BÀI
CA VÀ BÌNH GIẢI
6
Tấm
Gương của nhữngĐiểm Thiết Yếu
Một
bức thơ tán thán tánh Không, từ Khenpo Jamyang Dorje cho Mẹ
ngài
Dịch
bởi Erik Hein Schmidt và biên tập bởi
Ani
Lodroš Palmo và Ward Brisick
Con
kính lễ dưới chân sen của Tenpai Nyima,
Người
không tách lìa với Pháp Vương Longchenpa Rabjam,
Và
thấy biết trạng thái tự nhiên của tánh Không
Của
đại dương vô biên những sự vật.
Một
lá thơ khuyên bảo con gởi cho người, bà mẹ cao quý Paldzom
của con.
Xin
hãy nghe một lát và không xao lãng.
Ở
đây không có khó chịu gì,
Con
thong dong và tự do không phiền lo,
Trong
một trạng thái của tâm hoan hỷ.
Mẹ
có khoẻ không, mẹ yêu dấu của con ?
Ở
đây trong xứ sở Tây phương,
Có
nhiều người da trắng và da đỏ,
Họ
có mọi loại huyễn thuật và cảnh tượng,
Như
bay qua những bầu trời,
Và
di chuyển trong nước như cá.
Có
quyền hành trên bốn đại,
Họ
ganh đua phô diễn những phép lạ
Với
muôn ngàn màu sắc đẹp đẽ.
Có
nhiều những quang cảnh không cùng,
Như
những thiết kế của những màu sắc cầu vồng
Nhưng
giống như chỉ là giấc mộng, khi được xét xem,
Chúng
là những thấy biết sai lầm của tâm thức.
Mọi
hoạt động giống như những trò chơi trẻ nít.
Nếu
làm, chúng không bao giờ chấm dứt.
Chúng
chỉ là hoàn thành khi mẹ để yên đấy,
Như
những lâu đài bằng cát.
Nhưng
đấy chưa phải là toàn thể câu chuyện.
Tất
cả những pháp của sanh tử và niết bàn
Dầu
được nghĩ là thường còn, chúng không kéo dài.
Khi
được khảo sát, chúng chỉ là những hình sắc trống rỗng
Xuất
hiện mà không có hiện hữu.
Dầu
không thực, chúng được nghĩ là thực,
Và
khi được khảo sát, chúng là không thực như một ảo tưởng.
Nhìn
ra ngoài, những đối vật xuất hiện,
Và
giống như nước trong một ảo ảnh,
Chúng
còn huyễn hoặc hơn cả sự huyễn.
Không
thực như những giấc mộng và những ảo tưởng,
Chúng
giống như một mặt trăng phản chiếu trong nước và những
cầu vồng.
Hãy
nhìn vào tự tâm mẹ !
Nó
có vẻ rất kích động, khi không được khảo sát.
Nhưng
khi được khảo sát, không có gì trong đó cả.
Xuất
hiện không có thực thể, nó không là gì ngoài trống rỗng.
Nó
không thể được nhận dạng và nói, “Nó đây !”
Mà
chỉ tan biến và lẫn thoát như sương mù.
Hãy
nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện
Trong
bất cứ nơi nào của mười phương.
Dầu
nó có vẻ như thế nào,
Sự
vật trong tự nó, bản tánh đích thật của nó,
Là
bản tánh như hư không của tâm,
Vượt
khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởng và ý niệm.
Mọi
sự có bản tánh trống không.
Khi
cái trống không nhìn cái trống không,
Có
ai để nhìn vào cái trống không như vậy ?
Đâu
là chỗ dùng của nhiều thứ phân loại,
Như
là “trống không “ và “không trống không,”
Vì
đó là cái huyễn nhìn cái huyễn,
Và
hư vọng quan sát hư vọng ?
“Bản
tánh không cố gắng và như hư không của tâm,
Cảnh
giới bao la của thấy biết,
Là
trạng thái tự nhiên của mọi sự.
Trong
nó, bất cứ điều gì bạn làm đều tốt, đúng,
Dù
bạn nghỉ ngơi, bạn luôn thư thái.”
Điều
ấy được Jetsun Padmasambhava,
Và
đại thành tựu giả Saraha nói ra.
Mọi
thiết kế ý niệm
Như
là “Nó là hai !” hay “Nó không là hai !”
Rời
bỏ các ngài như những con sóng trên một dòng sông,
Để
giải thoát một cách tự nhiên tự bản thân chúng.
Con
quỷ khổng lồ của tư tưởng vô minh và suy diễn
Làm
cho người ta chìm đắm trong đại dương của sanh tử.
Nhưng
khi giải thoát khỏi tư tưởng suy diễn này,
Đấy
là trạng thái không thể diễn tả, vượt khỏi tâm thức
ý
niệm.
Ngoài
chỉ những tư tưởng diễn dịch này,
Không
có ngay cả những danh từ sanh tử và niết bàn,
Sự
lặng chìm toàn bộ tư tưởng diễn dịch
Là
tánh Như của pháp giới.
Chớ
làm thêm phức tạp bằng những phát biểu phức tạp,
Cái
bindu đơn nhất không do tạo tác này
Là
tánh Không, trạng thái tự nhiên của tâm.
Bậc
Thiện Thệ, đức Phật đã nói như vậy.
Bản
chất của cái gì có thể xuất hiện
Khi
chỉ để mặc cho tự nó,
Là
cái thấy không tạo tác và không hư hao,
Pháp
thân, bà mẹ tánh Không.
Mọi
tư tưởng diễn đạt là tánh Không,
Và
người thấy tánh Không là tư tưởng suy diễn.
Tánh
Không không hủy hoại tư tưởng suy diễn,
Và
tư tưởng suy diễn không ngăn ngại tánh Không.
Tánh
Không bốn phương diện của bản thân tâm thức
Là
cái tối hậu của mọi sự.
Sâu
xa và tịch tịnh, tự do với mọi phức tạp,
Sự
sáng tỏ tỏa ngời không hỗn hợp,
Vượt
khỏi tâm thức ý niệm lòng vòng :
Đây
là chiều sâu của tâm các bậc Chiến Thắng.
Trong
đây không có một vật gì để trừ bỏ,
Cũng
không có cái gì cần thiết phải thêm vào.
Chỉ
thuần cái vô nhiễm,
Nhìn
một cách tự nhiên vào chính nó.
Nói
tóm, khi tâm thức hoàn toàn cắt đứt
Những
ràng buộc bám chấp vào sự gì,
Thì
mọi điểm thiết yếu đều cô đọng trong đó.
Đây
là truyền thống của bậc tối thượng Tipola,
Và
của đại học giả Naropa.
Một
trạng thái tự nhiên sâu xa như cái này
Là
trí huệ của đại lạc,
Trong
tất cả mọi loại lạc phúc.
Trong
tất cả mọi niềm vui sướng hài lòng,
Nó
là vua của vui sướng hài lòng tối thượng.
Nó
là sự quán đảnh truyền pháp tối cao thứ tư,
Của
mọi phái tantra của Mật thừa.
Nó
là giáo huấn tối thượng chỉ thẳng.
Tri
kiến “sanh tử tức niết bàn,”
Và
tri kiến của Đại Ấn, của Đại Toàn Thiện, Trung Đạo
và những cái khác,
Có
nhiều tên khác nhau,
Nhưng
chỉ một nghĩa tinh yếu.
Đây
là tri kiến của Lama Mipham
Như
một sự giúp đỡ cho vua của những tri kiến này
Người
ta nên bắt đầu với Bồ đề tâm,
Và
kết thúc với hồi hướng.
Để
cắt đứt bằng những phương tiện thiện xảo
Sự
trụ định vào một bản ngã, gốc rễ của sanh tử,
Vua
của mọi phương tiện vĩ đại
Là
Bồ đề tâm không gì vượt hơn.
Vua
của sự hồi hướng toàn hảo
Là
phương tiện để tăng trưởng thiện căn.
Cái
này là giáo lý đặc biệt của Thích Ca Mâu Ni,
Nó
không tìm thấy nơi những bậc thầy khác.
Để
thành tựu giác ngộ viên mãn,
Nhiều
hơn thế thì không cần thiết,
Nhưng
ít hơn thế thì sẽ không đầy đủ.
Con
đường nhanh chóng của ba cái tuyệt hảo,
Được
gọi là lòng, mắt và sinh lực,
Là
lối đi của Longchenpa Rabjam.
Tánh
Không, viên ngọc như ý,
Là
bố thí không nhiễm chấp.
Nó
là sự trì giới không hư hoại.
Nó
là nhẫn nhục không phiền giận.
Nó
là tinh tấn không mê lầm.
Nó
là thiền định không phóng dật.
Nó
là tinh túy của trí huệ bát nhã.
Nó
là ý nghĩa của ba thừa.
Tánh
Không là trạng thái tự nhiên của tâm.
Tánh
Không là sự quy y vô niệm.
Tánh
Không là Bồ đề tâm tuyệt đối.
Tánh
Không là Vajrasattva ân xá tội lỗi.
Tánh
Không là mạn đà la của những tích tập toàn thiện.
Tánh
Không là guru yoga của Pháp thân.
An
trụ trong trạng thái tự nhiên của tánh Không
Là
sự “an định” của shamatha,
Và
thấy biết nó rõ ràng sống động
Là
sự “quán thấy” của vipashyana.
Cái
thấy của giai đoạn phát triển toàn hảo,
Trí
huệ của Lạc và Không trong giai đoạn thành tựu,
Đại
Toàn Thiện bất nhị,
Và
bindu đơn nhất của Pháp thân,
Tất
cả mọi cái này đều bao gồm trong nó.
Tánh
Không tịnh hóa những nghiệp.
Tánh
Không xua đuổi những lực lượng che ám.
Tánh
Không thuần hóa những quỷ ma.
Tánh
Không thành tựu những hóa thần.
Trạng
thái sâu xa của tánh Không
Làm
khô cạn đại dương tham ái.
Nó
phá sụp đổ núi sân giận.
Nó
soi sáng bóng tối của ngu si.
Nó
làm lặng cơn lốc của ghen ghét.
Nó
đánh bại chứng bệnh của những phiền não.
Nó
là một người bạn trong lúc sầu muộn.
Nó
hủy diệt tự phụ trong sướng vui.
Nó
chiến thắng trong cuộc chiến tranh với sanh tử.
Nó
tiêu hủy bốn ma.
Nó
chuyển tám pháp thế gian thành vị bình đẳng.
Nó
hàng phục con quỷ chấp ngã.
Nó
chuyển những điều kiện xấu thành sự trợ giúp.
Nó
chuyển những điềm xấu thành tốt lành.
Nó
khiến hiển lộ giác ngộ viên mãn.
Nó
sanh ra chư Phật ba thời.
Tánh
Không là bà mẹ Pháp thân.
Không
có giáo lý nào cao hơn tánh Không.
Không
có giáo lý nào nhanh chóng hơn tánh Không.
Không
có giáo lý nào tuyệt hảo hơn tánh Không.
Không
có giáo lý nào sâu xa hơn tánh Không.
Tánh
Không là “cái biết một cái nó giải thoát cho tất cả.”
Tánh
Không là đức vua tối thượng của dược liệu.
Tánh
Không là cam lồ của bất tử.
Tánh
Không là sự thành tựu tự nhiên vượt khỏi cố gắng.
Tánh
Không là giác ngộ không thi công.
Bằng
thiền định tánh Không
Người
ta cảm thấy lòng bi khủng khiếp
Cho
những chúng sanh mê mờ, như chúng ta, trong sự tin vào một
cái ngã,
Và
Bồ đề tâm khởi lên không dùng sức.
Mọi
phẩm tính của con đường và những địa
Sẽ
xuất hiện tự nhiên không nỗ lực nào
Và
người ta sẽ cảm thấy niềm vui sâu sắc
Khi
nhìn luật nhân quả không sai chạy của hành động.
Nếu
người ta chỉ có một chốc lát xác tín
Vào
tánh Không này
Xích
xiềng siết chặt của chấp ngã
Sẽ
phá tung từng mảnh.
Đây
là lời của Aryadeva.
Còn
tối cao hơn cúng dường chư Như Lai và con cái của Ngài
Tất
cả những hằng sa cõi Phật,
Đầy
ắp với sự cúng dường của chư thiên và loài người,
Là
thiền định về tánh Không.
Nếu
công đức của sự an trụ nhất như
Chỉ
một khoảnh khắc trong trạng thái tự nhiên này
Mà
có được hình sắc cụ thể,
Thì
cả không gian không chứa đựng nổi nó.
Bậc
không ai sánh trong các hiền triết, Thích Ca Mâu Ni,
Để
đạt đến tánh Không thậm thâm này,
Đã
ném thân ngài vào những giàn lửa,
Cho
đi đầu ngài và tay chân,
Và
thực hành hàng trăm khổ hạnh khác.
Dầu
cho bạn chất đầy thế giới này
Với
những đống khổng lồ những tặng vật vàng ngọc,
Giáo
lý sâu xa này về tánh Không
Dù
để tìm kiếm nó, cũng rất khó tìm thấy.
Điều
này được nói trong Trăm Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật.
Để
gặp được giáo lý tối thượng này
Là
sức mạnh rực rỡ của công đức
Của
nhiều kiếp không thể tính đếm.
Tóm
lại, nhờ vào tánh Không.
Người
ta, vì sự lợi lạc của chính mình,
Được
giải thoát vào cảnh giới của Pháp thân vô sanh,
Cái
giác ngộ viên mãn rõ ràng
Của
bốn thân và năm trí.
Sự
phô diễn không ngăn ngại của Sắc thân
Bấy
giờ sẽ không ngừng lưu xuất để chỉ dạy cho người nào
cần,
Bằng
cách khuấy động những chiều sâu của sanh tử vì lợi lạc
cho những người khác,
Qua
hoạt động tự nhiên thường trực, cùng khắp.
Trong
tất cả kinh và tantra, điều này
Được
nói là quả rốt ráo.
Làm
sao một người như con có thể nói thành lời
Tất
cả những lợi lạc và công đức từ đó,
Khi
bậc Chiến Thắng, với lưỡi kim cương của ngài,
Không
thể làm cạn kiệt chúng, dù ngài có nói trong suốt
một
kiếp ?
Bậc
vinh quang, bậc thầy tối thượng,
Ngài
ban cho những lời dạy về tánh Không,
Xuất
hiện trong hình thức một con người,
Nhưng
tâm ngài thật sự là một vị Phật.
Không
có dối trá và đạo đức giả,
Hãy
khẩn cầu ngài từ sâu thẳm lòng mình,
Và
không cần một thủ đoạn nào khác,
Mẹ
sẽ đạt đến giác ngộ ngay trong đời này.
Đây
là viên ngọc hiẹân thân của tất cả,
Được
dạy trong những tantra của Đại Toàn Thiện.
Khi
mẹ đang có viên ngọc này trong lòng bàn tay,
Chớ
để nó uổng phí một cách vô nghĩa.
Giống
như những sao trên bầu trời, sự học hỏi
Sẽ
không bao giờ chấm dứt qua những nghiên cứu.
Ích
gì mọi thứ phồn tạp
Nhiều
giáo lý thỉnh cầu xin và thọ nhận ?
Ích
gì mọi thực hành không thể cao hơn tánh Không ?
Chớ
nhắm đến có nhiều trang phục khổ hạnh,
Như
cầm gậy và đeo dây hay mặc da thú.
Để
cho con voi tự trở vào nhà mình
Chớ
đi tìm dấu chân nó trong núi sâu.
Hỡi
mẹ, hãy tham thiền tinh túy của tâm,
Như
nó được dạy bởi guru, bậc nắm giữ kim cương,
Và
mẹ sẽ có tinh túy của tinh túy
Của
tất cả tám vạn bốn ngàn giáo lý.
Nó
là cam lồ cốt tủy của triệu triệu
Những
bậc thành tựu và hiểu biết.
Nó
là sự thực hành tối hậu.
Lời
khuyên bảo này từ cốt lõi tấm lòng
Của
nhà sư hỏng chuyện, Jamyang Dorje,
Là
cái thanh tịnh nhất của tinh túy thanh tịnh
Từ
bindu của máu đời con.
Bởi
thế hãy giữ nó trong lòng, hỡi mẹ.
Những
lời khuyên bảo tâm huyết ít ỏi này
Được
viết ra trong một xứ sở đẹp đẽ,
Thành
phố của bầu trời xanh rộng mở
Ganh
đua với sự rực rỡ của những cõi trời.
Gởi
đến Chokyi Nodzom thuần thành,
Bà
mẹ yêu quý của con,
Và
đến những đệ tử sùng tín của tôi.
Tôi
trao tặng lá thư khuyên bảo này.
Lá
thư này cho những đệ tử được viết bởi một người mang
danh là “Khenpo,” người Tây Tạng, Jamyang Dorje, trong Thung
Lũng cỏ Dordogne của Đại Lạc, nước Pháp, bên kia đại
dương về hướng tây.
Nguyện
phước đức và tốt lành từ đó !
7
Bình
Giải của Khenpo về “Tấm Gương của những Điểm Thiết
Yếu :
Một
bức thơ tán thán tánh Không”
Dịch
và biên tập bởi Surya Das
“Tấm
Gương của những điểm Thiết Yếu” là một bài ca kim cương
tự phát, một doha, một bài ca giác ngộ một kiểu mẫu
hiện đại của truyền thống nói miệng sống động có từ
những thành tựu giả chứng ngộ của Ấn Độ cổ thời.
Khenpo hát nó lên vào một ngày trong thời nhập thất ba năm
ở Dordgne, Pháp, khoảng từ 1980 đến 1984. Sau này nó được
thâu băng, rồi viết ra tiếng Tây Tạng và được gởi cho
mẹ ngài ở Ấn Độ. Sau đó nữa, nhóm dịch thuật Padmakara
dịch nó ra tiếng Anh và tiếng Pháp.
Khi
nào chúng ta đảm nhận bất kỳ loại chỉ dạy, thực hành
hay nghiên cứu nào, thật ích lợi và ý nghĩa lạ thường,
khi phát sanh và xác định một cách thành thật Bồ đề tâm
quý báu với cả hai phương diện tương đối và tuyệt đối
của nó : thúc đẩy chính chúng ta một cách rõ ràng đến
độ bất kỳ thứ gì chúng ta làm ở đây đều vì lợi lạc
và giác ngộ tối hậu của tất cả chúng sanh ở khắp mọi
nơi. Dĩ nhiên, bản thân chúng ta bao hàm trong đó, thế nên
không cần làm tăng thêm sự quy ngã thói thường của chúng
ta bằng cách quan tâm riêng biệt đến sự giải thoát của
chúng ta ở điểm này. Chỉ đơn giản phát Bồ đề tâm quý
báu và tin vào sự vĩ đại này của tấm lòng và sự rỗng
rang bao la này của tâm thức. Mọi sự đều bao gồm trong đó.
Làm
lợi lạc cho tất cả chúng sanh khắp nơi có nghĩa là gì ?
Trong nghĩa tương đối, đó là thực hành sáu hoàn thiện (ba
la mật) và cung cấp cho chúng sanh thứ gì họ muốn và cần,
như là những đồ vật, sự che chở, thuốc thang, tuổi thọ,
an toàn và hạnh phúc, cũng như những giáo lý và sự giúp
đỡ trong thực hành.
Trong
nghĩa tuyệt đối nó là cắt đứt gốc rễ của sanh tử và
niết bàn, cắt tiệt gốc rễ của nhị nguyên, của bám chấp
nhị nguyên, của bám chấp vào sự có thật của sự vật.
Đây là lợi lạc rốt ráo, lợi lạc tối hậu, gọi là Phật
tánh, nó nghĩa là thức tỉnh hay hoàn toàn khai mở tâm-lòng.
Sem kye trong tiếng Tây Tạng nghĩa là Bồ đề tâm, tâm thức
tỉnh vị tha ; nghĩa đen là sự nở hoa của tâm thức, sự
khai mở hay phát lộ rốt ráo của lòng và tâm.
Cái
gì là gốc rễ của mọi bất toại nguyện, thất vọng và
khổ đau ? Cái gì là nguyên nhân gốc của dukkha – khổ đau
và sự mất cân bằng ? Nó chính là sự bám chấp nhị nguyên.
Bám luyến, kháng cự và trụ chấp là nguyên nhân của khổ
đau. Tất cả những thứ ấy phát xuất từ vô minh. Bám chấp
nhị nguyên xảy ra ngay ở điểm gặp gỡ giữa người nắm
lấy và cái được nắm lấy. Nó là sự bám chấp vào thực
tại cụ thể của những sự vật ; bị mê lầm bởi chỉ
những hình tướng, không thấy tính chất vô tự tánh hay trống
rỗng, tánh Không và không thật của chúng. Khi điều này được
thấy xuyên suốt, bám chấp và luyến ái khô kiệt. Bấy giờ
khổ đau nào có thể có được ? Và có ai để khổ đau ?
Tự do và thong dong bao la là ngay ở đây.
Khi
gốc rễ của nhị nguyên – bám chấp nhị nguyên, những thấy
biết nhị nguyên, những thấy biết mê lầm bị cắt đứt,
mọi lá, cành và thân của cội cây sanh tử và niết bàn tự
nhiên tự khô héo và ngã đổ đúng lúc của chúng. Bấy giờ
cội cây sanh tử và niết bàn khổng lồ tỏa nhánh khắp nơi
này, cội cây của nhị nguyên, của thế gian, của sự bị
qui định, không cần phải đốn ngã : nó đã như là chết.
Chúng ta có thể nghỉ ngơi ; làm xong cái cần làm, như đức
Phật nói.
Đây
là điểm toàn thể của Pháp, của sự thức tỉnh tâm linh,
của Phật tánh ; đây là sự tiến hóa hay khai mở tối hậu.
Nếu chúng ta mong mỏi kinh nghiệm một sự thức tỉnh như
vậy, không có gì khác để làm ngoài sự nhận biết bản
tánh chân thật của tánh giác bổn nguyên của chúng ta, cái
hiện thể nền tảng của chúng ta, quyền thừa kế của chúng
ta, nó ở bên trong. Đây là bản tánh sẵn có nội tại của
tấm lòng và tâm thức chúng ta, cũng được biết với tên
là Bồ đề tâm. Nó là hiện thể của chúng ta, tự tánh của
chúng ta, có tên là Phật tánh. Nó không phải là vị Phật
ở đâu khác.
Đấy
là tại sao chúng ta nói Phật ở bên trong : Phật tánh tỏa
khắp và ôm trùm mọi sự, không chừa cái gì. Sâu xa hơn,
đấy là tại sao chúng ta nói không có Phật ngoài tự tâm
mình, vì tâm Phật là tinh túy chân thật của tự tâm chúng
ta, ngay lúc này đây. Nó không xa chút nào. Nó là trong chúng
ta và là chúng ta. Nhưng ai nhận biết và hiện thực hóa nó
? Chẳng phải chúng ta luôn luôn nhìn trượt, bỏ qua nó sao
? Nó có vẻ quá thật, đến nỗi chúng ta không tin nó. Nó
quá gần gũi, thân thiết, thế nên chúng ta bỏ qua nó. Nó
hiển nhiên quá rõ ràng, quá thường trực đến nỗi chúng
ta không lưu ý nó. Ai có thể biết rằng Phật ở trong chính
họ ?
Lời
dạy này trong hình thức một bài ca về những phương diện
khác nhau của tánh Không hay shunyata : cái trống không chói
lọi, cái rỗng rang vô cùng của bản thân hiện thể nguyên
sơ không vướng mắc. Có dạy rằng có mười tám loại Không
khác nhau, nhưng tất cả được gồm vào một cái được gọi
là mahashunyata, đại không : sự rỗng rang mở khắp và tánh
Không không thể ý niệm, tánh Như không thể diễn tả của
cái đang là. Nó không phải là một cái gì tương đối
mọi cái khác đều tương đối ; đại không là bản tánh
chân thật của mọi hiện tượng tương đối.
Tâm
Kinh nói, “ Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.” Đây
là cái thấy căn bản của Đại thừa Phật giáo và thực
tại của hiện hữu. Chúng ta không thể từ chối rằng chúng
ta đang kinh nghiệm thế giới, một vô số sai khác của hình
tướng và hiện hữu. Tuy nhiên trong yếu tính, mọi sự vật
là trống không một thực thể nội tại, không có hiện hữu
về bản chất và độc lập. Shunyata, Tánh Không nghĩa là như
vậy. Đấy là sự kết hợp của hai cấp độ của chân lý,
tương đối và tuyệt đối. Một vị Phật thấy biết cả
hai đồng thời : sự vật xuất hiện như thế nào cấp
độ tương đối hay chức năng, và sự vật thực sự là thế
nào.
Tánh
Không là chân lý tuyệt đối, thực tánh của tất cả sự
vật, cách thức đang là một cách nền tảng của chúng. Tình
trạng chân thực của mọi hiện tượng của cả sanh tử lẫn
niết bàn là mahashunyata, sự mở suốt rỗng rang hay tánh Không
vĩ đại. Đây là ý nghĩa chân thật của Dzogchen, những giáo
lý về sự đại thành tựu tự nhiên, sự thanh tịnh bẩm
sinh và hoàn thiện vốn sẵn của mọi sự : rằng mọi sự
vốn là mahashunyata, sự mở suốt rỗng rang hay tánh Không vĩ
đại.
Người
ta có thể hỏi : Ai hay cái gì đã sáng tạo, tạo tác, làm
ra tánh Không này, cái là trạng thái tự nhiên của mọi hình
tướng sanh tử và niết bàn ? Phật đã tạo ra nó chăng ?
Vị thần nào đó hay một đấng tuyệt đối nào tạo ra nó
? Nó được làm hay sanh từ đâu ? Có phải nó là cái còn
lại khi mọi sự đã được tịnh hóa hay hủy hoại ? Có phải
chúng ta cần gỡ bỏ tấm màn che của tư tưởng và ý niệm
để thấy biết nó ?
Tánh
Không là không sanh, không do làm, không được tạo ra. Bởi
thế nó được nói là không chết, như niết bàn (cái mà đức
Phật gọi là vĩnh cửu trong một cuốn kinh). Nó là thật tánh,
là bản tánh tối hậu mahashunya, đại không. Không thể
ý niệm, vâng ; không thể được, không !
Bản
chất của mọi hiện tượng, như đức Phật nói, là vô thường.
Mọi sự đều tan rã. Cái gì sanh ra, thì chết đi. Mọi cái
gì được nhóm họp đều phân rã, như những gặp gỡ trong
một cái chợ. Mọi tạo lập rốt rồi phải hủy hoại. Mọi
hiện tượng do duyên, do điều kiện là vô thường, không
chủ, không ngã, và trống rỗng, như mộng, ảo ảnh, tiếng
vang. Kỳ lạ thay ! Kỳ diệu thay ! Emaho !
Bản
tánh chân thật của sự vật là đại không, sự mở suốt
rỗng rang hay tánh Không vĩ đại, thuyết tương đối tối
hậu thoát khỏi những vật thể độc lập, hiện hữu cá
thể không sanh, không chết, không biến chuyển, không thể
quan niệm, vượt ngoài sự tạo tác của ý niệm. Nó là chân
lý tuyệt đối. Nó không bao giờ tan rã. Nó siêu vượt thời
gian và không gian. Nó không phải là một vật, một đối tượng
của hiểu biết, một đối tượng của trí thức. Nó là sự
lồng lộng không đáy của thực tại tuyệt đối, chiếu soi
rực rỡ.
Ngay
một thành phố lớn như New York, có nhiều người cùng làm
việc cật lực với nhau giống như một sự gặp gỡ thường
trực của người ta. Một vài trăm năm nữa, ai biết rằng
nó sẽ như thế nào, hay ngay cả nó không còn ở đó ? Và
dầu nếu còn nhiều người và xe cộ ở đó, họ cũng không
phải là những người như cũ và xe cộ như trước. Mọi thứ
đều vô thường trong thế giới này, gồm cả thân thể chúng
ta, thân thể chóng vánh như huyễn của chúng ta, một hiện
tượng kết hợp nhất thời, kết quả của chỉ sự kết
hợp tinh chất nam nữ qua duyên nghiệp của cha và mẹ trong
đời này. Nhưng một trăm năm nữa, thân thể này sẽ là cái
gì ?
Mọi
sự đều như vậy. Đấy không phải là cái gì đe dọa hay
làm thất vọng, cũng không phải nó được nói ra để xem
nhẹ sự quan trọng của chúng ta. Đấy chính là bản chất
của mọi hiện tượng kết hợp. Chúng ta đều sẽ chết và
tan rã, để lại mọi thứ, trừ những tích tập nghiệp báo
của chúng ta. Và lúc đó, khi chúng ta ra khỏi đời này, chỉ
có những công đức và sự chứng ngộ của chúng ta là có
lợi lạc cho chúng ta. Không có cái gì khác của thân thể
này và cuộc đời này là còn lại.
Đây
không phải là ca ngợi, và không phải là sỉ nhục, không
bi quan cũng không lạc quan ; không có sự phán xét ở đây.
Đấy chỉ đơn giản là một sự nhận biết khách quan sự
vật thực sự là thế nào, chuyện ấy chính chúng ta có thể
nhận biết và chứng nghiệm : rằng mọi hiện tượng hợp
sanh là thoáng chốc, như huyễn, không bền và vô thường.
Mọi hiện tượng hợp sanh có ra là qua luật duyên sanh, sanh
ra trong tương thuộc. Tất cả chúng đều liên hợp, liên lập,
tương thuộc. Khi những nhân và duyên hội hợp, những sự
vật tạm thời xuất hiện. Khi những nhân và duyên hết đi,
những sự vật tan rã, như ngọn lửa tắt khi nhiên liệu cạn
hết. Đây là những hiện tượng tương đối sinh ra trong bối
cảnh của tánh Không vĩ đại như thế nào. Không có người
sáng tạo nào khác ngoài định luật vô ngã của nhơn quả
nghiệp báo. Những người biết hai chân lý này, sự tương
thuộc, duyên sanh tương đối và tánh Không tuyệt đối, được
gọi là những anh hùng không sợ hãi, những bồ tát gan dạ,
những chiến sĩ tỉnh ngộ về tâm linh.
Đây
là lý do tại sao trong dòng của chúng ta, từ thời vị đại
đệ tử Vidyadhara Jigme Lingpa của Longchenpa vào thế kỷ mười
tám, mọi đạo sư, từ Jigme Lingpa qua Gyalwai Nyugu đến Patrul
Rinpoche xuống đến ngày nay, đều được đặt chữ đầu
của pháp danh là Jigme, nghĩa là không sợ hãi. Các vị biết
rõ tánh Không bất biến tuyệt đối, bản tánh căn nguyên
của tâm thức mình. Ở ngay giữa những hiện tượng thoáng
qua, như mộng và như huyễn, các ngài không sợ trước cái
chết và vô thường.
Chúng
sanh bình thường không thường rõ ràng nhận thấy, nổi bật
trong tâm thức họ, sự sợ hãi không thể chối cãi về cái
chết, bệnh tật, già nua, cô độc, những vấn đề và những
khó khăn đủ mọi loại ; ví dụ sợ mất cái họ có, sợ
trải nghiệm điều họ không muốn trải nghiệm, sợ được
điều họ không muốn hay không được điều họ muốn… Bởi
thế, toàn thể con người của họ bị lo âu, hy vọng và sợ
hãi trói buộc sự sanh sôi không cùng của bám chấp và
trụ trước. Hy vọng và sợ hãi là một giới hạn khổng
lồ, những rắc rối nảy nở không cùng.
Làm
thế nào chúng ta có thể hiện thực hóa sự can đảm không
sợ hãi hoàn hảo của những chiến sĩ thức tỉnh, những
bồ tát anh hùng ? Bản tánh chân thật của tất cả mọi sự
vật là đại không, nó không phải là một cái trống rỗng,
không có gì cả : mà nó là tánh Không sáng ngời. Nó có phẩm
tính “là vậy,” tánh Như, Như Lai Tạng. Nó là tánh Không
phú bẩm với lòng bi và trí huệ. Nó được gọi là Đại
Toàn Thiện tự nhiên, Đại Toàn Thiện bẩm sanh, Dzogchen ;
cái đại không này có tính chất sáng ngời, sự không thể
phân chia của cái biết và tánh Không, của tánh giác và lòng
bi. Nơi đây chân lý và tình thương không điều kiện không
sai khác.
Nền
tảng hay căn cứ của bản tánh tối hậu của hiện thể được
gọi là Đại Toàn Thiện nền tảng Đại Toàn Thiện bẩm
sinh nền tảng. Nó là thanh tịnh, toàn thiện, và viên mãn
từ vô thủy, không thiếu hụt cái gì, thoát khỏi thoái hóa
và biến đổi. Nó không được cải thiện thêm trong niết
bàn cũng không hư hao trong sanh tử. Nó cũng như kim cương,
siêu việt, không vướng mắc vào những nguyên nhân và điều
kiện : Đại Toàn Thiện tự nhiên. Emaho !
Dầu
cái Đại Toàn Thiện sáng ngời này là một và bất nhị,
một toàn thể đồng nhất không thể phân chia, nhưng để
giải thích, nó được phân thành nền tảng, con đường và
quả. Đại Toàn Thiện Dzogchen được giải thích theo ba cái
này, chúng thật ra cũng không thể phân chia, tuy nhiên được
giải thích như là một bộ ba để cho rõ ràng : cái thấy,
thiền định và hành động.
Cái
thấy, tri kiến nghĩa là cái nhìn tổng quan, viễn tượng,
cái nhìn bao quát ; thiền định ám chỉ sự thực hành hiện
thực làm quen thuộc với cái thấy ấy, cái mà người ta đã
được giới thiệu, dẫn nhập, và cái mà người ta đã nhận
ra hay xác nhận một cách kinh nghiệm cho chính mình ; và hành
động hay hạnh, cư xử, là hoạt động giác ngộ hiện thực
trong đời sống. Dù căn cứ hay nền tảng là một, toàn thể
và không thể phân chia, ba cái này có thể được làm rõ như
cái này sanh từ cái kia : Trước hết, phải có cái thấy,
bấy giờ thiền định chân thật và hành động chân thật
sinh ra, cái này sau cái kia, từ sự tỉnh giác và nhận biết
ấy. Dù trong chân lý tuyệt đối, nền tảng và quả là không
tách lìa, thì trong chân lý tương đối con đường còn phải
trải qua để hoàn thành cây cầu như cầu vồng này.
Bẩm
sinh trong tánh Không này cái rỗng rang và sáng ngời này,
thật tánh của tâm thức mình, cái Đại Toàn Thiện bổn nhiên
là những phẩm tính không thể nghĩ bàn, tất cả những
phẩm tính giác ngộ của chư Phật mười phương trong quá
khứ, hiện tại và tương lai. Những phẩm tính siêu việt
này vốn là hiện giờ một cách bẩm sinh. Chúng ta có thể
nói rằng chúng là tiềm năng, nhưng không phải là một tiềm
năng cần khai triển trong tương lai. Chúng vốn là hiện giờ
một cách bẩm sinh, và có thể bước vào ngay hôm nay.
Nếu
và khi một hành giả nhận biết thật tánh của hiện thể
vốn sẵn đủ của mình, bản tánh tối hậu của tâm thức,
cái Đại Toàn Thiện tự nhiên này, bấy giờ, trong một đời,
trong chính thân thể này trong ngay vài năm hay ngay chỉ vài
khoảnh khắc tâm thức Phật tánh tối thượng toàn thiện
được hiện thực hóa.
Cái
Đại Toàn Thiện bổn nhiên này, cái tốt đẹp nền tảng
được gọi là Phật tánh, Phật tâm, hay rigpa, là tự tánh
của chúng ta. Nó là “dòng hiện thể” của bản thân chúng
ta, gyu trong tiếng Tây Tạng. Nó là hiện thể chân thực nhất
của chúng ta. Nó không chỉ là tâm chúng ta. Nó là hiện thể
của chúng ta. Nó là cái mà chúng ta là. Đấy là tại sao nó
được gọi là con đường nhanh chóng và thoải mái hay đầy
đủ phong lưu. Nó không đòi hỏi một số nỗ lực, gian nan
hay khổ hạnh, hay sự kiên trì lâu xa trong thực hành, giống
như có nói rằng Bồ tát thừa cần ba vô số kiếp để hoàn
thành. Nó là trong đời này, nó nằm trong khoảnh khắc này
: ngay giờ đây, khoảnh khắc nhất niệm của Đại Toàn Thiện,
gọi là sự nhận biết rigpa. Emaho !
Longchenpa
toàn giác nói :
Bởi
vì mọi sự vượt khỏi tốt và xấu,
Thiện
cảm và ác cảm, chọn lấy và chối bỏ,
Khi
tôi thấy những chúng sanh bị bắt nhốt trong trò phô diễn
huyễn hóa này,
Làm
sao tôi không thể phá ra cười !
Trong
những giáo lý của Phật giáo, trong những kinh và những thừa
thực hành tổng quát, phải nhiều đời để khai triển qua
các địa (bhumi) và chứng ngộ Phật tánh hay những quả khác
của con đường. Trong giáo lý Đại Toàn Thiện, con đường
nhanh chóng và thong dong là ngay giờ đây. Khi khoảnh khắc của
Đại Toàn Thiện xảy đến, ngay trong khoảnh khắc nhận biết
nó, quen thuộc với nó, xác định xác tín toàn triệt bên
trong, đó là cái khoảnh khắc cốt tử, khoảnh khắc vĩ đại
của Đại Toàn Thiện. Nó không phải là cái gì trong tương
lai Đó là tại sao nó được gọi là con đường nhanh chóng,
trần trụi, trực tiếp, đường tắt kim cương, bình minh của
Vajrasattva, bậc kim cương.
Cái
này là ngay giờ đây, bao giờ cũng hiện diện, bao giờ cũng
có thể đi vào. Đấy là tạo sao chúng ta thốt lên, Emaho !
và gọi nó là Pháp kỳ diệu, hoan hỷ của Đại Toàn Thiện.
Nó là lạ lùng, kỳ lạ, mới mẻ, khó tin dù bạn chọn
cách diễn dịch nào niềm hoan hỷ bao la ấy. Nó là một lối
tắt. Nó là con đường trực tiếp. Nó là cách thức rút Phật
tánh của chúng ta ra khỏi vỏ bọc của những ý niệm, của
nhị nguyên. Lưỡi gươm rigpa thì luôn luôn ở đây. Tại sao
chúng ta không rút nó ra khỏi vỏ và vung nó lên không sợ
hãi trong bầu trời tự do không ngăn ngại ?
Khi
người ta có sự tiếp xúc nhờ thiện nghiệp với một vị
thầy và những lời dạy, niềm tin tưởng, sự tin cậy và
sùng mộ khởi lên đối với vị thầy và những lời dạy,
và người ta ở đúng chỗ vào thời gian đúng lúc. Khi mọi
điều kiện này đã đầy đủ, không có gì ngăn che kinh nghiệm
trực tiếp, trần truồng về tánh giác nội tại của mình,
thật tánh của tâm thức mình cái Đại Toàn Thiện bổn nhiên.
Cái toàn thiện và trọn vẹn bẩm sinh này của hiện thể
chúng ta là cái những giáo lý này chỉ thẳng ra, không phải
là một loại kho tàng huyền bí nào ở Tây Tạng xa xôi. Không
cần phải lo lắng nhìn mọi chỗ, chép lại mỗi mẫu nhỏ
thông tin về kinh nghiệm này và thăm viếng mỗi vị lama trên
thế giới. Người ta có thể thực sự kinh nghiệm ngay đây
và bây giờ thực tánh của chính mình, rigpa, sự hiện diện
bổn nhiên không thể diễn tả này. Ngay lúc này đây nó là
sẵn sàng và phản ứng tức thì cái tâm rỗng rang lồng
lộng, bao la và không tự quy vào mình này.
Khi
bạn nghe những lời dạy như thế này, những lời nói giống
như những bong bóng hay tia lửa nhỏ nổ trong không khí và
tan biến mất. Nếu bạn viết ra trong một sổ tay và để
cuốn sổ trên một giá sách, sau vài tháng những dòng chữ
ấy phủ đầy bụi và chúng sẽ trở thành cái gì ở ngoài
người ta đến độ họ không có thì giờ xem nó và người
ta muốn có thì giờ để tìm lại bằng cách nào đó trong
chính mình. Điều này có thể là một nguyên nhân khác của
căng thẳng. Tuy nhiên, ý nghĩa chân thật của lời nói này
là cái vốn ở trong chúng ta ngay bây giờ đây. Nó không cần
phải được viết ra và để trên kệ sách. Nó không bao giờ
phủ bụi. Chúng ta luôn luôn có thì giờ để đi vào nó, để
liên hệ với nó. Nếu chúng ta không liên hệ với nó ngay
lúc này, thì còn chờ khi nào ?
Trong
những giáo lý chung của những thừa khác nhau, có một số
lượng để đọc và học, như là Ba Tạng, với mọi phần
của chúng, và cũng có kinh và tantra. Nhưng giáo lý này
con đường trực tiếp, trần truồng của tánh giác bổn nhiên
gọi là Đại Toàn Thiện thì vượt khỏi tâm thức. Nó
là giây phút cho mọi thấy biết nhị nguyên sụp đổ, hay
được để trong trạng thái tự nhiên của chúng, trong cách
thức thực sự của tự chúng, đó là cái rỗng rang bao la
và trống không của tánh Không. Đây là cái nhìn toàn cảnh,
cái thấy. Đây cũng là sự thực hành và cách thức giác ngộ
để sống cuộc đời hàng ngày của chúng ta. Thế đấy, cái
này bao gồm cái thấy, thiền định và hành động của Đại
Toàn Thiện. Không có gì để làm ngoại trừ ở trong cái mà
người ta đã nhận biết, hay đã được giới thiệu vào,
đã được khám phá cho chính mình, ở trong chính mình Đại
Toàn Thiện bổn nhiên, sự hiện diện thanh tịnh và đích
thật.
Con
người lang thang, giác ngộ vinh quang và vĩ đại Paltrul Rinpoche
nói rằng trong những con đường chung ám chỉ đến hầu
hết những thừa Phật giáo cũng giống như buộc xích một
tư tưởng này với một tư tưởng khác, một sợi xích không
cùng của diễn dịch mà chúng ta vướng mắc vào, do bởi những
cố gắng ý chí của chúng ta. Nhưng trong con đường Đại
Toàn Thiện, mọi hình tướng, mọi hiện tượng đều tự
nhiên tan biến vào trạng thái tự nhiên của chúng, tự xuất
hiện, tự giải thoát, vượt khỏi bám trụ và điểm quy chiếu.
Đơn giản không có gì để trói buộc hay vướng mắc, và
không có ai để bị vướng mắc. Mọi sự được để cho
đúng như nó là, trong cách thức tự nhiên của nó, dù nó
có xuất hiện. Trong những giáo lý Trekchod hay Cắt Đứt của
Đại Toàn Thiện tự nhiên, Longchenpa hát “Hãy để cho nó
như nó là, và an nghỉ tâm thức mệt mỏi của con.” Vì ở
đây thực sự không có cái gì để mất hay để được, không
có cái gì để hy vọng hoặc sợ hãi.
Hãy
cho phép tâm thức đi đến chỗ nào nó muốn, như Kinh Kim Cương
gợi ra khi nói, “Hãy trau dồi tâm tỉnh giác nó không trụ
ở chỗ nào cả” (Hán văn : Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm
chú thích của dịch giả bản Việt). Đạo sư Mahamudra,
thành tựu giả Ấn Độ Maitripa, hát, “Hãy để cho những
tư tưởng tự do đi, như một con chim bồ câu thoát khỏi một
con tàu giữa đại dương mênh mông. Vì như con chim không tìm
thấy nơi nào để đậu mà chỉ có cách trở lại chiếc tàu,
những tư tưởng không có chỗ nào để đi ngoài việc trở
lại chỗ khởi nguồn của chúng.” Hãy biết cái nguồn gốc
này, bản thân tinh túy-tâm, và tự do.
Cái
gì biết thật tánh của mọi sự vật ? Người biết đích
thực phương diện trống không, tỏ biết của tâm là
Phật bổn nguyên Samatabhadra, nhân cách hóa tánh giác rigpa,
Phật Samantabhadra bổn nguyên, là rất, rất quan trọng. Chính
cái tịnh quang, Phật tánh sáng ngời này thấu biết. Trí huệ
tánh giác bổn nhiên, rigpa, đang hiện hành, hoạt động qua
chúng ta ngay lúc này, giá mà chúng ta biết nó.
Tâm
thức thế gian của chúng sanh, được phú bẩm sự tỏ biết
hay thấu hiểu này, lại dùng sự tỉnh giác để không biết,
để vô minh, để làm lầm lạc chính nó. Rất quan trọng biết
được rằng làm sao điều này xảy ra ; không chỉ biết Phật
bổn nguyên, mà còn biết cái vô minh nguyên sơ của chúng sanh,
nó vận hành như thế nào.
Trong
trạng thái này của tánh giác bổn nguyên, hằng hằng thường
trụ Samantabhadra, “Trọn Hảo,” nghĩa là mọi sự đều tốt
đẹp, mọi sự đều toàn thiện toàn hảo từ vô thủy. Bất
cứ điều gì khởi lên, Samantabhadra nhận biết như là sự
phô diễn tự sáng, tự nhiên, không phải là những tri giác
nhị nguyên phân biệt ; như thế Samantabhadra vẫn tự do từ
khởi thủy trong cảnh giới này của mọi sự được biết
và được thông tỏ như là sự phô diễn sáng tạo và tự
nhiên. Tuy nhiên, khi những sự vật khởi lên trong tâm thức
chúng sanh, chúng bị tri giác sai như là khác biệt, như “cái
khác,” như nhị nguyên. Trong sự mê lầm này, chúng sanh trở
nên lầm loạn (như Narcissus), và qua vô minh của chính nó để
cho lạc vào sự tự lừa gạt và mọi loại rắc rối khó
khăn và khổ đau.
Bởi
thế có nói trong Cầu Nguyện của Samantabhadra (không phải
là một cầu nguyện đến Samantabhadra, mà là sự xác nguyện
của chính Samantabhadra), “Một nền tảng, hai con đường.”
Nó nghĩa là chỉ có một nền tảng độc nhất của cái đang
là, của cả Phật bổn nguyên và chúng sanh mê lầm : tuy nhiên
có hai con đường cá thể : con đường của toàn thiện bổn
nguyên, và con đường của mê lầm và nô lệ.
Tất
cả chúng sanh, dầu ý thức hay không ý thức, đều muốn và
cần gặp gỡ cái toàn thiện sẵn đủ bổn nguyên này, cái
gọi là Samantabhadra. Nhưng làm thế nào để gặp gỡ Phật
ấy chính là bản tánh đích thật của chính họ ? Đây là
điểm chủ yếu của con đường, con đường thực hành của
Đại Toàn Thiện. Khó mà gặp Phật bổn nguyên này, Phật
pháp thân, Samantabhadra. Bởi thế, trên cấp độ năng lượng,
Pháp thân biểu lộ như Báo thân, Dorje Chang, Vajradhara ; hay
ngay cả trong thế giới này, trong Hóa thân, như là Thích Ca
Mâu Ni, giáo hóa bằng lời và bằng hình thể. Những chúng
sanh có thể thực sự đích thân gặp gỡ thực tại này theo
một cách phù hợp với họ.
Ba
Phật này Phật bổn nguyên Samantabhadra là pháp thân toàn
thể, thực tại tuyệt đối vô tướng ; báo thân, Vajradhara
hay Dorje Chang, là cấp độ năng lượng, cấp độ thị kiến
; và hóa thân, thân thể hình sắc, Thích Ca Mâu Ni, Phật lịch
sử Ba vị Phật này thực sự là một sự nhân cách hóa
của rigpa. Những ai có nghiệp tốt, những tích tập phước
đức và trí huệ, có thể có may mắn gặp đích thân thân
thể hình sắc của Phật Thích Ca Mâu Ni ; chẳng hạn những
ai sống ở Ấn Độ vào thời Phật. Đây là sự trùng hợp
hay hội tụ của nghiệp tốt của họ với năm trăm đại
nguyện của Phật, trải qua năm trăm đời Bồ tát, có thể
làm lợi lạc cho chúng sanh sau khi giác ngộ. Như thế, sự
phối hợp của những lời nguyện của ngài và nghiệp tốt,
những hành động tích cực của một số chúng sanh, đưa số
người ấy vào thế giới này trong thời đức Phật. Đó không
phải là một may mắn nhiều người trong chúng ta có, được
gặp Phật Thích Ca bằng con người của ngài. Tuy nhiên chúng
ta có may mắn gặp đích thân những đại diện sống của
ngài : những bậc thầy giác ngộ trong nhiều truyền thống
và dòng phái phát sanh từ ngài.
Giáo
lý Dzogchen đôi khi được gọi là Maha Ati, vì nó thuộc về
bậc thứ chín của tantra, Tantra Yoga Maha Ati. “Ati” nghĩa
là chót đỉnh, bởi vì với cái thấy từ trên cao, từ đỉnh
cao nhất của núi, bạn có thể thấy toàn bộ mọi mặt của
ngọn núi và tất cả những con đường dẫn đến từ bên
dưới. Bạn có một cái thấy tổng quát, một quang cảnh lớn
rộng. Khi một số người có vẻ đi lên ngọn núi tâm linh
theo một lối, uốn khúc theo chiều kim đồng hồ, những người
khác leo lên bởi một con đường ngược chiều kim đồng hồ,
nếu bạn nhìn từ trên, bạn có thể thấy mọi con đường
khác nhau đều đi đến đỉnh. Nhưng khi nhìn từ dưới, có
vẻ người ta đang đi trong những hướng khác nhau, trên những
con đường khác nhau, và có vẻ như đối nghịch và không
thể hòa hợp. Thật ra, mọi con đường đều quy tụ về chót
đỉnh vĩ đại của sự tiến hóa tối hậu của chúng sanh
là Phật tánh, cái Đại Toàn Thiện.
Khi
chúng ta có cái thấy từ trên cao, chúng ta nhìn thấy mọi
con đường và mọi thực hành tương hợp với nhau như thế
nào, cái gì là cốt lõi hay nguyên lý dẫn đạo của chúng.
Tuy nhiên, từ bên dưới thường là chúng ta không thể thấy
khu rừng vì đang dò dẫm trong cây cối. Bởi thế, điều quan
trọng là được giới thiệu với cái thấy từ bên trên
ngay cả khi chúng ta đang thực hành những thực hành tương
đối của phía dưới như một nguyên lý dẫn đường,
đến độ những thực hành tương đối của chúng ta được
nâng cấp lớn lao bởi cái thấy về thực tại tuyệt đối,
và chúng ta có một cái thấy tổng quan đích thật, dầu cho
chúng ta đang làm việc một cách thứ lớp qua nhiều cấp độ
khác nhau.
Chúng
ta không nên vướng vào những chủ nghĩa bộ phái hay chỉ
trích. Đôi khi, trong những nước Phật giáo khác nhau hay những
giáo lý khác nhau, người ta nói, “Ồ, những hóa thần bổn
tôn ấy mà các lama diễn tả, như Vajradhara, chẳng có ăn nhập
gì với đức Phật. Đó là những thứ gì khác với giáo lý.
Nó đã trộn lẫn với Ấn Độ giáo.” Hay có thể, “Những
hóa thần ấy giống như những vị thần của Ấn Độ. Đó
không phải là Phật giáo thuần túy. Phật giáo không có những
thần. Phật giáo là vô thần, chỉ dựa trên Phật tánh.”
Hay, “Chỉ có Phật giáo Tây Tạng mới có thể đem lại giác
ngộ đích thực trong một đời.” Đấy là lầm lẫn, một
thành kiến thiên chấp, cái thấy từ bên dưới ; chúng ta
không thể thấy toàn bộ khu rừng vì vô số cây cối. Nhưng
khi chúng ta thực hành theo Đại Toàn Thiện, đó như thể là
chúng ta trèo từ bên dưới (qua những phương tiện tương
đối), trong khi thấu hiểu cái thấy từ bên trên (thực tại
tuyệt đối), sử dụng cả hai cánh này (chân lý tương đối
và tuyệt đối) để bay thẳng đến Phật tánh.
Chúng
ta có thể nhìn điều đó như thế này : Chúng ta đi lên từ
phía dưới với sự thực hành những thực hành tương
đối, bao gồm xử sự, đạo đức và thiền định ; trong
khi cùng lúc ấy chúng ta đi xuống từ bên trên với cái thấy
bao la. Trong cách ấy, cái tương đối và cái tuyệt đối là
trùng hợp, nối kết, trong bất cứ thực hành nào chúng ta
làm. Đây là sự thực hành sáu hoàn thiện, sáu ba la mật,
mỗi cái hoàn toàn thấm nhuần bát nhã ba la mật, cái hoàn
thiện thứ sáu. Và đây là cách thức, sự thực hành của
Đại Toàn Thiện trong bối cảnh Bồ tát thừa : đi xuống
từ bên trên với cái thấy sự thấu hiểu phù hợp với
cái thấy tối hậu, chân lý tuyệt đối, tánh Không ; trong
khi đi lên từ bên dưới bởi những thực hành tương đối,
phù hợp với khả năng hiện thực của chúng ta.
Một
ngày nọ một yogi đi từ hang của mình xuống núi để khất
thực, và ông gặp một nhóm trẻ con trong chợ. Chúng tranh
chấp lẫn nhau, cãi cọ với nhau. Một đứa nói, “Cha tao
có một khuôn mặt và sắc tướng sắc vàng tuyệt đẹp, cao
lớn hơn bất kỳ ông cha nào khác.” Một đứa trẻ khác
nói, “Ông chú tao có một khuôn mặt chiếu sáng kỳ diệu,
giống như một hoa sen. Ông là người mạnh mẽ hơn bất kỳ
ông chú nào khác.” Và một đứa khác lại nói, “Không,
chính cha tao là người đẹp đẽ nhất và mạnh mẽ nhất.”
Và một đứa khác nói, “Không, chính chú tao là người đáng
yêu, tráng lệ và quyền lực nhất.” Mỗi đứa trẻ đều
có hình ảnh nổi bật riêng về cha chúng, và chúng dành nhau
ai là người đứng nhất. Chúng tranh chấp loạn xạ đến
nỗi vị yogi không thể giải thích gì cho chúng. Vị ấy liền
trở về hang của mình và viết lại chuyện này, liên hệ
nó với sự tranh chấp bộ phái của thời ấy.
Có
phải có nhiều chủ nghĩa bộ phái trong những trường phái
tôn giáo khác nhau, không chỉ trong Phật giáo mà trong tất
cả các tôn giáo ? Mỗi đứa trẻ có cha hay chú của nó, tự
nhiên thôi, và chúng đều nghĩ họ là người tốt đẹp nhất,
theo ý kiến từng đứa. Không ai cần xét xử và quyết định
ai là người cha hay người bảo hộ tốt nhất. Mỗi đứa
trẻ có cha mẹ, thế là đủ. Tương tự, như tất cả mọi
trường phái của Phật giáo, chúng ta đều theo đức Phật.
Và tuy nhiên chúng ta lại thấy chúng ta cãi vã Phật nào là
tốt nhất, Phật Thích Ca hay Phật Samantabhadra nguyên thủy,
hay Phật Vajradhara, hay những Phật khác những bổn tôn
như Quán Thế Âm, Tara, A Di Đà, hay Văn Thù. Tuy nhiên chúng
ta khoác y phục cho các ngài, người nào là khuôn mặt cha mình,
và chúng ta tranh chấp như tất cả chúng ta thuộc về những
bộ tộc khác nhau, và công việc của chúng ta là tìm ra ai
là người tốt nhất. Đấy cũng giống như những đứa trẻ
con, đứa nào cũng yêu quý cha mẹ nó và đề bạt cha hay mẹ
mình là nhất. Thật là trẻ con.
Khi
chúng ta thấu hiểu bản tánh tối hậu của Dzogchen, chúng
ta hiện thực hóa Phật tánh vốn thức tỉnh. Bấy giờ không
còn cái gì khác để làm. Thật sự không cần có bàn cãi
nào đâu là cách thức tốt nhất để đến đó. Bản tánh
tối hậu của tất cả sự vật, cái đại Không này hợp
nhất với tấm lòng sáng ngời của đại bi, được nhân cách
hóa như là Phật Samantabhadra bổn nguyên, sự nhân cách hóa
rốt ráo tánh giác vốn sẵn của chính mình, rigpa. Nó là Như
lai tạng, Phật tánh trong tất cả chúng sanh. Nó là cái Phật
Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ dưới cội bồ đề ở Bodh-gaya
khi ngôi sao mai mọc trên chân trời phía đông. Cái mà ngài
thức tỉnh để nhận ra nó, kinh nghiệm trong chính ngài, là
bản tánh đích thật của tất cả chúng sanh, không trừ một
ai. Nó là cái mà bậc đạo sư, bậc thầy toàn giác của Đại
Toàn Thiện Longchenpa chứng ngộ trong dòng thân tâm của chính
ngài. Đấy là vì sao ngài được gọi là Long-chen, pháp giới
vĩ đại, ám chỉ pháp giới tánh Không vô hạn, sự vô cùng
của bản tánh Không của chính mỗi người.
Tất
cả mọi điều này là đồng nghĩa khi chúng được thấy đúng
như chúng là. Pháp danh của đạo sư Dzogchen là Longchen Rabjam
nghĩa là pháp giới vô tận. Nó đồng nghĩa với đại không
hợp nhất với lòng đại bi. Nó là tên của một vị lama,
nhưng chúng ta không thờ phụng một con người hay một lama
riêng biệt nào. Chúng ta xác nhận và hiện thực hóa ý nghĩa
của pháp danh đó, rằng tự tánh của mình là pháp giới vô
biên. Có rất nhiều vị thầy tâm linh đã nhận biết bản
tánh chân thật vốn sẵn này, chứ không chỉ Longchen Rabjam.
Thật vậy, tất cả các bậc thầy chứng ngộ này là không
thể phân ly trong tâm Phật, rigpa, nó là cái vốn đã chứng
ngộ cũng như đang được chứng ngộ.
Ngay
trong thế giới này, và ngay hiện giờ, có nói rằng có nhiều
yogi ẩn dấu tích hay bí mật, tiếng Tây Tạng gọi là bepay
naljor. Nghĩa là những người đã chứng ngộ mà không thông
thường được biết như những hiền triết hay bậc thánh
vĩ đại, nhưng đã nếm sâu xa quả của giác ngộ, và đang
sống nó. Có lẽ họ đang làm một cách vô danh công việc
tốt đẹp của họ ở đây, giữa chúng ta ngay hiện giờ !
Pháp
giới bao la vô hạn này là bản tánh không thể nghĩ bàn của
chính mình. Ai có thể nói người này đã chứng ngộ nó và
người kia không có nó ? Khi chúng ta đi khắp thế giới hay
kinh nghiệm những chiều kích khác, có rất nhiều người đã
nếm trải nó. Chúng ta có thể thấy nó trong cách ứng xử
của họ, trong dáng điệu của họ, và trong những câu chuyện
được kể lại không chỉ trong truyền thống Đại Toàn
Thiện hay truyền thống Phật giáo, mà trong mọi truyền thống,
và trong thế giới Tây phương của chúng ta nữa.
Thật
tánh này thì bao la và không thể quan niệm nổi đến độ
ngay một số chim chóc và thú vật và chúng sanh trong những
chiều kích không thấy được khác có thể nói là đã chứng
ngộ nó, như trong một số câu chuyện Bản Sanh và những chuyện
kể khác của Ấn Độ thời cổ. Nó luôn luôn nói rằng mọi
sự là sự phô diễn tự sáng tỏ của Phật Samantabhadra bổn
nguyên. Có hằng hà sa số chư Phật và hằng hà sa số chúng
sanh. Ai có thể nói người nào ở ngoài nó ?
Trong
những tantra Đại Toàn Thiện, cái thanh tịnh bổn nguyên vô
cùng này (kadak) được giải thích rõ ràng, gồm mọi sự vật
và mọi chúng sanh. Theo các tantra, rất quan trọng cần trau
dồi và thực hành cái nhìn toàn cảnh thiêng liêng, cái nhìn
thấy thanh tịnh này : nhận biết mọi sự vốn toàn thiện,
toàn hảo tự bản chất, không thấy có một số chúng sanh
như là thấp và mê, và một số chúng sanh khác là cao, tiến
hóa hơn, là giác ngộ ; thấy biết tất cả chúng sanh là thành
phần của mạn đà la vô biên này của Đại Toàn Thiện bổn
nhiên.
Nếu
bạn gặp một vị thầy đại diện dòng phái và truyền thống
Đại Toàn Thiện, đây cũng là một quan niệm thiên kiến ;
nó là một may mắn phước đức, nhưng nó vẫn còn là một
ý niệm giới hạn. Không cần thiết gì xem là quá nghiêm trọng
ý niệm rằng một lama đại diện cho Đại Toàn Thiện hay
Đại Ấn, còn những vị thầy và người ta ở chỗ khác thì
không, như thể là những chúng sanh khác chẳng ăn nhằm gì
với Đại Toàn Thiện. Cái nhìn thấy thiêng liêng đích thực,
cái tri giác thanh tịnh thường được nói đến trong con đường
Mật thừa, ngụ ý rằng chúng ta có thể và cần phải thấy
mọi sự là thanh tịnh toàn thiện và tốt đẹp bẩm sinh ;
tất cả, vượt khỏi tốt và xấu, thì rốt ráo viên mãn
như vốn là, dù chúng biểu hiện trong chốc lát ; bởi vì,
vượt ngoài sự bám chấp nhị nguyên, mọi sự đơn thuần
là sự phô diễn của pháp tánh, thực tại tuyệt đối, tánh
Như. Nó là sự tự phô diễn hay là sự tự rạng rỡ của
rigpa, của Phật Samanta-bhadra. Nó là sự tự âm vang như tiếng
vang dội của pháp tánh, trạng thái tuyệt đối của tất
cả chúng sanh. Tất cả chúng ta đều không hề lìa khỏi nó.
Những
yogi Đại Toàn Thiện chân thực có một tấm lòng và tâm thức
rộng mở, tùy thuận, không loại trừ cái gì ra khỏi mạn
đà la toàn thiện của cái thấy biết thanh tịnh của họ.
Tràn đầy trí huệ, tình thương không điều kiện và thiện
cảm, họ không cần chọn lấy một cách thức riêng biệt
nào để thấy hay hành động, họ không cần khước từ và
chối bỏ bất cứ điều gì. Đây gọi là hoạt động tự
nhiên, hay thoải mái vô tư, của Đại Toàn Thiện. Nó không
phải là một cái gì chúng ta có thể dễ dàng bắt chước.
Tuy nhiên với bất kỳ mức độ nào chúng ta có thể nhận
biết và tham dự trong nó, lợi lạc lớn lao lưu xuất, cho
chính mình và cho những người khác.
Khởi
điểm một bài ca kim cương, tôi đã hát, “Tán thán hai mươi
lăm đạo sư của con.” Tôi có hai mươi lăm vị bổn sư từ
ái cũng như nhiều vị thầy khác, bắt đầu với Khenpo Ngakga
danh tiếng, đại đệ tử của Patrul Rinpoche, và đệ tử của
Khenpo Ngakga là Nyoshul Shedrup Tenpai Nyima, vị guru gốc của cá
nhân tôi. Những vị lama này đối với tôi là hiện thân của
tất cả những phẩm tính giác ngộ tuyệt hảo được nói
trong kinh điển, tantra và luận.
Bắt
đầu bài ca này về tánh Không vĩ đại, tôi hát “Kính lễ
đạo sư vĩ đại Longchen Rabjam, không tách lìa với những
bổn sư của con, những vị nhận biết pháp giới bao la vô
hạn của tánh giác, đặc biệt là Shedrup Tenpai Nyima, mặt
trời và mặt trăng của sự học và thành tựu tâm linh. Với
các ngài con xin tôn kính và lễ lạy. Dưới chân sen của các
ngài con tôn kính và lễ lạy.”
Tôi
cảm thấy biết ơn, thờ kính và quy ngưỡng với những đạo
sư kim cương vinh quang này, những vị tổ và những bổn sư
của tôi, các ngài cho tôi mọi thứ : không chỉ lời dạy
tâm linh và sự hướng dẫn cá nhân, mà còn thức ăn, quần
áo và sự bảo bọc trong thời nhỏ tuổi. Tôi không bao giờ
có thể trả hết sự biết ơn với các ngài.
Thật
ra, sự biết ơn với những vị thầy và dòng phái và những
bổn sư đi trở lại tới chính Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài
quá bi mẫn xuất hiện trong thế giới này để chỉ dạy và
giải thoát cho chúng ta. Đức Phật là vị thầy của tất
cả vị thầy. Mọi phẩm tính tích cực khởi lên trong dòng
đều nhờ lòng tốt của ngài và giáo lý của ngài, Phật
pháp thiêng liêng.
Sự
biết ơn và tôn kính đầu tiên là cho những người gọi là
“những vị ở trên.” Điều này ám chỉ đến những vị
trong quá khứ hay những vị cao hơn, tiến hóa hơn như dòng
các bổn sư và chư Phật. Sự biết ơn thứ hai là cho những
người ngang với chúng ta, đặc biệt quan trọng nhất, người
mẹ yêu dấu của mình trong đời này, người đã sanh ra cuộc
đời làm người quý báu này, thân thể này với tất cả
những rãnh rỗi, may mắn, phú bẩm và khả năng của nó, gồm
cả sự gặp gỡ và thực hành sự giải thoát gọi là Phật
pháp.
Mọi
tán thán, tôn kính và biết ơn cho bà mẹ của tôi, Chodzom
Palsang, người cho tôi cuộc đời, cho tôi thân thể, người
nuôi nấng tôi ngày đêm khi tôi còn là một đứa bé không
đủ sức tự túc, người nuôi tôi lớn lên, là vị thầy
đầu tiên của tôi, và dạy dỗ tôi những cách thức của
thế giới, gồm cách nào làm những việc nhỏ nhất mà không
có chúng thì tôi không thể còn sống đến ngày nay. Bà mẹ
của tôi sanh ra thân thể con người này được phú bẩm với
tám điều tự do và mười khả năng. Người ta có thể đọc
những điều này trong những bản văn Lam Rim khác nhau, giải
thích những thực hành sơ khởi.
Tôi
viết Tấm Gương Của Những Điều Thiết Yếu khi tôi ở Dordogne,
sau khi ở Pháp đã năm, sáu năm, để kể cho bà mẹ sùng mộ
của tôi về điều đã xảy ra cho đứa trẻ lang thang của
bà, nó đã đến những xứ sở ngoại quốc nơi người ta
bay trên trời trong những con chim màu bạc và du hành trên mặt
đất và mặt biển trong những máy móc quyền năng ; nơi có
rất nhiều màu sắc và kinh nghiệm đủ loại ; nơi có mọi
loại đàn ông và đàn bà đủ màu sắc, to lớn và nhỏ bé,
nơi một số người mặc hàng trăm áo quần như đồ trang
sức cho thân thể họ, và những người khác mặc những đồ
chật cứng hay đi trần truồng trên bờ biển ; trong khi tôi
lang thang với không gì khác hơn những áo, khăn bọc bên ngoài
màu vàng cam đã cũ và một mũ rơm che cho cái đầu trọc nhăn
nheo khỏi nắng ; nơi có những bộ máy cao hàng trăm lần cây
cối, những buy đinh xuống đến hàng trăm mét dưới mặt
đất, và người ta đi trong những con tàu siêu tốc, những
máy bay siêu thanh, trong những tàu ngầm nguyên tử ; nơi những
nhà khoa học hình như có quyền kiểm soát ngay cả mặt trời
mặt trăng mọc, và có thể chơi với năm đại đất, nước,
lửa, gió và không gian như các chư thiên, như những nhà
huyễn thuật, bay đến mặt trăng, ngay cả đi đến mặt trời
; nơi người ta giàu quá sức tưởng tượng, và người nghèo
không ai giúp đỡ ; người ta có quá nhiều kinh nghiệm như
mộng khác nhau ; những điều thích thú người ta chưa bao giờ
nghe, mơ tới, cũng không tin nổi ở Tây Tạng ; và người
ta có vẻ lạc mất trong bóng tối của mê lầm, cũng như rất
nhiều người ở Tây Tạng và Ấn Độ, có hay không có lợi
lộc vật chất còn khát khao hòa bình, hài lòng và thỏa
nguyện, thiếu vắng bình an và chứng ngộ tâm linh.
Tôi
đã thấy rất nhiều loại phô diễn khác nhau đến nỗi người
ta không thể diễn tả ra hết. Nhưng nếu bạn thấy cái ấy
rõ ràng và có một cái nhìn sáng tỏ về nó, tất cả những
trò phô diễn khó tin, thần diệu ấy chỉ là sự phô diễn
như mộng của tâm thức mình. Nó chỉ là vấn đề của tri
giác thấy biết của mình, như thế nào người ta kinh nghiệm
những sự vật, giống như một ly nước được thấy bởi
một con cá nhỏ sống trong ấy như căn nhà của nó, thì rất
khác với cái nhìn của con người chúng ta.
Dầu
kỳ lạ bao nhiêu, khi người ta nhận biết mọi sự như là
sự phô diễn hay phóng chiếu của tâm thức chính mình, khi
chúng ta thấy rằng mọi tri giác tùy thuộc vào nghiệp của
mình, bấy giờ người ta không còn kinh ngạc, bởi vì người
ta hiểu những sự vật hoạt động thực sự như thế nào,
và chúng là thế nào, và chúng ta có thể sống một cách hòa
bình, đánh giá mọi sự đúng như chúng là. Có rất nhiều
sự vật để thấy. Nhưng thật sự chúng là gì ? Đấy giống
như một giấc mộng, một ảo ảnh, một ảo tưởng, một
ảo giác huyễn thuật. Vài giấc mộng kéo dài một trăm năm
và rồi tan biến. Vài giấc mộng kéo dài một phút hay một
giờ rồi tan biến. Những giấc mộng khác có hình sắc cụ
thể và có vẻ tồn tại lâu trước khi tan rã.
Mọi
sự rốt ráo được giải quyết trong bản tánh tuyệt đối.
Trong những hiện tượng như mộng như vậy, có cái gì để
nhận chọn hay bám níu ? Có cái gì để phán xét ? Có cái
gì để chối từ hay buông bỏ ? Không có cái gì để cầm
lên hay thả xuống. Khi bạn thức tỉnh khi bạn nhận biết
bản chất như mộng của mọi hình tướng có cái gì để
làm ? Đấy chỉ là một giấc mộng thì sao ? Không có cái
gì nữa để làm trong đó, ngoài việc biết người đang mộng,
người biết. Rốt ráo, ai là người đang mộng ?
Đại
thành tựu giả Saraha nói, “Trong mười phương, có cái gì
để tạo tác, để trông chờ hay để làm ? Hãy nhận biết
sự vô tự tánh và không thực tại của mọi hiện tượng
giả ảo.” Mọi sự là tự do, như chúng là. Với nó có cái
gì để làm đâu ?
Ở
ngoài, nó là vậy ; ở trong nó cũng là vậy. Bên trong là một
trò phô diễn không ngừng, như phim ảnh của namtok, những
tư tưởng và ý niệm diễn dịch, phải thế không ? Bên trong,
cái gì là nền móng cho sự phô diễn của những hiện tượng
tâm thức là namtok ? Chúng đến từ đâu ? Chúng trú ngụ ở
đâu một cách tạm thời và đi đâu hay tan biến ở đâu ?
Chúng là cái gì ? Tư tưởng hay ý niệm là cái gì ? Hãy khảo
sát điều ấy ở bên trong, quan sát tâm thức, như người
ta khảo sát trò phô diễn huyễn thuật không cùng ở bên ngoài,
cảnh tượng như huyễn như mộng của thế giới thoáng qua
này.
Mọi
tư tưởng, cảm giác, tình cảm, tri giác, xúc giác, trạng
thái của tâm thức, mọi ý niệm v.v… giống như những đám
mây trên bầu trời tụ hội chốc lát rồi tan rã, biến mất
trong cũng không gian kia. Ích gì mà bám níu vào chúng ? Ích
gì mà cố gắng xua tan chúng ? Mọi sự là sự phô diễn như
huyễn như mộng kỳ diệu của tâm thức mình. Không có gì
đặc biệt để làm về sự ấy, chỉ trừ nhận biết bản
tánh trống không thực sự của nó, và tự do ở trong bất
cứ cái gì hình như có xuất hiện. Cần thiết gì khi phê
phán những tư tưởng và kinh nghiệm như là tốt hay xấu,
như thích hay không thích, có lợi hay bất lợi. Hãy để chúng
đến và đi đúng như chúng là, không trở nên dính dáng quá
mức, không đồng hóa với bất cứ cái gì, cũng không nuông
chìu chúng bằng cách theo chúng cũng không đè nén hay cấm
đoán chúng. Đơn giản hãy để cho mọi sự bên trong và bên
ngoài khởi hiện và biến mất trong đường lối của riêng
chúng, như những đám mây trên bầu trời, và hãy ở bên trên
và vượt trên tất cả, ngay giữa những hoạt động và trách
nhiệm hàng ngày của mình.
Có
nhiều thứ để làm trong thế giới này, nhưng chỉ có một
điều người ta cần phải biết, đó là bản tánh thực sự
của mình. Đấy là phương thuốc vũ trụ, món thuốc bá bệnh
chữa lành mọi bệnh hoạn. Cái gì có đến, thì có đi. Tự
tánh mình, hiện thể nền tảng chân thật của mình, thì vượt
khỏi hay không bị ảnh hưởng bởi những vết nhơ ngoại
sanh hay những hiện tượng tạm thời. Nó không đến không
đi ; nó vĩnh hằng bất động. Nhận biết nó, thì tính chất
siêu việt nội tại bẩm sinh được chứng nghiệm. Bấy giờ
sanh tử và niết bàn không trình diện hy vọng hay sợ hãi
cho hành giả ; nhị nguyên thôi có thể đạt được. Không
có cái gì để hướng tới, không có cái gì để trở lui.
Như
Guru Rinpoche đã nói, như Tilopa và Naropa đã nói, như đại
thành tựu giả Saraha đã nói, “Với những vật bên ngoài,
hãy điềm nhiên không lưu tâm. Với những vật bên trong (tự
thân chủ thể) hãy điềm nhiên không lưu tâm. Không nhìn thấy
ngoài cũng như trong, hãy để nó như nó là trống không,
tự do và lồng lộng. Chẳng phải vật bên ngoài trói buộc
chúng ta, mà là sự bám chấp bên trong làm vướng mắc chúng
ta.”
Đây
là giáo huấn cốt lõi tinh yếu của các đại thành tựu giả
Ấn Độ và những yogi thành tựu của Tây Tạng. Nó căn cứ
trên những lời dạy của chính Phật Thích Ca, ngài nói rằng
gốc rễ của tất cả khổ đau là sự bám chấp, luyến ái.
Không có lời dạy nào hơn điều này. Đây là gốc rễ của
tất cả. Đây là nguyên lý đàng sau tất cả nhiều giải
thích khác nhau.
Nhục
dục không nằm trong những sự vật, nó ở trong tâm thức
tham muốn, trong chính sự tham muốn. Tham muốn phong gán cho
những đối tượng bằng dục vọng, nhục dục, và giá trị.
Mặt khác, thì cái gì là đáng tham muốn một cách tối hậu
? Mọi sự nương dựa vào tâm thức, vào sự bị quy định
của mình ; cái một người tham muốn và mong mỏi thì đối
với người khác có thể là ghê tởm và chẳng có chút giá
trị gì. Thật rõ ràng, phải không ?
Bởi
thế, dù bất cứ giáo lý gì người ta đã nhận, hãy ở trong
tánh Như, tánh Không lớn rộng và cái rỗng rang sáng tỏ,
vượt ngoài bám níu và trụ nắm. Đây là ngưỡng cửa của
kinh nghiệm về bản tánh chân thật của Đại Toàn Thiện
bổn nhiên, Đại Không : vượt khỏi ý niệm và cố gắng,
mở ra với sự không cố gắng của tự do thật sự và hiện
thể vô ngại đích thực.
Một
số người có thể hiểu lầm và hỏi : Vậy thì việc gì
phải phiền hà với những hành động đức hạnh và tích
tập công đức hay giúp đỡ những người khác ? Tại sao phát
sinh từ và bi ? Những người khác có thể nghĩ : Tại sao không
tiếp tục thực hiện những hành động xấu, bởi vì trong
tánh Không mọi sự đều bình đẳng ? Đây là một hiểu sai
trầm trọng. Đây là một hiểm nguy, một sự trệch hướng
khỏi cái thấy. Đây là chủ nghĩa hư vô, đoạn diệt, nơi
vực thẳm há miệng của cái Không giả hiệu đang mời gọi.
Khi
người ta chứng ngộ trạng thái tự nhiên, bản tánh tự nhiên
của tất cả chúng sanh, bấy giờ tự nhiên có sự triển
nở của lòng bi, lòng từ, ân cần và thiện cảm, bởi vì
người ta chứng ngộ rằng không có một cái bản ngã tách
rời với những người khác. Khi ấy người ta đối xử với
những người khác như với chính mình. Không có nguyên nhân
cho mối ác cảm, luyến bám, hay lợi dụng. Sự chứng ngộ
tâm linh đích thực sẽ tự nhiên kèm theo những phẩm tính
không thể nghĩ bàn như bi, từ và sự trợ giúp. Mỗi người
được thấy như là chính mình, không phải một thực thể
thường hằng mà là một khối kết nối những lực lượng
tạm thời và bị quy định bởi nghiệp. Thế nên người ta
làm vơi cạn khổ đau và khốn khổ bất kỳ khi nào chúng
xuất hiện, bên trong hay bên ngoài, cho chính mình hay cho những
người khác. Tại sao bạn không thể nhỉ ? Không ai muốn khổ,
đúng không ?
Khi
bạn chứng ngộ thật tánh của mọi sự, làm sao bạn có thể
không có lòng bi tự nhiên và khó tin đối với tất cả những
ai chưa chứng ngộ nó ? Tất cả chúng sanh đều ước ao hạnh
phúc, tuy nhiên do vô minh, nên vẫn tiếp tục tạo thêm những
khổ đau nữa cho chính mình. Một nguyên nhân quá đỗi cho
lòng bi ! Chúng sanh thấy cái lợi lạc là vô ích, và không
biết nó. Một nguyên nhân nào hơn cho lòng bi ! Nơi nào có
khổ đau và mê lầm khởi lên, lòng bi khởi lên để giải
thoát và làm nhẹ cho chúng sanh sự khổ đau từ mê lầm đó.
Đấy là sự tuôn trào tự nhiên của sự chứng ngộ đích
thật bản tánh chân thật.
Nó
cũng giống như khi người ta thấy những đứa bé chạy ra
đường, người ta tự nhiên phóng ra để cứu chúng khỏi
bị xe đụng. Đó không phải là một vấn đề để suy nghĩ.
Đó không phải là vấn đề chúng là con của ai. Người ta
chỉ tự nhiên đáp ứng. Đây được gọi là lòng bi, nhưng
không phải là một lòng bi được ý niệm hóa. Nó chỉ là
một hành động thích hợp, sự lành mạnh căn bản. Đây là
thái độ giác ngộ tự phát, lòng bi tự nhiên, là kết quả
của chứng ngộ thật sự.
Trong
những giáo huấn cốt lõi tinh yếu này có nói rằng khi người
ta nhận biết chân tánh, hay thấy biết khuôn mặt xưa nay của
mình, ngay cả một người có khuôn mặt chó, ngay cả một
người có khuôn mặt sư tử, cũng trở thành Phật ngay trong
đời này. Ngay cả một người mù chữ, một người học rộng,
đều trở thành Phật ngay trong đời này. Điều này nghĩa
là không có những tiên quyết đặc biệt nào cho sự chứng
ngộ, chỉ có một sự thấu qua toàn triệt, nó không cần
dựa vào học vấn, mộ đạo, địa vị hay uy tín.
Xin
chớ nghĩ chúng ta ở đây trong thế giới này một thời gian
lâu. Đây là một cuộc gặp gỡ rất ngắn ngủi. Và tuy nhiên,
đây là khoảnh khắc của Đại Toàn Thiện ; nó vượt khỏi
sự kéo dài, siêu vượt thời gian và không gian. Chúng ta có
sự tiếp xúc đầy phước đức với một giáo lý và một
cơ hội để thực hành. Đấy không chỉ là hạt giống đã
được gieo, bởi vì người ta có thể thực sự kinh nghiệm
quả ngay lúc này. Nếu người ta thực sự đã chín muồi hay
đi sâu vào thực hành, đây là khoảnh khắc ấy ; nó không
phải ở tương lai. Chớ nghĩ người ta cần thời gian thêm
nữa. Nó là vấn đề thực hành ngay lúc này.
Suy
nghĩ về những lời dạy không nhất thiết có nghĩa là bạn
phải nghiên cứu những thứ băng đĩa và sách vở đã gom
góp được. Chỉ suy nghĩ về bất cứ điều gì còn đọng
lại trong tâm thức từ những lời dạy này, ngay dù nó chỉ
là một chủ đề hay lời nói nhỏ nhất, như vô thường,
hay vô tự tánh, hay như mộng. Bởi vì thời gian thực hành
không phải là thời gian để lãng phí hay đùa cợt. Người
ta cũng có thể đùa cợt một cách trí thức với những nghiên
cứu, những tranh luận và sách vở, chúng có thể cung cấp
thích thú lớn lao, nhưng cũng chỉ là một sự xao lãng, phóng
dật, chỉ là những hình thức hý luận của sự đùa cợt.
Mọi
người thích không làm gì và hưởng thụ. Bản thân tôi ưa
nghiên cứu hàng trăm ngàn bài kệ vinh quang của những giáo
lý Đại Toàn Thiện. Tuy nhiên, nghe băng không phải là cách
thức rốt ráo để chứng ngộ Đại Toàn Thiện. Đôi khi một
số nghiên cứu chỉ làm tăng thêm tính diễn dịch và làm
sanh thêm nghi ngờ và những câu hỏi rắc rối. Bấy giờ chúng
ta có thêm nhiều thẩm xét, trong khi ngay giờ đây chúng ta
có thể giải quyết tất cả những nghi ngờ và vấn đề
có thể có chỉ bằng thực hành.
Khi
chúng ta biết làm thế nào để thực sự thực hành và thiền
định, không cần gì phải tìm kiếm những đường lối khác
để làm và những lời dạy khác về chuyện đó. Rất thú
vị có nhiều loại giáo lý khác nhau, nhưng nếu chúng ta muốn
thực sự cắt đứt gốc rễ nhị nguyên, chúng ta cần áp
dụng sự thực hành vào chính chúng ta ngay hiện giờ, không
phải lúc nào khác trong tương lai, sau khi đã sưu tầm mọi
lời dạy có thể có về chủ đề.
Tôi
đã cố gắng rất khó khăn suốt toàn bộ đời tôi để nhận
được mọi trao truyền và lời dạy từ hai mươi lăm vị
thầy Tây Tạng giác ngộ của những dòng phái khác nhau. Nhưng
thật ra, tất cả điều chúng ta cần biết là làm sao thiền
định và đưa những điều ấy vào thực hành.
Nếu
một ít lời khuyên chân thành này có thể làm lợi lạc và
tỏ ra ích dụng cho bạn, thì tất cả những công sức suốt
đời của tôi là có ý nghĩa. Một vài cá nhân có thể nghĩ
rằng Đại Toàn Thiện chỉ là một loại ngưỡng mộ khác
hay phiêu diêu ngoại lai xa lạ. Nếu có nhiều tranh luận, tỷ
giảo tôn giáo, chẻ sợi tóc làm tư về triết học, và so
sánh, có lẽ những cố gắng của tôi là vô ích.
Tôi
mong rằng bạn hiểu điều tôi đang cố gắng nói. Hãy thực
hành tốt, và lợi dụng những khoảnh khắc này và những
lời dạy này. Nguồn gốc là tin vào Tam Bảo : ba cấp độ
hiểu biết bên ngoài, bên trong và bí mật về Phật, Pháp,
Tăng. Sùng mộ hiến dâng và lòng bi cũng có thể cực kỳ
hữu ích, bởi vì chúng làm hiển lộ sự tươi mới của bản
thân tánh giác, và nâng cấp sự hiển lộ lộng lẫy vinh quang
của rigpa. Chớ bỏ qua tính chất trợ giúp nâng đỡ của
những thực hành tương đối. Hãy dùng bất cứ thứ gì có
ý nghĩa và thực tế khả thi cho bạn.
Không
có ai khác có thể thực hành cho bạn. Nó phải thích hợp
với chính bạn, không phải là một bắt chước sự thực
hành của ai khác, dầu bề ngoài nó có vẻ tốt đẹp bao nhiêu.
Xin hãy làm sáng tỏ những sự việc cho chính bạn, càng nhiều
càng tốt. Bấy giờ mọi việc sẽ hoàn mãn.
Sarva
mangalam. Nguyện mọi sự đều tốt lành !
8 Tấm
Gương Kim Cương của Tỉnh Giác
Một
bài ca tự phát
Dordogne,
Pháp 1982
Nhóm
dịch thuật Padmakara
Đảnh
lễ vua thống ngự bên trong : tỉnh giác tự hữu.