Kho
báu ngọc quý
để
xua tan mọi chướng ngại
Các
trả lời cho các câu hỏi của Yeshe Tsogyal
Ở
nơi ẩn cư Samye Chimphu, công chúa Tsogyal xứ Khar-chen, thỉnh
cầu đạo sư Padmakara : Xin chiếu cố, đại sư ! Dù ngài đã
chỉ cho một cô gái kém thông minh như con rằng tất cả thế
giới và chúng sanh là Pháp thân, vậy mà sự tu hành Pháp của
con vẫn lạc vào hiểu biết lý thuyết ý niệm do liên hệ
tương tục với tập khí của tri giác sai lầm. Con xin ngài
từ bi ban cho con sự chỉ dạy cho phép con nối kết bất kỳ
điều gì con làm với bản tánh bổn nhiên của Pháp tánh !
Padmasambhava
trả lời : Hãy nghe đây, Tsogyal ! Con phải có ba điểm then
chốt khi thực hành giáo lý Mật thừa của Đại thừa : điểm
then chốt của thân, tư thế ; điểm then chốt của mắt, cái
nhìn ; và điểm then chốt của tâm, cách thức an trụ.
Trước
hết, trong một nơi kín đáo, ngồi tư thế khoanh chân kiết
già trên một tọa cụ thoải mái, để hai tay ngang nhau, dựng
thẳng xương sống. Nếu thân con duy trì trong trạng thái bổn
nguyên của nó, thiền định xảy đến tự nhiên. Không thực
hiện tư thế thân thể đúng, thiền định sẽ không xảy
ra.
Tiếp
theo, đối với cái nhìn, chớ nhắm mắt, chớp mắt hay nhìn
qua bên. Hãy nhìn thẳng không lay động vào trước mặt. Khi
cái thấy của mắt và tâm thức chia nhau một bản tánh đơn
nhất, bấy giờ thiền định xảy ra tự nhiên. Không có cái
nhìn đúng, thiền định không xảy ra.
Điểm
then chốt của tâm là thế này : chớ để trạng thái bổn
nhiên của tâm bình thường theo đuổi các dạng thức quen
thuộc ở quá khứ, chớ để nó nhìn về các hoạt động
phiền não ở tương lai, và chớ để nó tạo tác thứ gì
bằng danh tướng ý niệm trong trạng thái hiện tại của con.
Qua sự an trụ tỉnh thức trong cách thế tự nhiên của nó,
thiền định xảy ra tự nhiên. Nếu con phóng tưởng hay tán
tâm, thiền định không xảy ra.
Khi
trong cách này con để cho ba cửa ở yên trong trạng thái tự
nhiên của chúng, mọi vọng niệm thô và tế lắng xuống và
tâm con yên ổn thả lỏng trong chính nó. Đây gọi là samatha,
chỉ. (Khi tâm con) không chướng ngại, vô trụ, và trần trụi
trong sự tỉnh giác tự nhiên (đây gọi là vipashyana, quán).(10)
Khi cả hai trong một khoảnh khắc thức giác, an trụ trong sáng
một cách sống động như là một thực thể không thể phân
chia, đó gọi là chỉ không lìa quán. Hiểu biết theo danh tướng
ý niệm là khi con giữ ý thức như một mục tiêu. Kinh nghiệm
là khi con khám phá tính vô trụ của nó, và chứng ngộ xảy
ra khi các trạng thái này của tâm an trụ trong sáng một cách
sống động như là yếu tính của sự thiền định của con.
Cái ấy không có một khác biệt nào với sự chứng ngộ của
chư Phật ba đời. Nó không phải là một sự tạo tác đặt
căn bản trên lời dạy sâu xa của vị thầy, cũng không phải
là kết quả của trí thông minh sắc bén của một đệ tử.
Đó gọi là đạt đến trạng thái bổn nhiên của nền tảng.
Khi
tham thiền như thế, ba kinh nghiệm về lạc, trong sáng và vô
niệm sẽ hiện bày.
Tâm
thức tự do khỏi tưởng gọi là vô niệm và có ba loại.
‘Không có niệm thiện’ nghĩa là tự do khỏi sự bám níu
vào người tham thiền và đối tượng được tham thiền. ‘Không
có niệm ác’ là sự cắt đứt dòng tư tưởng thô và tế.
‘Không có niệm trung tính’ là sự nhận ra khuôn mặt bổn
nhiên của tánh Giác như là không chỗ trụ.
Trong
trạng thái vô niệm này, sự trong sáng là sự sáng rỡ không
bị che chướng và trần trụi của tánh Giác. Có ba loại trong
sáng. ‘Trong sáng tự nhiên’ là trạng thái tự do khỏi một
đối tượng. ‘Trong sáng bổn nguyên’ không xuất hiện trong
một khoảng thời gian nhất thời. ‘Trong sáng bổn nhiên’
thì không do ai tạo ra được.
Có
bốn loại lạc. ‘Cảm giác phúc lạc’ là tự do khỏi các
điều kiện đối nghịch của không hòa điệu. ‘Lạc vô
niệm’ là tự do khỏi sự đau khổ của ý niệm danh tướng.
‘Lạc bất nhị’ là tự do khỏi sự bám níu sự trụ tướng
nhị nguyên. ‘Lạc vô điều kiện’ là tự do khỏi nguyên
nhân và điều kiện.
Khi
các loại kinh nghiệm này sanh khởi, con cần ba thứ xả ly
: xả ly lạc là giống như một người điên ; xả ly sự trong
sáng là giống như giấc mơ của một trẻ nhỏ ; và xả ly
vô niệm là giống như một thiền giả đã hoàn thành sự
tu hành thiền định của mình. Khi con có các thứ này, con
thoát khỏi các khuyết điểm của thiền định.
Nếu
con bị hấp dẫn và bám níu vào ba kinh nghiệm này, con lạc
vào ba cõi. Khi bám níu vào lạc, con sẽ lạc vào dục giới
; khi bám vào sự trong sáng con sẽ lạc vào sắc giới ; và
khi bám vào vô niệm con sẽ lạc vào vô sắc giới.
Dầu
cho con nghĩ rằng con không dính cũng không bám vào chúng, con
cũng còn một sự dính chấp vi tế bên trong. Để cắt đứt
cái bẫy này, có chín trạng thái định liên tiếp nhau, khởi
đầu bằng bốn thiền để xa lìa tư tưởng tham ái. Sơ thiền
là thoát khỏi ý tưởng về người tri giác và cái được
tri giác, nhưng vẫn còn nằm trong sự phân biệt một đối
tượng và hành động tham thiền. Nhị thiền là thoát khỏi
ý tưởng và phân biệt, trong khi còn trụ vào sự thưởng
thức mùi vị vui sướng của định. Tam thiền là đạt đến
tâm không động, nhưng còn hơi thở vào và hơi thở ra. Định
của tứ thiền hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng ý niệm với
sự tri giác trong sáng không bị che chướng.
Bốn
thiền vô sắc tẩy trừ tư tưởng ý niệm về sắc giới.
Trụ vào ý tưởng “tất cả hiện tượng đều như hư không,”
con lạc vào Không Vô Biên Xứ. Trụ vào ý tưởng “thức
là vô cùng và không phương hướng,” con lạc vào Thức Vô
Biên Xứ. Trụ vào ý tưởng “Cái Biết trong sáng là không
hiện diện, không vắng mặt, và không thể tạo thành một
đối tượng của tri thức,” con lạc vào Không Hiện Diện
Cũng Không Vắng Mặt (Vô sở hữu xứ). Trụ vào ý tưởng
“Tâm này không nhờ vào một thực thể nào ; nó là vô hữu
và trống không,” con lạc vào cõi tri giác về Không Có Gì
Tất Cả. Các trạng thái này còn có sự nhiễm ô vi tế của
ý niệm danh tướng, sự hấp dẫn thuộc về tâm thức và
các kinh nghiệm của tâm nhị nguyên.
Diệt
Thọ Tưởng Định xa lìa các ý niệm về các trạng thái này.
Sự dừng bặt thuộc về phân tích là sự dừng dứt của
sự dấn thân của sáu thức vào các đối tượng của chúng,
nó gồm cả sự cắt đứt hoạt động của hơi thở và tâm
nhị nguyên. Sự dừng bặt thuộc về không phân tích là đi
đến tự tánh của con. Đó là sự thản nhiên tối hậu.
Trong
chín cấp bậc định này, bốn trạng thái thiền là “chỉ
sanh ra quán.” Như thế, định của bốn thiền này là hòa
hợp với tự tánh và là cái trổi vượt nhất trong mọi loại
định thuộc về thế gian.
Bốn
thiền vô sắc là các bẫy của định. Diệt thọ tưởng định
là cái định bình an của bậc Thanh Văn.
Bằng
sự hiểu biết những trạng thái này, con có thể phân biệt
các loại định khác nhau, xóa tan các chướng ngại trong thực
hành thiền định và không đi lạc.
Năm
con đường bao gồm trong ba. Cắt đứt các bẫy này và thực
hành một thiền định không khuyết điểm, con an trụ thanh
tĩnh và sống động trong phúc lạc, trong sáng và vô niệm
suốt trạng thái thiền định.(11) Trong trạng thái sau-thiền-định,
các hình tướng khởi lên không ngăn chướng và đều vô tự
tánh như một giấc mộng hay ảo huyễn. Con biết được bản
tánh của nhân và quả, làm đầy tràn công đức, đạt được
“hơi ấm của định,” và như thế hoàn thành con đường
tích lũy.
Thực
hành như thế một thời gian dài, con thấy được một cách
hiện thực, bản tánh vô trụ và tự chiếu hiện diện nơi
con. Nhận ra bản lai diện mục của con là con đường của
cái thấy. Kinh nghiệm các tướng, trí huệ và tánh Không là
vô sở trụ và tự thông tỏ, tức là con thấy trực tiếp
bản tánh bổn nhiên không tùy thuộc điều kiện. Sự ngăn
che của phiền não bị phá hủy tận gốc rễ. Chứng ngộ
rằng nhân và quả đều trống không, sanh tử không có hiệu
hữu chắc thật. Đây gọi là địa đầu tiên, Hoan Hỷ địa.
Trạng thái thiền định không lìa rời Phật tánh và mọi
sự sau-thiền-định sanh khởi như ảo huyễn.
Quen
dần với trạng thái này và hộ trì nó một cách vững chắc,
mọi hiện tượng trở nên bất nhị. Hãy nhận biết chúng
như là tự tâm hiện, các hình tướng và tâm hòa trộn thành
một. Khi tánh Không sanh khởi như nhân và quả, con chứng ngộ
duyên sanh. Suốt trạng thái thiền định mọi hiện tượng
là không chỗ trụ và hiện diện như tinh chất của tánh Giác.
Sự hiện diện nhẹ nhàng của các hình tướng bên ngoài trong
thời gian sau-thiền-định là con đường của sự tu tập.
Duy
trì điều ấy một thời gian dài, con chứng ngộ rằng sanh
tử và Niết bàn là bất nhị, vượt khỏi sanh và diệt, là
vô trụ xứ và tự thông tỏ không trộn lẫn nhiễm ô và
rốt ráo toàn thiện. Sự che chướng trí huệ hoàn toàn biến
mất, và vào khoảnh khắc tất cả mọi sự hiện ra như tánh
giác bổn nguyên là con đường thành tựu, tức là trạng thái
Phật tánh.
Tsogyal
lại hỏi : Xin chiếu cố, thưa đại sư. Đây là tánh bổn
nhiên của sự vật, nhưng làm thế nào người ta ứng dụng,
thi hành cho đến khi đạt đến an định ?
Padmasambhava
trả lời : Nghe đây Tsogyal ! Có ba loại cư xử. Trước hết,
để thiết lập con đường có cách cư xử chung, tổng quát.
Tiếp theo, để làm phát sanh sự nâng cấp, có cách cư xử
bí mật của kỷ luật du già. Cuối cùng, có cách cư xử tối
hậu rốt ráo của tánh Như chân thật.
Cư
xử thì rất quan trọng vì phần lớn đời sống xảy ra trong
những hoạt động hàng ngày sau-thiền-định. Con có thể hiểu
một cách trí thức một cái thấy cao sâu, nhưng trừ phi con
hành động thuận theo ý nghĩa của nó, thì con sẽ lạc khỏi
con đường. Con có thể đạt được một trạng thái thiền
định tuyệt hảo, nhưng trừ phi con duy trì được nó suốt
các hoạt động sau-thiền-định, nó sẽ nhạt mất. Bởi thế,
phải hiểu thấu điểm cốt yếu nhân-quả : không có hạnh
xấu và hoàn thành ngay cả các hành động đức hạnh nhỏ
nhất. Đó là con đường đúng, tinh túy của giáo lý đức
Phật, điểm cốt yếu của trí huệ.
Nếu,
đã có một thân người, con muốn thực hành Pháp thiêng liêng
một cách đúng đắn, chớ để cho ba cửa của con lạc vào
sự bình thường thế tục dù chỉ một khoảnh khắc. Trong
sự thực hành ban ngày hãy buông thả cho tâm thức con không
tạo tác và để cho kinh nghiệm của sáu giác quan được tự
do thư thả, như một giấc mộng hay một trò huyễn hóa. Ban
đêm, hòa trộn giấc ngủ sâu với pháp tánh trong một trạng
thái vô niệm thoát khỏi sự phóng xuất hay tan biến của
tư tưởng. Hãy tịnh hóa kinh nghiệm mê lầm của trạng thái
mộng, dẫn nó về đường chánh. Thế có nghĩa là tu hành
tình thương, đại bi và Bồ đề tâm và trong sự lần hồi
quen thuộc với các giai đoạn phát triển và thành tựu.
Sáng
và chiều, cử hành sự tịnh hóa bảy phần(12) và chớ xao
lãng các dâng cúng torma hàng ngày và các thứ. Sám hối các
nghiệp xấu với thần chú một trăm âm. Hãy cẩn thận với
điểm cốt yếu là nhân quả. Suy nghĩ trở đi trở lại về
sự khó khăn có được tự do và của cải, về cái chết
và sự vô thường, và về những lỗi lầm khuyết điểm của
sanh tử.
Hãy
tu hành Bồ đề tâm. Tu hành giai đoạn phát triển, đến mức
độ mà mọi cái gì xuất hiện và có mặt là mạn đà la
của hóa thần. Đối với giai đoạn thành tựu, hãy an trụ
trong trạng thái bất nhị nó là các hình tướng không có
tự tánh, như sự phản chiếu của mặt trăng trong nước.
Lúc chấm dứt, hãy hồi hướng công đức.
Thực
hành theo cách này, con hòa điệu với các thừa tổng quát,
con tiến triển trên con đường đúng, và con đã thiết lập
nền tảng cho con đường của yoga.
Thực
hành cư xử bí mật của kỷ luật yoga sau khi con đã thiết
lập nền tảng của con đường và đã đạt được kinh nghiệm,
thấu hiểu và tin vào cái thấy và trạng thái chân thật.
Cư xử bí mật nâng cấp con đường này và cắt đứt tư
tưởng ý niệm. Nó có thể theo đuổi bởi hành giả có sự
quen thuộc nhiều và an định vững chắc trong thực hành.
Về
sự thực hành đúng của Đại thừa, có cái thấy của sự
thấu hiểu rằng mọi đối tượng là không thật. Đối với
Mật thừa, có cái thấy về vòng hóa thần – giai đoạn phát
triển – và tính bất nhị vượt khỏi các biên cực – tức
là giai đoạn thành tựu.
Khi
con nhận thấy mọi chúng sanh là cha mẹ mình, con làm sanh khởi
con đường qua sự tu hành tâm con trong Bồ đề tâm. Để cắt
đứt sự chấp ngã và tin vào ma quỷ, hãy đến một nơi dễ
sợ và cắm trại trong một chỗ đáng sợ nhất. Hãy bắt
đầu với việc quy y Tam Bảo, phát triển Bồ đề tâm và
cầu xin guru của mình. Rồi sau một hồi lâu thành khẩn quán
tưởng từ bi và Bồ đề tâm đối với tất cả chúng sanh
nhiều như hư không, mà đầu hết là quỷ ma của vùng ấy.
Ở lại và đi ngủ trong Bồ đề tâm tối hậu, trạng thái
đại lạc không bị ngăn ngại, vượt khỏi sanh, trụ, diệt,
trong đó chư thiên và quỷ ma là bất nhị. Khi con cảm thấy
sợ hãi, tập trung và chú tâm vào sự suy nghĩ này : “Sự
sợ hãi này khởi ra từ sự tin vào ma quỷ, nó nảy ra từ
sự không tin rằng mọi chúng sanh là cha mẹ mình.” Bây giờ
sự phóng xuất tư tưởng ấy xuất hiện như là ma quỷ. Thế
thì làm sao Bồ đề tâm của ta, hiện chỉ là những lời
vô vị và các ý niệm tri thức, thành tựu được chân nghĩa
?” Chú tâm như thế, trau dồi đại bi và Bồ đề tâm thành
thật và dâng tặng thân con chẳng màng chi cho mọi vị thần
và quỷ ma, đầu hết là quỷ ma của vùng ấy. Nói rằng :
“Hãy lấy thịt xương, máu huyết của ta, như các người
muốn !”, để tâm con an định trong Bồ đề tâm.
Cùng
một cách ấy, khi con có một ý nghĩ về thần hay quỷ và
Bồ đề tâm của con dao động, hãy nghĩ : “Đây là một
phóng ảnh do sự tin vào quỷ ma !” Và đem cho họ thân con
chẳng màng. Rồi ở yên trong sự bình thản. Nếu một hồn
ma thật sự xuất hiện, hãy nhẩy thẳng vào miệng nó hay
vào lòng nó và hoàn toàn bỏ đi ý niệm yêu quý thân con.
Trau dồi tâm bi và hồi hướng công đức.
Khi
sự tin vào quỷ ma bị cắt đứt, các hiện hình ma quái và
phô diễn ảo ảnh lắng xuống và quỷ ma của vùng ấy rơi
vào sự kiểm soát của con. Sự lắng yên của tư tưởng và
sự thuần hóa ma quỷ xảy ra đồng thời.
Một
khi con hiểu rằng mọi chúng sanh là cha mẹ mình, lúc ấy không
thể tin vào quỷ ma, còn có tin vào quỷ ma, ấy là con chưa
tu hành đầy đủ.
Thứ
hai, cắt đứt,(13) hãy nhận biết rằng mọi đối tượng
là không thực. Để cắt đứt sự tin vào quỷ ma và sự trụ
vào ảnh hưởng của chúng như là thật có, hãy đi đến nơi
khủng khiếp nhất để làm mạnh thêm cái thấy về các hình
tướng không thật của con. Quy y, phát triển Bồ đề tâm
và cầu nguyện. Khi nhận ra rằng mọi hình tướng đều không
thật, mọi ý niệm đều là vọng tưởng, mọi sự đều trống
không và cái thấy biết của con hiện giờ cũng giống như
một giấc mộng hay một ảo giác huyễn hóa, lúc ấy hãy đi
ngủ trong trạng thái Không vô quái ngại, trong đó rốt ráo
không có gì hiện hữu.
Khi
con cảm thấy sợ hay khủng khiếp, hãy tập trung tâm con, nghĩ
như thế này : “Không hiểu được rằng sợ hãi và khủng
khiếp đều giống như một giấc mộng và ảo giác huyễn
hóa, ta tin vào ma quỷ. Bây giờ sự phóng tưởng này khởi
lên để chỉ cho ta thấy rằng cái thấy về như huyễn của
ta chỉ là sự hiểu biết ngoài mặt ý thức. Sự hiểu biết
trí thức ấy sẽ không thành tựu thật nghĩa !” Tập trung
và chú tâm vào ý nghĩ này và ở yên thoải mái trong trạng
thái tất cả đều không thật và huyễn ảo.
Con
phải nhận biết bản chất không thật của sự phóng tưởng
niềm tin vào quỷ ma ngay lúc tư tưởng hay trò huyễn thuật
xảy ra. Quyết định rằng nó không có thực tại nào, mà
thật sự chỉ giống như huyễn hóa. Nếu trong thực tế một
hồn ma xuất hiện, hãy khẳng định rằng nó không thật và
nhảy thẳng vào lòng nó. Ngọn gió xoáy của sự hiện hình
ma quái sẽ biến mất và con đi qua nó không chướng ngại.
Ngay khi con cắt đứt được việc tin vào ma quái, sự biến
hiện huyễn ảo tự nhiên lắng yên. Vượt qua được tư tưởng
của con và chấm dứt quỷ ma xảy ra đồng thời.
Thứ
ba, để cắt đứt, tu hành một “giai đoạn phát triển”
vững chắc, nhờ đó kinh nghiệm của con biểu lộ như là
hình tướng của hóa thần. Để nâng cao giai đoạn phát triển
của con và cắt đứt sự tin ma quỷ và sự bám chấp nhị
nguyên vào một thế giới chúng sanh, hãy đi đến một nơi
đáng sợ. Ở đó, một khi đã phát khởi sự quy y, hãy phát
triển Bồ đề tâm, và cầu nguyện. Quán tưởng quang cảnh
chung quanh như là cung điện cõi trời và mọi chúng sanh, đặc
biệt là hồn linh của vùng ấy, như là hóa thần bổn tôn.
Trì tụng thần chú tinh túy, làm bén thêm chánh niệm tỉnh
thức, làm sáng tâm con và thiền định một thời gian dài.
Ôm trọn tánh Không tối hậu với điểm cốt yếu. Đi ngủ
trong trạng thái trong đó mọi thứ dù có xuất hiện cũng
không tự thể. Khi một tư tưởng sợ hãi hay khủng khiếp
nổi lên, gom tâm vào nhất niệm và suy nghĩ thế này : “Không
nhận ra hình tướng đáng sợ và làm khiếp hãi như là hóa
thần bổn tôn, tôi tạo ra sự tin vào quỷ ma. Bây giờ sự
phóng ảnh của nó xuất hiện như một biến hiện ảo hóa.
Giai đoạn phát triển của tôi chỉ là danh từ và hiểu biết
nơi bề mặt ý thức. Làm thế nào nó sẽ đưa tôi đến giai
đoạn thành tựu ?” Tâm nhất niệm, bỏ đi sự tham trước
thân thể và đem nó cho đi như món quà của một buổi tiệc.
Quán tưởng sống động rằng tất cả cái gì xuất hiện
và hiện hữu là hóa thần bổn tôn.
Dâng
cúng thân thể con như là cam lồ cho tất cả chúng sanh, cầm
đầu là các ma quỷ quấy phá. An trụ tự do trong trạng thái
bất nhị không ngăn ngại.
Sự
tin vào ma quỷ khởi lên vì khi hình tướng ma quái hay biến
hiện huyễn hoặc xảy ra, con không thấu rõ hình tướng là
mạn đà la của hóa thần. Hãy nghĩ rằng : “Đây đúng là
một phóng tưởng !”, và nhớ đến bổn tôn.
Đạt
được vài thành tựu là do thấu hiểu được rằng con và
ma quỷ đều cùng một bản tánh như hóa thần. Thế nên hãy
nghĩ rằng : “Gặp được bổn tôn thì thích thú biết bao
!” Hãy ôm choàng lấy ma quỷ bằng cách nhảy vào lòng nó,
đi vào trong miệng nó và trộn lẫn tâm các con một cách không
phân biệt. Trình diện thân xác con như là một quà biếu cho
buổi tiệc. Qua việc làm này, con sẽ hiểu rằng các hình
tướng là hóa thần, và như thế tất cả các ý niệm dừng
bặt, trò biến hiện tự nhiên lắng xuống, và hồn linh của
nơi chốn ấy rơi vào sự kiểm soát của con !
Thứ
tư, để cắt đứt, hãy hiểu bản tánh của bất nhị nhờ
vào một cái thấy vững chắc của giai đoạn thành tựu.
Dùng
sự sợ hãi, sự tin vào ma quỷ để nâng cao tính chất bất
nhị của giai đoạn thành tựu. Để làm thế, hãy làm những
điều sơ khởi và an trụ thư thả trong trạng thái bất nhị
trong đó thân và tâm là không hai, tướng và tâm là không
hai, ta và người là không hai, bạn và thù là không hai, chư
thiên và ma quỷ là không hai. Tóm lại, an trụ trong trạng
thái nơi đó không có bất kỳ hiện tượng nhị nguyên nào.
Duy trì sự liên tục này không lơi lỏng.
Nếu
sự biến hiện ảo hóa hay tư tưởng về ma quỷ xảy ra khi
thực hành như thế này, hãy chú tâm vào tính bất nhị, nghĩ
rằng : “Sự phóng ảnh này, sanh từ nghi ngờ, là do bởi
tâm ta không an định nhất tâm trong tánh bất nhị !” Ngay
khi sự tin vào ma quỷ khởi sanh, hãy yên nghỉ tự do trong
tánh bất nhị. Nếu một quỷ ma thực sự xuất hiện, chú
tâm một cách nhất niệm và nghĩ rằng : “Tuyệt vời thay
có được cơ hội để tu hành trong bản tánh bất nhị như
là sự làm mạnh thêm cái thấy !” Hãy nhảy vào lòng ma quỷ,
và con sẽ đi qua nó không chướng ngại trong tánh Không bất
nhị và không nền tảng. Cuối cùng ma quỷ không có một thực
thể nào.
Theo
cách này, nghĩa của tánh bất nhị hiện rõ bên trong con. Tư
tưởng nhị nguyên tin vào ma quỷ bị cắt đứt và sự biến
hiện ảo giác bên ngoài lắng xuống. Khi con chứng ngộ tánh
bất nhị, con cũng chinh phục được sức mạnh xấu ác và
quỷ ma ngăn chặn. Điều này nhờ vào tánh bất nhị và sự
duyên sanh lẫn nhau giữa tướng và tâm.
Kết
quả là, khi con còn hiện hữu thì các quỷ ma còn hiện hữu
; khi con bình an thì các quỷ ma bình an ; khi con giải thoát,
các quỷ ma được giải thoát ; khi con được thuần hóa, các
quỷ ma cũng thuần hóa. Quỷ ma là quỷ ma của chính con và
cắt đứt nó làm cho con an bình. Thế nên, chính là một sự
nâng cao, làm mạnh thêm lớn lao khi giáp mặt với một nơi
chốn đáng sợ hơn là hành thiền định trong ba năm.
Cách
cư xử bí mật này không chỉ nhắm đến tư tưởng về quỷ
ma mà còn để cắt đứt các bệnh dịch truyền nhiễm như
là bệnh cùi và các cảm giác sợ hãi, dị ứng, ghê tởm,
nhút nhát, hèn nhát, bối rối v.v… Tóm tắt, bất kể loại
tư tưởng nào khởi ra, hãy cắt đứt nó như ở trên.
Cuối
cùng, cư xử tối hậu của tánh Chân Như là thoát khỏi sự
nhị nguyên của chư thiên và ma quỷ. Tự do khỏi sự nhị
nguyên của sạch và dơ thì nút khóa của sự trụ tướng
nhị nguyên được cởi mở. Tự do khỏi sự thúc đẩy của
sự muốn đừng có, muốn trau dồi hay bám níu thì tất cả
ý niệm về sanh tử và Niết bàn hoàn toàn tiêu tan mất trong
tánh Giác bất nhị rộng rãi vô biên, và con sẽ an trụ trần
trụi, độc chiếu như là nhất thể bất nhị, cái tinh chất
của đại lạc.
Vào
lúc ấy, nếu ngay cả Dharmaraja, Thần Chết, móc vào con và
đem con đi, con sẽ không cảm thấy sợ hãi. Nếu ngay cả Phật
Vajrasattva xuất hiện con cũng sẽ không có một nghi ngờ nào
hay không chắc để quyết đoán. Đây chính là sự cư xử
tối hậu của thật nghĩa.
Qua
các loại hành xử bí mật này, con thiết lập nền tảng của
trạng thái bổn nhiên, làm mạnh thêm cái thấy, tinh lọc sự
thực hành và hưởng quả. Lời dạy này là cực kỳ sâu xa.
Tsogyal
lại hỏi : Xin chiếu cố cho, thưa đại sư ! Con thỉnh cầu
ngài, từ bi ban cho con giáo huấn cốt lõi nó cắt đứt gốc
rễ của khổ đau ở trong sự tỉnh giác hiện tiền và đưa
cả hai sự sanh và sự chết vào đường Đạo.
Padmasambhava
trả lời : Nghe đây Tsogyal ! Chỉ bày các điểm then chốt
của thực hành qua năm yoga, ta sẽ dạy con giáo huấn cốt
lõi dùng bất cứ điều gì con làm như chính con đường.
Thứ
nhất, đối với yoga giấc ngủ, giây phút rơi vào giấc ngủ
giống như đang chết. Bởi thế, phục hồi các samaya của
con, lập lại các thệ nguyện Thanh Văn, làm trong sạch dòng
tâm thức, cắt đứt sự phức tạp của ba độc, và vắng
bặt sự nhớ nghĩ và suy tính. Hãy để mọi hiện tượng
bên ngoài và bên trong hoàn toàn tự do trong đại định của
Tánh Như, trạng thái không trụ vào bất cứ cái gì. Rơi vào
giấc ngủ trong trạng thái của giai đoạn thành tựu không
chướng ngại, Pháp thân không ý niệm phân biệt, tức là
dùng cái chết như con đường.
Làm
tan biến mọi hiện tượng bên ngoài và bên trong, thế giới
và chúng sanh, bổn tôn và tùy tùng, vào trong chủng tự ở
trung tâm trái tim của con. Bằng cách ngủ trong trạng thái
không trụ, con dùng ý niệm về cái chết như con đường.
Thứ
hai, yoga của sự thức dậy giống như sự sanh ra. Ngay khi thức
giấc, nhớ lại một cách sống động tánh giác không chướng
ngại từ trong giai đoạn thành tựu. Điều này làm tịnh hóa
sự tái sanh.
Tiếp
theo, con phải hiểu các điểm mấu chốt của nhân và quả.
Điều này đem đến sinh khí cho bất kỳ sự thực hành tâm
linh nào con làm và là một sự làm mạnh thêm lớn lao hơn
những cái gì khác.
Buổi
bình minh, phân phát phần tinh chất trong sạch của thức ăn
vào trong các kinh mạch và thải các phần dơ bẩn. Khi bên
trong các kinh mạch là hoàn toàn trống rỗng, các lỗi lầm
hay đức hạnh bên ngoài, bên trong và bí mật dễ dàng khởi
sanh. Lúc ấy các kinh mạch khởi lên như là kinh mạch trung
ương, khí prana như là trí huệ, các nguyên tố như là đại
lạc, và tâm con thực hiện như là tánh Giác bất nhị. Đây
cũng là mục tiêu của sự thi hành vài loại chữa bệnh y
học hay nghi thức chữa bệnh. Hơn nữa, nó chính là lý do
tại sao đức Phật chứng ngộ sự thật và giác ngộ viên
mãn vào lúc bình minh.
Thứ
ba, yoga về thức ăn phải được phối hợp với một sự
truyền pháp và lực của Mật thừa. Nếu con thực hành giai
đoạn phát triển, hãy dùng thức ăn như là cam lồ của trí
huệ. Hãy quán tưởng hóa thần trong bụng con, hãy hưởng
thụ thực phẩm như là một hóa thần hòa tan vào một hóa
thần.
Nếu
con thực hành tịnh hóa nghiệp chướng, hãy dùng thực phẩm
như là cam lồ trí huệ. Hãy ăn theo cách hoàn toàn thiêu cháy
các chủng tử của sáu loài chúng sanh, các chủng tử đó
hiện diện trong hình thể các chữ ở trong trái tim con.
Nếu
con thực hành giai đoạn kết hợp, hãy dùng thức ăn như là
cam lồ của phương tiện và trí huệ bất nhị, và ăn trong
cách hợp nhất.
Nếu
con thực hành giai đoạn thành tựu, hãy dùng thức ăn như
là trí huệ của tướng và Không đồng hữu. Hãy hưởng thụ
pháp tánh đang ăn pháp tánh.
Tóm
lại, hãy an trụ không phân chia trong bất cứ định nào con
đang thực hành và hưởng thụ. Theo cách này, bất cứ đồ
ăn nào con dùng đều trở thành nguyên nhân cho đại định.
Thứ
tư, về yoga liên tục, một hành giả thực hành con đường
một cách đúng đắn phải không bao giờ dung tha cho những
phiền não bình thường. Người ấy phải nhận ra mọi mối
xúc động khởi ra nhờ vào những kỹ thuật đặc biệt, và
đem chúng vào con đường đúng.
Gốc
rễ của phiền não là năm độc ; ở đây làm thế nào dùng
chúng như là con đường. Khi tham muốn mạnh mẽ khởi lên,
nhận ra nó bằng chánh niệm, và tư duy về nguyên nhân của
nó. Nó khởi sanh vì một tác nhân bên ngoài, bị chao động
bởi sự thúc đẩy tình dục với người khác giới. Bây giờ,
sự đau đớn của tham muốn cũng như một vòi nước mạnh
phụt ra. Cuối cùng tâm con sẽ hoàn toàn tan vào khuôn khổ
của điều mà con đã thường quen.
Để
nhận ra khuôn khổ này, hãy hiểu rằng tác nhân hấp dẫn
bên ngoài là do tâm con tạo ra. Nếu không phải thế, thì không
có chuyện người con yêu lại được nhìn như một kẻ thù
bởi người khác. Sự thúc đẩy tình dục khởi từ tâm con
và biểu lộ như tham muốn, giống như ngọn gió khởi từ
bầu trời trống rỗng.
Bây
giờ, đây là cách làm thế nào nhìn vào yếu tính của tham
dục và dùng nó như con đường. An trụ trong trạng thái trong
đó tác nhân hấp dẫn bên ngoài và sự thúc đẩy tình dục
thoát khỏi nhị nguyên : tham muốn do đó trở thành yếu tính
của Lạc và Không bất nhị. Tự tánh của tánh Không không
được tạo ra từ bất kỳ cái gì, nên sự biểu lộ của
nó chính là lạc. Đây là sự hoàn thiện của tham muốn, tức
là diệu quan sát trí.
Cũng
thế, bằng cách nhìn vào yếu tính của giận dữ và an trụ
trong nó, con chứng ngộ yếu tính bất nhị của sáng tỏ và
tánh Không. Tự tánh là trống không và sự biểu lộ của
nó là sáng tỏ. Đây là sự hoàn thiện của giận dữ, tức
là đại viên cảnh trí.
Bằng
cách nhìn vào yếu tính của ngu si và an trụ trong trạng thái
đó, con chứng ngộ tánh Giác không có ý niệm. Tự tánh là
trống không và sự biểu lộ của nó là vô niệm, không tư
tưởng. Sự hoàn thiện của ngu si là trí pháp giới.
Trong
cách như thế, do đem kiêu mạn và ganh ghét vào con đường
mà chúng trở thành bình đẳng tánh trí và trí thành tựu
tất cả (thành sở tác trí).
Tóm
lại, mười điều xấu sanh từ năm độc. Năm độc đến
từ ba độc tham, sân, si. Bằng cách nhận ra ba độc này và
dùng chúng như là con đường, con giữ vững được các giáo
lý của Ba Tạng và an trụ trong ba sự tu hành :
Bằng
cách nhìn vào yếu tính của tham muốn và an trụ trong trạng
thái ấy, con kinh nghiệm lạc phúc, nó trở thành Luật tạng.
Con lìa bỏ tham muốn bình thường, đó là sự tu hành Giới.
Bằng
cách nhìn vào yếu tính của sân và an trụ trong trạng thái
ấy, con kinh nghiệm sự sáng tỏ, nó trở thành Kinh tạng.
Con lìa bỏ sân hận thông thường, đó là sự tu hành Định.
Bằng
cách nhìn vào yếu tính của si, và an trụ trong trạng thái
ấy, con kinh nghiệm vô niệm, nó trở thành Luận tạng. Con
lìa bỏ ngu si thông thường, đó là sự tu hành trí huệ phân
biệt.
Con
sẽ nhận ra mọi phiền não khởi lên và bằng cách này đem
chúng vào con đường.
Thứ
nhất là yoga về thời gian và các điểm cốt yếu. Có năm
thời. Thứ nhất, lúc bình minh phần trong sạch và không trong
sạch của thức ăn tách lìa nhau, tâm con bén nhạy, thân con
mới mẻ, trí thông minh trong sáng, và các bindu tăng thêm. Sức
mạnh của lầm lỗi hay đức hạnh mạnh thêm đến độ cần
phải nhận biết bất kỳ tư tưởng nào sanh khởi như là
tham và đem chúng vào con đường đức hạnh.
Thứ
hai, vào lúc hoàng hôn, sức mạnh của bindu giảm đi, và cảm
giác lo lắng có thể khởi ra. Các sự hóa hiện của thần
và quỷ ma lớn lên. Thời gian này giống như sự chết. Sức
mạnh của lỗi lầm hay đức hạnh thì lớn hơn, thế nên
cần thiết phải nhận biết bất kỳ tư tưởng nào sanh khởi
như là sợ hãi hay khủng khiếp và đưa chúng vào sử dụng
trên con đường đức hạnh.
Thứ
ba, khi một phần phiền não lớn lao hay một tư tưởng quấy
động sanh khởi, nếu con thất bại không thể dùng nó như
con đường, nó có thể bằng giá của cả đời con, hay làm
cho con hư hoại các lời nguyện, ngăn chặn định của con,
và làm vặn vẹo con đường chân chính. Thế nên, hãy nhận
biết nó và đem nó vào con đường.
Thứ
tư, vào lúc tánh Giác bất nhị bổn nguyên hiện khởi và
tâm con hợp nhất như là yếu tính của vô niệm, hãy dùng
cái này vào con đường của phương tiện. Khi trong trạng thái
áp dụng các điểm then chốt trong khuôn khổ của các thực
tập này, hãy thực hành một thời gian dài không xao lãng.
Vào lúc ấy, các nguyện vọng và các mối liên kết nhân quả
được hình thành. Đây là một điểm cốt yếu, thế nên
điều quan trọng là hình thành quyết định. Trộn lẫn các
nguyện vọng và các mối liên kết nhân quả với bất kỳ
loại ý nghĩ, ý niệm bình thường nào khác là không thích
hợp. Vì cái người tạo ra (một nguyện vọng) là một tư
tưởng ý niệm danh tướng, đấy cũng giống như lỗi lầm
khi dùng một món thuốc tính hàn để chữa một bệnh hàn.
Thứ
năm, khi cái chết đến con sẽ hoàn toàn dưới sự kiểm soát
của năng lực của “nghiệp liên kết” riêng của mình ;
bởi thế phải quyết định tạo ra những mắt xích nhân quả
tốt. Hãy để cho những việc xấu bị lãng quên, và nhớ
lại tất cả các hành động đức hạnh. Chú tâm nhất niệm
vào sự thực hành riêng mà con đã từng vững chắc trong đó
và trong mỗi khoảnh khắc, hãy thoát khỏi kinh nghiệm lầm
lạc. Tóm lại, trong thời gian ấy, cần yếu là tạo ra mối
liên kết nhân quả thiện.
Tsogyal
lại hỏi : Xin chiếu cố, thưa đại sư ! Xin ngài dạy cho
các điểm then chốt của các trạng thái trung ấm.
Padmasambhava
trả lời : Nghe đây, Tsogyal ! Đối với bardo, thời gian từ
khi chết đến lúc tái sanh được gọi là bardo của sanh và
chết. Nó gồm ba điểm : tốt nhất là đạt đến giác ngộ
trước khi kinh nghiệm bất kỳ bardo nào ; tốt tiếp theo là
đạt đến giác ngộ trong trạng thái bardo ; thứ ba là làm
sao tái sanh.
Điểm
thứ nhất có bốn phần : các nguyên tố tan biến như thế
nào, các tư tưởng ngừng lại thế nào, trí huệ không ý
niệm xuất hiện thế nào và Phật tánh được đạt đến
bằng cách nhận ra bản tánh của mình như thế nào.
Thứ
nhất, khi nguyên tố đất tan biến vào trong nguyên tố nước,
nút thắt kinh mạch ở rốn giải tan, thì prana của nguyên
tố đất bị khủng hoảng, thân cảm thấy nặng nề, ý thức
nhạt đi, và một kinh nghiệm giống như một ảo ảnh xuất
hiện.
Tiếp
đó, khi nước tan vào trong lửa, nút thắt kinh mạch ở tim
giải tan, prana của nước bị khủng hoảng, miệng và mũi
khô, ý thức dừng lại, và một kinh nghiệm giống như khói
khởi sanh.
Thứ
ba, khi lửa tan biến vào gió, nút thắt kinh mạch ở yết hầu
giải tan, prana của lửa bị khủng hoảng, thân nhiệt yếu
dần, tri giác chập chờn, và một kinh nghiệm giống như đom
đóm khởi lên.
Thứ
tư, khi gió tan biến vào ý thức, nút thắt kinh mạch ở chỗ
bí mật giải tan, prana của gió bị khủng hoảng, hơi thở
ngừng qua lỗ mũi, ý thức đảo lộn nhẹ và một xuất hiện
nhẹ của ánh sáng hiện ra.
Các
tư tưởng dừng lại thế nào : ở phần dưới chót của kinh
mạch trung ương là tinh túy người mẹ của chúng ta trong từ
hình tướng chữ A. Khi sức mạnh của kinh mạch bên phải
yếu đi, tinh chất này đi lên : dấu hiệu là sự xuất hiện
màu đỏ. Vào lúc này, các trạng thái của tư tưởng của
tham dừng lại.
Ở
trên cùng của kinh mạch trung ương là tinh chất từ người
cha chúng ta trong hình tướng chữ HANG. Khi sức mạnh của kinh
mạch bên trái yếu đi, tinh chất này đi xuống và màu trắng
xuất hiện. Vào lúc này các trạng thái tư tưởng của sân
dừng lại.
Tiếp
theo đó, nguyên tố gió tràn khắp trên đỉnh đầu bị khủng
hoảng và màu đen xuất hiện. Vào lúc này các trạng thái
tư tưởng của si dừng lại.
Khi
ba độc dừng lại theo cách ấy, kiêu mạn và ganh ghét cũng
tự động dừng lại, bởi vì ba độc đã tan biến vào ba
kinh mạch. Sau đó hơi thở bên ngoài dừng.
Thế
nào trí huệ không ý niệm xuất hiện : đến lúc này, hơi
thở bên ngoài đã ngừng nhưng hơi thở bên trong chưa ngừng.
Mặt trời đi lên và mặt trăng đi xuống gặp nhau và tâm-khí
đi vào trong kinh mạch trung ương. Vì ba cái này ở lại trong
kinh mạch trung ương và vì các tư tưởng đã dừng trong một
lúc ngắn, tánh giác không ý niệm, tâm Pháp thân của chư
Phật, xuất hiện trong khoảng một bữa ăn.
Thế
nào Phật tánh đạt được bằng cách nhận ra trí huệ không
ý niệm : do năng lực đã quen dần với sự nhận biết này,
và bởi năng lực đắc định qua các lời dạy miệng, con
sẽ nhận ra trí huệ câu sanh tự hữu này và đạt Phật tánh,
kết hợp hai phương diện Mẹ và Con của Pháp thân. Theo đó,
trí giác vượt qua nắp mở của Brahma và đi vào Pháp giới.
Đây
là lời dạy cho người có khả năng cao nhất để đạt đến
Phật tánh không qua bardo.
Lời
dạy cho người có khả năng vừa để đạt đến giác ngộ
trong trạng thái bardo có bốn điểm. Cách thức các nguyên
tố tan biến và các trạng thái của tư tưởng dừng lại
thì giống như ở trên.
Về
điểm thứ ba, thế nào pháp tánh biểu lộ trong bardo : nếu
người ta không nhận ra trạng thái không ý niệm của Pháp
thân như trường hợp người có khả năng cao tột, thì trí
tỉnh giác trú trong trung tâm trái tim đi vào con đường của
kinh mạch màu lụa trắng. Xảy ra ở bên ngoài, tâm và vật
chất lìa nhau và con rơi vào trạng thái không thức giác trong
bảy ngày.(14) Tỉnh dậy từ sự hôn mê này, pháp tánh xuất
hiện trong năm ngày trong hình dạng các âm thanh, các màu sắc,
các ánh sáng và cảnh giới.
Âm
thanh là âm thanh tự nhiên của nguyên tố lửa, bao la và mãnh
liệt. Nó gầm như sấm sét phân chia giữa hai mùa hè và mùa
đông. Sự sáng rỡ của tánh Giác biểu lộ trong các màu sắc
trong trẻo và sống động. Các tia sáng chiếu từ các màu
sắc thì chói chang như một ảo ảnh trên các cánh đồng mùa
thu.
Thứ
tư, thế nào đạt được Phật tánh bằng cách nhận ra khuôn
mặt bổn nhiên của con : do sức mạch của tu hành điều đã
được trực chỉ, các biểu lộ này của âm thanh, màu sắc
và ánh sáng sẽ xuất hiện như là trí huệ câu sanh tự hữu
và con sẽ đạt đến Phật tánh.
Các
cá nhân khác biệt nhau trong sự tu hành và quen thuộc của
họ. Đối với thiền giả tu hành trong giai đoạn thành tựu
của yoga hóa thần bổn tôn, các biểu lộ này của âm thanh,
màu sắc và ánh sáng sẽ mở bày như sự biểu lộ tự nhiên
của mạn đà la của hóa thần, và người ấy đạt đến
Phật tánh như là Báo thân.
Thiền
giả đã chứng ngộ sự giả ảo của các hình tướng sẽ
thấu hiểu rằng các biểu lộ ấy của âm thanh, màu sắc,
ánh sáng là giống như một giấc mộng hay một ảo tưởng
huyễn hóa và sẽ đạt được Phật tánh như là Hóa thân.
Thiền
giả đã chứng ngộ rằng mọi hiện tượng của sanh tử và
Niết bàn là kinh nghiệm tự biến hiện của cá nhân (rang
nang) sẽ hiểu rằng các biểu lộ này của âm thanh, màu sắc,
ánh sáng là tự khởi và vốn tự giải thoát, và sẽ đạt
được Phật tánh như là Thân Yếu Tính.
Bởi
thế, con phải đi qua bardo bằng bất cứ pháp môn tu hành nào
con đã có kinh nghiệm và chứng ngộ trong đó.
Cuối
cùng, thế nào để tái sanh có năm điểm. Cách thế các nguyên
tố tan biến và các trạng thái tư tưởng dừng lại cũng
giống như ở trước.
Thứ
ba, thân do thức dần dần được tạo thành qua tám duyên sanh
:(15) Vô minh là không nhận ra được rằng ánh sáng là sự
tự biến hiện của chính con. Hành (sự tạo lập) xảy ra,
bởi sức mạnh của hành, khi năm prana gom lại và tạo thành
sự hiện hữu của sanh tử. Từ hành, thức trở nên rõ ràng
hơn và sự bám trụ vào một đối tượng xảy ra. Tiếp theo
danh và tướng của trạng thái bardo sanh ra.(16) Thức trở nên
nhanh nhậy, tạo thành các căn (giác quan). Xúc là khi các giác
quan gặp một đối tượng, Thọ là cảm giác sướng khổ.
Ái là khi do đó con khởi lên thích hay ghét. Như thế tám yếu
tố này tạo thành thân do thức sanh.
Thứ
tư, thế nào kinh nghiệm bardo xảy ra : các tướng của thói
quen và nghiệp biểu lộ ; như thế con kinh nghiệm sự du hành
đến quê nhà đời trước và liên hệ với mọi người thân
quen bằng cái thức. Thức ăn và nơi ở của con thì bất định,
và thân thể bằng thức sống nhờ đồ cúng được đốt.
Ngoài việc không thể vào tử cung của người mẹ đời kế
tiếp và đi đến tòa Kim Cương, con có thể di chuyển không
chướng ngại. Thường trực sợ hãi, bị đe doạ và khủng
khiếp, con kinh nghiệm các cái thấy về quỷ ăn thịt, các
thú dữ tợn, mưa bão dữ dội và bão tuyết. Con tìm sự ẩn
núp, trốn lánh bất cứ chỗ nào. Các giác quan thông tỏ và
khả năng của tâm thức thì toàn vẹn. Con có thiên nhãn và
có thể nhìn thấy các chúng sanh khác của cảnh giới bardo.
Thứ
năm, thế nào tái sanh trở lại : Sau khi sự tỏ rạng nhanh
chóng của ánh sáng căn bản đã lắng xuống, con kinh nghiệm
năm con đường ánh sáng thông thường.(17) Vô minh câu sanh
làm cho không thể nhận ra (tánh giác sáng tỏ này là) khuôn
mặt xưa nay của con. Vô minh thuộc về ý niệm là ý niệm
hóa tánh sáng tỏ, quang minh này thành một cái gì khác. Trụ
vào các tướng của cái khác đó, con tái sanh vào sáu loại
chúng sanh, như một con hươu mắc trong bẫy hay con ong kẹt
trong một bông hoa.
Bám
trụ vào ánh sáng trắng, con sẽ sanh lại giữa các chúng sanh
của địa ngục ; bám trụ vào ánh sáng đỏ, con sẽ sanh lại
làm ngạ quỷ. Đi vào trong ánh sáng màu đen thì sanh làm thú
vật, đi vào ánh sáng màu vàng dẫn đến tái sanh làm một
con người, và bám trụ vào ánh sáng lục dẫn đến tái sanh
làm thiên hay Atula. Vào lúc ấy con phải nhớ đến sự đau
khổ của sáu loài chúng sanh và không trụ vào bất kỳ loại
ánh sáng nào như vậy.
Thức
trong bardo dễ dàng đổi hướng, thế nên nếu con có thể
ở trong sự tỉnh giác chánh niệm và phát khởi sự mong mỏi
sâu xa đối với một cõi Phật như là cõi Tịnh Độ con sẽ
sanh về nơi ấy không một chút nghi ngờ.
Tsogyal
lại hỏi : Xin chiếu cố, thưa đại sư. Hành giả chưa đạt
đến an định có phải nỗ lực để làm sạch các chướng
ngại không ? Làm thế nào để trừ sạch các chướng ngại
trên con đường ?
Padmasambhava
trả lời : Nghe đây, Tsogyal ! Trừ sạch các chướng ngại
khỏi con đường có bốn điểm : Trừ sạch chướng ngại
của các kinh nghiệm tạm thời về định, làm sạch chướng
ngại bệnh tật đau đớn của thân, làm sạch chướng ngại
của tư tưởng ý niệm và chư thiên, quỷ ma trong tâm, và
làm sạch chướng ngại của ô nhiễm tạm thời do hoàn cảnh
xấu.
Thứ
nhất, làm sạch chướng ngại của các kinh nghiệm tạm thời
về định : hôn trầm nghĩa là không thực hiện được sự
tỉnh giác sáng tỏ, không ôm trùm nó được với kinh nghiệm
của quang minh. Hôn trầm trộn lẫn với giấc ngủ, là do buồn
ngủ.
Trạo
cử nghĩa là tâm thức động theo một đối tượng hay theo
đuổi cái gì đó. ‘Động theo’ nghĩa là sự chú tâm không
ở yên. Bị tán thất là để cho bị bắt lấy vào trong sự
tri giác về cái gì khác. Không an trụ là yên lặng một thời
gian ngắn nhưng không thể ở lâu dài. Thất niệm là sự chú
tâm của con chuyển động mà không được lưu ý trong khi con
vẫn nghĩ rằng nó vẫn ở đó.
Trạo
cử, động lay có hai loại. ‘Động lay bởi cái khác’ nghĩa
là tâm thức động vì hoàn cảnh nào đó. ‘Động lay bởi
chính mình’ là cảm giác vi tế của sự suy nghĩ rằng “Yên
tĩnh thật ! Trong sáng thật !” đi vào trong trạng thái thiền
định.
Hôn
trầm và trạo cử là các lỗi ban đầu khởi ra do thất bại
trong tập trung và trượt vào sự vô ký.
Khi
cảm thấy hôn trầm, hướng sự chú tâm đến trung tâm trái
tim. Trụ tâm ở đó trong khi thiền định nhất niệm và không
xao động. Nhờ thế con sẽ không rơi vào hôn trầm hay hôn
mê mà vẫn tiếp tục trên con đường.
Khi
cảm thấy lay động, hướng sự chú tâm đến chỗ dưới
rốn, trụ tâm ở đó và thiền định không xao động. Qua
việc này, con trở nên hoàn toàn nhất niệm và sẽ không rơi
vào các lỗi lầm động niệm hay thất niệm.
Tổng
quát, nếu sự chú tâm của con được nhất niệm và gom tụ
rốt ráo, con không thể bị hôn trầm, hay trạo cử.
Bây
giờ, dùng cái gì có lợi cho định như là con đường Chánh
định tốt đẹp của lạc, trong sáng và vô niệm ; lòng từ,
lòng bi hay sự từ bỏ, hay sự sùng tín mạnh mẽ và trong
sáng – tất cả đều có một kinh nghiệm về “vị” đi
theo, cùng với các chi tiết bổ sung về thân và khẩu. Các
kinh nghiệm này là khí prana, đi qua miệng. Có sự nguy hiểm
của sự làm mồi cho chấp ngã, thế nên trọng yếu là bao
trùm chúng với điểm then chốt. Với thái độ hiểu biết
rằng chúng là các kinh nghiệm tạm thời duyên khởi từ tâm
nhị nguyên, hãy nhìn vào yếu tính của từng cái. Duy trì
trong sự liên tục nhìn thấy ấy mà không trụ vào sự khó
khăn cũng không tham đắm. Thế rồi các kinh nghiệm này hiện
ra như là yếu tính của tánh Giác bất nhị. Hãy hộ trì sự
liên tục này mà không bám níu hay nuôi dưỡng các kinh nghiệm
tạm thời.
Nếu
con cảm thấy một kinh nghiệm phấn chấn, phải cắt tức
thời sự bám níu ấy. Nếu con cảm thấy như muốn khóc vì
tâm bi mạnh mẽ dâng trào trong con, phải hiểu rằng điểm
then chốt của cái thấy là nhận ra tánh Giác. Chớ buông thả
trong việc kinh nghiệm mùi vị của nó, mà chỉ duy trì trong
sự liên tục.
Kinh
nghiệm có thể là một biến hiện ảo huyễn của một tinh
linh gyalpo. Để cho con không đắm mình trong sự nuôi dưỡng
một hồn linh huyền ảo, ta sẽ dạy con các chỉ dạy cốt
lõi về cách dùng các kinh nghiệm gây chướng ngại như là
những giúp đỡ cho định.
Bất
kỳ cái gì xảy ra – bệnh tật, đau đớn, nhói tim, hay mệt
mỏi cùng cực – hãy hiểu nó chỉ là một kinh nghiệm nhất
thời. Chớ ngã lòng hay xem nó như là một sự không may. Hãy
để cho đối tượng được cảm nhận và tâm đang cảm nhận
xảy ra tự nhiên và được giải thoát. Chớ nhìn chúng như
xấu hoặc tốt, mà để chúng tự nhiên sanh khởi và được
giải thoát khỏi chúng.
Bây
giờ ta sẽ giải thích làm thế nào nâng cấp các kinh nghiệm
này để chúng siêu vượt khỏi giúp đỡ hay làm hại. Ở
trong thức nền tảng a lại da, hiện tượng của sanh tử hay
Niết bàn nằm yên hiện diện tự nhiên trong hình thức của
các hạt giống. Trong thân Kim Cương, chúng hiện tồn như là
các chủng tự-kinh mạch và tâm-prana. Bởi thế, khi con nhận
ra khuôn mặt bổn nhiên của trạng thái chân thực và thực
hành trong khi vẫn áp dụng các điểm then chốt của định,
thì các thắt nút kinh mạch được cởi mở, tâm-prana được
sáng tỏ, tập khí được tịnh hóa, và con nắm được sự
bắt đầu của những phẩm tính giác ngộ. Như thế, một
số các kinh nghiệm của sanh tử và Niết bàn sanh khởi ra.
Nếu
các khí prana tìm ra một lối mở, chúng sẽ tuôn vào đó.
Nếu con tạo ra một ý niệm, các ma sẽ hiện ra. Nếu con bỏ
mặc các kinh nghiệm với sự thản nhiên, chúng sẽ không trở
thành các phần tử của con đường. Hãy hiểu rằng các thứ
xảy ra này là những kinh nghiệm tạm thời.
Chớ
nhìn bất cứ cái gì như là một lầm lỗi. Chớ nhìn bất
cứ cái gì như một là đức hạnh. Tự do với hy vọng, sợ
hãi và nghi ngờ, tu hành trong sự để cho kinh nghiệm tạm
thời khởi sanh tự nhiên và được tự nhiên giải thoát.
Trong cách này, mọi kinh nghiệm trở thành các sự nâng cấp,
các sự làm mạnh thêm.
Vào
những lúc thực hành ẩn cư, có khi tâm được mềm dẻo,
có sự tiến bộ trong tu hành tâm linh và thiền giả hứng
khởi với các bài hát êm đềm. Có khi tâm không thuần thục
được, tu hành tâm linh giảm sút, chú tâm bị tán loạn, và
thiền giả cảm thấy khốn khổ sâu xa.
Một
số kinh nghiệm cao và thấp khởi sanh vào lúc tách lìa sanh
tử và Niết bàn. Thay vì cảm thấy thất vọng hay kiêu hãnh,
hãy giữ mình vào điểm then chốt là để sự vật xảy ra
tự nhiên mà không dính mắc, như thế con sẽ có thể đem
chúng vào con đường.
Hãy
hoàn thành sự thực hành nhập thất không mệt mỏi và không
lạc vào phóng tưởng ; thế rồi thứ gì cũng sẽ là một
trợ đạo.
Thứ
hai, để tịnh hóa chướng ngại của bệnh tật và đau đớn
của thân, có năm điểm : căn cứ nơi đó bệnh tật trú ẩn,
nguyên nhân để cho bệnh tật xảy ra, các hoàn cảnh làm nó
hoạt động, các hậu quả chín mùi của nó, và cách thức
chữa lành nó.
Thứ
nhất, bệnh tật tiềm ẩn trong thức nền tảng, trong cách
thức cấu tạo của các kinh mạch và bởi các thói quen tập
khí. Nó xảy ra vì nghiệp xấu tích tập qua vô minh và chấp
ngã. Nó được hoạt động bởi phiền não, tư tưởng, ý
niệm danh tướng, khí prana, hay thần và quỷ. Hậu quả chín
mùi của nó là 404 loại bệnh, dẫn đầu là nhiệt và hàn,
đờm dãi, đau và sưng. Tóm tắt, bệnh tật vô minh câu sanh
là nhân chính và bệnh tật vô minh của thức tạo thành ý
niệm là duyên chính.
Mọi
bệnh tật có năm tác nhân : nền tảng tiềm ẩn, nghiệp xấu
như là nhân, phiền não như là duyên, tư tưởng ý niệm như
là xâu chuỗi liên kết, khí prana như là cái tập hợp quy
kết và thần và quỷ là tác nhân phụ trợ.
Ví
dụ, nếu một bệnh hàn biểu lộ, nó được gây ra bởi tập
khí tham ngủ ngầm trong thức nền tảng, và được hoạt động
bởi duyên là tham muốn mãnh liệt. Xâu chuỗi liên kết được
làm bằng tư tưởng ý niệm “Tôi bị bệnh ! Tôi yếu rồi
! Tôi sẽ làm gì nếu nó tệ hơn ?” Điều này làm cho ‘khí
đi xuống làm sạch’ bị lũng đoạn, mở ra cho sự tấn công
từ loài âm của các thế lực xấu.
Tương
tự, hạt giống của sân như là nhân được hoạt động qua
duyên là sân mãnh liệt liên kết với xâu chuỗi của tư tưởng
ý niệm. Điều này làm cho khí quân bình hỏa bị lũng đoạn,
mở ra cho sự tấn công từ loại dương của các thế lực
xấu, tạo thành các bệnh nhiệt.
Hạt
giống của si như là nhân được hoạt động bởi nhân là
ngu si nặng nề, liên kết với xâu chuỗi của tư tưởng ý
niệm. Điều này làm cho ‘khí an trụ quân bình’ bị lũng
đoạn, mở ra cho sự tấn công từ các ‘hồn linh của đất’
ác xấu. Nó sanh ra bệnh đờm dãi.
Hạt
giống của ghen ghét như là nhân được hoạt động bởi duyên
là sự ghen tuông mạnh mẽ, liên kết với chuỗi của tư tưởng
ý niệm. Nó làm cho “khí bổ trợ cho sự sống” bị lũng
đoạn, mở ra cho sự tấn công từ loài tsen của các thế
lực xấu, sanh ra bệnh đau đớn.
Hạt
giống của kiêu mạn như là nhân được hoạt động bởi
duyên là sự kiêu căng mãnh liệt, liên kết với chuỗi tư
tưởng ý niệm. Nó làm cho “khí đầy khắp” bị lũng đoạn,
mở ra cho sự tấn công của loài gyalpo của các thế lực
xấu và sanh ra bệnh sưng.
Vì
nguyên nhân là vô minh, con phải nhận biết trí huệ câu sanh
để chữa các bệnh này. Vì điều kiện là phiền não, con
phải đặt sự chú tâm vào tính bình đẳng. Vì mối liên
kết là tư tưởng ý niệm, con phải cắt đứt sự trói buộc
của tư tưởng. Vì tác nhân gom góp của sự kết thành là
khí, con phải chú tâm vào điểm then chốt của khí. Sự nâng
đỡ đằng sau là thần và ma quỷ : con phải từ bỏ ý niệm
về ma quỷ. Bằng cách làm thế con sẽ thoát khỏi mọi loại
bệnh tật.
Để
chữa lành tính chất của đau ốm có ba điểm : tốt nhất
là để cho nó được vốn tự giải thoát ; tốt tiếp theo
là từ bỏ những điểm quy chiếu liên hệ đến sự trừ
tà hay thiền định ; cuối cùng là chữa bằng quán tưởng.
Với
cái thứ nhất, chớ dùng ngay cả chỉ một liều thuốc. Chớ
tụng hát một âm nào của lễ chữa bệnh. Chớ nhìn đau ốm
như là một lỗi lầm, hay nhìn nó như một đức hạnh. Để
cho tâm con không tạo tác và tự nhiên. Hoàn toàn buông xả
trong trạng thái vô niệm tự nhiên của tính đơn giản. Làm
thế, dòng ý nghĩ danh tướng bị cắt đứt ; tánh Giác tự
do với tư tuởng hiện lên, và đau ốm được sạch mất.
Sự đau ốm và tư tưởng được giải thoát đồng thời.
Nói
thế nghĩa là, trong thời các sơ khởi, chớ theo đuổi sự
đau ốm. Trong thời chính phần, chớ trau dồi sự đau ốm.
Trong thời kết thúc, chớ trụ vào cảm giác đau ốm. Qua đó,
con sẽ cởi mở đau ốm cũ và không bị làm hại bởi đau
ốm mới.
Với
cái thứ hai, trừ tà hay thiền định, có ba phần : chuyển
hóa đối thủ, cắt trực tiếp và làm quân bình.
Thứ
nhất, nhìn đau ốm với lòng biết ơn, nghĩ đi nghĩ lại :
“Tuyệt vời biết bao, nhờ vào ngươi, đau ốm, mà ta có
thể cắt đứt con quỷ ý niệm !” Để cho tâm con được
hân hoan ; dùng các thực phẩm làm chướng ngại đau ốm và
hành đôïng trong cách ngược lại đối với nó.
Tiếp
theo, ăn một ít chất thơm đặc còn tươi, còn ấm nhưng không
hấp. Uống một ít chất thơm lỏng nồng và ấm. Bằng cách
thiền định về khí prana, căn bệnh trong phần trên thân bị
trục xuất ra ngoài, và căn bệnh trong phần dưới bị xổ
thoát ra. Tiến trình làm lành bệnh này là y khoa của sự cắt
đứt.
Thứ
hai, để cắt đứt trực tiếp, hãy biểu lộ một bộ mặt
rạng rỡ và dừng lại sự thở than. Về tâm thức, cắt trực
tiếp các lo lắng, hy vọng và sợ hãi khi nghĩ rằng : “Tôi
đang đau ốm, hay nếu tôi chết, tôi sẽ phải làm gì ?”
Với sự dửng dưng toàn diện, hãy ném xa các lo lắng này.
Thứ
ba, để làm cân bằng, con phải dùng sự bất hạnh như con
đường của con ngay khi nó khởi ra. Làm sáng tỏ sự tỉnh
giác của con và tự nhớ đến thực hành tâm linh. Chớ thiền
định về một quán tưởng để đối trị với đau ốm và
chớ áp dụng bất kỳ lễ nghi chữa bệnh hay thuốc thang gì,
mà hãy nhìn vào cái người cảm thấy bệnh ! Bằng cách ở
trong trạng thái liên tục này, khi một kinh nghiệm xảy ra,
nó tự tan biến mất, và khi sự chứng ngộ xảy ra, nó hiện
lên như là tánh Giác trống không. Ít ra con sẽ không phải
khốn khổ vì ý tưởng cảm thấy đau ốm.
Cuối
cùng, để chữõa lành bằng cách quán tưởng, hãy phát sanh
Bồ đề tâm, dùng thế ngồi kiết già và quán tưởng chính
mình như là hóa thần bổn tôn. Tưởng tượng một chữ HUNG
xanh đậm trong trung tâm trái tim, cỡ bằng hạt lúa mạch.
Nếu bệnh nhiệt, tưởng tượng một chữ HUNG màu trắng cỡ
bằng hạt lúa mạch khởi từ chữ HUNG trong trung tâm trái
tim và xoay vòng xuyên qua phần trên của thân. Nó hoàn toàn
rút ra hết các bệnh tật, giống như một cục nam châm hút
các cây kim. Thoát lên từ đỉnh đầu con, nó tan biến vào
không gian. Quán tưởng như thế, rút khí lên phía trên.
Nếu
là bệnh hàn, tưởng tượng một chữ HUNG màu đỏ cỡ bằng
hạt lúa mạch xuất hiện từ chữ HUNG trong trung tâm trái
tim và xoay vòng xuyên qua phần dưới thân. Thoát ra qua cửa
phía dưới, tưởng tượng rằng nó biến mất vào trung tâm
trái đất.
Nếu
con đau trong tay và chân, như nóng hay sưng, quán tưởng một
chữ HUNG màu đen ở chỗ đau. Tưởng tượng rằng nó gom cái
đau lại và rời khỏi qua chỗ nóng hay ra ngoài qua đầu ngón
tay.
Đối
với bệnh không chẩn đoán được, tưởng tượng rằng một
chữ HUNG xanh đậm xuất hiện từ chữ HUNG trong trung tâm trái
tim. Nó gom lại tất cả bệnh tật khắp thân và tan biến
vào không gian sau khi ra qua lỗ mũi.
Tổng
quát, khi ở trong tính bình thản, tâm con hoàn toàn trở thành
tinh chất của vô niệm. Con phải buông bỏ mọi lưu tâm và
thoát khỏi nghi ngờ và do dự về cái được tẩy trừ hay
quán tưởng. Sự quán tưởng và tâm con phải là một. Điều
quan trọng là nương dựa và tập trung vào ba điểm này.
Bây
giờ làm sao để tống xuất chướng ngại của một tâm trí
chứa chấp những tư tưởng về thần và quỷ. Khi con đã
có những kinh nghiệm thường xuyên, nhờ vào sự liên kết
giữa cấu trúc của các kinh mạch và sự chuyển hướng của
dòng tư tưởng,(18) con sẽ bị tấn công bởi các trò biến
hiện huyễn hoặc của các năng lực gọi là ma quỷ và cảm
thấy nghi ngờ. Khi tư tưởng sợ hãi và khủng khiếp khởi
lên, nhận chân chúng một cách nhanh chóng và đưa chúng vào
con đường. Nếu con để chúng chạy rông hay rơi vào quyền
lực của chúng, chúng sẽ trở thành một cản trở cho sự
tu hành của con.
Hơn
nữa, trừ phi con nắm được mọi thứ chướng ngại cao hay
thấp để dùng như con đường của mình, còn không nó sẽ
trở lại với sức mạnh phát triển hơn và trở thành một
cản trở cho tu hành. Thật cần yếu dùng các chướng ngại
như con đường.
Căn
bản, để vượt qua sự nhiễm ô nguy hiểm của ý nghĩ mình,
phải đem các chướng ngại vào con đường. Các kinh nghiệm
về các năng lực xấu hay trò biến hiện huyễn hóa đều
được kinh nghiệm trong tâm lầm lạc của con. Thật sự không
có “thần” hay “quỷ”û nào ở ngoài con. Ngay khi con kinh
nghiệm các năng lực xấu và các trò biến hóa, hãy áp dụng
điểm trọng yếu là hiểu rằng chúng không có thực thể
nào cả vì chúng không có sanh, trụ và diệt. Khi nào một
sự tấn công ảo hóa xảy ra, hãy ngồi thiền, giữ thẳng
cái nhìn và nhìn vào bản chất của nó. Rồi tư tưởng hiện
lên như tánh giác trống không. Ngay lúc ý nghĩ con chuyển thành
tánh Giác trống không, con có sự can đảm tự tin nó cắt
đứt hoàn toàn sợ hãi và khủng khiếp.
Ngay
nếu lũ Ma bao quanh con như một đạo quân, chúng sẽ không
thể làm động một sợi tóc trên thân con ; cũng chẳng thể
tạo ra cản trở nào. Giữ sự tự tại của ý nghĩ rằng
: “Tôi không thể bị hại bởi bất kỳ cản ngại nào !”
Nhút nhát nghĩ rằng : “Không biết tôi có gặp trở ngại
nào nữa không ?” chỉ tạo ra sự chào mời cho ma quỷ.
Mọi
kinh nghiệm về quỷ thần đều chính là ý nghĩ danh tướng
của con kết thành hình thể. Chúng không có ngay cả một vi
trần hiện hữu ngoài (chính tâm con). Hãy cắt đứt dòng tư
tưởng ý niệm ! Hãy đem cho các uẩn của con như quà biếu
cho một bữa tiệc ! Cho phứt thân con như là thức ăn ! Hãy
vứt bỏ chấp ngã ! Áp dụng điểm trọng yếu và thực hành
!
Bây
giờ, làm sao để trừ sạch những chướng ngại của ô nhiễm
tức thời (drib) : con trở thành ô nhiễm do sự gặp gỡ hay
chia phần với các bạn bè họ đã xâm phạm lời thệ nguyện
samaya của họ, làm hư giới luật hay mắc vào những việc
làm xấu ; do tiếp xúc với người bệnh cùi, người mà vợ
hoặc chồng vừa mới chết, hay người có trí óc quỷ quái
; hay do ở trong một ngôi nhà có ác nghiệp, có ma quỷ, có
kẻ thù, hay sự xấu xa về đạo đức. Con trở nên nhơ bẩn
khi ăn thức ăn có được qua sự thù địch, hay từ đạo
đức xấu, từ ác nghiệp. Thân thể con bèn khó chịu, định
bị yếu đi, và các hộ pháp không bằng lòng.
Dấu
hiệu các samaya và giới luật của con bị tổn hại là nằm
mơ thấy bị rơi xuống, hay đi xuống. Khi dơ bẩn bởi bạn
bè, con mơ thấy các chúng sanh bị bôi dơ bằng thứ ô uế
của người khác. Khi dơ bẩn bởi chỗ ở, con mơ thấy đi
vào một căn phòng dơ dáy. Khi dơ bẩn bởi thức ăn, con mơ
thấy đang ăn thứ dơ bẩn.
Cách
tốt nhất để sửa chữa điều này là bằng sự quán đảnh
và sadhana ; tốt tiếp theo là bằng thần chú đà ra ni ; và
tốt thứ ba bằng các lễ tẩy tịnh. Bằng mọi cách hãy cố
gắng tốt nhất để trừ sạch ô nhiễm.
Tsogyal
lại hỏi : Xin chiếu cố, thưa đại sư. Làm thế nào một
thiền giả có được sự nâng cấp, sự tăng tiến qua việc
trừ khử các chướng ngại ra khỏi con đường ?
Đạo
sư trả lời : Tsogyal, phát sanh sự nâng cấp, tăng thêm trên
con đường có ba điểm : bỏ đi các lỗi lầm ngăn chặn sự
nâng cấp, đặt nền móng cho sự nâng cấp, và nỗ lực trong
các phương pháp cho sự nâng cấp xảy ra.
Thứ
nhất, gốc rễ của các lỗi không gì khác hơn là chấp ngã,
cái thái độ của sự trụ trước sai lầm, thế nên hãy cắt
đứt các ràng buộc của chấp ngã. Ném xa sự trụ tâm vào
kẻ thù hay bè bạn ! Hãy bỏ những mối quan tâm trần thế
! Từ bỏ các theo đuổi vật chất ! Dấn thân vào không gì
khác hơn Pháp từ cốt lõi của lòng mình !
Đúng
như một hạt giống không thể tăng trưởng trên đá, sẽ
không có sự tăng tiến nào nếu không bỏ đi lỗi lầm chấp
ngã. Bởi thế, con hãy từ bỏ gốc rễ của mọi tội lỗi
là chấp ngã.
Thứ
hai, để đặt nền móng cho sự nâng cấp, kiên trì trong bất
cứ con đường gì con đã đi vào và cố gắng hiển lộ vài
phẩm chất. Dấn thân vào nhiều thực hành mà không tu tập
một thứ sẽ không mang đến kết quả. Hãy hiểu điểm then
chốt đi vào và ra khỏi con đường : đi vào trong bất cứ
con đường nào mà con có kinh nghiệm và ra khỏi các thứ thực
hành khác ! Chú tâm hoàn toàn cho đến khi con ổn định trong
thực hành đó. Con không thể nắm được một con đường
cao hơn nếu không dựa vào một con đường ở dưới. Tu tập
như thế, giống như trồng những hạt giống tốt trên đất
màu mỡ, con sẽ có được kinh nghiệm, thấy ra yếu tính của
con, và tiến bộ. Tóm tắt, sự tu hành mãnh liệt là căn cứ
cho các phẩm chất xuất hiện.
Thứ
ba, về phát sanh sự nâng cấp, có hai điểm : nâng cấp con
đường đặc biệt mà con đang đi và nâng cấp kinh nghiệm
và chứng ngộ mới khởi.
Nếu
con không có tiến bộ nào khi thực hành một lời dạy về
phương tiện (upaya), thì những phương tiện đã trở nên một
chiều do vì bám trước vào tướng và các thuộc tính. Hãy
làm nảy sanh sự nâng cấp bởi trí huệ (prajna), khi hiểu
rằng mọi hiện tượng đều vô tự tánh.
Nếu
con không tiến bộ khi thực hành một lời dạy về trí huệ
(prajna), thì trí huệ đã trở thành một khuyết điểm bởi
vì sự bám trước một chiều vào tánh Không. Hãy chú tâm
vào điểm then chốt “nhân quả” và làm nảy sanh sự nâng
cấp qua các lời dạy về phương tiện thiện xảo (upaya).
Cùng
cách ấy, không tiến bộ khi thực hành shamatha (chỉ) là vì
lỗi không hiểu trạng thái bổn nhiên. Làm sanh sự nâng cấp
nhờ vào vipashyana (quán), sự nhận ra trạng thái chân thật.
Không
tiến bộ khi thực hành quán là do khuyết điểm thời gian
an định quá ngắn ngủi. Hãy làm nảy sanh sự nâng cấp nhờ
chánh niêïm vững chắc và chỉ. Cũng thế, hãy hiểu nguyên
lý đồng đẳng này (chỉ và quán) với mọi loại trạng thái
của thiền định và sau thiền định.
Đây
là điểm then chốt để làm nảy sanh sự nâng cấp, tăng tiến
trong mọi loại thực hành hàng ngày.
Thứ
hai, để nâng cấp cái mới sanh (kinh nghiệm và chứng ngộ),
có sự nâng cấp qua phiền não và sự nâng cấp qua tư tưởng
ý niệm.
Đối
với cái thứ nhất, không có ai không có phiền não, nhưng
nếu con lạc vào sự bám chấp sâu nặng, các xúc động sẽ
không trở thành phần tử của con đường. Con phải nhận
ra chúng và dùng chúng như con đường. Đối với điều này,
có ba điểm : các khuyết điểm khi không làm được như vậy,
các phẩm chất tốt đẹp khi làm như vậy và cách làm điều
đó.
Thấy
người nào hay phi nhân nào đẹp, tâm con bị choáng váng (vì
tham muốn). Các khuyết điểm là vì tham muốn tăng lên, con
tạo ra nghiệp xấu, bị bệnh hàn, bị tấn công bởi các
lực lượng âm xấu xa došn, và trong tương lai bị thai nghén
trong tử cung. Như thế chắc chắn con sẽ bị thuộc vào vòng
nghiệp quả.
Các
phẩm chất tốt đẹp là con có thể thu hút, hấp dẫn người
và phi nhân như con muốn, làm nảy sanh định của tánh Không
lạc phúc, thoát khỏi bệnh hàn, được các loài bảo vệ
giới nữ đi theo và cuối cùng tái sanh ở cõi Cực Lạc.
Khi
con cảm thấy ham muốn mạnh mẽ, nó có thể được dùng như
con đường tại ngay chỗ ngồi này, trong cùng thời công phu
này. Chớ ném hòn đá vào mũi con heo !(19) Hãy chùi sạch ngọn
nến khi nó còn nóng ! Hãy giết kẻ thù của con khi con bắt
được hắn !
Trước
tiên, hãy để cho ham muốn tăng đến mức đầy đủ của
nó. Rồi, trước khi gây ra bất cứ nghiệp gì, hãy đem nó
vào con đường. Vì chính tâm con làm vững chắc sự ám ảnh
của ham muốn, khi nhân dạng của tâm thái này hiện lên như
tánh Giác bị méo mó, sự trùng hợp tốt đẹp được hình
thành trọn vẹn. Nếu không có cái nền tảng tánh Giác bổn
nguyên này, ham muốn không thể trở thành con đường ; cũng
như một sự phản chiếu không thể thấy được trừ phi tấm
gương hết bẩn. Sức mạnh của phiền não phát triển hoàn
toàn. Khi cảm xúc được kinh nghiệm trong trạng thái của
tánh Giác bổn nguyên, không nghiệp nào được tạo ra. Nó
được đưa vào con đường mà không cắt đứt nó với bất
kỳ tư tưởng nào khác, giống như hòn đá của triết gia.
Cách
hiện thực để đem nó vào con đường là nhìn vào nhân dạng
của ham muốn và để nó trong trạng thái bổn nhiên. Thế
rồi nhân dạng của nó hiện lên sống động như là tánh
Giác vô niệm trong đó Lạc và Không thì bất nhị.
Thêm
nữa, khi con tu hành như thế, hãy đem ham muốn vào con đường
nhờ vào từ, bi và Bồ đề tâm. Trước tiên, hãy vận hành
Bồ đề tâm ; tiếp theo, thoát khỏi mọi tạo tác của tâm
thức ; và cuối cùng, hãy niêm phong bởi sự hồi hướng.
Bằng cách vận hành Bồ đề tâm, xúc động của con trở
thành con đường của sự giác ngộ. Bằng cách ở yên trong
một trạng thái không tạo tác, chứng ngộ sanh ra. Và bằng
cách niêm phong với hồi hướng, đức hạnh được hoàn mãn.
Hãy
tu hành không phóng tâm theo cách này với mỗi trạng thái tư
tưởng, từ lúc nó nảy sanh cho đến khi nó được đem vào
con đường. Chớ bị ngắt bởi các tư tưởng khác từ khi
vận hành Bồ đề tâm đến lúc niêm phong với sự hồi hướng
: nếu con bị ngắt quãng, nó không trở thành con đường.
Cũng
cùng điểm then chốt như thế trong trường hợp các xúc động
khác như giận dữ, mờ tối, kiêu căng, ghen ghét. Hãy đem
chúng không xao lãng vào con đường ; thế rồi để cho nhân
dạng hiện lên như tánh Giác bổn nguyên. Hãy để cho chúng
phát triển đầy đủ sức mạnh mà không tạo một nghiệp
mới nào.
Thứ
hai, nâng cấp, tăng tiến qua suy nghĩ ý niệm, có hai phần
: tư tưởng tốt và tư tưởng xấu. Loại thứ nhất là khi
con có “một kinh nghiệm tốt” tạm thời về các trạng
thái phấn khởi của tâm, nhận một sự báo trước của một
hóa thần, hay có những dấu hiệu tốt lành nổi bật. Rồi
con xem cái sự xảy ra đó như là điều gì tuyệt hảo, ngắm
nghía các phẩm chất tốt của chúng, thưởng thức hương
vị của chúng. Nếu con cố gắng phát triển kinh nghiệm, nó
biến mất. Nếu con thản nhiên với nó, thì không có sự nâng
cấp.
Để
làm sanh ra sự nâng cấp, chớ buông thả trong một trạng thái
tư tuởng “tốt”, chớ bám níu nó như là một phẩm chất
tốt, và chớ nếm hương vị của nó. Điều con nhìn như là
“tốt” chỉ đến từ tâm con. Dùng phương pháp đã giải
thích ở trên, đem nó vào con đường mà không bị xao lãng
bởi các tư tưởng khác, cho đến khi nhân dạng của chúng
hiện lên như tánh Giác bổn nguyên.
Loại
kia là các kinh nghiệm không mong muốn, sự khuấy động của
trí óc, hay một sự tấn công ảo hóa của ma quỷ. Thông thường
con nhìn các trường hợp này như thứ gì tiêu cực, xem chúng
như là lỗi lầm, và nếm hương vị của chúng : làm thế,
chúng trở thành chướng ngại. Chớ chối bỏ tư tưởng xấu,
chớ nhìn chúng như là tai hại, chớ buông thả trong chúng.
“Xấu” chính là sự sáng tạo ảo hóa của tâm con. Hãy
đem nó vào con đường như đã tả ở trên, cho đến khi nhân
dạng của chúng hiện lên như tánh Giác bổn nguyên.
Các
chủ đề đến điểm này là những thứ cần thiết trọn
vẹn cho con đường của một thiền giả.
Bây
giờ, về quả của sự thành tựu con đường, có bốn điểm.
Thứ nhất là cách làm việc cho lợi lạc của chúng sanh ;
thứ hai là cách tâm trí huệ tồn tại ; thứ ba là cách nhìn
những người cần được hóa độ qua tâm đại bi ; và thứ
tư là sự bác bỏ các tà kiến về người khác.
Thứ
nhất, khi các nhiễm ô che tối con đường đã được làm
sạch, con chứng ngộ trạng thái bổn nguyên vốn sẵn. Điều
này có bốn phương diện : ý nghĩa, dấu hiệu, nhân dạng
và cách biểu lộ. Năm thân là nền tảng, năm đường lối
của ngữ truyền thông sự hiểu biết ; năm đường lối của
tâm là không ý niệm ; năm phẩm chất làm tròn đủ các nhu
cầu ; và năm hoạt động chúng vận hành cho lợi lạc của
người khác.
Thứ
nhất là năm thân. Pháp thân (Dharmakaya) thì vô sanh, thanh tịnh
và vô ngại, và hoạt động như là nền tảng của bốn thân
trí huệ. Báo thân (Sambhogakaya) là tánh giác bổn nguyên của
các phẩm chất viên mãn (sam) nó hưởng thụ (bhoga) sự đa
thù của hiện tượng mà không trụ. Nó hoạt động như là
nền tảng của các xuất hiện hóa thân. Hóa thân (nirma-rakaya)
hóa hiện (nirmana) một cách huyễn ảo phù hợp với tính khí
của những người cần hóa độ, mà không rời lìa Pháp thân.
Nó hoạt động như là nền tảng cho các phẩm chất trí huệ
chúng được phô diễn trong bất cứ cách nào cần thiết cho
những người cần được hóa độ. Vajrakaya (kim cương thân)
là tánh Giác bổn nguyên ; tánh Không và tánh Giác không thể
phân chia nó biểu lộ tánh Như. Abhisambodhikaya là tính không
sợ, vô úy, không phân chia, thường hằng trong yếu tính. Nó
tự nhiên thấu hiểu mọi hiện tượng như là tánh Giác bổn
nguyên, vô sở trụ, thông tỏ tự nhiên.
Thứ
hai là năm cách của ngữ. Ngữ tối hậu của Pháp thân, cái
được biểu lộ, là tánh Giác thanh tịnh rốt ráo nó làm
nền tảng cho mọi tư tưởng và diễn tả. Ngữ tượng trưng
có định hướng của Báo thân là tánh Giác bổn nguyên truyền
thông ý nghĩa bằng cái nhìn thấy hình tướng. Lời nói của
Hóa thân là tánh Giác bổn nguyên nó truyền thông với sáu
loại chúng sanh nhờ sáu mươi phương diện của tiếng nói
du dương. Nó đem đến sự hiểu biết cho ý nghĩa mỗi chữ
trong kinh nghiệm của người được giáo hóa. Ngữ của trí
huệ kim cương là tánh Giác bổn nguyên truyền thông sự hiểu
biết về tánh Không bất nhị có thể nghe được. Ngữ abhisambodhi
của sự giác tự nhiên thông tỏ là tánh Giác bổn nguyên
nó thấu hiểu mọi âm thanh là tánh Giác và nó soi sáng ý
nghĩa qua các ban phước chứa đủ trí huệ có năm khía cạnh
Ngũ Trí của tâm.
Thứ
ba là năm đường lối của tâm giác ngộ. Tâm của đại lạc
là tánh Giác vô niệm của bản tánh Không vốn sẵn đủ.
Tâm của vô niệm là tánh Giác bổn nguyên nó nhận biết mà
không danh tướng hóa hiện tượng. Tâm của tính bình đẳng
là tánh Giác bổn nguyên của tánh bất nhị của mọi hiện
tượng. Tâm Kim cương là tánh Giác bổn nguyên trong nó mọi
hiện tượng là sự bất nhị của hình tướng và tánh Không.
Tâm giải thoát chúng sanh hoạt động vì sự lợi lạc cho
các chúng sanh nhờ bốn hoạt động không vướng mắc.
Thứ
tư, năm phẩm chất là cõi, cung điện, tia sáng, ngai và đồ
trang sức. Cõi của Pháp thân là hư không vốn thanh tịnh của
pháp giới. Cõi của Báo thân là “luân xa ánh sáng” của
quang minh bổn nhiên. Cõi của Hóa thân là thế giới Ta Bà
nghìn tỷ.
Cung
điện đối với Pháp thân là pháp giới của Akanishtha ; đối
với Báo thân là tánh Giác bổn nguyên của kinh nghiệm cá
nhân ; và đối với Hóa thân nó là mạn đà la nảy sanh từ
kinh nghiệm cá nhân.
Các
tia sáng đối với Pháp thân là các tia hào quang của năm trí
huệ. Đối với Báo thân, chúng là sự chói sáng tự nhiên
của trí huệ nó soi sáng với ánh sáng năm sắc. Có dạy rằng
hóa thân có 60 tỷ tia sáng chiếu từ mỗi phần của thân
thể.
Ngai
cho Pháp thân là ngai của cái thấy nhất như ; cho Báo thân
là trí huệ nhất như ; và cho Hóa thân là đại bi nhất như.
Về
đồ trang sức, Pháp thân có đồ trang sức của sự thanh tịnh
vô sanh. Báo thân có đồ trang sức của sự thông tỏ tự
nhiên bất đoạn, các tướng chánh và phụ siêu phàm, mười
trang sức tượng trưng : vương miện, khuyên tai, chuỗi hạt
dài và ngắn, vòng đeo tay, hai vòng cổ tay và hai vòng cổ
chân, một chuỗi đeo cổ dài. Đồ trang sức của hóa thân
là 32 tướng chánh và 80 tướng phụ thông thường. Các phẩm
chất của thân Kim cương và thân Abhisambodhi không được đề
cập đến.
Năm
hoạt động là : làm yên nghiệp và phiền não ; làm tăng thêm
tuổi thọ, công đức và trí huệ ; thu hút tâm, sự tỉnh
giác và mọi hiện tượng của sanh tử và Niết bàn ; trừ
khử bất cứ thứ gì ách tắc ; và hành động trực tiếp
nó chứng ngộ trạng thái bổn nhiên.
Bây
giờ, về cách hành động cho sự lợi lạc của chúng sanh,
có ba phương diện : hành động với một chỗ nương dựa,
hành động không có một chỗ nương dựa và hành động bằng
bản tánh.
Hành
động với một chỗ nương dựa nghĩa là hoạt động cho lợi
lạc của chúng sanh trong sạch qua Báo thân và cho các chúng
sanh không trong sạch qua Hóa thân với căn cứ là tánh Giác
Vô nhị của Pháp thân. Đây là cách xác định rằng trí huệ
là có mặt.
Hành
động không có một chỗ nương dựa nghĩa là hoạt động
cho lợi lạc của chúng sanh bằng cách xuất hiện như hai sắc
thân ở trong tri giác của người được hóa độ, dù cho trạng
thái giác ngộ của Ph