GÍAO
LÝ
2
Phật Pháp Căn Bản
Một
thuyết giảng ở Vương quốc Bhutan
Lama
Matthieu Ricard dịch
Hiện
giờ nhiều người nhận được một nền giáo dục hiện đại,
làm sắc bén trí thông minh của họ, và thu hoạch một số
kiến thức. Họ mở tâm trí ra với hiện trường bao la của
kiến thức khoa học và những phương pháp rèn luyện khác.
Đồng thời, nhiều người trong họ, sau khi hoàn tất học
tập, đã hỏi, “Pháp là gì ?”
Dù
họ sống trong một đất nước Phật giáo, nhiều thanh niên
nam nữ ở đây không có dịp may tìm ra Phật pháp nói về
cái gì và dùng nó để có lợi ích gì. Đối với nhiều người,
Pháp là nhận những quán đảnh nhập môn và ban phước từ
những lama, cúng dường đèn sáp, đi nhiễu tháp và chùa, mặc
y và những hoạt động bên ngoài tương tự. Làm điều này
thực ra là công đức và chỉ ra sự quan tâm chung của dân
chúng với tôn giáo, nhưng đấy chỉ là những cành nhánh của
Pháp ; chúng không phải là điểm chánh. Có một cái bình nghi
lễ được đặt trên đầu quả thật là một ban phước,
nhưng đó không phải là cái chúng ta gọi là thánh Pháp.
Bấy
giờ, cái gì là nhu cầu hướng đến Pháp ? Để trả lời
câu hỏi này, trước tiên chúng ta phải nhìn chung quanh và
suy nghĩ về tình trạng của chúng ta trong thế giới này. Nếu
chúng ta làm như vậy mà không che mù mình với sự thật, chúng
ta tìm thấy một điểm chính yếu, chung cho tất cả chúng
sanh : khổ đau và không toại nguyện.
Mọi
người đều khổ đau trong cách này hoặc cách khác. Một người
lãnh đạo có những vấn đề của người lãnh đạo, một
công nhân có những vấn đề của công nhân. Khi các bạn thấy
một người lãnh đạo đi qua đường phố, các bạn có thể
nghĩ, “Ông ta đã đạt đến hàng cao cấp, ông ta có một
ngôi nhà tiện nghi, một chiếc xe đẹp, và v.v… Ông ta phải
là một người hạnh phúc.” Nhưng hoàn toàn không phải như
thế. Người lãnh đạo ấy khổ đau. Ông ta lo âu mất địa
vị, hay ông ta có quá nhiều việc, hay ông ta khổ sở bởi
ham muốn trở thành một nhà lãnh đạo của thế giới, hay
gia đình ông ta không hạnh phúc… Người công nhân phải chạy
đây chạy đó, có công việc chán ngắt, và được trả ít
tiền. Ngay cả tổng thống của một siêu cường quốc cũng
lo âu vì sợ không được tán thành, vì không thành công khi
đặt ảnh hưởng của mình lên thế giới… dầu ông ta có
thể làm thế, ông ta cũng bị khổ sở vì cần thiết phải
giữ mọi việc trong vòng kiểm soát.
Có
một giải pháp tối hậu cho những vấn đề này không ? Trong
thế giới bình thường không có. Các bạn có thể nghĩ rằng
nếu các bạn cho một người ăn xin 1 triệu đô la sẽ làm
cho người ấy hạnh phúc. Nhưng hoàn toàn không ! Nếu người
ấy có 1 triệu đô la, anh ta ước lượng đã đủ cho ăn mặc,
nhưng rồi anh ta còn muốn 2 triệu ! Không có ai thỏa mãn lâu
dài với sự giàu có và quyền lực thế gian. Điều này bởi
vì người bình thường bị mê lầm ; họ không biết cái gì
là giàu có đích thật, quyền lực chân thật, sự mãn nguyện
lâu dài thật sự. Như Nagarjuna nói, “Bằng lòng là sự giàu
có thật sự.”
Một
người giàu có thể không bao giờ hoàn toàn hạnh phúc. Trước
hết người ấy bị ám ảnh có được giàu có, rồi bị ám
ảnh bảo vệ và tăng thêm nó. Hơn nữa, có bao nhiêu người
hiện nằm liệt giường trong các bệnh viện, chết vì đói
hay chiến tranh ? Có biết bao nhiêu gia đình tan tác vì xích
mích, và rốt cuộc là cái chết ? Điều ấy không xảy ra
bây giờ cho các bạn, nhưng ai biết đâu ?
Dù
cho thế giới hiện đại đã phát triển khoa học và kỹ thuật
đến một mức độ không thể tưởng tượng nổi, tuy nhiên
không có máy móc nào, phương pháp đặc biệt nào, viên thuốc
đặc biệt nào có thể cất đi khổ đau và phát sinh hạnh
phúc lâu dài. Thế mà trừ tuyệt khổ đau là mục tiêu của
thánh Pháp và không chỉ những triệu chứng của khổ đau,
mà là nguyên nhân sâu xa nhất của nó.
Những
giáo lý thực hiện một mục đích cao cả như thế bằng cách
nào ? Lý do thật sự khiến người ta khổ đau không tìm thấy
ở bên ngoài, mà chính trong bên trong họ. Chúng ta khổ đau
vì tham bám, ham muốn, giận dữ, ác cảm, kiêu mạn, ghen tỵ
và mê lầm mọi loại thuốc độc thuộc về tâm thức.
Bởi thế, chánh pháp được làm trên tấm lòng và tâm thức.
Tâm
thức thì rất quyền năng : nó có thể tạo ra cả khổ đau
và hạnh phúc, thiên đường và địa ngục. Nếu với sự
trợ giúp của những giáo lý và thực hành tâm linh, các bạn
hàng phục chính những độc bên trong, những thức tình xung
đột của các bạn và vượt khỏi vô minh hạn hẹp, bấy
giờ không bao giờ có cái gì có thể làm hại hạnh phúc của
các bạn. Nhưng chừng nào những độc này còn cắm neo trong
tâm thức các bạn, thì không ở đâu trong thế giới này có
thể tìm ra cái ước muốn vĩ đại nhất là hạnh phúc. Cho
dù bạn đi bất cứ nơi đâu, những phóng chiếu và điên
đảo của chính các bạn vẫn theo đến đó.
Làm
việc trên tâm thức là một chủ đề rất rộng lớn ; thật
vậy, nó là chủ đề của toàn bộ Phật pháp. Trong bản chất,
lý do chính khiến tâm thức phát sinh những thức tình mê lầm
và những xúc động mãnh liệt của nó là sự bám chấp mạnh
mẽ vào Tôi và của tôi. Bởi vì sự bám chấp này, chúng
ta khổ đau khi chúng ta không đạt được điều “cái tôi”
muốn, và chúng ta khổ đau khi phải trải nghiệm điều “cái
tôi” không muốn.
Chính
qua việc thiền định trở đi trở lại về bản tánh như
huyễn và không có tự tánh của tâm thức, của bản ngã,
của tự ngã mà chúng ta dần dần có thể làm tan biến sự
chấp ngã. Trong mọi phương pháp để đạt tới kết quả
này, cái sâu xa nhất là thiền định về Bồ đề tâm
tình thương và lòng bi vô ngã. Tràn đầy tình thương với
tất cả chúng sanh và xem những người khác quan trọng hơn
chính chúng ta là cội gốc đích thực của Pháp, kết hợp
trí huệ và đại bi.
Chúng
ta cũng phải có niềm tin, sùng mộ và tin cậy. Niềm tin không
có nghĩa là tin mù quáng vào tôn giáo vì lama của chúng ta
nói thế. Niềm tin là một sự cảm kích chân thật và vui
sướng về những phẩm tính vô biên của giác ngộ, như Phật
hay bậc giác ngộ nào khác, nam hay nữ. Đó là sự nhận ra
cái khác biệt giữa một vị Phật thức tỉnh hoàn toàn, bi
mẫn hoàn toàn với một người bình thường, xao động và
rối rắm. Sự khác biệt này đơn giản là tâm của một vị
Phật thì sáng tỏ và thoát khỏi mê vọng, trong khi tâm của
người bình thường thì bị che tối. Có được sự xác quyết
trọn vẹn trong sự khác biệt này, và mong mỏi sâu sắc có
được trí huệ tỉnh giác của Phật, là cái chúng ta gọi
là niềm tin.
Vô
cùng chư Phật đời quá khứ, hiện tại và tương lai là những
đối tượng thích hợp của lòng tin. Nếu trong thời hiện
đại này, các bạn dâng hiến niềm tin của mình cho Guru Liên
Hoa Sanh, Padmasambhava, các bạn sẽ nhận những ban phước của
ngài. Ngài đã hứa rằng lòng bi của ngài cho chúng sanh của
thời đại đen tối này sẽ nhanh chóng hơn bất kỳ vị Phật
nào khác. Như ngài đã nói, “Ta luôn luôn ở bên cạnh, ngay
nơi ngưỡng cửa của lòng sùng mộ của các con.”
Đặc
biệt trong đất nước Bhutan này, người ta có thể thấy nhiều
bằng chứng về những ban phước của Guru Rinpoche. Nếu Guru
Rinpoche để lại những dấu chân, dấu tay của ngài ở Paro
Taksang, ở Tango, ở Bumthang Kuje, đấy không phải vì Guru Rinpoche
không tìm ra công việc nào khác để làm, hay chỉ tự giỡn
chơi với mình bằng những phép lạ. Đó đơn giản chỉ là
để lại những dấu hiệu thấy được của sự tinh thông
vô biên của ngài về tâm linh để giúp đỡ chúng sanh bằng
cách khơi cho họ đức tin và sùng mộ, và làm cho đáng tin
sự thật của lời ngài nói. Nếu bất kỳ ai ở đây nam hay
nữ xác nhận được cho chính mình chân lý của thông điệp
đức Phật, người nam hay người nữ đó ngay trong khoảnh
khắc này bình đẳng với Padmasambhava.
Hãy
đánh giá giá trị và cơ hội của đời sống làm người
này. Hãy cho đời sống đó có ý nghĩa chân thật, vì chính
các bạn và vì những người khác, bằng cách khai mở tất
cả cái gì trong chính các bạn. Hãy có niềm tin, lòng bi và
sùng mộ. Hãy tìm ra hạnh phúc ở bên trong : hãy chuyển hóa
tâm thức các bạn và thế giới bên ngoài tự chuyển hóa
nó một cách tự nhiên thành phúc lạc bất biến và không
có cái chết.
KHAI
TRIỂN THÁI ĐỘ ĐÚNG ĐẮN
Để
là một người nhận thích hợp những giáo lý thiêng liêng,
đòi hỏi đầu tiên này là có thái độ đúng đắn, hầu
có thể nhận nó trong một đường lối phù hợp. Chúng ta
cần phải nhớ rằng điểm chính yếu của Pháp là xử sự
với lòng và tâm, bấy giờ chúng ta nên tự chuẩn bị trong
một cách thức tương xứng. Để chuẩn bị tâm thức chúng
ta cần kiểm điểm thái độ của chúng ta : Tại sao chúng
ta đến đây để nhận lãnh những giáo lý ? Chúng ta mong chờ
gì ở chúng ? Đâu là động cơ của sự nhận lãnh những
lời dạy ? Khi chúng ta nhận những lời dạy, suy nghĩ về
ý nghĩa của điều chúng ta vừa mới nhận thì quan trọng
hơn bản thân những lời nói. Những lời, chữ có thể rất
đẹp đẽ, uyên bác, rất thơ, nhưng đó chỉ là mặt ngoài
của giáo lý. Cái quan trọng là ý nghĩa của chúng, thật nghĩa
của chúng.
Để
có thể nắm lấy ý nghĩa, trước tiên chúng ta phải xoay tâm
thức mình vào bên trong, kiểm điểm động lực của chúng
ta, và trở nên mẫn cảm với những lời dạy, bằng cách
mở lòng và tâm của chúng ta. Xoay tâm thức chúng ta vào trong
thì rất quan trọng. Cho đến bấy giờ, vì vô minh, chúng ta
đã lang thang lòng vòng từ vô thủy trong sanh tử, tâm thức
chúng ta thường trực phóng ra những hiện tượng bên ngoài.
Bởi thế, bước đầu tiên là xoay lại vào trong, kiểm điểm
thái độ của chúng ta, và trở nên tỉnh giác ở đây và
bây giờ điều tâm thức đang làm, những thái độ nó đang
có nói chung, tỉnh giác với những công việc của tâm
thức của chính chúng ta.
Chúng
ta có thể tự xem mình là Phật tử. Trong một cách nào, điều
đó là tốt, vì những giáo lý Phật giáo thì cực kỳ rộng
lớn và ân phước. Tuy nhiên, chúng ta không nên có một cái
nhìn giới hạn và chật hẹp về điều đó. Nghĩ mình là
Phật tử có nghĩa là gì ? Có phải nó chỉ là một cách khác
cho sự ích kỷ của chúng ta để làm cho chúng ta cảm thấy
cao hơn những người khác trong thế giới này ? Có phải chúng
ta thực sự là những Phật tử, những bồ tát, những người
thực hành tâm linh hay có lẽ chỉ theo tổ tiên chúng ta,
không có gì ngoài sự giống nhau bên ngoài với những tín
đồ thực sự của đức Phật toàn giác ? Chúng ta nên có
một tâm thức rất rộng mở, và nhìn xem hay hơn nữa,
hiểu biết tất cả những Pháp khác nhau, những tôn giáo
và triết học khác nhau trong thế giới này. Ngay sự hiểu
biết này cũng còn rất hạn hẹp, vì không chỉ có thế giới
này mà còn có hàng tỷ vũ trụ khác. Để cho mỗi hệ thống
thế giới ấy, từ lòng bi của Phật, có những giáo lý để
giải thoát khác nhau.
Tương
tự, vì số chúng sanh là vô cùng, thế nên những phương pháp
để đưa chúng sanh đến mục đích tối hậu cũng vô cùng.
Tất cả những giáo lý ấy tham dự vào việc chứng ngộ chân
lý tuyệt đối, trạng thái tự nhiên của tất cả các hiện
tượng, đó là cái hiểu biết tối hậu. Nhưng bởi vì những
chúng sanh khác nhau có những khả năng, khuynh hướng và nguyện
vọng khác nhau, thì cũng có những phương tiện khác nhau để
dẫn họ đến sự thấu hiểu tối hậu. Bởi thế, chớ nên
có một quan điểm chật hẹp chỉ nhìn thấy tôn giáo riêng
của các bạn, hay ngay chỉ vũ trụ của các bạn, mà hãy cố
gắng rất khoáng đạt và thấu hiểu có vô cùng chúng sanh,
vô số đường lối tiếp cận khác nhau và giáo lý khác nhau
dẫn đến mục tiêu tối hậu. Chúng ta cần có một thái độ
rất rộng rãi và trống thoáng và cởi mở với mọi hình
thức của chân lý, tất cả những con đường khác nhau có
thể đưa dắt chúng sanh đến sự thấu hiểu rốt ráo.
Ý
nghĩa của việc có một tâm cởi mở như vậy là để thấu
hiểu rằng có rất nhiều biểu lộ khác nhau của chư Phật
để gặp gỡ những nhu cầu của mỗi một chúng sanh. Những
bậc giác ngộ có thể biểu lộ trong rất nhiều hình thức
khác nhau, trong rất nhiều cảnh giới hiện hữu khác nhau,
lưu xuất theo những chiều kích pháp thân, báo thân hay hóa
thân của tâm Phật. Tất cả những cách thức để làm lợi
lạc cho chúng sanh này là để giúp đỡ chúng ta chứng ngộ
bản tánh tối hậu của tâm thức.
SỨC
MẠNH CỦA MÊ LẦM
Trong
mọi vũ trụ vô cùng này và trong tất cả chúng sanh, yếu
tố chung là họ đều có một tâm thức, tỉnh giác, một hình
thức ý thức nào đó phân biệt họ với vật chất vô tri.
Và đối với mỗi chúng sinh, tâm thức bị rơi vào quyền
lực của mê lầm. Cách tốt nhất để giúp đỡ chúng sanh
là xóa sạch mê lầm nhờ những phương pháp thiện xảo khác
nhau và những giáo lý đưa đến sự chứng ngộ bản
tánh tuyệt đối của tâm thức.
Một
khi chúng ta trở nên rõ ràng tầm bao quát vô lượng của thời
gian và không gian, những con số vô cùng của những vũ trụ,
chúng sanh và chư Phật, bấy giờ cuộc đời của riêng chúng
ta có vẻ ngắn ngủi như một tia chớp trong bầu trời. Không
chỉ cuộc đời chúng ta, mà vũ trụ riêng biệt này cũng chỉ
là một khoảnh khắc thoáng chốc, dù cho nó có hiện hữu
hàng tỷ năm ; vì nó cũng giống như một giây ngắn ngủi
so với sự vô cùng của toàn thể vũ trụ. Viễn cảnh rộng
lớn này sẽ dẫn chúng ta đến sự tỉnh giác sống động
và rất hiện tiền về tánh vô thường và thoáng chốc của
cuộc đời chúng ta. Hơn nữa, trong ánh sáng của vô cùng,
chúng ta sẽ thấu hiểu những khuyết điểm và giới hạn
của cuộc đời sanh tử, bị điều kiện trói buộc này. Cởi
mở mình ra với những cái vô cùng này, chúng ta tỏ biết
rõ ràng những giới hạn của chúng ta, những thăng trầm của
hiện hữu bị điều kiện hóa, tính vô thường ngắn ngủi
thay là một cuộc đời và thời gian của chúng ta. Chúng ta
thấy chật hẹp, ngột ngạt và thiển cận làm sao những quan
tâm quy ngã thường trực của chúng ta, trong ánh sáng của
cái trống không vô cùng và lung linh.
Nếu
chúng ta nhìn vào những tia sáng của mặt trời, đôi khi chúng
ta có thể thấy một hạt bụi nhỏ. Theo cách nhìn Phật giáo
về vật chất, nếu chúng ta lấy một phần bốn mươi của
hạt bụi rất nhỏ này, chúng ta đến nguyên tử hay phân tử
căn bản. Còn có nói rằng trong phần tử nhỏ ấy có vô số
vũ trụ, và trong mỗi vũ trụ này có đủ sáu cõi có những
địa ngục, cõi tương đương với người, cõi chư thiên…
Cũng có ở đấy sự khổ đau.
Nếu
chúng ta nhìn gốc rễ của khổ đau này, chúng ta sẽ thấy
rằng nó có từ sự khác biệt giữa tâm mê lầm và tâm không
mê lầm. Tất cả những vũ trụ này, và tất cả những tri
giác khác nhau về những cõi khác nhau trong những vũ trụ này,
khởi ra từ tâm thức mê lầm. Mục đích của Pháp là tìm
ra chính xác cái gì là tâm không mê lầm ; cái là chân tánh
của chúng ta. Cái này chúng ta gọi là Phật tánh, hay Phật
bên trong.
Tất
cả tóm lại trong sự khác biệt giữa mê lầm và không mê
lầm, giữa bám nắm và không bám nắm giữa khổ đau và
bình an, tự do, giác ngộ tuyệt đối. Đấy là vì sao khi chúng
ta bắt đầu nhận những lời dạy, chúng ta cần kiểm điểm
lại thái độ của chúng ta, kiểm tra trạng thái tâm thức
hiện giờ của chúng ta. Nó đang làm gì ? Nó đang cảm thấy
gì ? Nó có phóng dật, hôn trầm, phân tán hay hiện diện và
cảnh giác sống động ? Nó có sửa soạn để nhận lãnh những
giáo lý sâu xa ? Mọi sự đều xoay quanh, hay hội tụ nơi cái
hiểu biết bên trong của tâm thức.
Theo
cùng cách có vô số vũ trụ và chúng sanh, chính chúng ta cũng
đi qua vô số tái sanh, những hình thức sống, vô số thân
thể, vô số đời… Chúng ta sanh ra lập đi lập lại. Vì
sao thế ? Bởi vì dòng tâm thức của chúng ta hoàn toàn bị
điều kiện hóa, bị quy định và phó mặc cho những cơn gió
nghiệp và phiền não. Tất cả mọi thứ này phát sanh từ
tâm thức mê lầm.
Có
nói rằng sanh tử thì không bắt đầu (vô thủy), nhưng có
một chấm dứt trong niết bàn, giác ngộ ; và rằng niết bàn
có một bắt đầu giác ngộ nhưng không có chấm dứt.
Như người ta không thể xác định điểm bắt đầu cho sanh
tử, người ta cũng không thể xác định điểm bắt đầu
của tâm thức. Tâm thức mãi mãi làm công việc tự bổ nhiệm
của nó là phát sanh những tư tưởng không cùng, cái này đi
sau cái trước, những chuỗi xích tư tưởng trói giam chúng
ta. Ngay chỉ trong một ngày chúng ta cũng không thể đếm được
số tư tưởng mà chúng ta có, vì chúng thì vô số. Khi chúng
ta thử thiền định một lúc, chúng ta thường ngạc nhiên
bởi con số tư tưởng tấn công chúng ta, như thể khi chúng
ta ngồi thiền thì tư tưởng còn nhiều hơn trong những hoàn
cảnh bình thường. Nhưng điều này là lầm ; chỉ bởi vì
khi thiền định chúng ta lần đầu ý thức được rất nhiều
tư tưởng mà bình thường chúng ta luôn luôn có, tâm thức
chúng ta ngoài sự kiểm soát biết bao nhiêu và tư tưởng bắt
chúng ta làm nô lệ như thế nào.
Chắc
hẳn vì công việc của những tư tưởng này, vì những tư
tưởng tiếp nối nhau này mà chúng ta dấn thân vào những
lời nói và hành động, và làm chín nghiệp bằng cách liên
tục làm như thế. Sức mạnh của nghiệp ấy kéo dài dòng
sanh tử và thường trực giữ chúng ta lòng vòng, tái sanh trở
đi trở lại trên bánh xe sanh tử. Tất cả mọi thứ này căn
bản xảy ra là do sự mê lầm của tâm thức. Đó là tại
sao mục tiêu chính của những giáo pháp này là tìm ra cái
gì là bản tánh của tâm thức không mê lầm, cũng như tâm
thức mê lầm làm việc như thế nào.
Không
chỉ chúng ta, mà vô số chúng sanh đang xoay vòng một cách
vô vọng trong vòng lẫn quẩn của sanh tử. Họ đang chịu
đựng rất nhiều loại khổ đau, vì cùng lý do ấy. Tất cả
những khổ đau của họ đều đến từ sự mê lầm của tâm
thức. Nếu chúng ta muốn tìm một phương thức cho sự ấy,
không có phương thuốc nào khác ngoài chân lý. Nó hiện thân
trong Pháp bất kỳ phương pháp nào khác sẽ thất bại.
Đây cũng là tại sao tất cả các tôn giáo đều nhắm vào
sự thấu hiểu công việc của tâm thức, giải thoát tâm thức
khỏi mê lầm của nó, ấy là điều các tôn giáo làm dù trực
tiếp hay gián tiếp. Dĩ nhiên có vài phương diện mà tôn giáo
không rõ ràng nêu ra, “Đây đặc biệt làm việc về tâm
thức của bạn, làm lợi lạc cho tâm thức bạn.” Nhưng thật
ra, dầu nó nói điều ấy trực tiếp hay gián tiếp, mục tiêu
của tất cả tôn giáo là giải thoát tâm thức khỏi sự mê
lầm của nó và tìm ra
an
lạc.
Cũng
như mọi dòng sông trên trái đất đều đổ ra biển dù
có một số đi thẳng ra biển, trong khi số khác đi uốn khúc,
hay dọc đường hợp với những sông khác cũng thế, dù
có nêu ra hay không, chủ đích căn bản thật sự của bất
kỳ giáo pháp nào, Phật giáo hay không Phật giáo, đều là
chuyển hóa lòng và tâm và rốt ráo đạt đến giải thoát
khỏi mê lầm, sự siêu thoát đích thực. Không phải tất
cả tôn giáo đều y như nhau, nhưng điều này là điểm thiết
yếu của Pháp giải thoát. Đôi khi người ta tìm ra những
trái ngược rõ ràng trong những diễn tả và những biểu lộ
bên ngoài của những tôn giáo khác nhau của thế giới. Chẳng
hạn trong Phật giáo chúng ta nói rằng là một tội nặng khi
giết, lấy đi mạng sống, trong khi trong vài mặt của Hồi
giáo và cũng cả trong Ấn Độ giáo, những con dê bị hy sinh.
Nhưng thực sự có nhiều tương đồng hơn là khác biệt. Nếu
chúng ta khảo sát tất cả tôn giáo thế giới chúng ta thấy
điều đó và chúng ta có thể hòa hợp với những nguyên lý
thật sự chính yếu của chúng.
Tất
cả những cách thức diễn tả và biểu lộ khác nhau trong
khi người ta tìm kiếm cái tốt đẹp tối thượng của họ
đều khởi ra từ tâm thức. Sự mê lầm của tâm thức là
cực kỳ mạnh mẽ và nắm chặt chúng ta một cách rất chặt
chẽ. Không dễ dàng giải tan sự mê lầm này của tâm thức,
nhưng đó là mục đích chính của sự thực hành Pháp. Toàn
thể sự khác biệt giữa vô minh và giác ngộ, giữa tự do
và nô lệ nằm trong việc tâm thức có bị mê lầm hay không.
Cuộc
đời bình thường thì giống như một giấc mộng, một ảo
ảnh, một tiếng vang. Cái chúng ta thường gán cho nhiều quan
trọng, và bởi thế sẵn sàng tin vào nó, thì hoàn toàn mê
lầm, không bản chất, không thực. Nó dễ dàng được bịa
đặt ra như những giấc mộng ban đêm của chúng ta. Bởi thế,
một người đã thức dậy, đã chứng ngộ, đã vượt khỏi
sự mê lầm của tâm thức, thấy trạng thái mê lầm bình
thường của chúng ta giống như một giấc mộng, và không
bị nhiếp vào đó. Đây là một lý do quan trọng tạo sao người
ấy có thể thực sự giúp đỡ và giải phóng cho chúng ta.
Cái
chúng ta đang sống thì giống như một giấc mộng dài, một
giấc mộng dài hơn những giấc mộng bình thường trong giấc
ngủ ban đêm, nhưng dầu chỉ mười phút hay kéo dài suốt
cả đời, bản chất như huyễn của những giấc mộng chỉ
là một thứ như nhau. Khi chúng ta thấy biết, trải nghiệm
giấc mộng dài của đời này, rồi sau đó khi chết chúng
ta sẽ có một giấc mộng dài khác sinh trong trạng thái
khác của một đời sanh tử. Như thế, một giấc mộng dài
sẽ theo sau một cái khác, bao giờ mê lầm còn tồn tại.
Phẩm
tính phi thường của Phật pháp là nó cho chúng ta những phương
tiện để nhận biết rằng cuộc đời này giống như một
giấc mộng, nó không có sự hiện hữu chân thật, và tất
cả những mục tiêu quy ngã sanh tử của chúng ta là vô nghĩa
và chẳng tạo ra điều gì hữu ích rằng chúng ta không
có bản chất và không có thật tánh. Chúng ta không chỉ chứng
nghiệm được điều này mà Pháp còn cho chúng ta cơ hội để
thấy rằng có một cách thức để xua tan mê lầm của chúng
ta và qua những phương tiện thiện xảo, đạt đến sự chứng
ngộ tối hậu về Phật tánh, đó là sự giải thoát hoàn
toàn khỏi mê lầm, tự do toàn hảo và bình an siêu việt.
Đây là điều làm cho Pháp thành ra viên ngọc quý báu nhất,
viên ngọc của lòng chúng ta, bởi vì nó là phương pháp duy
nhất cho chúng ta dịp may nhận biết bản chất mê vọng của
thế giới và đồng thời đưa chúng ta vượt khỏi sự mê
lầm đó đến chứng ngộ chân thật.
Chúng
ta hãy lấy ví dụ thân thể chúng ta để hiểu sức mạnh
và quyền lực của mê lầm. Vào lúc này, thật tự nhiên với
chúng ta là mình có thân thể này ; chúng ta yêu quý và bám
chấp vào nó một cách lớn lao. Sự an toàn tiện nghi và những
cảm giác thích thú của thân thể chúng ta là một mối bận
tâm chính của chúng ta, một trong những đối tượng chính
cho sự bám chấp và gắn bó. Nhưng nếu chúng ta dần dần
cố gắng khám phá thân này có ra như thế nào, trở về tuổi
thơ của chúng ta, rồi khi chúng ta còn là một em bé, và cuối
cùng những hạt giống của cha và mẹ, chúng ta thấy rằng
toàn thể thân của chúng ta bắt đầu từ sự gặp gỡ của
hai hạt giống. Và sự gặp gỡ ấy xảy ra như thế nào ?
Chính là bởi sức mạnh của ham muốn, nó đến từ mê lầm
của nghiệp quá khứ. Bởi vì sự bị quy định thuộc nghiệp
hay khuynh hướng này, mà ham muốn có mặt. Nó tạo ra một
thúc đẩy để nắm lấy đời sống trở lại trong một hiện
hữu bị quy định. Năng lực tâm thức làm gắn bó hạt trắng
và hạt đỏ của cha và mẹ ; như thế một chúng sanh ra đời
trong một thân thể. Rồi thân thể lớn lên ; ý thức làm
thêm sự cá biệt, tiến hóa và bám chặt vào nó.
Sẽ
lại đến lúc chúng ta gặp cái chết. Điều gì sẽ xảy ra
cho thân thể ? Nó sẽ lại tan biến vào khoảng không, như
khi một cầu vồng tan biến trong bầu trời : khi nó có đó
chúng ta có thể thấy năm màu của nó một cách sinh động,
nhưng khi nó tan đi, nó không đi xuống thung lũng, nó không
đi lên đỉnh núi nó chỉ biến mất. Thân thể mà chúng
ta bám vào quá nhiều sẽ thành ra hư không. Chỉ có thức là
sẽ tiếp tục, và nó sẽ bị thúc đẩy trở đi trở lại
bằng sức mạnh của nghiệp và những khuynh hướng thói quen
và những bám níu để tìm kiếm những hạt giống của cha
và mẹ và tiếp tục vòng sanh tử này. Tuy nhiên mỗi thân
thể chúng ta dùng lấy, như những cái bình đất sét, chỉ
được tạo thành từ năm đại và lại hoàn toàn biến mất
không để lại dấu vết nhỏ nhất nào.
Mọi
sự thì vô thường. Tất cả mọi cái gì có sanh ra đều chết.
Do sức mạnh của mê lầm, những thân thể của chúng ta liên
tục hình thành và biến mất, tiếp diễn vòng sanh tử không
ngừng. Cái chúng ta thực sự cần là một chỉ dạy sẽ có
thể đem chúng ta đến một trạng thái không mê lầm và giải
phóng chúng ta khỏi vòng sanh tử lẩn quẩn này. Đây là tại
sao chúng ta cần xoay tâm thức chúng ta vào trong, chú tâm xem
xét và và làm việc trên chính tâm thức khi nào chúng ta bắt
đầu được nghe hay thực hành Pháp, bởi vì tâm thức là
chủ đề chính của những giáo lý Phật giáo.
Nếu
chúng ta xoay chính tâm thức chúng ta vào để thấy nó làm
cái gì, bấy giờ chỉ có ba cách thức của tư tưởng mà
tâm thức có thể có. Thứ nhất là những tư tưởng tiêu
cực : tham, sân, si v.v… Cách thức tiếp theo là những tư
tưởng tích cực : bi mẫn, vị tha, lòng tốt, tình thương,
ước mong làm chúng sanh được lợi lạc, sùng mộ v.v… Rồi
có những trạng thái trung tính, thản nhiên của tư tưởng,
như khi chúng ta ngủ say, tự mãn và vô tâm, chúng là những
phương diện không tiêu cực cũng không tích cực. Không có
phạm trù nào khác ngoài ba xếp loại này.
Trước
tiên chúng ta cần trừ bỏ những tư tưởng tiêu cực, gồm
tham, sân, si. Chúng ta không cần từ bỏ những tư tưởng trung
tính : chúng ta cần chuyển hóa chúng và đưa chúng vào Pháp.
Và chúng ta phải trau dồi và phát triển những tư tưởng
tích cực sùng mộ, từ bỏ hay xa lìa, và Bồ đề tâm,
thái độ giác ngộ. Sự thực hành là từ bỏ những tư tưởng,
lời nói và hành vi xấu, tiêu cực, chuyển hóa những cái
trung tính và tăng trưởng cái tốt, tích cực.
Khi
chúng ta khảo sát những tư tưởng xấu, chúng ta thấy có
ba thứ : sự thúc đẩy bám nắm, sự thúc đẩy chối bỏ,
và vô minh hay sự tối tăm hẹp hòi của tâm thức. Nếu chúng
ta khảo sát những cái này, chúng ta thấy rằng tham và sân
căn bản được gây ra bởi sự tối tăm của tâm thức hay
vô minh. Nghĩa là không thấy, không hiểu hay không chứng ngộ
thật tánh của sự vật. Tham bám, giận ghét, bám nắm, đánh
giá, chối bỏ… khởi ra là do thiếu tỉnh giác về bản tánh
chân thật của tâm và những hiện tượng. Biết rằng đây
là nguyên nhân chính, chúng ta phải tìm ra phương thuốc cho
nó, cái đối trị. Cái đối trị chắc chắn đến từ sự
trau dồi những tư tưởng tích cực như sùng mộ, từ bỏ
và vị tha Bồ đề tâm lợi lạc, nó mong muốn giải thoát
tất cả chúng sanh đến Phật tánh một cách vô ngã.
TRƯỞNG
DƯỠNG BỒ ĐỀ TÂM
Chúng
ta cần trưởng dưỡng Bồ đề tâm như là một phương cách
để trừ khử vô minh căn bản nó tạo ra những tư tưởng
tiêu cực. Có nhiều giáo lý đề cập đến việc làm sao từ
bỏ những tư tưởng tiêu cực và chuyển hóa những tư tưởng
trung tính. Nhưng bởi vì đây là một chủ đề rộng lớn,
chúng ta sẽ chỉ có một ít lời về Bồ đề tâm quý báu,
cội gốc của mọi tư tưởng tích cực.
Để
thiền định về Bồ đề tâm, trước tiên chúng ta phải có
một cái hiểu rất đầy đủ, bởi vì đây là một chủ đề
rộng lớn vô cùng. Vì nó liên hệ với sự hiểu biết cái
mê lầm phổ khắp của tất cả chúng sanh trong những vũ trụ
vô số. Không chỉ chúng ta, mà cha mẹ chúng ta và tất cả
chúng sanh đã mê lầm từ vô số đời, và vì sự mê lầm
ấy, họ đã khổ đau to tát không trừ một ai. Bởi thế,
sự trưởng dưỡng căn bản Bồ đề tâm đòi hỏi một hiểu
biết về tính cách rộng lớn của mê lầm và những khổ
đau của chúng sanh. Khi người ta ý thức được độ dài rộng
vô biên của những đời và những vũ trụ trong đó chúng
sanh rơi vào mê lầm và khổ đau, chỉ lúc ấy những cảm
nhận đích thực về lòng bi và những mong muốn giải thoát
cho những chúng sanh ấy mới có thể phát triển trong tâm thức
chúng ta. Như thế, chúng ta cần ý thức độ dài rộng của
mê lầm và khổ đau, không phải để trở nên chán chường
hay yếm thế, mà để thấy mọi sự như chúng là và để
đem lại cái tốt nhất cho chính chúng ta và tất cả chúng
sanh ở khắp nơi.
Với
chúng ta Bồ đề tâm có nghĩa là gì ? Bồ đề tâm tiếng
Tây Tạng là changchub. Từ này có hai nghĩa căn bản. Trước
hết, chang nghĩa là “làm sạch.” Trong ngôn ngữ giáo pháp
chúng ta thưòng nói “làm sạch hai cái che chướng.” Trong
ngôn ngữ bình thường nó có nghĩa là trừ sạch mọi lỗi
lầm, vết bẩn, bất toàn và khuyết điểm của tâm thức
chúng ta. Khi chúng ta nói đến chub, nó có nghĩa là khai triển
đến mức rốt ráo mọi phẩm tính bẩm sinh vốn có, hay mọi
tiềm năng, trong lòng và tâm. Bởi thế, Bồ đề tâm, chang-chub,
nghĩa là trừ sạch bất cứ lỗi lầm nào có thể có và khai
triển mọi phẩm tính giác ngộ đã vốn có. Tạo sao chúng
ta nói Bồ đề tâm hay tâm giác ngộ ? Bởi vì điểm bắt
đầu là cái tâm tối tăm, mê lầm, và điểm kết thúc là
tâm giác ngộ. Thế nên Bồ đề tâm liên hệ với sự tịnh
hóa và sự khai triển rốt ráo của tâm thức.
Khi
sự tịnh hóa của tâm thức và sự khai triển tất cả những
phẩm tính giác ngộ ấy đạt đến điểm rốt ráo sự
hiện thực hóa tất cả những phẩm tính của tâm và sự
gỡ bỏ mọi tấm màn che chướng trạng thái này được
gọi là Phật, hay Guru Rinpoche, hay Chenrezig hay Quán Thế Âm.
Không có gì ngoài trạng thái giác ngộ trong đó mọi phẩm
tính đã được khai triển, không có chút mê mờ nào do vô
vàn hình tướng, bởi vì tất cả là một bản tánh tinh túy
đơn nhất.
Tạo
sao chúng ta cần thiền định về Bồ đề tâm, tâm giác ngộ
? Bởi vì điều kiện giới hạn của chúng ta, sự khổ đau
và mê lầm của chúng ta. Khi mọi mê lầm đã được trừ
sạch, đây là trạng thái được gọi là “Phật tánh” :
trạng thái của người đã hiện thực hóa những phẩm tính
rốt ráo và đã trừ sạch mọi lỗi lầm. Người ta có thể
tiến hành từ trạng thái mê lầm bình thường đến trạng
thái giác ngộ ; đây được gọi là “con đường.” Nhưng
bản tánh giác ngộ này hiện ở trong mỗi chúng ta, vì nó
là bản tánh chân thật của chúng ta.
Bản
tánh Phật vốn sẵn có này tâm giác ngộ nền tảng trong
mỗi chúng ta thì giống như bầu trời, như hư không, nó
bao la, thanh tịnh và bất biến một cách không khuyết hụt.
Trong bản tánh tự nhiên và sâu xa này, những phẩm tính của
Phật tánh giống như những tia sáng tỏa ra từ mặt trời.
Sự diễn đạt không thể quan niệm và phong phú những phẩm
tính giác ngộ thì giống như đại dương, trong đó mọi ngôi
sao và hành tinh đồng phản chiếu. Trong cùng một cách, những
phẩm tính giác ngộ của Phật đều tự nhiên hiện diện
trong mỗi chúng ta. Chúng ta chỉ thể hiện chúng, khai mở và
khám phá chúng, giải thoát tâm thức chúng ta khỏi mê lầm
bằng phương cách thực hành Bồ đề tâm trên con đường.
Sự
khác biệt giữa tâm không trong sạch và tâm trong sạch, tâm
mê lầm và tâm giác ngộ, chủ yếu là sự khác biệt của
chật hẹp và rộng mở. Trong trạng thái mê lầm hiện thời
của chúng ta, tâm thức chúng ta thì cực kỳ chật hẹp. Chẳng
hạn, chúng ta sống cô độc và hiếm khi, nếu không nói là
chưa bao giờ, nhìn xem sự vô biên của chúng sanh. Tâm thức
càng co rút và chật hẹp, càng chỉ nghĩ đến chính nó, hoàn
toàn chẳng để ý gì đến sự an vui, hạnh phúc và những
đau khổ của những người khác. Ngược lại, Phật giác ngộ
là người xem thấy sự vô biên của chúng sanh hơn là lưu
tâm tới bản ngã và cá thể của ngài. Như thế, toàn bộ
con đường từ một chúng sanh bình thường tới Phật tánh
là sự mở rộng dần dần của tâm thức ! Và đó chính
là cái chúng ta gọi là chang-chub hay sem-kye : nghĩa đen là làm
lớn và khai triển thái độ giác ngộ này. Khái niệm “làm
lớn lên” được dùng ở đây để chỉ sự đi từ một
thái độ hoàn toàn chật hẹp, chỉ chủ yếu nhắm vào chính
mình, đến một tấm lòng thương yêu rộng mở mà khung cảnh
của nó tự động bao trùm vô biên chúng sanh.
Khởi
từ một thái độ hoàn toàn ích kỷ, chúng ta cần tìm ra một
cách thức để rộng mở và phá thủng qua sự chật hẹp bó
chặt này. Làm sao để chúng ta thực sự bắt đầu quan tâm
một cách thành thật đến sự an vui, của những người khác,
nhận ra họ không quá khác với chúng ta ? Căn bản, chúng ta
có thể tiến hành như thế này : Như một kết quả của sự
ích kỷ của chúng ta, chúng ta có một thương mến tự nhiên
đối với cha mẹ chúng ta, họ đã cho chúng ta cuộc sống
và nuôi nấng chúng ta trong đời này. Nếu chúng ta sử dụng
cảm giác tự phát đã sẵn có này, chúng ta có thể trải
dài nó một cách chầm chậm và tiệm tiến đến những chúng
sanh khác. Với những phương tiện thiện xảo, trước tiên
chúng ta nghĩ đến lòng tốt của mẹ chúng ta sanh ra chúng
ta, chăm sóc chúng ta, giáo dục chúng ta v.v… Từ sự cảm
kích này đối với lòng tốt của mẹ chúng ta sẽ khởi lên
ước muốn đền đáp lòng tốt của mẹ, và tâm thức sẽ
bắt đầu mở ra với thái độ vị tha. Lấy nó như là căn
cứ, chúng ta có thể chủ động trải rộng sự nồng ấm
căn bản này đến thân thuộc và những chúng sanh khác. Đây
là căn cứ của tiến trình thiền định làm tăng trưởng
tình thương cho tất cả chúng sanh.
Một
trong những bước đầu tiên trong thiền định về Bồ đề
tâm là trở nên ý thức đến lòng tốt của những người
khác. Như Phật đã dạy, điều này bắt đầu bằng sự cảm
kích lòng tốt của chính bà mẹ của chúng ta. Chẳng hạn,
nếu người nào cho chúng ta một trăm đô la hay chở chúng
ta đi đến chỗ mình, chúng ta nghĩ người ấy là một người
rất tốt. Nhưng thật ra điều ấy quá nhỏ so với lòng tốt
của mẹ chúng ta, người đã cho chúng ta thân thể từ chính
thịt xương của bà và chăm sóc chúng ta ngày đêm khi chúng
ta không thể làm gì được. Một khi chúng ta đã được sanh
ra, chúng ta không thể tồn tại chỉ mười phút nếu không
có mẹ chúng ta thường trực chăm nom chúng ta. Như chính đức
Phật đã nói rằng trao một quà tặng là một thân thể là
một trong những lòng tốt vĩ đại nhất chúng ta có thể tìm
thấy trong thế giới. Chúng ta cần ý thức và cảm kích lòng
tốt này. Nếu chúng ta chỉ nghĩ, “Rốt cuộc, điều đó
chẳng có nghĩa gì cả. Bà làm điều đó cho ích lợi riêng
của bà, chỉ sự tốt đẹp riêng của bà,” đó là một
sai lầm rất nghiêm trọng. Để khai triển Bồ đề tâm, trước
tiên chúng ta phải ý thức và biết ơn, và cảm kích lòng
tốt bao la của người đã cho chúng ta đời sống này, cũng
như người nào khác làm lợi lạc cho chúng ta.
Ngay
trong thế giới bình thường, một cảm thức chung khi một
ai đó làm một điều gì cho chúng ta từ lòng tốt lớn lao
của họ, và chúng ta biết ơn và cư xử theo một cách đền
đáp lòng tốt của họ, ai cũng nghĩ điều chúng ta làm là
đúng. Nhưng nếu người nào làm điều gì rất tốt cho chúng
ta, và đáp lại chúng ta đối xử với họ theo một cách rất
xấu, bấy giờ ai cũng nghĩ chúng ta là một người xấu.
Chúng
ta cần bắt đầu cảm kích lòng tốt của những người khác,
đặc biệt là của mẹ chúng ta. Rồi chúng ta nên nhận thấy
rằng qua khắp các đời của mình, không có một chúng sanh
nào không từng là mẹ hay cha chúng ta vào một lúc này hay
lúc khác. Bởi thế, không có lý do gì chúng ta không nên cảm
thấy cùng một tình thương và biết ơn tự nhiên mà chúng
ta có cho cha mẹ trong đời này, đối với tất cả chúng sanh.
Điều này dẫn đến một thái độ bao la, Bồ đề tâm
có cùng một lòng biết ơn đối với mỗi một chúng sanh không
phân biệt, và mong muốn cho họ mọi điều tốt đẹp như
chúng ta mong muốn mọi điều tốt đẹp cho cha mẹ chúng ta
trong đời này.
Bởi
vì tâm thức có tiềm năng này để trở thành giác ngộ, qua
thực hành, tiềm năng lớn lên dần dần. Đấy là lý do tại
sao Bồ đề tâm có thể bừng nở và trải rộng không bờ.
Và một khi nó trở nên bao la, nó có năng lực vô biên.
Có
nhiều điển hình về sức mạnh của lòng bi trong đời những
bậc thánh. Chẳng hạn có một vị thánh nổi tiếng tên là
Libpon Pawo, ngài thiền định về lòng bi trong mọi lúc. Một
lần nọ, ngài gặp một con cọp cái gần chết đói không
thể nuôi sống những con của nó. Ngài nghĩ đến việc cho
cọp thân ngài. Nhưng dù ngài là một bồ tát hoàn hảo, khi
đến lúc cho thân thể, ngài cảm thấy một ngại ngần và
nghi ngờ tự nhiên. Ngài chuyển hóa sự nghi ngờ này thành
một sự mở rộng đầy đủ cho khả năng biếu tặng thân
thể. Để diễn tả sự nở hoa trọn vẹn này của Bồ đề
tâm, lòng bi của ngài, trước khi cho con cọp máu của ngài,
ngài dùng chính máu mình viết những câu kệ về cách làm
thế nào khai triển Bồ đề tâm trên đá. Những câu kệ này
còn được tìm thấy trong tạng Tengyur. Rồi ngài cho những
con cọp thân thể mình.
Một
bồ tát Tây Tạng thế kỷ thứ mười một, một hóa thân
của Shantideva có tên là Gyalse Ngulchu Thomay ngài đã tạo
ra Ba Mươi Bảy Thực Hành Của Bồ Tát rất nổi tiếng
nơi ẩn tu của ngài, tất cả thú vật đều sống trong hòa
bình với nhau. Ngay cả chó sói và cừu cũng chơi đùa với
nhau, cho dù chúng thường là những kẻ thù hung tợn của nhau.
Đây bởi vì sự thiền định liên tục về Bồ đề tâm và
lòng từ của ngài quá mạnh đến nỗi nó có thể biến đổi
tâm thức của những thú vật hoang dã và dữ tợn.
Thực
sự có thể khai triển Bồ đề tâm qua sự thực hành của
chúng ta. Có đại sư tên là Nyoshul Lungtok là một đại đệ
tử của Paltrul Rinpoche. Ngài bắt đầu thiền định mười
năm trong một cái hang, chỉ tham thiền về Bồ đề tâm. Một
hôm Nyoshul Lungtok ở trong rừng trên một ngọn đồi nhỏ,
ngài nghe dưới đồng bằng một âm thanh, như có người đang
cỡi ngựa và hát những bài ca vui vẻ. Dù Nyoshul Lungtok không
thấy anh ta, nhưng có thể nghe. Bởi vì ngài là một thiền
giả cao cấp, Lungtok nhìn thấy qua thiên nhãn của mình rằng
người cỡi ngựa chỉ còn sống thêm một ngày nữa. Khi nghĩ
đến con ngựa, ngài thấy con ngựa chỉ sống được một
tuần nữa. Thình lình ngài nhận ra rằng người đàn ông kia,
không nghĩ đến và không lo âu gì về chuyện đó, không thấu
hiểu sự ngắn ngủi và mong manh của cuộc đời, sự bất
toàn của sanh tử, và nghiệp của người ấy đang kéo anh
ta ra khỏi cuộc đời này sang một đời khác trong khổ đau
như thế nào. Điều này chạm đến Nyoshul Lungtok một cách
sâu xa đến độ từ lòng bi hoàn toàn cho người đó vui
vẻ một cách vô ý thức trong đại dương khổ đau này
ngài không thể ngừng khóc trong bảy ngày. Ngài trở nên được
biết đến do lòng bi bất khả tư nghì tự phát và lòng tốt
đối với mọi chúng sanh.
Chính
bản tánh đích thực của tâm thức khiến nó có thể phát
triển và tiến bộ vượt qua những giới hạn hiện thời
của nó. Tuy nhiên nó có thể phát triển theo cả hai cách tích
cực và tiêu cực. Nếu chúng ta thường xuyên nhắm vào sự
tiêu cực, tâm thức lớn lên rất mạnh trong sự tiêu cực.
Ban đầu có vẻ rất khó giết một người nào ; nhưng dần
dần, trở nên hung bạo và quen với chuyện đó, không chỉ
nghĩ mà thôi, chúng ta còn có thể lấy đi hàng trăm hàng ngàn
mạng sống mà không có dằn vặt xung đột nào trong chúng
ta. Cũng như thế, chúng ta có thể phát triển tâm thức trong
đức hạnh.
Bởi
thế, điều chính yếu là tịnh hóa và tu hành tâm thức chúng
ta, để chuyển hóa thái độ và động lực của chúng ta thành
tích cực. Điều này được gọi là lojong trong tiếng Tây
Tạng – tu hành tâm thức.
Chúng
ta không nên nghĩ rằng chúng ta chỉ là một công chức hay
một nông gia, và do đó không thể là những hành giả thật
sự. Một mặt, quả thật nếu chúng ta có những trách nhiệm
và bó buộc thì chắc chắn chúng ta sẽ không dùng nhiều thì
giờ của đời mình để dấn mình trong định hay trong chốn
ẩn cư. Nhưng mặt khác, điều đó không đúng, bởi vì tinh
túy của Pháp là Bồ đề tâm quý báu, nó có thể được
trau dồi trong bất cứ hoàn cảnh nào và qua bất cứ hoạt
động nào. Đó là cái mà ai cũng có thể khai triển trong bất
cứ công việc gì họ dấn thân. Đó chính là Pháp chân thật.
Như thế chúng ta có thể hoàn toàn thực hành Pháp trong tâm
thức, trong khi vẫn dấn thân vào bất cứ loại hoạt động
nào với thân và lời.
Như
có nói, “Nếu ý định là tốt, bấy giờ mọi cấp độ
của con đường sẽ tốt. Nếu không, mọi cấp độ sẽ xấu.”
Nếu chúng ta có một tấm lòng rất trong sạch và một tâm
thức trong sáng vị tha, thì dù chúng ta có thể gặp những
khó khăn hay đau khổ, nhưng cuối cùng chúng ta chắc chắn
đạt đến an lạc : nó là kết quả không thể tránh được
của việc có ý định tốt, thái độ tích cực, và sự trong
sạch của lòng. Nếu chúng ta có một tâm thức rất xấu,
bất hòa và tiêu cực, chúng ta có thể gặp những thành công
tạm thời, nhưng cuối cùng chúng ta sẽ nếm trái cây của
khổ đau, cả cho chính chúng ta và cho những người khác.
Bồ
đề tâm chắc chắn có thể được khai triển qua sự trưởng
dưỡng có chủ định, để làm thế, chúng ta có thể tham
chiếu những lời dạy khác biệt, như Ba Mươi Bảy Thực Hành
của Bồ tát của Nyulchu Thomay đã nói ở trên, hay Bảy Điểm
Tu Hành Tâm Thức của Atisha, hay Bồ Tát Hạnh của Shantideva,
và những lời dạy rõ ràng khác chuyển hóa tâm thức thành
từ và bi. Điều này thiết lập một nền tảng tuyệt hảo
cho sự thực hành tâm linh.
KHAI
TRIỂN CÁI THẤY CHÂN CHÁNH
Bồ
đề tâm là sự thực hành chính yếu nhất của tất cả.
Nó chỉ có nghĩa là tâm-lòng tuyệt hảo thành thực mong muốn
hoàn thiện cho chính nó để có thể giải thoát tất cả chúng
sanh khỏi khổ. Nó đặt nền trên sự thấu hiểu rằng không
có một chúng sanh nào không muốn thoát khỏi khổ và thành
tựu hạnh phúc, như bản thân chúng ta. Tuy nhiên, hầu hết
chúng sanh không có cách gì để hoàn thành những mục tiêu
đó. Bồ đề tâm có hai phương diện : tuyệt đối và tương
đối, hay chân lý và tình thương.
Để
thành tựu giác ngộ cho lợi lạc của tất cả chúng sanh,
chúng ta muốn nhận những giáo lý và đưa chúng vào thực
hành. Một số người tự nhiên có thái độ toàn hảo và
tâm tốt này, một số phải phát triển nó, và những người
khác phải nỗ lực nhiều để quen với ý niệm ấy. Nhưng
bất cứ trường hợp nào, luôn luôn có một cách thức để
chuyễn hóa tâm thức mình và phát triển Bồ đề tâm. Chúng
ta có thể nuôi dưỡng những tư tưởng tốt, chúng dẫn chúng
ta đến niết bàn, sự giác ngộ thức tỉnh vượt khỏi khổ
đau ; nhưng chúng ta cũng có thể trở nên quen thuộc với những
tư tưởng xấu, chúng sẽ kéo chúng ta xuống những trạng
thái thấp nhất của đời sống. Trong cả hai trường hợp,
chính do sức mạnh của sự tu hành tâm thức chúng ta theo một
cách thức suy nghĩ nào đó sẽ dẫn đến kết quả riêng biệt.
Đó là tại sao chúng ta phải cố gắng trau dồi bản tánh
tâm linh của chúng ta.
Phật
giải thích Pháp cho chúng sanh trong ba giai đoạn, được gọi
là “ba thời kỳ hay ba dịp,” trong đó đức Phật chuyển
bánh xe Pháp. Điều này cũng được gọi là “ba lần chuyển
bánh xe Pháp.” Lần thứ nhất là cái chúng ta gọi là “những
giáo lý căn bản,” gồm Bốn Chân Lý Cao Cả, Con Đường
Tám Ngành, ba tính chất căn bản vô thường, khổ và vô ngã,
và mười hai khoen xích thành vòng xích duyên sanh v.v… Chúng
ta có thể nghĩ sai lầm rằng Theravada hay Tiểu thừa, cái gọi
là “Thừa thấp” là thấp hơn, nhưng không phải thế. Tốt
hơn nên nói đến truyền thống Theravada như là Thừa Nền
Tảng, Căn Bản, Thừa Gốc. Điều này nghĩa là tất cả mọi
giáo lý đã xây dựng trên nền tảng này, được thiết lập
trong Luật tạng và Kinh tạng do đức Phật lịch sử dạy.
Bởi thế, mọi giáo lý cao hơn của Mahamudra, Maha Ati hay Dzogchen,
Đại Toàn Thiện, và Trung Đạo tất cả đều được nâng
đỡ bởi nền tảng này, nó phải rất vững chắc và chuẩn
bị thật tốt. Đây là chu kỳ giảng dạy thứ nhất của
Phật.
TRUNG
ĐẠO
Khi
tâm thức người ta đã thích hợp với chân lý sâu xa, Phật
ban cho lần chuyển bánh xe Pháp thứ hai. Tri kiến sâu xa này
là những giáo lý Trung Đạo về tánh Không và hai cấp độ
của chân lý tương đối và tuyệt đối và triết học
Madhyamila hay Trung Đạo. Nó được gọi là “sự chuyển bánh
xe Pháp thoát khỏi những biểu tượng hay những tính chất
bị quy định.” Những giáo lý trong đó được giải thích
theo nền tảng, con đường và quả. Đối với giáo lý Trung
Đạo, nền tảng là sự không thể phân chia của hai chân lý
: chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối. Con đường
là sự không thể phân chia hay sự hợp nhất thiết yếu của
hai tích tập : tích tập công đức và tích tập trí huệ.
Tích tập công đức liên hệ chặt chẽ với hình sắc và
ý tượng ; tích tập trí huệ vượt khỏi hình sắc và ý
tượng. Quả là sự hợp nhất hay không thể phân chia của
hai thân, hai phương diện của Phật, đó là pháp thân, phương
diện tuyệt đối của thân, và sắc thân hay thân hình sắc.
Sắc thân khởi sanh từ sự tích tập công đức và pháp thân
từ sự tích tập trí huệ.
Trong
Trung đạo người ta có thể phân biệt hai phương diện : “Trung
Đạo chân lý hay tuyệt đối” (thực tướng Bát Nhã) và
“Trung Đạo ngôn ngữ” (văn tự Bát Nhã). Cái trước là
thật tánh của tất cả mọi sự vật và hiện tượng. Trung
Đạo ngôn ngữ nghĩa là cách thức nhờ đó Trung Đạo tuyệt
đối được diễn tả cho chúng sanh có thể hiểu được nó.
Chân lý tuyệt đối đứng riêng một mình không giúp cho chúng
sanh đang bị giam giữ trong vô minh chứng ngộ được nghĩa
tối hậu của nó. Bởi thế, nghĩa này phải được diễn
tả bởi các bậc giác ngộ, không phải qua lý luận hay tư
tưởng diễn dịch, mà từ một biểu lộ của trí huệ thanh
tịnh đến từ giác ngộ.
Trung
Đạo ngôn ngữ có hai phần : Một là ngôn ngữ Trung Đạo
từ những lời của chính đức Phật. Cái này được tìm
thấy trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa và nhiều nhánh khác của
nó. Cái thứ hai là ngôn ngữ Trung Đạo tìm thấy trong những
bình giải được các vị vĩ đại đi theo đức Phật như
Nargajuna, Chandrakirti, Asanga, Aryadeva và Shantideva viết ra. Những
hành giả này luận về những lời nói của Phật để cho
chúng sanh thấu hiểu.
Có
rất nhiều luận giải triết học trừ phi chúng ta đi vào
hết tất cả những nghiên cứu này trong chi tiết, khó mà
có được một ý niệm rõ ràng về mọi sự khác biệt. Căn
bản, trong Trung Đạo cái kiến giải tuyệt đối nhất là
cái nhìn của phái Prasangika do Nagarjuna, Chandrakirti, và những
đệ tử của họ chủ trương. Rồi cũng có cái nhìn của
phái Svatantrika trong trường phái Trung Đạo.
Trong
thật tế, nền tảng căn bản và bản tánh chân thật của
mọi sự là shunyata, tánh Không. Cái này là như nhau trong mọi
phái của Trung Đạo. Sự khác biệt độc nhất là nằm trong
khả năng của một người để hiểu chân lý tuyệt đối
này, bản tánh Không này. Một số người thấy nó theo một
cách thức hạn hẹp, những người khác theo một cách thức
hoàn toàn rộng mở. Khi người ta cố gắng diễn tả và suy
nghĩ về tánh Không này, nó sẽ được bày tỏ trong những
cách khác nhau theo cấp độ và những khả năng của họ. Điều
này tạo thành những diễn tả khác nhau về cái thấy tuyệt
đối, dù cho nền tảng căn bản thì luôn luôn là bản thân
tánh Không, nó như kim cương, không bao giờ biến đổi, và
siêu vượt tất cả mọi loại giáo lý khác nhau.
Chủ
đề căn bản của Trung Đạo là hai chân lý, tuyệt đối và
tương đối. Từ Uma, trong tiếng Tây Tạng ám chỉ Trung Đạo,
thực sự có nghĩa “trung tâm” hay “ở giữa.” Nó ám chỉ
chân lý tuyệt đối. Tại sao chúng ta gọi nó là ở giữa
? Bởi vì nó không rơi vào cực biên nào, và luôn luôn ở
trong trung tâm. Căn bản, chúng ta có thể hình dung bốn cực
biên : có, không có, sanh và diệt. Đối với cái thấy chân
lý tuyệt đối, người ta phải không tin vào cái nào trong
bốn cực biên này ; người ta phải ở trong một trạng thái
không có cũng không phải không có ; không sanh cũng không diệt,
vượt khỏi cả hai và không cả hai.
Chúng
ta cũng có thể nói đến những ý niệm này như cực biên
đến và đi, có sanh và có diệt, có và không, một và khác
v.v… Cái thấy căn bản của Trung Đạo là cái thấy tánh
Không siêu vượt khỏi tất cả các cực biên như vậy. Nó
được gọi là cái thấy pháp tánh hay bản tánh tuyệt đối,
nó giống như hư không : không có biên giới, không có trung
tâm và chu vi, không có trong và ngoài, vượt khỏi điều kiện
và giới hạn. Chân lý tuyệt đối thì vượt khỏi mọi điểm
quy chiếu hay định tính nào.
Khi
chúng ta nói đến chân lý tương đối, nó ám chỉ toàn thể
thế giới hình tướng, những phương diện khác nhau của đời
sống : vũ trụ và chúng sanh, chúng hình như xuất hiện như
thế nào, những tính chất của chúng, những nguyên tố, uẩn,
thức khác nhau… Sự giải thích cách thức theo đó những
biểu lộ khởi lên và phát triển dù không bao giờ lìa
khỏi bản tánh Không của chân lý tuyệt đối là cái chúng
ta gọi là chân lý tương đối, và bao hàm sự vận hành của
luật nghiệp quả. Điểm chính yếu là chứng ngộ rằng hai
chân lý không lìa rời nhau. Thật tánh của thế giới hình
tướng là tánh Không, và trong tánh Không này thế giới hình
tướng xuất hiện.
Những
lời dạy căn bản về hai chân lý này được Nagarjuna giải
thích trong năm luận chính của Trung Đạo. Chúng còn được
Aryadeva luận giải thêm trong cuốn luận được gọi là Bốn
Trăm Bài Tụng. Những học giả Ấn Độ và Tây Tạng, như
Longchenpa và Tsongkapa, tiếp tục xây dựng một dãy rộng lớn
viết về Trung Đạo, nhưng tất cả đều từ sự thấu hiểu
hai chân lý và sự liên hệ của chúng với nhau.
Khi
chúng ta nói rằng mọi hình tướng là Không, nó không có nghĩa
là một khoảng trống trơn hay ngoan không, không có phẩm tính
hay tiềm năng nhỏ nhất nào. Thật ra, nó là cái gì mang những
phẩm tính vĩ đại và tiềm năng vĩ đại cho giác ngộ.
Chẳng
hạn, nếu chúng ta nói, “Cái tách này trống không,” thì
không có phẩm tính lớn lao nào trong sự nhận biết này. Hoặc
nếu chúng ta nói, “Không gian này trống không,” đây cũng
giống như tìm ra một cái gì không giúp ích gì nhiều. Nhưng
nhận biết rằng tất cả mọi hình tướng là trống không,
và chứng ngộ sự không hiện hữu của cái ta hay bản ngã,
sẽ tự nhiên có lòng bi tự phát, không cố gắng cho tất
cả chúng sanh họ không thấu hiểu chân lý tánh Không và tiếp
tục khổ đau bởi mê lầm và bám giữ. Nhận ra và tiến bộ
trong sự thấu hiểu bản tánh trống không, lồng lộng và
vô ngã, là điều sẽ đem chúng ta đến giác ngộ hoàn toàn,
và khai mở mọi phẩm tính vô biên khác của chứng ngộ tâm
linh. Nó sẽ làm khởi lên cái thấy biết thanh tịnh trong đó
chúng ta có thể thấy biết Phật tánh trong mọi chúng sanh.
Đối
với chúng sanh bình thường đang ở trong bóng tối của vô
minh và mê lầm, chỉ trình bày sự kiện rằng mọi sự là
trống không sẽ không giúp đỡ cho họ thoát khỏi mê lầm
ấy : cũng như trong một giấc mộng, không có cái gì đang
thực sự xảy ra, tuy nhiên khi đang mộng các bạn thấy biết
nó như là một sự thật, như hoàn cảnh của các bạn, và
phản ứng theo nó. Bởi vì chúng sanh thực sự kinh nghiệm
mê vọng như cái gì thực có, họ cần nương dựa vào những
phương pháp của chân lý tương đối. Cần thiết đưa họ
đến một cái hiểu tiệm tiến về chân lý tuyệt đối. Nếu
không có mê lầm, thì cũng không cần đến mọi lời dạy
này về chân lý tương đối. Nhưng khi nào chúng sanh còn bị
giam cầm trong vô minh, họ cần nương dựa vào những giáo
lý ấy ; họ cần những định luật hiện hành trong sự khai
mở của chân lý tương đối : đó là định luật của tất
cả những hiện tượng, định luật nghiệp không thể tránh
khỏi của nhân và quả.
Sự
thấu hiểu tánh Không này được đạt đến bằng cái hiểu
tánh vô ngã thực sự, nó có nghĩa là sự không hiện hữu
của bản ngã riêng biệt, cá thể, và sự không hiện hữu
của những hiện tượng độc lập. Tất cả các pháp những
hiện tượng bên ngoài và biến cố tâm thức bên trong
đều thực sự không có hiện hữu độc lập.
Sự
không hiện hữu của bản ngã cá biệt đã được Chandra-kirti
trình bày rõ ràng trong một phân tích có bảy phần. Ngài dùng
một ví dụ một cái xe như là cái được gọi là một bản
ngã (atman) cá nhân, nó chỉ là một liên kết những yếu tố
với những tác nhân tương thuộc, và có rất ít hay không
có gì để chúng ta có thể gọi là bản ngã của một cá
thể. Cái xe không phải là bánh xe, không phải là trục xe.
Ngay cả chúng ta không thể tìm thấy một thực thể bằng
cách gom những cái ấy lại với nhau. Nó hoàn toàn là một
sự đặt tên gán cho một cái gì tự nó không hiện hữu :
giống như sự đặt tên cho một nhóm sao là “Cái Gáo lớn,”
trong khi không có cái gáo nào cả thường dùng để múc chất
lỏng. Đã hiểu sự không hiện hữu của bản ngã cá nhân,
người ta sẽ đến chỗ phân tích sự không hiện hữu của
những hiện tượng nói chung. Bấy giờ người ta sẽ dễ dàng
hiểu ý nghĩa sự không tách lìa của hai chân lý : bản tánh
trống không, rỗng rang và sự xuất hiện như huyễn không
ngừng của tất cả hiện tượng.
Nền
tảng của Trung Đạo là hai chân lý : tuyệt đối và tương
đối. Con đường của Trung Đạo là cách thức kinh nghiệm
trực tiếp chân lý của sự hợp nhất của tương đối và
tuyệt đối. Điều này được làm qua sự tích tập công đức
và trí huệ. Tích tập trí huệ nghĩa là an trụ trong một
trạng thái bình đẳng và trong sự nhìn thấy tánh Không, shunyata,
vượt khỏi mọi ý niệm và tính chất. An trụ bằng phẳng
trong bản tánh tuyệt đối này là cái chúng ta gọi là thiền
định. Khi có sự tích tập công đức trong thời gian sau-thiền-định
đó bởi vì cách hành động của chúng ta tương ưng với cái
hiểu về bản tánh Không, và bởi thế nó tự nhiên chuyển
hóa thành đức hạnh.
Sự
tích tập trí huệ thì vượt khỏi mọi tác ý biểu tượng
; sự tích tập công đức thì hòa hợp với tác ý biểu tượng.
Khi chúng ta nghĩ đến sáu hoàn thiện hay sáu ba la mật
rộng lượng, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định
và trí huệ lúc ấy sẽ có ý tưởng giúp đỡ những người
khác. Từ đây có chủ thể, đối tượng, và hành động và
một loại khuôn khổ ý niệm hay tác ý biểu tượng. Con đường
Trung Đạo phối hợp sự hiểu biết về tánh Không tuyệt
đối trong thiền định với sự áp dụng cái hiểu biết đó
vào hoạt động Bồ đề tâm hoàn hảo, như thế đáp ứng
cho sự tích tập công đức qua sáu ba la mật và hiện thực
hóa rốt ráo Phật tánh.
Lý
do hoàn thành hai sự tích tập này không phải là cho chính
chúng ; mà bởi vì có một quả kết thành từ hai sự tích
tập đó. Quả của tích tập trí huệ là pháp thân ; quả
của tích tập công đức là sắc thân. Pháp thân là mục tiêu
tối hậu của sự chứng ngộ bản tánh tuyệt đối hay pháp
tánh, bản tánh Không của mọi hiện tượng, sự hợp nhất
của tánh Không và những hình tướng. Sự chứng ngộ này
có những phẩm tính giác ngộ vô biên chúng biểu lộ một
cách tự phát như những tia sáng phát ra từ mặt trời. Chúng
ta nói đến mười sức mạnh của Phật, mười tám sự vắng
mặt của mê lầm, mười lực… những cái ấy là tất
cả những phẩm tính giác ngộ của một vị Phật giác ngộ
viên mãn,và có sẵn trong pháp thân hay thân tuyệt đối. Bản
thân cái đó là Phật tánh và là quả của tích tập trí huệ.
Điều này nghĩa là chư Phật tự nhiên lưu xuất những biểu
lộ, như những đạo sư tâm linh, bồ tát,… để giúp đỡ
cho chúng sanh trong vô số cách.
Trong
sắc thân hay thân hình sắc, chúng ta phân biệt giữa báo thân
sự biểu lộ ở cấp độ vi tế, và hóa thân – sự biểu
lộ ở mức độ thô nặng. Cái sau là thân mà những chúng
sanh bình thường có thể tri giác. Hóa thân bao gồm những
biểu lộ như những tulku những lama bồ tát tái sanh, những
đạo sư tâm linh, những đại bồ tát, và những vị Phật
hiện thân như Phật Thích Ca Mâu Ni. Tam bảo cũng có thể biểu
lộ thành bất cứ thứ gì lợi lạc cho chúng sanh, như thuốc
thang, cầu đường, kinh văn, tượng ảnh…
Theo
cách này, quả của hai sự tích tập là cả hai sự chứng
ngộ tuyệt đối của giác ngộ (pháp thân), và tất cả những
biểu lộ vô số của nó cho lợi lạc của chúng sanh (sắc
thân).
Rất
dễ dàng nói rằng bản tánh của mọi sự là Không, và Không
không tách lìa với những hình sắc và những xuất hiện.
Tuy nhiên đây là một ý niệm cực kỳ sâu xa khó hiểu, khó
nắm bắt trọn vẹn. Trung Đạo vĩ đại là một chủ đề
bao la như chính giác ngộ. So sánh với cái thấy của Trung
Đạo, cái chúng ta thường tri giác thì giống như sự khác
biệt giữa cái chúng ta thấy qua một lỗ kim hay một ống
hút giải khát với cái nhìn thấy trực tiếp chính bầu trời.
Khi chúng ta nói “tánh Không,” đấy vẫn cùng một tánh Không,
dù được nhìn theo cách rộng hay hẹp, như trong thí dụ cái
thấy qua cọng rơm, nhưng có sự khác biệt lớn lao trong quy
mô, hiểu biết và chứng ngộ thực sự. Nó đòi hỏi nhiều
hơn chỉ là hiểu biết trí thức đơn thuần. Một sự hiểu
biết chân thực về tánh Không tăng trưởng sâu hơn, càng
lúc càng rộng hơn, đến chứng ngộ về sự hợp nhất nền
tảng và vốn vậy của chân lý tuyệt đối là tánh Không
và chân lý tương đối là luật nhân quả của những hiện
tượng nó tăng trưởng thành sự chứng ngộ hoàn toàn
của giác ngộ.
Suốt
sự thực hành của mình, chúng ta cần thường trực làm cho
tâm thức chúng ta rộng rãi hơn, kém khô cứng và rỗng rang
hơn. Sự cố gắng này là đáng giá trong rất nhiều lối.
Trong những hoạt động bình thường, tâm thức chúng ta thường
chật hẹp và khép kín vào chính nó, thật rất khó khăn để
hoàn thành bất kỳ một mục đích nào, để thực sự liên
hệ và có một thái độ vô ngã đối với những người khác.
Một tâm thức khép hẹp như thế chỉ có thể dẫn tới những
hậu quả bi thảm. Ngược lại, nếu chúng ta chuyên cần nỗ
lực mở rộng tâm thức chúng ta, chúng ta tự nhiên sẽ có
lòng bi, đức tin vào Tam Bảo, sự bình an bên trong và một
tri giác thanh tịnh về những người khác. Thái độ này sẽ
không chỉ đưa đến một đời sống hạnh phúc thoát khỏi
những chướng ngại, mà chắc chắn nó còn là đường lối
để dần dần hiểu ra chân lý tuyệt đối và bản tánh sâu
xa của mọi sự đúng như nó là, trong một đường lối hoàn
toàn mở trống và không bị điều kiện hóa. Trong cả hai
sự thiền định và những hoạt động của cuộc đời thường
ngày, rất quan trọng cho chúng ta là liên tục khai mở tâm
thức mình và giải thoát nó khỏi những ý niệm, sự tối
tăm của tâm thức, những tình cảm xung đột và mê lầm.
Người
ta có thể thấy trong đời sống của những con người cao
cả sự chứng ngộ chân lý thì mạnh mẽ biết bao nhiêu. Sự
chứng ngộ tánh Không tự nhiên mở ra lòng bi vô hạn và tri
giác thanh tịnh. Điểm rốt ráo của chân lý tuyệt đối là
sự chứng ngộ tánh Không. Sự thực hành rốt ráo của chân
lý tương đối là sự thực hành Bồ đề tâm, lòng bi.
Khi
chúng ta nói đến sự không tách lìa của hai chân lý, đấy
chính là vì khi người ta chứng ngộ tánh Không, người ta
sẽ tự nhiên và tự phát có lòng bi ; sẽ không cần chế
tạo ra nó. Thực hành Bồ đề tâm sẽ tự động dẫn chúng
ta đến sự hiểu biết chân lý tuyệt đối. Đấy không phải
là những thứ khác biệt ; hơn nữa, chúng luôn luôn xuất
hiện cùng nhau. Do đó tại sao là quan trọng khi thường trực
phối hợp chúng cố gắng khai triển sự thấu hiểu của
chúng ta về chân lý tuyệt đối trong khi cố gắng sử dụng
những phương tiện thiện xảo của Bồ đề tâm. Sự thực
hành của chúng ta trong cả hai chân lý, tương đối và tuyệt
đối, phải đi cùng với nhau không tách lìa. Chúng ta phải
hiểu từ trên với quan điểm tuyệt đối, trong khi thực hành
bằng sự leo lên ngọn núi tâm linh từ dưới với những thực
hành tương đối, phù hợp với khả năng và khuynh hướng
cá nhân. Đó là điều trong Đại Toàn Thiện có nghĩa là “lao
xuống từ bên trên trong khi leo lên từ bên dưới,” sự thực
hành phối hợp hai cấp độ của chân lý, cũng được biết
như là “hiểu theo cái thấy tối thượng và thực hành theo
khả năng mình.” Đây là hình thức đầy đủ và hiệu quả
nhất của thực hành tâm linh, nó có thể được áp dụng
trong bối cảnh của hầu hết loại hình thức thực hành riêng
biệt nào gồm cả những hoạt động bình thường của
đời sống hằng ngày.
Đây
chỉ là một ít lời về giáo lý. Điều chúng ta cần cho điều
này hay một giáo lý khác là thường trực tu hành tấm lòng
và tâm thức chúng ta để mở rộng, khai mở, ôn hòa và chuyển
hóa chúng. Trước tiên, hãy nghe những lời dạy, rồi tư duy
chúng sâu xa, và cuối cùng thâu hóa chúng, qua sự áp dụng
chúng vào thực hành thật sự. Nếu chúng ta làm thế, thì
cũng giống như sự chuyển hóa của thuật luyện kim biến
kim khí thành vàng. Khi chúng ta thực hiện tiến trình luyện
kim, nếu chúng ta bắt đầu với sắt, nó sẽ được chuyển
thành vàng ; nếu nó là đồng, nó sẽ biến thành vàng ; nếu
là bạc, nó cũng sẽ biến thành vàng. Tương tự, nếu chúng
ta áp dụng sự thực hành huấn luyện tâm thức này với Bồ
đề tâm, dù chúng ta đi vào những hoạt động thế gian, làm
việc cho chúng ta hay cho những người khác, cho chính phủ,
dịch vụ v.v…, chúng ta sẽ chuyển hóa tất cả những hoạt
động ấy thành con đường của Pháp. Như thuật luyện kim
biến bất cứ thứ kim loại nào thành vàng, thực hành Bồ
đề tâm sẽ chuyển hóa mọi hoạt động, mọi tư tưởng,
mọi điều chúng ta nói thành ra sự thực hành Pháp. Thế nên
cực kỳ quan trọng phải duy trì, tiếp tục và tăng trưởng
sự tu hành tâm thức.
Tại
sao chúng ta làm một cầu nguyện hồi hướng và chia xẻ công
đức vào lúc kết thúc sự giảng dạy ? Bởi vì hiệu quả
của bất kỳ thứ gì tích cực chúng ta đang làm đều nương
dựa vào việc chúng ta có hồi hướng nó hay không. Nếu chúng
ta hồi hướng một hành động tích cực cho lợi lạc của
tất cả chúng sanh với ước mong rằng họ sẽ thành tựu
giác ngộ, nó sẽ thực sự giúp đỡ tất cả chúng sanh đạt
được trạng thái đó, bởi vì tất cả chúng ta đều tiếp
hợp và tùy thuộc lẫn nhau. Những sự cầu nguyện thì rất
mạnh mẽ, hiệu quả và tỏa xa. Năng lực của hành động
tích cực đó bấy giờ sẽ tiếp tục không ngừng nghỉ, từ
ngay
giây phút của sự hồi hướng cho đến khi mục đích được
đạt tới.
Nếu
chúng ta không hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh,
năng lực tích cực có thể nhanh chóng tan mất. Ngay lúc một
hành động đức hạnh, nó sẽ có một hiệu quả tích cực,
nhưng nó sẽ không chuyển đi dài thêm, nó cũng sẽ chẳng
giúp gì nhiều cho chúng ta và những người khác đạt đến
giác ngộ. Luôn luôn tốt nhất là hồi hướng hành động
trong khi đang trụ trong sự hiểu biết về bản tánh tuyệt
đối, đúng như sự hiểu biết của tất cả chư Phật toàn
thiện. Nói lên hàng trăm lời cầu nguyện hồi hướng như
vậy chắc chắn làm lợi lạc không cùng cho sự tiến bộ
của chúng ta và giúp đỡ đưa những chúng sanh khác đến
giác ngộ. Bởi thế những lời hồi hướng là rất sâu thẳm,
sâu xa và quan trọng. Những cái ấy chớ nên chểnh mãng, mà
nên luôn luôn áp dụng cho bất cứ thực hành nào cũng như
cho bất cứ hành động tốt nào được làm trong đời sống
hàng ngày của chúng ta.
3
Bạn là Đại Toàn Thiện
Một
lời dạy về Bồ đề tâm Tương đối
và
Tuyệt đối vào dịp Ẩn cư hai tháng ở Hoa Kỳ
Tất
cả các bậc giác ngộ đã thấu rõ Phật tánh tối thượng
và toàn hảo : tất cả chúng sanh, gồm chính chúng ta, cũng
có thể làm như thế. Đó không phải là cái gì riêng tư giữa
các Lama và đệ tử. Đó là cái khai mở tính vô hạn của
bản tánh bổn nguyên của chính chúng ta, tâm thức và tấm
lòng tận cùng của chính chúng ta, Bồ đề tâm, một tặng
phẩm bẩm sinh không tách lìa với tất cả những sự vật
sống động.
Ở
mức độ tương đối của đời sống hàng ngày, Bồ đề
tâm là lòng bi, lòng từ và một sự bằng lòng ưng chịu vô
điều kiện. Ở mức độ tuyệt đối hay tối hậu, Bồ đề
tâm bao gồm những phương diện trống không, mở khắp, bí
mật nhất của cái đang là. Đấy là hai mặt của Bồ đề
tâm : tương đối và tối hậu, sự thật và tình thương.
Bất
cứ thứ gì chúng ta làm với động cơ ích kỷ, nhỏ hẹp,
quy ngã đều rất giới hạn và chắc hẳn nhất thời. Khi
chúng ta hành động với sự quan tâm cho chỉ đời này, trong
thế giới ta bà này, phạm vi của chúng ta thu nhỏ lại đối
với cái thực sự là. Có một câu nói Tây Tạng rằng, “mọi
sự đều nằm trên ngọn của động lực mỗi người.” Điều
này chỉ ra ý nghĩa trong mỗi phút giây của sự trau dồi ý
định vị tha, vô ngã Bồ đề tâm. Với một tấm lòng
sáng soi như vậy, ngay cả những lời nói, hành vi và hành
động nhỏ nhất mà người ta thực hiện cũng có những nội
dung bao la và lợi lạc. Đây là phép thần chuyển hóa của
Bồ đề tâm, một viên ngọc như ý đích thật, giống như
hòn đá huyền thoại của những triết gia biến ra vàng mọi
thứ nó chạm đến.
Với
Bồ đề tâm vị tha ý nghĩa sâu xa, hoặc chúng ta thực hiện
những hành động lớn hay nhỏ, cũng có những lợi lạc rộng
lớn và xa cho chúng sanh ở bất cứ đâu gồm cả chúng
sanh đời quá khứ, hiện tại và tương lai bởi vì phạm
vi của động lực mặc nhiên bao gồm tất cả chúng sanh. Hoạt
động của chúng ta là thiền định, cầu nguyện hay sự thực
hành tâm linh, bất cứ điều gì chúng ta làm đều dựa vào
động lực của chúng ta.
Theo
luật nhân quả, kết quả phải theo hạt giống hay nhân không
sai chạy, nhân này đầu tiên và chủ yếu là động lực của
chúng ta và thứ hai là tùy thuộc vào hoạt động thể xác
của chúng ta. Khi chúng ta làm việc chỉ cho sự thích thú hay
hạnh phúc riêng của mình, tự nuôi sống mình hay tìm kiếm
tiện nghi cho mình, đây là cái được gọi là một tâm nhỏ
hay một cái nhìn chật hẹp. Nó không giống ngay cả với sự
làm việc cho gia đình, cha mẹ chúng ta hay như một người
bảo vệ cho con cái chúng ta. Khi chúng ta mở rộng động lực
này một chút về phía gia đình và bạn bè, tấm lòng và tâm
thức cũng mở ra một mức nào đó. Điều quan trọng nhất
là có một lòng tốt, một tấm lòng trong sạch và thành thực,
nó thực sự là tinh túy nền tảng của tất cả chúng ta,
dầu nếu chúng ta không thường hiện thực nó.
Thường
thường chúng ta thấy mình liên lụy vào xung đột với gia
đình, với những đồng nghiệp v.v… Quan trọng và hữu ích
là nhận ra rằng điều này không tránh khỏi khởi ra, nhưng
không cần phải thấy đó là một vấn đề lớn lao. Vì mọi
sự dựa vào ý định của chúng ta. Chúng ta có thể làm việc
với bất cứ sự gì và đem nó vào trong con đường, sự thực
hành tâm linh của chúng ta, với một tâm thanh tịnh và một
lòng tốt, luôn luôn từ quan điểm làm lợi lạc cho những
người khác. Tinh túy thiết cốt của Phật pháp là làm lợi
lạc cho những người khác, Bồ đề tâm. Bất cứ thứ gì
khác chúng ta có thể làm chỉ là thứ yếu so với nó. Và
nếu chúng ta trau dồi lòng tốt này, thái độ vô ngã vị
tha này, bấy giờ mọi xung đột và chiến đấu sẽ tự nhiên
lặng xuống, được tịnh hóa, được chuyển hóa và ngay cả
trở thành lợi lạc cho những người khác qua sự tiếp xúc
với lòng tốt này, cái mà chúng ta những bồ tát nỗ
lực hiện thân.
Dầu
cho chúng ta có nghiên cứu đạo trong nhiều năm, nếu chúng
ta có một động lực bị pha tạp, không trong sạch, một thái
độ quy ngã, con đường của chúng ta bị giới hạn và sự
phát triển của chúng ta bị cản trở. Nếu một vị thầy
ban cho những bài thuyết pháp tuyệt hảo và những hình thức
dạy dỗ khác nhưng động lực của vị ấy bị pha tạp, lợi
lạc của những lời dạy ấy cũng cực kỳ giới hạn. Một
vị thầy tâm linh cần hiện thân một cách không khuyết điểm
sự trong sạch của tấm lòng, chảy tràn sự rộng lượng
tự nhiên và sự ấm áp của Bồ đề tâm vị tha, hướng
vào phụng sự : Bồ đề tâm nguyện vọng tinh ròng mong
muốn có khả năng thực sự giúp đỡ và cất bỏ khổ sở
của những người khác, trong cả hai nghĩa tương đối và
tối hậu.
Người
ta thường cảm thấy mình ở trong những tương quan khó khăn.
Khi nào chúng ta còn lệ thuộc vào nghiệp và phiền não, sẽ
còn không tránh khỏi vô số trồi sụt. Tuy nhiên nếu người
ta đã cam kết giúp đỡ lẫn nhau, phụng sự lẫn nhau, tiến
bộ và thức tỉnh lẫn nhau, bấy giờ mọi hoàn cảnh và tình
huống đều có thể làm việc được, dù bất cứ chìm nổi
trắc trở nào bất ngờ xảy đến. Đây là một thí dụ thực
hành Bồ đề tâm bằng cách áp dụng thực sự trong đời
sống hàng ngày của chúng ta, đấy quả thật là điểm chính
yếu.
Khi
chúng ta thực hành thiền định Bồ đề tâm, có vẻ như chúng
ta một mình, như chúng ta đang thực hành cho chính mình, nhưng
chúng ta không thực hành cho chúng ta, và chúng ta không một
mình. Tất cả chúng sanh đều nối kết với nhau, và trong
nghĩa đó họ đều hiện diện hay bị ảnh hưởng. Milarepa
hát, “Khi tôi một mình, thiền định trong núi non, tất cả
chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai ở cùng với
tôi. Guru Marpa luôn ở cùng tôi. Tất cả chúng sanh đều ở
đây.”
Chúng
ta không thực hành cho riêng chỉ chúng ta, bởi vì mọi người
đều tham dự và bao gồm trong phạm vi bao la của những lời
nguyện và thiền định của chúng ta về động lực thanh tịnh
toàn thiện này. Sự chảy tràn tự nhiên của cái gọi là
“thiền định hay cầu nguyện cô đơn” là sự lợi lạc
tự nhiên cho những người khác ; nó giống như những tia sáng
của mặt trời tự nhiên lan tới. Lòng tốt này, lòng trong
sạch này, tâm bao la và mở rộng khắp này, trong tiếng Tây
Tạng được gọi là sem karpo, tâm trắng. Nó nghĩa là tấm
lòng trong sạch, bao la và mở khắp. Đây là Bồ đề tâm bẩm
sinh. Nó không phải là cái gì xa lạ với chúng ta, vì chúng
ta biết rõ, tuy nhiên nó là cái chúng ta cần liên hệ hơn
nữa, trau dồi, phát sinh, và thể hiện. Chúng ta nói về những
giáo lý rộng và sâu của Pháp, như là Đại Toàn Thiện, nhưng
không có lòng tốt đẹp này, tính vô ngã này, thì chỉ là
nói nhiều, tầm phào và là sự hợp lý hóa của ý thức.
Nếu
một người đàn ông tìm hiểu một người sánh đôi, thường
khi anh ta chỉ nghĩ rằng anh ta chỉ muốn có một người đàn
bà để làm cho anh ta hạnh phúc về phần mình. Ít khi anh ta
nghĩ làm sao có thể làm lợi lạc hay giúp đỡ cho người
bạn đời.
Một
tương quan như vậy đã được xây dựng trên ngọn của một
động lực hay ý định rất hạn hẹp, và những kết quả
từ đó là đáng ngờ. Nhiều người ở trong một khách sạn
; khách sạn thì rất quan tâm đến viẹâc làm cho những người
khách vui sướng, nhưng thường thường động lực duy nhất
của họ là công viêïc làm ăn. Lý do làm cho khách vui sướng
là vì lợi ích của chính họ. Có một lợi lạc tối hậu
nào có thể có ở đấy khi cố gắng làm cho người ta vui
sướng theo một cách hạn hẹp như vậy, chỉ vì lợi cho riêng
mình ?
Nếu
người ta thực hành giáo lý hiếm có và sâu xa đến khó tin
Dzogchen, Đại Toàn Thiện bất nhị, với một ý định như
vầy : “Tôi muốn thực hành Đại Toàn Thiện, tôi muốn giác
ngộ. Tôi sắp có nó trong đời này,” và có nhiều ích kỷ
chụp bắt, năng nổ, hẹp lượng như vậy, làm sao có thể
có Đại Toàn Thiện nào ? Đấy là cái trái nghịch nhất với
Đại Toàn Thiện bao la, rỗng rang không điều kiện. Đấy
là tại sao chúng ta lạc khỏi con đường chân thật và trở
nên những người thực hành hoang dã và có khi còn điên cuồng.
Nếu sự chấp ngã, quý trọng mình, và bám lấy sự có thực
của những sự vật còn mạnh, làm sao có thể có Đại Toàn
Thiện đích thực, nó là trạng thái chân thật tự nhiên của
tự do, lồng lộng và sự toàn thiện nguyên sơ ?
Nếu
bạn làm những thực hành Bồ đề tâm tu hành tâm thức,
cầu nguyện từ bi, trao đổi mình với những người khác
(tong len)… những thực hành này có thể có vẻ như ý
niệm và tương đối, nhưng chúng thực sự bao gồm chân lý
tuyệt đối, chân lý tuyệt đối này là bản tánh rốt ráo
nhất của Đại Toàn Thiện : lồng lộng bao la, tâm trùm khắp,
trong sạch, tự do, và không bám níu. Vô ngã không khác với
sự rỗng rang bất nhị này, tánh Không bao la này. Đại Toàn
Thiện có thể là thanh tịnh và không bao giờ ô nhiễm một
cách nguyên sơ như tuyết trinh bạch, nhưng tiếp cận với
nó với động lực pha tạp hay nguyện vọng ích kỷ bất tịnh
là một giới hạn lớn lao. Khi bạn đi tiểu vào tuyết, tuyết
vốn là trắng, nhưng phút chốc hóa màu vàng.
Danh
từ Bồ đề tâm trong tiếng Tây Tạng là sem kye. Nghĩa đen
là “sự khai mở hay nở hoa của tâm thức” nó là cái đối
nghịch với tâm thức nhỏ hẹp, với sự tự lo toan, tự co
rút, và hẹp lượng. Dù chúng ta đang ở trên bất cứ con
đường thực hành nào Dzogchen, Kim cương thừa, Bồ Tát
Thừa, Thừa Theravada căn bản hay con đường nào khác nếu
chúng ta có một thái độ lành mạnh, trong sạch và một tâm
rộng rãi và khoan dung, bấy giờ sự thực hành của chúng
ta thực sự là sự thực hành Phật giáo ; nó cùng một mặt
với sự thực hành thực sự làm nở hoa và cởi mở tâm thức.
Đây là thật nghĩa của Bồ đề tâm.
Có
thể bầu trời thì luôn luôn trong trẻo, sáng sủa, bao la,
vô hạn v.v…, nhưng giây phút Đại Toàn Thiện xảy tới thì
cũng như mặt trời thình lình mọc. Không phải bầu trời
của bản tánh bẩm sinh của chúng ta được cải thiện, nhưng
một cái gì quả thực xảy ra. Ẩn dụ mặt trời mọc này
ám chỉ rang jung yeshe, trí huệ tỉnh giác tự nhiên tự hữu
hay sự tỉnh thức bẩm sinh mọc lên trong bản thể chúng ta.
Đây là khoảnh khắc của Đại Toàn Thiện, bình minh của
trí huệ tánh giác tự hữu, trí huệ bổn nhiên.
Đây
là ý nghĩa của cái được gọi là nyur de dzogpa chenpo trong
tiếng Tây Tạng nghĩa là “Đại Toàn Thiện bổn nhiên nhanh
chóng và sẵn đủ” – một con đường không đòi hỏi những
khổ hạnh hay những thực hành gian nan. Nó là trực tiếp,
nhanh chóng, rộng rãi, tự nhiên và sẵn đủ. Nó có thể làm
được !
Trong
một đời người, trong một thân thể, ngay trong một khoảnh
khắc của tánh giác tự khởi, cái bình minh của Vajrasattva
này – trí huệ tánh giác bổn nhiên tự hữu – chiếu soi
như một mặt trời rực rỡ bên trong. Khi bạn liên hệ với
trí huệ tánh giác bổn nhiên tự hữu này, khi bạn thực hành
Đại Toàn Thiện như nó thực sự là, cuộc đời con người
chóng vánh này đầy ý nghĩa tức thời. Và không chỉ cuộc
đời này, mà tất cả mọi đời sống của chúng ta có ý
nghĩa, như thể tất cả đời sống của mọi người được
kết hợp với chúng ta. Kinh nghiệm này về trạng thái tự
nhiên của Đại Toàn Thiện bổn nhiênvà sáng rỡ bao hàm sự
hủy diệt, sự tiêu ma thành bụi nhỏ mọi hình thức chấp
ngã và phân biệt nhị nguyên, sự bám chấp vào tính cụ thể
có thực của sự vật, vào hình tướng của chúng.
Cái
tự do vốn sẵn đủ của hiện thể hiện diện một cách
tự nhiên và nguyên thủy. Mọi thấy biết giả ảo tự nhiên
không hiện hữu trong bình minh của trí huệ tánh giác bổn
nhiên này. Sự sanh sôi của nghiệp và phiền não thì căn cứ
trên sự bám chấp nhị nguyên, cái vô minh : trong ánh sáng
của tánh giác bất nhị, những phiền não là bất khả đắc.
Mọi sự “rơi rụng” vì vốn là vô sanh từ nguyên thủy
; và sự tự do của hiện thể toàn thiện, của rigpa, tự
nhiên hiện tiền từ vô thủy, được thấu suốt một cách
rõ ràng và toàn triệt ngay trong khoảnh khắc ấy.
Thật
dễ đi lạc vào những lối tẻ trong cái sâu xa bao la và ngời
sáng này. Dĩ nhiên chúng ta biết rằng chúng ta cần một Bồ
đề tâm bao la, rộng mở, vị tha. Chúng ta có thể thấy rằng
cái Đại Toàn Thiện bẩm sinh, bản tánh tối hậu của sự
vật, thì vượt khỏi tâm thức ý niệm và những thấy biết
nhị nguyên của nó. Nhưng còn – ở đây điểm lạc lối
bắt đầu – chúng ta còn dò thám, tìm kiếm trong một lối
nẻo rất co hẹp và giãn ước, tự hỏi : Cái gì là Đại
Toàn Thiện ? Đâu là Đại Toàn Thiện ? Nó là gì ? Tôi muốn
thấy biết và kinh nghiệm nó.
Điều
này tự nhiên thôi, nhưng nó đi trước sự nhận biết thực
tánh của chúng ta. Đây là một điểm trệch đường, mà sau
khi nhận biết không cần thiết để xảy ra nữa. Cũng giống
như sau khi gặp và biết người nào, ta không phải suy nghĩ
quá nhiều để tưởng tượng ra người ấy có vẻ giống
hay không giống ai : có một sự giải thoát có tính trực giác
khỏi những nghi ngờ và suy tính như vậy, và người ta tiến
tới với sự cảm nhận trực tiếp, căn nguyên hơn.
Chúng
ta có thể có nhiều thắc mắc nảy sanh, như là, khi một tư
tưởng khởi lên, nhận xét rằng : Đây là một tư tưởng.
Nó khởi lên từ đâu ? Nó đang đi đâu ? Nó đã về đâu
? Đâu là khoảng hở hay không gian mở giữa những tư tưởng
mà tôi đã nghe nói trong những giáo lý Đại Ấn Mahamudra,
cái tôi tự cho là đã nhận biết ?
Điều
ấy có hơi dính dáng đến sự thực hành thực sự Đại Toàn
Thiện : đấy là thực hành tâm thức, sự thiền định do
tâm thức làm ra, mà không phải là thực hành tự thân rigpa.
Tuy nhiên những câu hỏi ấy là phần thuộc về những sơ
khởi hiển nhiên của thực hành Đại Toàn Thiện và giúp
cho người ta biết phân biệt giữa tâm thức (sems) và tánh
tỉnh thức bẩm sinh (rigpa).
Sự
nguy hiểm là chúng ta nghe quá nhiều và quá sớm. Chúng ta nghĩ
rằng chúng ta đã hiểu tánh Không, trên bình diện tuyệt đối
này lạc vào một cách thế hư vô, và bị che ám bởi những
ý niệm. Nagarjuna nói, “Thật buồn khi thấy những người
tin vào thực tại cụ thể, vật chất một cách sai lầm, nhưng
còn đáng thương hơn nhiều là những người tin vào tánh Không
trống rỗng.” Những người tin vào những sự vật có thể
được cứu giúp bằng nhiều loại thực hành, bằng đường
lối những kinh nghiệm thiện xảo, nhưng những người rơi
vào vực thẳm của cái không thì khó có thể vượt lên được,
vì không chỗ nào để nắm tay, không có chỗ bước chân,
không có sự tiến bộ từ từ, và không có gì để làm cả.
Người
ta dễ trở nên say sưa bởi mớ bòng bong của những ý niệm.
Thế rồi chúng ta kiệt sức trong phỏng đoán không kết quả,
trở nên thất vọng và cuối cùng vất bỏ. Đây là sự nguy
hiểm từ việc nghe những lời dạy bất nhị, như Đại Toàn
Thiện và tánh Không, trước khi người ta đã thực sự kinh
nghiệm và thực hành chúng. Nhưng ai là kẻ đã tạo ra những
nỗ lực đáng ngờ và có vẽ gian dối này ? Chính là tâm
thức diễn dịch hay ý niệm, kẻ namtok. Namtok nghĩa là tính
ý niệm, sự suy nghĩ diễn dịch ; nó để chỉ tâm thức nhị
nguyên, nó tạo ra không dứt mọi nỗ lực vô ích này.
Bộ
máy namtok, tri thức phân biệt, có hai loại gia đình. Một
gia đình là nhóm ba độc (phiền não), hay năm độc, chúng
đại diện toàn bộ sự sinh sôi phồn thịnh của tám vạn
bốn ngàn phiền não được kể theo truyền thống ; những
cái ấy bao gồm tất cả mọi thứ tư tưởng, mọi xúc động
tích cực và tiêu cực, mê lầm v.v… – Anh chàng namtok này,
tâm nhị nguyên này có ba phạm vi : những tư tưởng quá khứ,
những tư tưởng hiện tại và những tư tưởng tương lai.
Bộ
máy Namtok này, cái tâm thức nhị nguyên này cũng có ba nhóm
bà con thân thuộc : những tư tưởng, lời nói, và hành vi
tốt ; những tư tưởng, lời nói hành vi không tốt ; và những
tư tưởng, lời nói hành vi trung tính. Không chỉ những xúc
tình không tốt – như sân giận, si mê và tham luyến – mới
là namtok. Ngay cả những tư tưởng, hành vi, hành động tốt
– như tình thương, lòng bi và sùng mộ hiến dâng – cũng
là namtok. Cái trung tính hay thản nhiên – và ngay cả những
tư tưởng vô thức, không được biết đến – cũng là namtok,
bởi vì chúng ở trong vòng rào của tâm hữu hạn, nhị nguyên
và vô minh.
Bấy
giờ, làm thế nào liên hệ với mọi gia đình, giòng tộc
này của namtok ? Làm thế nào để sống chân lý của Pháp
trong cuộc đời bình nhật, nơi mới thực sự đáng kể, nơi
mới thực sự có thể phân biệt ? Bằng cách thực hành chân
lý của tánh giác bổn nhiên tự-khởi-và-tự-giải-thoát-đồng-thời.
Mọi sự trong kinh nghiệm của chúng ta thì thật ra tự nhiên
xuất hiện, tự nhiên biến đổi, tự nhiên giải thoát hay
tự do, mà không có sự giúp đỡ của chúng ta. Chúng ta không
cần can thiệp, thao tác, tạo tác bất kỳ thứ gì. Đó là
quan kiến Đại Toàn Thiện về cách làm thế nào liên hệ
với mọi sự, cả trong những thời thiền định chính thức
lẫn thời gian sau thiền định, trong đời sống hàng ngày.
Nó phối hợp ba phương diện của thực hành rigpa : cái thấy,
thiền định,và hành động.
Dzogchen,
Đại Toàn Thiện tự nhiên, được cho là một sự thực hành
và cái thấy một quan kiến hay viễn cảnh, vượt khỏi tâm
thức ý niệm. Bởi thế, thuận theo hay chống lại những hình
tướng, hiện tượng, xuất hiện – đó là những điều kiện
hoàn cảnh, hoặc ở trong hay ở ngoài, hoặc buông lung hay đè
nén namtok – đều là thiền định do tâm thức tạo dựng.
Đây là tạo tác và mưu định, không phải thực hành rigpa.
Đấy cũng giống như một con chó rượt theo cái đuôi của
nó. Đấy không phải là thực hành Đại Toàn Thiện, sự không-thực-hành
giải thoát tự nhiên của sanh khởi tự nhiên và giải thoát
tự nhiên.
Cho
đến khi nào người ta biết bản chất vô tự tánh, trống
không, như mộng của mọi namtok, mọi sắc tướng, mọi trạng
thái của tâm thức, gồm cả hai thứ bản thể tâm thức và
hiện tượng bên ngoài, và người ta nhận biết bản chất
rỗng rang và sáng soi của chúng, gồm cả Phật tánh vốn vô
ngã, mở khắp và sáng soi của chính mình, cho đến khi người
ta tự do với trụ chấp, tác ý hay phản ứng bắt buộc ;
còn không, nghiệp được tích tập là điều không thể tránh.
Tuy nhiên, an trụ trong rigpa – nhận biết bản tánh bổn nhiên
của mình, hưởng thọ dòng tự nhiên của tánh thức tỉnh
bẩm sinh, tánh giác bổn nhiên bất nhị – cọâi rễ sâu
xa nhất của nhân quả tạo nghiệp, của khổ đau, bị cắt
triệt. Hơn nữa, những điều kiện làm chín muồi những hạt
giống nghiệp tiềm tàng không thể tụ hội nữa, thế nên
ngay cả những lóng cặn tàn dư thuộc về nghiệp của những
hành động quá khứ không còn chỗ để chín. Giống như sự
sanh khởi của những sóng trong đại dương : chúng không làm
tiến triển, hủy hoại, quấy nhiễu hay làm biến đổi đại
dương chút nào, có lẽ trừ mức độ trên bề mặt ngoài
nhất.
Đây
là như thế nào chúng ta có thể, trong cách thức của Đại
Toàn Thiện, liên hệ với Phật tánh của chính chúng ta : qua
và giữa tất cả hình tướng, tất cả sanh khởi, tất cả
trường hợp và điều kiện, hòa hợp mọi hành động vào
cuộc hành trình tâm linh. Điều này phát lộ sự tự do và
toàn thiện vốn bẩm sinh của Đại Toàn Thiện, cái bản tánh
không biến chất, không đổi thay như đại dương của tự
thân tánh giác.
Nếu
chúng ta bị trói buộc bởi hy vọng và sợ hãi, mong ước
và lo âu, chúng ta lại cần tự định hướng trở lại, dùng
cái thấy của Đại Toàn Thiện như là một ngôi sao bắc đẩu
để vượt biển dễ dàng hơn. Bởi vì chúng là dấu hiệu
cho thấy chúng ta không ở trong rigpa, mà còn bị lôi cuốn
vào tâm thức thuần ý niệm, đó không phải là sự thực
hành Đại Toàn Thiện.
Tuy
nhiên, làm thế nào chúng ta cắt đứt công cuộc tìm cầu
của chúng ta trước khi nó được đáp ứng trọn vẹn ? Chúng
ta cần nhận biết bản chất của người tìm cầu để cho
sự tìm cầu của chúng ta được thỏa mãn.
Sùng
mộ và lòng tin vào vị thầy của chúng ta là một thực hành
có thể bảo đảm cho chúng ta gần gũi với tinh túy của con
đường Đại Toàn Thiện. Một số người sớm kết luận
rằng một giáo lý tinh yếu, trực tiếp và trần trụi như
là những lời dạy bất nhị của Đại Toàn Thiện thì không,
và ngay cả không nên, đòi hỏi niềm tin, sự sùng mộ hay
sự thực hành tương đối, hay mọi loại tu hành có chủ định
nào. Những người ấy nhảy vào một kết luận vội vã rằng
Bồ đề tâm vị tha, những hoạt động công đức, giới luật
và những thực hành tâm linh liên hệ không liên quan gì với
sự thực hành tự nhiên của Đại Toàn Thiện sâu xa.
Từ
một quan điểm người ta có thể nói đấy là sự thật hay
có lẽ gần với sự thật. Quả thật là tất cả những điều
ấy đều nằm trong bối cảnh của chân lý tương đối, chiều
kích của tâm thức (sems). Điều đó không thể chối cãi.
Những cố gắng tâm linh như vậy không tất yếu đồng nhất
với chính Đại Toàn Thiện, thực tại tuyệt đối siêu vượt
khỏi tâm thức. Bởi thế không phải không đúng, ở một
mức nào, khi nghĩ rằng sự tin tưởng, sùng mộ, cố gắng
với ý định và sự trau dồi của những thực hành tương
đối không phải là chính Đại Toàn Thiện – bản tánh tuyệt
đối của sự vật, chân lý tuyệt đối, trí huệ tánh giác
tự hữu hay bẩm sinh tự nhiên. Quả thật là những thực
hành tương đối này là tâm thức, là namtok ; chúng không phải
là bản thân Đại Toàn Thiện.
Tuy
nhiên, những thực hành tương đối này là rất, rất quan
trọng cho những người cũng như chúng ta, còn đang bị lôi
cuốn sống trong thế giới tương đối. Chúng ta không thể
chối bỏ sự vận hành của nghiệp và sự bị qui định của
chúng ta tiếp tục trói buộc chúng ta như thế nào. Đối với
người nào tức thời chứng ngộ và trong khoảnh khắc ấy
hoàn toàn hiện thực hóa Phật tánh toàn thiện của Đại
Toàn Thiện – nó không gì khác hơn là rigpa – họ không phải
làm gì tương đối nữa : họ không ở trong thế giới này
nữa. Tuy nhiên ngày nào họ còn hiện thân và bước trên mặt
đất này, chắc chắn họ cần phải là nhữn