sau lưng bằng một viên
đá để xây tường, trực tiếp đưa ngài vào bản tánh của
tánh giác vốn sẵn đủ. Rồi con người tu rushen kỳ quái
ấy bỏ chạy mất. Kunga Gyaltsen, một đại khenpo với nhiều
thầy và nhiều đệ tử, đã xem vị ấy như một trong những
lama gốc chánh yếu của mình, do nhờ buổi gặp gỡ đơn sơ
ấy mà có một đại ngộ, sau đó ngài không bao giờ được
gặp lại vị kia nữa.
Vài
lama gốc của Khenpo Rinpoche hiện còn sống ở Tây Tạng. Một
trong số đó là đại khenpo tên là Khenpo Munsel từ xứ Golok,
đến bây giờ ngài gần một trăm tuổi. Ngài đã ở hai mươi
năm trong tù khi xứ ngài bị chiếm đóng, ở trong đó ngài
đã bí mật dạy Đại Toàn Thiện cho hàng trăm người bạn
tù. Họ đã thực hành và hoàn thành nó mà không có sự nâng
đỡ của nghiên cứu hay lễ nghi bên ngoài, trong một thời
kỳ mà hình phạt cho sự tuân thủ tôn giáo là tội tử hình.
Trong tù, Khenpo Munsel dạy Choying Dzo của Longchenpa và Yeshe Lama
của Jigme Lingpa từ trí nhớ.
Nyoshul
Khenpo nổi tiếng vì sự thông thạo những tác phẩm của Longchenpa
và vì những chỉ dạy liên quan đến chúng. Trong nhiều dịp
ngài đã được yêu cầu giữ một địa vị một khenpo tại
những tu viện và trường của đức Gyalwa Karmapa, đức Dudjom
Rinpoche, Situ Rinpoche, Palyul Rinpoche, Pema Norbu và những vị khác.
Ngài là tác giả của cuốn Lịch Sử của Đại Toàn Thiện
Nyingthig : những Câu Chuyện Cuộc Đời của Dòng Vidyadhara,
cũng như những tác phẩm và bài ca khác. Ngài có nhiều đệ
tử ở Bhutan, Nepal, Ấn Độ và châu Âu.
NHỮNG
DÒNG TRUYỀN ĐẠI TOÀN THIỆN ĐƯƠNG THỜI
Cả
hai Khenpo Ngawang Palzang và Shedrup Tenpai Nyima đã hiểu được
bản tánh của tâm thức mình trong khi thực hành ngondro, nhưng
các ngài còn đi qua mọi thực hành cho đến Trekchod và Togal.
Trong dòng đặc biệt này có vài vị đạo sư đạt đến chứng
ngộ tức thời, một lần trọn vẹn. Loại người này được
gọi là chik charpa.
Jigme
Gyalwai Nyugu cũng truyền nyongtri này cho Jamyang Khyentse Wangpo,
vị Khyentse thứ nhất, ngài chứng ngộ bản tánh vốn sẵn
trong khi thực hành ngondro. Có kể rằng đại đệ tử của
ngài là Azom Drukpa cũng như vậy, và đệ tử của Azom Drukpa
là Jatral Choying Rangdrol cũng chứng ngộ theo cách ấy. Rangdrol
đã truyền dòng này cho Dodrup Rinpoche hiện thời, vị Dodrup
Chen thứ tư. Đức Dudjom Rinpoche nhận dòng Đại Toàn Thiện
nyongtri từ Phokang Tulku Gyurmed Ngedon Wangpo, guru của mình, ngài
là đệ tử thượng thủ của Dudjom Lingpa, hiện thân trước
kia của đức Dudjom Rinpoche. Phokang Tulku nhận nó từ Jamyang
Khyentse Wangpo ; ngài cũng biết Patrul Rinpoche và Jamgon Kongtrul
Lodro Thaye.
Đức
Dilgo Khyentse nhận dòng nyongtri này từ Shechen Gyaltsab, guru gốc
của ngài. Vị sau có nhiều đệ tử. Khyentse Rinpoche gặp guru
của mình khi ngài còn rất trẻ. Shechen Gyaltsab đã nhận dòng
riêng biệt này từ Jamyang Khyentse Wangpo. Trong dòng này có nhiều
vị giống như những chik charpa. Trong chính tiểu sử của Jamyang
Khyentse Wangpo có nói rằng ngài đã đạt đến chứng ngộ
khi đang thực hành ngondro.
Guru
gốc của Kangyur Rinpoche, Jedrung Rinpoche, Thrinley Jampa Jungnay,
đã nhận sem tri hay những giáo lý Đại Toàn Thiện về bản
tánh của tâm từ cả hai vị Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon
Kongtrul Lodro Thaye. Jedrung Rinpoche là lama trưởng của Riwoche,
một tu viện Rimé vùng Kham ở đó cả hai truyền thống Kagyu
và Nyingma được thực hành. Ngài chủ yếu thuộc dòng Taklung
Kagyu, dù ngài là một đại terton và hành giả Đại Toàn Thiện.
Jedrung Rinpoche trao truyền toàn bộ cho Kangyur Rinpoche, người
cha của Tulku Pema Wangyal sau này.
Jatral
Rinpoche Sangye Dorje là một đệ tử trực tiếp của Khenpo Ngawang
Palzang và sư bác của Shedrup Tenpai Nyima, vị guru của Khenpo
Rinpoche. Khenpo Rinpoche cũng đã từng gặp Khenpo Ngawang Palzang
khi ngài còn rất nhỏ, dù cho ban đầu ngài học với Shedrup
Tenpai Nyima.
Rinpoche
Neten Chokling quá cố, người cha tôn kính của Orgyen Tobgyal
Rinpoche, hóa thân lần thứ ba của Chokgyur Dechen Lingpa, là một
đệ tử của Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, vị Khyentse thứ hai,
người chủ yếu là một đệ tử của Azom Drukpa. Như thế
dòng nguyên vẹn đi xuống từ ngài, như một ngọn đèn được
thắp từ một ngọn đèn khác.
Đấy
là những dòng Đại Toàn Thiện chúng ta có đến ngày hôm
nay, chủ yếu là kahma hay dòng trao truyền bằng miệng.
NHỮNG
TERMA
Chúng
ta đã miêu tả dòng kahma. Cũng có những dòng terma. Ở đây
chúng ta chỉ giới thiệu ngắn về những terma.
Terma
là những kho tàng Pháp được khám phá lại. Có nhiều câu
chuyện về Kangyur Rinpoche nhận trao truyền trực tiếp từ
Guru Rinpoche, sau đó tâm của hai ngài hòa lẫn. Cũng có những
câu chuyện kể những linh kiến của ngài về Vimalamitra, Longchenpa,
Jigme Lingpa và những vị khác. Dudjom Rinpoche đã nhận nhiều
trao truyền trực tiếp theo cách ấy. Những dòng terma là những
trao truyền trực tiếp và vô cùng từ Guru Rinpoche đến đạo
sư kho tàng (terton).
Như
thế, giữa Guru Rinpoche và chúng ta, chỉ có một người, đó
là đại terton ngài là thầy của chúng ta trong dòng terma này.
Đây là lý do của thần lực khủng khiếp và sự hiệu quả
của những trao truyền như vậy, ngay cả ngày nay. Những giáo
lý terma của dòng tắt và trực tiếp thì giống như hơi thở
ấm áp và tươi mát của những dakini, trong đó sức mạnh
của những ban phước vẫn còn nguyên vẹn. Nói chung, có ba
dòng terma. Cộng vào với ba dòng kahma nữa là có tất cả
sáu dòng Đại Toàn Thiện Dzogchen. Mọi kahma và terma đều
gồm trong sáu cái này. (Tất cả điều này được giải thích
rõ ràng trong bình giải của Khenpo Yonga về chương thứ mười
của cuốn Yonten Dzo của Jigme Lingpa.)
Những
terma thường có hai loại, gong ter hay kho tàng tâm, và dze ter
hay kho tàng vật chất. Gong ter được rút ra từ cảnh giới
bất khả tư nghì của tánh giác, tâm-trí huệ, bởi vị terton
mà kho tàng ấy đã được dành cho ngài. Rồi chúng được
dạy và viết ra trong một cách có thể hiểu được cho những
người tiếp xúc với một vị thầy và với giáo lý như vậy.
Dze ter được khám phá như những đồ vật, chẳng hạn những
tấm da hay cuộn giấy màu vàng có chữ của dakini, những đồ
thờ, xá lợi, ngọc… Chúng có thể có nhiều hình thức để
làm lợi lạc cho chúng sanh.
Trong
mọi trường hợp, tất cả mọi loại terma khác nhau đều
được chính Guru Rinpoche – hay những người cộng sự như
Yeshe Tsogyal, Vimalamitra hay Vairotsana – cất giấu để cho những
hậu thân của những đệ tử của ngài tiếp tục khám phá
chúng về sau cho lợi lạc của những thế hệ tương lai. Tulku
Thondup đã viết một cuốn sách hảo hạng về chủ đề này,
cuốn Những Giáo Lý Được Cất Giấu của Tây Tạng.
Như
chính Guru Rinpoche đã nói, “Trừ xác chết của một con chó,
mọi vật có thể lấy làm ter.” Điều này có nghĩa những
kho tàng terma là nguồn mỏ giáo lý vô tận, nó có thể xuất
hiện trong bất cứ hình thức nào thích hợp với những nhu
cầu của chúng sanh. Chủ đề terma là thực sự rộng lớn,
sâu xa và không thể quan niệm nổi.
Đôi
khi những kho tàng terma được những hộ pháp giao cho các terton,
hay được phát giác trong những giấc mơ và những linh kiến.
Đôi khi những terton phải tìm kiếm những terma mà họ đã
được tiền định để tìm thấy. Đôi khi những danh sách
của những terma và bản đồ được khám phá hay giao cho các
terton, liên quan đến những giáo lý dành cho họ phát hiện.
Đôi khi những terma được đọc như những cuốn sách bởi
những người khám phá. Thường thường họ phải giải mã
chúng từ dayig hay chữ tượng trưng bí mật của dakini, hay
từ một mật mã đơn lẻ hay chủng tử tự. Đôi khi chỉ
có bản thân vị terton đọc được, hay thấy được terma.
Những trường hợp khác mọi người đều có thể thấy. Thỉnh
thoảng, phải có những nỗ lực lớn lao trước khi kho tàng
được khám phá. Một terton làm mòn vài cái đục khi cố gắng
moi một terma ra khỏi một vách đá trên một bờ vực thẳm.
Những vị khác phải làm nhiều lễ cúng dường (tsok), hay
tìm ra người phối ngẫu thích hợp, trước khi đáp ứng mọi
điều kiện tốt lành cần thiết cho việc khám phá những
kho tàng Pháp.
Trong
thế kỷ mười bảy Terdak Lingpa cố gắng sưu tầm và kết
hợp tất cả những terma vào thời đó. Tuy nhiên, đến thời
Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrul Lodro ở thế kỷ mười
chín, không có một kết tập nào đã được làm. Vì lý do
ấy, hai đạo sư Rimé vĩ đại này, cũng chính là những terton,
đã gom lại kho tàng terma vĩ đại Rinchen Terdzo, bao gồm tất
cả những terma gốc chính yếu của những terton. Như thế
họ giữ nhiều kho tàng Pháp khỏi bị mất mát. Hiện giờ
có hơn sáu mươi ba bộ, gồm mười bảy ngàn quán đảnh.
Mỗi
terma là một vòng, một chu trình tự đầy đủ, gồm tất
cả giáo lý chính yếu cần thiết để đạt đến giác ngộ.
Mỗi terma chứa đựng những phần đoạn bao hàm những thực
hành sơ khởi, ba cái gốc, Đại Toàn Thiện… dù tất cả
mọi phần khác nhau không phải luôn luôn được phát hiện,
dạy hay viết ra bởi chính người khám phá. Dựa vào nhiều
yếu tố, gồm cả thời gian và hoàn cảnh, và hoặc những
giáo lý ấy có được các đệ tử yêu cầu hay không, một
số terma được hoàn chỉnh về sau bởi những hóa thân.
Một
terton vua, tối cao như Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892) đã phát
hiện hình thức bao quát nhất của những kho tàng Pháp, bộ
Bảy Trao Truyền hay Kabab Dun nổi tiếng. Người đồng thời
với ngài, Chokgyur Dechen Lingpa (Choling Rinpoche thứ nhất), cũng
có Kabab Dun, trong một hình thức kém đầy đủ hơn nhiều.
Những phát hiện và tác phẩm của Khyentse thứ nhất cũng
như cuộc đời ngài thì hoàn toàn đáng kinh ngạc.
Kahma
Đại Toàn Thiện – gồm tất cả những sadhana được thực
hành vào thời Guru Rinpoche và trao truyền từ guru đến đệ
tử qua một dòng không đứt đoạn – lần đầu được kết
tập, xuất bản và truyền bá trong thế kỷ mười bảy bởi
hai huynh đệ của Mindroling, là Terdrak Gyurme Dorje và Lochen Dharma
Shri. Một vị là terton rất vĩ đại, và vị kia là một đại
dịch giả. Họ thêm vào những truyền thống khẩu truyền
những terma riêng và bình giải của họ, tạo thành bốn mươi
hai bộ tất cả. Đức Dudjom Rinpoche cũng đã làm như thế.
Đối với một dẫn nhập mười hai bộ tác phẩm của Dudjom
Rinpoche, xin xem Truyền Thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng.
Những
terton nổi bật khác là Guru Chowang, Rigdzen Godem, Pema Lingpa,
Ratna Lingpa, Sangyay Lingpa, Dorje Lingpa, Nyangral Nyima Ozer, Jatshon
Nyingpo, Terdak Lingpa và Longsel Nyingpo. Có nói năm terton vua vĩ
đại, một trăm terton trưởng, một ngàn terton thứ, dù người
ta nên hiểu rằng con số những terton thì không thể đếm,
và con số những terma, cũng như những tantra thì không thể
quan niệm. Người ta có thể đọc về nhiều terton trong cuốn
Những Cuộc Đời của Một Trăm Lẻ Tám Terton của Jamgon Kongtrul
Lodro Thaye trong bộ Rinchen Terdzo, nhưng còn chưa được dịch.
Hiện
thân trước kia của đức Dudjom Rinpoche, Trakthung Dudjom Lingpa,
là một đại terton của thế kỷ vừa rồi, vị này đã phô
diễn những thần lực đáng kể cũng như có một tính khí
rất phẫn nộ. Một đại thành tựu giả Phurba (Vajra Kilaya),
ngài gần như không biết chữ, đã dùng mười ba người chép
tay để đưa những phát hiện của ngài thành tác phẩm. Ngài
giống như những thành tựu giả thông tuệ-điên cuồng thời
xưa.
TIÊN
TRI
Một
lần, Khenpo Ngawang Palzang, đệ tử của Nyoshul Lungtok Tenpai
Nyima có một giấc mộng trong đó ngài thấy một cái tháp
lớn ở Ấn Độ. Đó là một cái tháp lớn nhất được vua
Ashoka dựng nên, chứa những xá lợi của Phật. Nó đã bị
hư hỏng từ đỉnh cho tới đáy. Một dòng sông lớn chảy
qua cuốn mọi thứ vào đại dương ở hướng tây, nơi đó
cả biển trở thành màu đỏ vì cái tháp này rớt vào trong
đó, như nó bị vỡ từ một trái núi lớn vào trong nước.
Vào lúc đó, có một tiếng nói từ trên trời bảo rằng hằng
triệu người sống trong biển sẽ được lợi lạc do cái
tháp ấy.
Ngawang
Palzang kể lại giấc mơ này cho lama của ngài, Nyoshul Lungtok,
vị này không nói gì cả. Về sau, Nyoshul Lung-tok nói về điều
này rằng những giáo lý của đức Phật bấy giờ đã được
thực hành ở Đông phương sẽ bị hủy hoại ở đây, nhưng
chúng sẽ qua Tây phương làm lợi lạc cho nhiều chúng sanh.
Tiếng nói trong giấc mộng đã nói những chúng sanh sẽ được
lợi lạc và sẽ “thấy chân lý.” Điều này có nghĩa là
họ sẽ thấy hay hiểu chân lý tuyệt đối. Không nhất thiết
có nghĩa là tất cả họ đều chứng ngộ chân lý tuyệt đối,
nhưng họ sẽ được lợi lạc lớn lao nhờ nhận những giáo
lý và hiểu được chân lý của chúng.
Nyoshul
Khenpo Rinpoche bình luận rằng cái tháp này tượng trưng nền
tảng của những giáo lý Phật giáo, chúng đang bị hủy hoại
ở phương Đông nhưng sẽ lan truyền càng ngày càng rộng lớn
ở phương Tây. Khi tiếng nói ở trên trời nói rằng những
chúng sanh sẽ được nhiều lợi lạc và thấy chân lý, nó
nghĩa là một triệu người sẽ chứng ngộ chân lý tuyệt
đối, và tất cả chúng sanh ở phương Tây sẽ được lợi
lạc lớn lao nhờ những giáo lý sẽ phổ biến rộng rãi này.
Đây
là một tiên tri quan trọng và đầy ý nghĩa, đặc biệt trong
liên hệ với dòng và những giáo lý Đại Toàn Thiện riêng
biệt của chính Nyoshul Khenpo. Tiên tri ấy đến từ những
gương mặt chính của dòng Nyingthig này, người nối Pháp xuất
sắc của Patrul Rinpoche, Nyoshul Lungtok và đệ tử thượng thủ
của vị này là Khenpo Ngawang Palzang. Nếu người ta thực sự
thiền định về thật nghĩa của Dzogchen, người ta sẽ có
chứng ngộ chân thật không nghi ngờ gì.
THỰC
HÀNH ĐẠI TOÀN THIỆN
Với
những người bình thường, Phật tánh có vẻ như rất xa xôi.
Tuy nhiên, đối với người thực hành Đại Toàn Thiện, nó
không quá đỗi khó. Tất cả những con đường khác, cả trong
và ngoài Phật giáo, đều giống như những sơ bộ cho Đại
Toàn Thiện, Thừa Chót Đỉnh. Đại Toàn Thiện bao gồm mọi
con đường khác và những giáo lý khác, và nó tự trọn vẹn
trong chính nó. Tất cả những Pháp khác tìm thấy sự trọn
vẹn trong nó và dẫn đến nó, như những dòng sông đổ vào
đại dương. Những Pháp khác có những quan điểm xung đột
nhau, Đại Toàn Thiện giải quyết hết thảy chúng.
Đại
Toàn Thiện là con đường cực kỳ trực tiếp, ngắn, nhanh
chóng đến giác ngộ toàn vẹn ngay trong đời này. Nó không
có gian khổ, khó nhọc lớn lao. Những con đường khác giống
như những đường lộ dẫn đến một ngôi nhà ở xa ; Đại
Toàn Thiện giống như sống trong ngôi nhà đó. Đại Toàn Thiện
Men Ngag Nyengyud giống-như-cam-lồ này của vidyadhara hay dòng
nắm giữ tánh giác rigpa là tinh yếu quý báu và tinh chất
nhất của mọi giáo lý có thể có được. Nó cho phép chúng
ta thấy biết những mức độ vi tế nhất của việc sự vật
hiện hữu như thế nào và mọi sự hiển lộ đích thực như
thế nào, và làm cho chúng ta có thể nhanh chóng trở thành
hoàn toàn chứng ngộ, thức tỉnh hoàn toàn, tự do trọn vẹn.
Nếu chúng ta thực hành nó bây giờ, chắc chắn sẽ có những
lợi lạc cho người Tây phương khắp nơi trong tương lai.
Có
vô số giải thích tinh vi và sâu xa về tất cả những giáo
lý Phật giáo, và cũng về cả Đại Toàn Thiện, nhưng tất
cả đều dựa vào thực hành thiền định. Đấy là điều
chính yếu nhất. Người ta phải kinh nghiệm những giáo lý
cho chính mình, và trình bày kinh nghiệm riêng của mình, sự
hiểu, hay chứng ngộ với một bậc thầy đã chứng ngộ,
với vị thầy tốt lòng của mình, để nhận sự thẩm định
và lời khuyên của thầy. Vị thầy không thể đơn giản trình
ra chứng ngộ cho bạn. Nhưng một vị thầy Đại Toàn Thiện
đích thực, có thẩm quyền có thể dễ dàng hướng dẫn một
đệ tử thích hợp trong đường lối nyongtri đến sự đạt
được thành tựu viên mãn mà không có nhiều khó khăn, hay
những giáo lý chi tiết và những giải thích trí thức và
nghiên cứu. Tất cả mọi giáo lý sẽ gồm trong những giáo
huấn cốt lõi cần thiết mang tính cá nhân này. Bởi thế,
người ta cần hoàn toàn nương dựa vào đó.
Gyalwa
Longchenpa nói về Đại Toàn Thiện : “Nó hòa hợp toàn hảo
với tất cả giáo lý, và là tối cao.”
Mục
tiêu của thực hành Đại Toàn Thiện là thiết lập một cách
rõ ràng một cái thấy, một tri kiến dẫn trực tiếp đến
chứng ngộ rằng bản tánh chân thật của tự tâm mình là
bản tánh tuyệt đối. Chúng ta phải không bằng lòng với
cái hiểu biết thuần trí thức về nó. Cái ấy sẽ không
giải thoát chúng ta. Chúng ta phải khai triển một xác tín
bên trong, không lay chuyển, vĩ đại về bản tánh bẩm sinh
nền tảng này. Mọi thực hành khác nhau là những phương tiện
để khai triển, làm tiến bộ và vững chắc sự xác tín ấy.
Sự thực hành giản dị nhưng sâu xa này, liên quan đến Trekchod
hay thiền định Cắt Đứt, được giải thích trong Tsiksum
Nedek, Ba Điểm Cốt Yếu Phát Hiện Tinh Túy của Patrul Rinpoche.
Dù
nếu Gyalwa Longchenpa, hay Phật nguyên sơ Saman-thabhadra xuất
hiện thình lình trước chúng ta trong một linh kiến ánh sáng
cầu vồng kỳ diệu, điều đó cũng không là gì so với việc
có trước mặt chúng ta Tulku Uzgyen Rinpoche và Chatral Rinpoche,
những vị Phật sống, như chính Padmasambhava, người có thể
nói Đại Toàn Thiện thẳng vào tai chúng ta. Những vị thầy
vĩ đại này là những người nắm giữ dòng phái sống không
ai sánh hiện thân cho tất cả bổn tôn, thầy và giáo pháp.
NHỮNG
DÒNG VÀ THẦY
Đôi
khi một lama có thể có nhiều vị thầy và nhận vô số trao
truyền mà không chống trái xung đột gì. Không nhất thiết
phải chỉ có một lama gốc. Người ta có thể xem tất cả
các vị thầy là những biểu lộ hay lưu xuất của lama gốc
của mình, ngài thực sự giống như Vajradhara hiện thân. Trong
vài trường hợp khác, chỉ có một vị thầy đã đủ. Một
guru giống như một tấm gương ; người ta cần để thấy
mặt mình, thật tánh của mình. Tất cả những tấm gương
chỉ phản chiếu cái xuất hiện trước chúng.
Bởi
thế, hầu như không thể diễn tả trọn vẹn và liệt kê
chính xác tất cả những dòng thuộc về một cá nhân. Nhiều
lama nắm giữ nhiều dòng, chánh và phụ. Chẳng hạn Khyentse
thứ nhất, ngài đi bộ khắp Tây Tạng một cách vô danh trong
mười ba năm để gom góp tất cả mọi giáo lý, có một trăm
hai mươi lăm lama gốc. Như thế ngài có thể giữ gìn và trao
truyền tất cả mọi dòng phái theo một cách hoàn toàn không
bộ phái. Cùng với Jamgon Kongtrul và Chogyur Lingpa, ngài thắp
sáng sự phục hưng Rimé ở miền đông Tây Tạng trong thế
kỷ vừa qua. Không trộn lẫn các thứ với nhau, Jamyang Khyentse
dạy mỗi cái trong nhiều truyền thống theo truyền thống riêng
biệt của nó. Đã thực hành và chứng ngộ mọi thứ nhận
được, ngài có thể dạy và truyền không sai lầm tất cả
Phật pháp vô số, thuận theo những nguyện vọng và khả năng
của các đệ tử khác nhau.
Vị
thầy của chúng ta, đức Dilgo Khyentse Rinpoche quá cố, ngài
mất năm 1991 ở Bhutan, đã nhận những giáo lý và trao truyền
chủ yếu của Đại Toàn Thiện từ Shechen Gyaltsab, một đạo
sư phi thường ở Tu viện Shechen xứ Kham. Dilgo Khyentse Rinpoche
cũng nhận nhiều trao truyền chính trong chi tiết từ Jamyang
Khyentse Chokyi Lodro và Khenpo Pema Losel Ten-kyong. Shechen Rabjam Rinpoche
đã tái sanh làm cháu của ngài, tức là Rabjam Tulku. Khyentse
Rinpoche là một đạo sư Rimé rất vĩ đại. Dĩ nhiên ngài
cũng là một terton, cũng như hiện thân của Jamyang Khyentse
Wangpo, là Manjushri (Văn Thù) trong hình thức con người. Ngài
là thầy Đại Toàn Thiện của đức Dalai Lama thứ mười bốn,
cũng như là guru của hoàng tộc nước Bhutan. Mong rằng ngài
sớm tái sanh vào thế giới này !
Có
người hỏi Nyoshul Khenpo Rinpoche về dòng của ngài. Ngài nói
rằng ngài không có dòng nào đặc biệt, chỉ là dòng Đại
Toàn Thiện tổng quát, dòng vidyadhara phác họa ở trên. Người
nào tinh tấn trong thực hành Pháp sẽ giống như những vị
Khyentse và Kongtrul, đạt đến thái bình của niết bàn và
trở thành một người nắm giữ dòng. Dòng đặc biệt của
Khenpo là dòng thực hành.
Khenpo
Rinpoche nói rằng có những tiểu sử đầy đủ về hầu hết
những đạo sư của dòng, được viết lại bởi chính các
đạo sư hay các đệ tử thân cận, chỉ trừ ba vị : Orgyan
Rabjam Chodrak, Orgyan Rabjam Palgon (Shri Natha, guru Nyingthig của
Jigme Lingpa là một đệ tử của Orgyan Rabjam Chodrak), và Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima.
Những
nguồn tiểu sử này thì khác nhau và phân tán. Chúng chưa bao
giờ được gom lại trong một biên niên bao quát và độc nhất.
Từ Jigme Lingpa xuống đến ngày nay, sự việc rõ ràng dù hầu
hết không được ghi lại mà chỉ dạy miệng. Trước thời
kỳ của Jigme Lingpa một số chi tiết khó đưa ra ánh sáng.
Lịch sử của dòng Vidyadhara của Khenpo là một cố gắng nhỏ
trong chiều hướng đó, dù cho còn những tìm kiếm cần phải
làm. Cuốn Chosjung nổi tiếng của đức Dudjom Rinpoche chủ
yếu là một biên niên về những khuôn mặt chánh trong lịch
sử Nying-ma. (Trong tiếng Anh đó là một bộ chính thống và
khổng lồ có tên là Trường Phái Nyingma của Phật giáo Tây
Tạng, Gyurme Dorje và Matthew Kapstein dịch và ấn hành). Terdak
Lingpa sưu tập và viết lại những tiểu sử của mười một
lama trong dòng từ Longchenpa xuống đến ngài, thế nên chúng
ta có thể đọc về các ngài trong tác phẩm ấy.
Nyoshul
Khenpo Rinpoche luôn luôn lập đi lập lại rằng Pháp không thuộc
về một ai, vì bất cứ thực hành thành thật và siêng năng
sẽ đạt đến chứng ngộ và trở thành người thừa kế
vương quốc của đức Thích Ca Mâu Ni, lên ngai của đức Phổ
Hiền Samantabhadra. Đấy không có nghĩa là người ta thừa hưởng
một địa vị thế gian hay những đồ vật vật chất, mà
là bất kỳ ai thật sự đem những giáo lý vào lòng và thực
hành đúng như chúng phải được thực hành sẽ trở nên một
người nắm giữ dòng, và như thế làm lợi lạc cho tất cả
chúng sanh cũng như chính họ. Đó là điều Khenpo Rinpoche muốn
khuyến khích và cổ vũ chúng ta. Mục đích duy nhất của mọi
thực hành, giải thích và câu chuyện này là để khuyến tấn
sự thực hành tâm linh, chứ không chỉ bồi dưỡng trí thức.
Những
giáo lý Longchen Nyingthig sâu xa này không phải là những chỉ
dạy của một con người. Tất cả chúng là những giáo lý
của Dorje Chang, Vajradhara. Đặc biệt về dòng nyongtri, nó không
chỉ là những giáo lý của Jigme Lingpa, Gyalwa Long-chenpa, hay
Guru Rinpoche : nó là giáo lý của Dorje Chang, lối tắt kim cương
của Dorje Sempa, tâm-trí huệ của Samantabhadra biểu lộ trong
ánh sáng của kinh nghiệm và chứng ngộ của mỗi đạo sư
giác ngộ trong dòng, thích ứng với các đệ tử của các
ngài và những thế hệ tương lai. Chúng ta cần hiểu điều
ấy. Trong truyền thống nyongtri, sự hướng dẫn lớn lên từ
sự tương tác cá nhân giữa một người thực hành và thầy
mình thuận theo kinh nghiệm thiền định có được dọc con
đường, mỗi cá nhân có sự thâm nhập trực tiếp vào những
giáo lý của Dorje Chang. Đây là phẩm tính trực tiếp, ân
phước, thần lực và quý báu của nó, đem lại những kết
quả phi thường. Chúng ta hãy sử dụng nó một cách tốt nhất
có thể được, cho lợi lạc của mỗi một và tất cả.
Thuật
ngữ
alaya
(TT kun shi) Nền tảng của tất cả thức hay sem (tâm thức),
nó phân biệt với rigpa – cái hiện diện thanh tịnh nguyên
sơ, tánh giác bẩm sinh vốn sẵn đủ.
bodhicitta
Tâm của giác ngộ. Động lực vị tha đạt đến giác ngộ
để làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Bồ đề tâm có
hai phương diện : tuyệt đối và quy ước. Bồ đề tâm tuyệt
đối là chân lý, tánh Không. Bồ đề tâm tương đối là
từ và bi.
chakra
Vòng tròn, bánh xe. Những trung tâm năng lượng trong thân thể
nối kết với nhau bằng kinh mạch trung ương.
Chenrezig
(Skt Avalokiteshvara) Bồ tát hiện thân của Đại Bi, tình thương
và thiện cảm. Thường được dùng như một hóa thần bổn
tôn để thiền định. Om Mani Padme Hung là thần chú của ngài.
chik
charpa Những hành giả đạt đến giác ngộ “tất cả
trong một lần,” đồng thời và thình lình (Đốn Giác). Để
phân biệt với rim gyipa, những người đạt đến chứng ngộ
theo cách dần dần, cấp bậc (Tiệm Giác).
Chošd
Cắt đoạn cái ngã. Một hệ thống thiền định để cắt
đoạn những gốc rễ của chấp ngã. Dòng bắt đầu từ thế
kỷ thứ mười một, với Padampa Sangye và Machig Lapdron, một
người nắm giữ dòng là nữ.
chonyi
kyi gong Chứng ngộ pháp giới tuyệt đối, hay Phật tánh.
dakini
Năng lực nữ tính thiêng liêng, nhân cách hóa như là những
tantrika nữ ; gọi là “người đi trên trời,” họ giống
như những thiện thần, thiên thần hay hóa thần. Nguyên lý
dakini đưa vào những chuyển động vô cùng hay sự nhảy múa
của tánh Không qua mọi hình tướng. “Mọi phụ nữ là dakini,
mọi đàn ông là daka.”
dharmakaya
(Pháp thân) Thân chân lý của Phật. Phương diện tuyệt đối
của Phật, biểu lộ như là tánh Không vô tướng và sáng
ngời.
doha
Một bài ca kim cương tự phát, một bài ca giác ngộ, do những
thiền sư trong một dòng khởi từ những thành tựu giả của
Ấn Độ cổ thời.Dòng thực hành Đường lối của các
thiền giả hơn là đường lối của lý thuyết, học và học
giả. Dòng của Milarepa.
Drimé
Oser Một danh hiệu của Longchenpa Rabjam, nghĩa đen là “những
tia sáng không nhiễm.”
Dzogchen
Đại Toàn Thiện hay Đại Viên Mãn. Những giáo lý bất nhị
của Phật giáo, thường được gọi là “cái thấy từ trên
cao.” Nó ám chỉ đến Ati Yoga trong tiếng Sanskrit, và cũng
được biết như Thừa Đỉnh hay Đại Hoàn Thành.
Emaho
Một thán từ để biểu lộ ngạc nhiên hay phấn khích ; có
thể dịch là “kỳ diệu” hay “lạ lùng.”
guru
yoga Thực hành Kim Cương thừa sùng mộ và những ban phước
cảm ứng để hòa lẫn với tâm của guru và chứng ngộ sự
bất khả phân của mình với Phật tánh.
gyu
Dòng tâm thức ; dòng hiện sinh sâu xa của mỗi chúng ta.
kahma
Kahma ám chỉ tất cả những giáo lý và trao truyền qua những
thế kỷ bởi dòng dài những thầy và đệ tử (xem ringyu).
Nó ngược lại với dòng ngắn và trực tiếp của terma (xem
nyegyu), những giáo lý của Guru Rinpoche và những bậc giác
ngộ khác được khám phá lại.
Kangyur
Ba Tạng của Tây Tạng.
Khenpo
(Skt acharya) Một tu viện trưởng, người hướng dẫn hay giáo
sư.
Kuntuzangpo
(Skt Samantabhadra, Phổ Hiền) Đây là bản tánh hay trạng thái
của Phật tánh nguyên sơ, nó có nghĩa đen là “Trọn Vẹn
Tốt,” một nhân cách hóa của bản tánh bổn nguyên thanh
tịnh của chúng ta.
Lam
Rim Con đường giác ngộ tiệm tiến, được trình bày
rộng rãi bởi Lama Tsong Khapa và những vị khác.
lingpa
Terton hay những đạo sư khám phá kho tàng. (xem terma)
Lojong
Tu hành tâm thức của Đại thừa. Nó ám chỉ sự mở rộng
động lực cá nhân (tìm cầu hạnh phúc cho riêng mình) thành
nguyện vọng cứu độ cho tất cả chúng sanh trong vũ trụ
và làm nhẹ tất cả khổ đau.
Mahamudra
Đại Ấn. Nó ám chỉ bản thân thực tại tuyệt đối : mọi
sự thực sự là thế nào. Nó cũng là tên của một dòng và
truyền thống giáo lý.
Mahasandhi
Một danh từ thay thế của Đại Toàn Thiện hay Thừa Hoàn
Thành ; tương đương với Maha Ati, Thừa Đỉnh.
mahasiddha
Đại thành tựu giả. Những môn đồ của thiền ; những hiền
triết giác ngộ.
mantra
Thần chú. Những lời thiêng liêng của năng lực. Trì tụng,
ca hát nó được dùng trong thiền định.
namkhai
naljor Yoga như hư không ; một thực hành thiền định
của Đại Toàn Thiện hòa hợp tâm thức hữu hạn với tánh
giác vô hạn như hư không.
namthar
Một tiểu sử tâm linh.
namtok
Tính ý niệm, tư tưởng diễn dịch ; nó ám chỉ tâm thức
nhị nguyên và suy đoán phân biệt.Năm Trang Hoàng của Asanga
Năm đại luận mà pháp sư Ấn Độ Asanga nhận được trong
một cách linh kiến từ đức Phật tương lai là Di Lặc (Maitreya).
Chúng là : Madhyanta-vibhaga, Dharma-dharmata-vibhaga, Abhisamaya-alamkara,
Mahayana-sutra-alamkara và Uttaratantra.
ngondro
Những thực hành căn bản và sơ khởi. Thực hành ngondro thường
bao gồm hàng trăm ngàn lễ lạy, lời nguyện quy y và Bồ đề
tâm, trì tụng thần chú tịnh hóa một trăm âm Vajrasattva,
cúng dường mạn đà la và thực hành guru yoga. Thường được
dùng như tu hành chuẩn bị cho thực hành tantra.
nirmanakaya
(TT tulku) hóa thân. Những hiện thân của Phật ở thế giới
này, như Phật Thích Ca mâu Ni, đức Dalai Lama và những lama
tái sanh khác.
nyegyu
Dòng ngắn và trực tiếp của terma từ Padmasambhava và các
bậc giác ngộ khác. Những đạo sư này truyền những giáo
lý một cách trực tiếp, qua những thân-trí huệ bất tử
của các ngài, trong kinh nghiệm linh kiến, cho những terton hay
những đạo sư khám phá và phát hiện những kho tàng giáo
lý này.
Nyingthig,
Longchen Nyingthig Tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Jigme
Lingpa toàn giác, tinh chất của Đại Toàn Thiện bẩm sinh vốn
sẵn. Đây là một sự trao truyền dòng chỉ dành cho một đệ
tử vào một thời gian, hiếm khi cho một nhóm. Nó được xem
là cực kỳ hiếm và quý.
nyongtri
giáo lý chứng nghiệm. Một truyền thống giáo lý trong đó
sự hướng dẫn cá nhân được thầy ban cho khi kinh nghiệm
thiền định của đệ tử phát triển. Ngược lại với chương
trình tổng quát lý thuyết của những giáo lý trong sách hay
những bài thuyết giảng.
quán
đảnh (Skt abhisheka ; Tây Tạng Wang ; nghĩa đen : xức dầu)
Một lễ nghi trao truyền của Mật Thừa, trao quyền cho phép
một đệ tử thực hành một sadhana riêng biệt của Kim Cương
thừa.
rangjung
yeshe Trí huệ tánh giác tự sanh, tự nhiên hay sự tỉnh
thức bổn nguyên nội tại trong bản chất chúng ta.
rigpa
Trí huệ hay sự tỉnh thức bẩm sinh vốn sẵn đủ ; sự hiện
diện thanh tịnh ; hiện thể nguyên sơ.
rigpai
tsel wang Quán đảnh thứ tư, sự đưa vào bản tánh tuyệt
đối của tâm trí huệ bẩm sinh, rigpa.
rigpai
nelug Trạng thái bổn nguyên, tự nhiên của tánh giác
nguyên sơ ; cách thế đích thực của hiện thể.
Rimé
Dòng thực hành không bộ phái, một phong trào thế kỷ mười
chín, do Jamgon Kongtrul và Jamyang Khyentse Wangpo ủng hộ, để
bảo tồn và làm sống lại những giáo lý của nhiều trường
phái khác nhau của Phật giáo Tây Tạng.
ringyu
Dòng dài của Đại Toàn Thiện. Nó truyền xuống từ Phật
nguyên sơ Samantabhadra đến Dorje Sempa, Garab Dorje, Jampel Shenyen,
Shri Simha, Jnanasutra, Vimalamitra và Padmasambhava, và gồm nhiều
lama giác ngộ theo dấu chân của các ngài.
rupakaya
sắc thân. Thân sắc tướng của một vị Phật. Chân lý hay
thực tại biểu lộ trong hình tướng, hơn là chỉ tánh Không
vô tướng, sáng chói hay pháp thân.
rushen
Sự chia tách hay phân biệt sanh tử khỏi niết bàn – tâm
thức nhị nguyên khỏi tánh giác-trí huệ bất nhị, trói buộc
khỏi giải thoát. Một thực hành độc nhất trong những sơ
khởi của Đại Toàn Thiện.
sadhana
Những bản văn nghi thức và những thiền định được hướng
dẫn trong thực hành Kim Cương thừa.
samaya
Những lời thề hay cam kết trong thực hành Mật thừa.
sambhogakaya
báo thân. Thân thọ hưởng của một vị Phật. Sắc tướng
thấy được mà chư Phật biểu lộ cho những người có tri
giác thanh tịnh.
sarva
mangalam “Nguyện cho mọi sự đều hoàn toàn tốt lành.”
Một lời cầu nguyện thông thường ở đầu hay cuối những
bản văn Sanskrit.
sem
Tâm thức hữu hạn, nhị nguyên, hợp lý. Tâm thức diễn dịch,
ý niệm.
semkye
Một từ để chỉ Bồ đề tâm trong tiếng Tây Tạng – nghĩa
đen “phát sanh Bồ đề tâm” – sự nở hoa của lòng vô
ngã đầy đủ trí huệ và đại bi.
semtri
Những giáo lý ‘bản tánh của tâm’ thiết yếu của Đại
Toàn Thiện.
shamatha
Tập trung an định, dẫn đến tập trung nhất niệm.
shetri
Dòng giáo lý lý thuyết hoặc giải thích. (xem nyongtri)
shunyata
Giáo lý của Đại thừa nói rằng mọi sự đều trống không
và rỗng rang trong bản chất, không có hiện hữu