Một
tuyển tập những khai thị của đức Liên Hoa Sanh cho dakini
Yeshe Tsogyal và các đệ tử thân cận khác từ những khám
phá kho tàng terma của Nyang Ral Nyima OŠzer, Guru Chošwang, Pema
Ledrel Tsal, Sangye Lingpa, Rigdzin Gošdem, & Chokgyur Lingpa. Lời
dạy mở đầu của H. E. Tulku Urgyen Rinpoche Erik Pema Kunsang dịch
từ tiếng Tây Tạng sang Anh ngữ
MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu của nhà xuất bản
Lời
nói đầu
Lời
dạy mở đầu
01
Chúc thư Đầu Nhọn Hạt Ngọc
02
Lời khai thị cho Trisong Deutsen
03
Không có sự xung đột giữa Tiểu thừa và Đại thừa
04
Xâu chuỗi hạt bằng vàng của Cam Lồ
05
Những bài ca cho 25 đệ tử
06
Kho báu ngọc quý để xua tan mọi chướng ngại
07
Khai thị thực hành Phật pháp như thế nào cho đúng
08
Chỉ cây gậy vào người già
09
Lời khai thị bằng miệng về thực hành
10
Viên ngọc như ý của sự hồi hướng
11
Một khuyến khích thực hành tâm linh
12
Lời nguyện Mạn đà la Kim Cương Giới
13
Chú thích & Bảng thuật ngữ
Lời giới thiệu
của Nhà Xuất Bản
trong lần in thứ
hai
Đại
toàn thiện (Dzogchen, Great Perfection), Đại Ấn (Mahamudra) của
Tây Tạng và Thiền của Việt nam và Trung Hoa từ nền tảng
đều giống nhau, vì chúng đều có cùng nguyên lý căn bản
: ‘Bất lập văn tự. Giáo ngoại biệt truyền. Trực chỉ
nhân tâm. Kiến Tánh thành Phật’.
Bất
lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền : đối với Tây Tạng
là sự chỉ dạy trực tiếp bằng miệng giữa Thầy và trò.
Trực chỉ nhân tâm là câu nói lập lại nhiều trong các lời
chỉ dạy : hãy nhìn thẳng vào tâm con (look into your mind). Và
Kiến Tánh thành Phật là sự nhìn thấy, chứng ngộ Phật
tánh Tự Tâm.
Giống
nhau trong cách tu hành. Với Thiền, thấy Tánh, thấy Đạo,
thấy thực tại, gọi là Đốn ngộ. Sau đó là Tiệm tu (hay
Diệu tu) cho đến giác ngộ viên mãn. Với Đại Toàn Thiện,
trước tiên cũng là cái thấy thực tại hay tánh Không (view),
sau đó là giai đoạn tiệm tu gồm thiền định, hạnh và quả.
Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, cũng có những nhân vật
Đốn tu, Đốn chứng, nghĩa là đi suốt cả ba giai đoạn cái
thấy, thiền định và hạnh trong một lần.
Giống
nhau trong cách đặt tên. Thiền là Tối thượng thừa, theo
cách nói của Lục Tổ Huệ Năng. Và trong sách này ngài Padmasambhava
cũng gọi Đại Toàn Thiện là Tối thượng thừa, xếp nó
vào hàng cao nhất, tinh túy nhất, trong chín thừa của Phật
giáo Tây Tạng.
Chúng
ta thấy giáo lý đạo Phật dầu bất cứ trong trường phái
nào cũng đều giống nhau ở những nguyên lý căn bản. Có
điều, nhờ những đường lối tiếp cận khác biệt đã tạo
thành sự phong phú của Phật giáo. Cũng với sự tiếp cận
Phật tánh, mà cách tiếp cận của Tây Tạng có những điều
khác biệt hơn do đó tạo thành những đặc trưng riêng của
Phật giáo Tây Tạng. Ví dụ giai đoạn tiệm tu ở trong Thiền
được ít nói đến, nhiều khi quá bí mật, còn trong Đại
Toàn Thiện điều đó được nói rất rõ ràng. Chỉ một điều
– trong rất nhiều điều – là ‘đem tất cả chướng ngại
vào con đường’ cũng soi sáng rất nhiều cho một hành giả
tiệm tu. Qua Đại Toàn Thiện chúng ta có thể thấy tu trong
mọi mặt của đời sống là như thế nào, kể cả những
chuyện tưởng chừng như rất nhỏ nhặt là ăn uống và ngủ
nghỉ.
Với
Đại Toàn Thiện, chúng ta có thể hiểu thêm về lối tu của
Thiền Việt Nam, mà nay phần nhiều chỉ còn lại trong các
thiền sử như Thiền Uyển Tập Anh… Xa hơn, chúng ta thấy
Thiền và Mật, Đại Toàn Thiện và Tantra đều là sự thực
hiện của Đại thừa. Mật thừa là sự thực hiện, sự thành
tựu Trí Huệ của Đại thừa qua Phương Tiện. Mật thừa
và Đại thừa đều nhắm đến Phật tánh, cả hai cái đều
có những điểm chung và những điểm riêng, những cách tiếp
cận có thể mạnh hay yếu trong một vài phương diện, nhưng
mục đích chỉ là Phật tánh. Bởi thế đức Padmasambhava đã
nói đến Mật thừa của Đại thừa, và ‘không có sự xung
đột giữa các thừa’. Từ đó, nếu nghiên cứu một cách
nghiêm túc không thành kiến sự thực hành sâu xa của Mật
thừa, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về Đại thừa, là cái
gốc của Phật giáo Việt Nam.
Với
cái nhìn đó, chúng tôi dịch bản văn ‘kho tàng’ này với
ước mong làm phong phú và kích hoạt cho sinh hoạt của đời
sống tâm linh hiện thời.
Nguyện
rằng tất cả đều được an lạc trong Pháp.
Nhà
xuất bản Thiện Tri Thức.
Lời nói đầu
Những
chỉ dạy gồm trong Những khai thị từ đức Liên Hoa Sanh được
nói trực tiếp bởi Padmasambhava cho các đệ tử thân thiết
ở Tây Tạng. Trước tiên chúng được ban cho để trả lời
các câu hỏi từ Bà Tsogyal, công chúa của Kharchen, bà chép
lại và cất dấu chúng như kho tàng terma quý báu để sẽ
được khám phá vào nhiều thế kỷ sau. Hầu hết mỗi chương
đều đề cập rằng các giáo huấn này được ban cho vì sự
lợi lạc của các hành giả các thế hệ tương lai, và thường
thường chúng kết thúc với câu “Mong rằng sách này gặp
được tất cả những ai xứng đáng và có duyên trong tương
lai !”
Những
khai thị từ đức Liên Hoa Sanh là một bộ đi cùng với cuốn
Dakini Teachings (Những chỉ dạy Dakini) (Shambhala, 1989), và khởi
từ một cố gắng liên tục nhằm giới thiệu những chỉ
dạy của Padmasambhava để cho những hành giả hiện đại tu
hành. Padmasambhava là bậc đạo sư vĩ đại đã thiết lập
Phật giáo ở Tây Tạng vào cuối thế kỷ thứ tám. Liên Hoa
Sanh (Shambhala, 1993) chứa đựng nhiều chi tiết về cuộc đời
ngài.
Tulku
Urgyen Rinpoche biểu lộ sự tin tưởng rằng một bản dịch
Anh ngữ của các lời dạy quý báu này sẽ mang lại lợi lạc
to lớn. Ngài yêu cầu tôi tìm kiếm và tuyển chọn những
giáo huấn sâu xa nhất gồm các chủ đề khác với các chủ
đề đã được trình bày trong Những Lời Dạy Dakini.
Bộ
sách này gồm lời chỉ dạy bằng miệng về Kim Cương thừa
mà những đạo sư kiệt xuất nhất đã chọn lọc từ các
giáo lý terma. Bởi vì những phát giác này trải rộng nhiều
thế kỷ và được phát hiện do những người khác nhau ở
những địa điểm khác nhau, ngôn ngữ và văn phạm của chúng
hầu hết đều đồng nhất.
Nguyên
bản được giới thiệu ở đây chỉ đại diện một phần
trong toàn bộ kho tàng terma mênh mông khám phá được hơn một
thiên niên kỷ nay. Cuốn sách này được sưu tập từ các
nguồn sau : Gongpa Sangtal của Rigdzin Gošdem, Martri của Nyang
Ral, Lama Gošngdu của Sangye Lingpa, Tongwa Došnden (một bộ sưu
tập), Khandro Nyingtig của Pema Ledrel Tsal, và Chokling Tersar của
Chokgyur Linpa.
Chương
đầu, tựa là Chúc thư Đầu Nhọn Hạt Ngọc, và chương thứ
sáu cũng là chương dài nhất, Kho tàng các Viên ngọc quý,
được lấy từ bộ Gongpa Sangtal nổi tiếng, một ‘vòng’
terma khám phá bởi Rigdzin Gošdem (1337-1408), vị thầy của Jangter
hay truyền thống “terma Bắc” của phái Nyingma. Rigdzin Gošdem
nghĩa đen là “Vị vidyadhara với lông chim kên kên” ; ngài
có tên ấy bởi vì ba lông chim kên kên mọc trên đầu lúc
mười hai tuổi, và thêm năm cái nữa vào năm hai mươi bốn
tuổi. Là một hóa thân của Dorje Dudjom họ Nanam, một trong
chín đệ tử thân cận người Tây Tạng của Padma-sambhava,
ngài cũng được tính vào năm terton-như-vua.
Gongpa
Sangtal là một rút gọn của “Chỉ thẳng Chứng Ngộ của
Phổ Hiền”, vị Phật nguyên thủy. Tuyển tập này cũng gồm
“Nguyện vọng của Phổ Hiền” nổi tiếng. Gongpa Sangtal
gồm năm phần ; các chương này thuộc về một phần gọi
là Kadag Rangjung Rangshar, “tánh thanh tịnh bổn nhiên tự hữu
và tự hiện.”
Nguồn
chánh thứ hai là Martri của Nyang Ral, “Giáo Huấn Trực Tiếp”
của Padmasambhava được đại sư Nyang Ral Nyima OŠzer (1124-1192)
phát hiện. Trong Dakini Teachings, tôi đã diễn tả ngắn gọn
cuộc đời của Nyang Ral. Bộ lời dạy này được gồm trong
Rinchen Terdzoš bởi Jamgošn Kontrušl (1813-1899), đó là một tuyển
tập các lời dạy terma với tên là Kho tàng quý báu các Terma.
Nguồn
thứ ba là Lama Gongduš, do Sangye Lingpa (1340-1396) phát hiện.
Tiêu đề ấy có nghĩa là “Sự chứng ngộ hiện thân của
Đạo sư” (Padmasambhava). Sangye Lingpa là một hóa thân của
người con thứ hai của vua Trisong Deutsen (790-844), và được
tính vào Tám Lingpa hay Những Terton Chính. Sự phát hiện chính
yếu của ngài là vòng Terma Lama Gongduš khổng lồ gồm mười
tám bộ khoảng bảy trăm trang một bộ, và Kathang Sertreng,
tiểu sử mở rộng của Padmasambhava được biết với tên
là Biên Sử Vàng.
Tongwa
Došnden nghĩa là “đầy ý nghĩa để nhìn,” và là một tiểu
sử của Padmasambhava được sưu tập từ ba nguồn chính : Biên
sử Katang do Orgyen Lingpa (1329-1360/67), Nyang Ral (1124-1192) và
Guru Chošwang (1212-1270) phát hiện. Gồm tờ rộng khổ đôi,
bản văn này được tìm thấy trong thư viện của Shechen Tennyi
Dargye Ling ở Boudhanath. Mục lục nói rằng nó gồm các nguyên
bản từ : 1/ Tiểu sử mở rộng của Đại Đạo sư của Uddiyana,
phát hiện bởi Orgyen Lingpa từ chỗ tối cao của Động Pha
Lê ở Yarlung 2/ Chúc Thư của Padma phát hiện bởi đại terton
Nyang Ral 3/ Tiểu sử về bốn mươi lăm công hạnh, do Công
chúa Mandavara trước tác và cô đọng vào Tiểu sử về mười
một công hạnh bởi Guru Chošwang, vị terton của Lhodrak, và
4/ Các Giáo huấn riêng rẽ, các trả lời khác nhau cho các
câu hỏi và các lời tiên tri từ Lama Langduš của Sangye Lingpa.
Nguồn
thứ tư, tôi dùng một chương từ Khandro Nyingtig, “Tâm Yếu
của những Dakini” của Pema Ledrel Tsal. Padma-sambhava cất dấu
những chỉ dạy của ngài về Vòng Thậm Thâm Vô Thượng của
Đại Toàn Thiện để sẽ được khám phá trong tương lai như
là Khandro Nyingtig. Vị Terton của vòng quan trọng này là Pema
Ledrel Tsal (1291-1315/19), một hóa thân của Công chúa Pema Sal,
con gái vua Trisong Deutsen. Tái sanh ngay sau đó của công chúa
là vị thầy nổi danh Long-chen Rabjam (1308-1363), tiếp theo là
Pema Lingpa (1445-1521). Trong những năm gần đây vị thầy này
tái sanh là Khenpo Ngakchung, hiệu là Ngawang Palsang (1879-1941),
ngài cũng dùng tên Pema Ledrel Tsal.
Cuối
cùng, Lời nguyện Mạn đà la Kim Cương Giới là một tán tụng
rất quan trọng về thiện ý trong Chokling Tersar. Nó được
tụng thuộc lòng vào lúc chấm dứt của hầu hết mọi nhóm
họp tâm linh trong truyền thống Kagyu và Nyingma. Chokling Tersar,
“Các kho tàng Terma Mới của Chokgyur Lingpa” (1829-1870) được
khám phá do đại Terton Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892) và hai
vị cộng tác thân thiết cùng với Jamgošn Kongtrušl Thứ Nhất
(1813-1899).
Xin
cám ơn Ngài Tulku Urgyen Rinpoche, người giữ gìn trái tim của
các giáo lý Padmasambhava, đã từ bi giải thích bất cứ câu
hỏi gì tôi thắc mắc và các chỉ dạy sâu xa soi sáng chiều
sâu của cái thấy được trình bày trong sách này ; và Choškyi
Nyima Rinpoche đã giảng dạy rộng rãi Pháp nhiều năm nay, gồm
cả hai khóa về câu hỏi và trả lời giữa Padma-sambhava và
Yeshe Tsogyal.
Cuối
cùng, tôi hoan hỷ vì bản dịch này được hoàn thành ở Chùa
Động Asura vào ngày thứ mười âm lịch, ngày mà Padmasambhava
đã hứa là ngài đến từ đất nước thanh tịnh của ngài,
Ngọn Núi Rạng Rỡ Màu Đồng, để ban phước cho những ai
kêu gọi đến ngài. Nguyện rằng những lời chỉ dạy quý
giá này là nguồn cảm hứng sâu xa cho những ai đọc chúng
!
Erik
Pema Kunsang Nagi Gompa, 1994.
Lời dạy mở
đầu
Các
giáo huấn chứa đựng trong Những khai thị từ đức Liên
Hoa Sanh thuộc về loại được gọi là martri hay “Lời dạy
trực tiếp.” Martri nghĩa là lời khuyên bảo cá nhân được
trao cho từ tâm và dạy theo một lối rõ ràng và trực tiếp,
phát hiện các bí mật thâm sâu nhất và cất dấu nhất. Thường
thường một sự chỉ dạy như thế chỉ dành cho một đệ
tử vào một thời điểm nào đó. Các giáo huấn trực tiếp
của Padmasambhava cô đọng nghĩa chính yếu của các Tantra của
Mahayoga, các kinh văn của Anu Yoga và cốt lõi của Ati Yoga.
Có
lời nói rằng : “Khi các ngọn lửa của thời đen tối hoành
hành tràn lan, những sự chỉ dạy của Kim Cương thừa của
Mật thừa sẽ cháy bùng như lửa rừng.” Padmasambhava là đại
sư đầu tiên của Mật Thừa và ngài xuất hiện trong vai trò
đi cùng mỗi một trong một ngàn vị Phật ở kiếp này.
Bổn
sư của tôi là Samten Gyatso thường nói : “Hãy nhìn cho kỹ
và thấy các giáo huấn Terma của Padmasambhava là lạ lùng biết
bao ! Hãy so sánh các Terma với các luận văn khác và thấy
tính chất độc nhất của chúng ! Lý do là chủ yếu chúng
được chính Padmasambhava tạo nên. Vẻ đẹp của lối văn
xuôi ấy thì đáng kinh ngạc !”
Samten
Gyatso cũng nói : “Thật rất khó cho một người nào tạo
ra một thứ văn chương đẹp đẽ và sâu xa như văn xuôi tìm
thấy trong các thực hành của Terma. Khác với các luận văn
của người chỉ có học nhiều, mỗi lời có thể hiểu ở
những mức độ càng ngày càng sâu. Đó là phẩm tính đặc
biệt của lời kim cương của Padmasambhava.” Thầy tôi biểu
lộ rằng ngài luôn luôn thán phục đến thế nào về những
câu nói của Padma-sambhava ! Samten Gyatso thì uyên bác rất mực
và đã nghiên cứu một số lượng văn học bao la ; ngay dù
thế, ngài luôn luôn có thể tìm thấy nhiều mức độ ý nghĩa
khác nhau trong lời chỉ dạy của Padmasambhava. “Khi con đọc
các lời chỉ dạy của Padmasambhava, con không tránh được
cảm thấy niềm tin và sùng mộ,” ngài nói. “Con chỉ có
thể quy phục với một niềm tin trọn vẹn !” Samten Gyatso
có một đức tin không thể tưởng vào Padmasambhava. Ngài thường
nói : “Không có ai vĩ đại hơn Padmasambhava. Dĩ nhiên, Phật
Thích Ca là gốc, nhưng Padmasambhava là người đã làm cho các
giáo lý Kim Cương thừa lan rộng và nở rộ khắp Ấn độ
và đặc biệt là Tây Tạng.”
Chúng
ta thấy rằng các lời dạy giống nhau xuất hiện bởi sự
khám phá của một vài terton. Lý do là chúng là lời nói không
thể sai lầm của Padmasambhava được giải từ chữ viết tượng
hình. Người ta không cần phải nghi ngờ gì. Ví dụ, Bảy
Dòng Cầu Khẩn bắt đầu với “Ở biên giới Tây Bắc xứ
sở Uddiyana…” xuất hiện trong rất nhiều Terma khác nhau
; các người khám phá khác nhau đều rút ra từ một nguồn.
“Các
Terton vĩ đại đích thật thì rất kỳ diệu !” Samten Gyatso
nói. “Các đạo sư như Nyang Ral, Guru Chošwang và Rigdzin Gošdem
thật sự là không thể tưởng được ! Hai vị Terton đầu,
Nyang Ral và Guru Gošdem, được biết như là Hai Terton Vua, và
một trăm terton khác được xem như là cận thần của họ.
Cũng có Ba Terton xuất chúng, Tám Lingpa, 25 terton chính và vân
vân, tất cả các ngài đều quan trọng như nhau. Nhưng giữa
108 terton, hai vị chính là Hai Terton Vua : Nyang Ral OŠzer và Guru
Chošwang. “Không ai vĩ đại hơn hai vị ấy !”, ngài nói.
Vị Terton đầu tiên của tất cả các terton là Sangye Lama,
nhân đây, không phải là Sangye Lingpa. Tôi không quen thuộc
với các chi tiết của các tiểu sử có rất nhiều ; tôi chỉ
biết là họ rất xuất sắc.
Khi
Dzongsar Khyentse Choškyi Lodroš còn ở Gangtok, tôi có dịp may
viếng ngài mỗi buổi sáng trong 25 ngày để hỏi nhiều vấn
đề khác nhau. Vào lúc đó, sức khỏe ngài tốt, và vì đang
trong tình trạng một nửa ẩn tu, ngài không tiếp khách. Nhưng
vì tôi là một con cháu của Chokyur Lingpa, ngài bày tỏ lòng
tốt đặc biệt với tôi và gọi tôi đến gặp. Thường thường
ngài ở một mình không có thị giả nào.
Một
hôm tôi bày tỏ sự không biết của tôi và hỏi : “Người
thường không biết gì như con phải có thời gian cực nhọc
để tìm ra trong tất cả các terma về các hóa thần của Ba
Gốc do Hai Terton Vua khám phá và của 108 terton chứa đựng
trong Rinchen Terdzo cái gì là quan trọng nhất. Chúng con như
những trẻ nhỏ nhặt hoa trong một đồng cỏ bao la, cố gắng
chọn cái đẹp nhất. Theo ngài, những cái gì là quan trọng
nhất ?” Ngài đã trả lời : “Về phương diện guru, không
có gì vĩ đại hơn Sự Thực hành vào Ngày thứ Mười Trong
Tám Chương của Guru Chošwang. Nó là cái thống lãnh trong mọi
loại guru sadhana. Về phương diện yidam, Padmasambhava dạy Giáo
Huấn Tám Sadhana và bản dịch của Nyang Ral là vượt trội.
Về phương diện dakini, Trošma Nagmo của Nyang là tối cao. Ba
cái này là quan trọng nhất trong các terma được phát giác.”
Sự thực hành vào ngày thứ Mười trong Tám Chương của guru
Chošwang đặt căn bản trên chính hình tướng của Padmasam-bhava
như là Lama Sangduš, “vị đạo sư hiện thân mọi bí mật.”
Có ba bản dịch chính của Giáo huấn Tám Sadhana. Trong mọi
thực hành Dakini khác nhau, Trošma Nagmo của Nyang, một hình
tướng hung nộ, màu đen của Vajra Yogini, là cùng cực sâu
xa.
Khi
tôi hỏi : “Còn cá nhân con thực hành cái gì ?” Dzong-sar
Khyentse nói với tôi “Hãy lấy Tukdrub Barchey Kušnsel như sự
thực hành riêng biệt cho con ! Trong các Terma của Chokgyur Lingpa,
Barchey Kušnsel là sâu thẳm vô cùng và được khám phá không
có trở ngại gì. Khi các chướng ngại đã được dời bỏ,
sự thành tựu xảy ra tự nhiên, thế nên hãy tập trung vào
sự thực hành ấy !”
“Con
sẽ xem ai như là guru ?” tôi hỏi. Dzongsar Khyentse trả lời,
“Hãy cầu khẩn Chokgyur Lingpa ! Thế là đủ rồi ! Không có
gì hoàn hảo hơn thế ; ngài sẽ đáp ứng về phương diện
guru !”
Khi
tôi hỏi, “Thực hành Dzogchen nào con nên tập trung vào ?”
Dzongsar Khyentse lại nói : “Con nên thực hành Kun-zang Tuktig
! Đây là thời mà hai giáo trình Kunzang Tuktig và Chetsušn Nyingtig
sẽ ảnh hưởng vào dân chúng. Mỗi thời đại có giáo huấn
riêng của nó về Đại Toàn Thiện, điều đó đặc biệt
có ý nghĩa trong thời hiện nay. Thời trước kia, cái được
biết rộng rãi nhất là Nyingtig Yabzhi ; sau đó đến Gongpa
Sangtal của Rigdzin Gošdem và Tawa Long-yang của Dorje Lingpa, rồi
tới Košnchok Chiduš của Jatsošn Nyingpo. Mỗi terma đều có
thời đặc biệt của nó.”
Về
điều này, Samten Gyatso bày tỏ : “Padmasambhava được tán
dương vì trước khi rời Tây Tạng ngài đã cất dấu một
số lớn terma gồm các lời dạy, đá quý, và các vật linh
thiêng cho các hành giả của mỗi thế kỷ. Các terton xuất
hiện về sau để khám phá ra các kho tàng terma này đã được
Padmasambhava ban phước và gởi đi sau khi đã nhận sự truyền
pháp và đọc sự trao truyền của toàn bộ dòng phái. Ngày
nay có vài người trí thức, nói rằng “những Terton không
có dòng liên tục được truyền pháp và không đọc sự trao
truyền từ Padmasambhava đối với những giáo huấn của các
ngài. Các ngài chỉ đào lên được một số bản văn do chính
các ngài cất dấu !” Thật ra, mỗi một terton đã nhận được
sự trao truyền toàn bộ qua các sự ban phước của Padmasambhava
trong một cách chính thống cao hơn rất nhiều so với các truyền
pháp và trao truyền theo một lối bề ngoài thường được
làm, thường chỉ là một sự tương tự với ban phước. Tất
cả các terton vĩ đại là những đạo sư mà thân, khẩu và
tâm ý đã được ban phước và truyền pháp một cách cá nhân
bởi chính Padmasambhava. Nói rằng các vị không có sự trao
truyền là trẻ con. Những nhận xét như thế chứng tỏ sự
ngu dốt của người phát biểu về bảy lối trao truyền truyền
thống. Các giáo huấn trong terma là sâu xa đáng kinh ngạc,
và được cất dấu trong hòm kho tàng theo “bốn cách thức
và sáu giới hạn.” Chúng có một chiều rất sâu xa để
thăm dò nếu con thích thú.”
Từ
thuở thiếu niên, một terton vĩ đại đã khác với một đứa
trẻ bình thường. Ngài có những linh kiến về các hóa thần
và sự chứng ngộ trào lên từ bên trong. Những terton không
giống người bình thường chúng ta phải theo con đường tiệm
tiến thứ lớp về nghiên cứu và thực hành. Người bình
thường không có sự chứng ngộ tức thời !
Đã
vài thế kỷ trôi qua từ khi Padmasambhava còn sống, nhưng qua
lòng tốt vô bờ của ngài, ngài đã cất dấu vô số terma
cho sự lợi lac của người tương lai – trong đá tảng, trong
hồ, và ngay trong không gian. Nghĩ đến lòng tốt bao la này
gây nên sự sợ hãi. Tuy nhiên, có những người không đánh
giá nổi lòng tốt ấy.
Khi
thời điểm đến cho các lời dạy terma được khám phá, các
terton vĩ đại xuất hiện trong thế gian này. Các vị có thể
lặn vào hồ, bay đến những nơi chốn hang động không thể
đến và lấy báu vật ra từ trong đá tảng.
Bà
nội tôi, là con của Chokgyur Lingpa, đã chứng kiến điều
đó, và sau này kể lại cho tôi : “Khi đá mở ra, trông giống
như hậu môn của một con bò ; đá trở nên mềm và chảy
ra để lộ một lỗ hổng đựng terma. Thường thường, vị
terton lấy terma ra trước sự có mặt của hơn ngàn người
: như thế không có căn cứ cho sự nghi ngờ. Khi đá mở ra
và bên trong có thể thấy được, chúng ta thấy nó đầy ánh
sáng cầu vồng lấp lánh. Các phẩm vật terma nóng không rờ
được. Rồi thì có một số lượng thật nhiều bột sindhura,
đến nỗi nó chảy ra ngoài. Thường thường, Chokgyur Lingpa
mang một tấm vải thêu để đặt báu vật lên. Nhiều cái
để lại dấu cháy xém vì các terma rất nóng. Không có ai
ngoài ngài có thể cầm nó.” Về sau tôi thấy có một vài
mảnh thêu cháy xém này, màu đỏ và vàng, trong phòng chứa
đồ linh thiêng của Chokgyur Lingpa.
Bà
tôi nói tiếp : “Rồi Chokgyur Lingpa đặt terma – đôi khi
là một bức tượng – để nguội dần trên một tấm vải
thêu trên một bàn thờ lộ thiên. Ngài giải thích cho những
người hiện diện terma được cất dấu như thế nào, nó
được phát giác bây giờ bằng cách nào, các lợi lạc khi
nhận được sự ban phước của nó… Đám đông khoảng hơn
một ngàn người chảy nước mắt vì tin tưởng và sùng mộ,
không khí rì rào với tiếng than. Ngay nếu con là một người
trí thức ngang bướng, mọi thứ nghi ngờ cũng phải tiêu tan.
Mọi người đều sững sờ thán phục.”
Phải
với cách như thế, bởi vì người Tây Tạng, đặc biệt là
những người ở tỉnh Kham miền đông Tây Tạng, họ cực
kỳ nghi ngờ. Họ không tự nhiên tin một Terton. Nhưng Chokgyur
Lingpa thì vượt lên mọi sự nghi ngờ và bàn tán, bởi vì
ngài khám phá các terma lập đi lập lại với sự chứng kiến
của vô số người hiện diện.
Lời
dạy Terma, lời trực tiếp của Padmasambhava, khi được khám
phá vào thời điểm định mệnh, thì có một chiều sâu khó
mà các luận văn khác sánh được. Chúng có các ban phước
độc nhất – nhưng những sự ban phước tùy vào niềm tin
và sùng mộ của bạn. Karsey Kongtrušl, con của Karmapa thứ
mười lăm, có lần nói với tôi “Ba lần tôi cử hành lễ
drubchen về terma Tukdrub Barchey Kunsel, của Chokgyur Lingpa, và
mỗi lần những dấu hiện thành tựu lạ lùng lại xuất hiện.”
Tôi hỏi : “Xin nói cho tôi chúng là những gì.” “Một lần
một lượng cam lồ rất nhiều chảy ra, rất ngọt ngào và
hơi chua như rượu chang tuyệt hảo, từ torma trên bàn thờ
và chảy tràn mọi hướng cho đến cổng chùa. Lần khác, amrita
và rakta trên bàn thờ bắt đầu sôi lên, tiếng sùng sục
như nước sôi. Lần thứ ba chúng tôi cũng sửa soạn phương
dược thiêng liêng và mùi thơm ngọt ngào của nó có thể
ngửi thấy luôn bảy ngày sau. Trong đời, tôi chưa bao giờ
chứng kiến các dấu hiệu lạ lùng như trong ba lần đó.”
Điều này cũng có thể do sự phối hợp của một giáo lý
terma sâu xa và một đại sư cao tột như thế. Có nhiều câu
chuyện khác về cam lồ chảy ra từ torma trên bàn thờ trong
các lễ drubchen ở tu viện Tsiley của Chokgyur Lingpa.
Đại
sư Jamyang Khyentse Wangpo cũng phát giác một terma tương tự
với Tukdrub Barchey Kušnsel. Sau khi gặp Chokgyur Lingpa và xem xét,
so sánh cẩn thận hai bản dịch của terma này, Jamyang Khyentse
đốt cháy bản văn của mình, nói : “Vì câu và nghĩa giống
nhau, ích lợi gì có thêm một bản ! Cái của Ngài, là một
terma đất, thì sâu xa hơn và sẽ có hiệu lực hơn bản terma
tâm của tôi.” Như thế các ban phước của hai dòng, terma
đất và terma tâm được hòa trong một dòng chảy. Một terma
đất thì bằng vật chất và lấy ra từ đất trong khi terma
tâm được khám phá từ cảnh giới của chứng ngộ. Người
ta nói rằng những terma đất đem đến nhiều lợi lạc lớn
hơn cho con người bởi vì chúng thường có mảnh giấy da màu
vàng với chữ tượng trưng được cất dấu bởi Padmasambhava.
Chữ
tượng trưng này được gọi là chữ dakini thì sâu xa không
thể tưởng. Trích dẫn một bản kinh Tantra : “Chữ của kho
tàng là thân của sự lưu xuất huyễn hóa. Chúng cũng là ngữ
để hiểu âm thanh và ngôn ngữ. Bằng sự thấu suốt ý nghĩa
của chúng, chúng cũng là tâm.” Theo cách ấy, thân, ngữ và
tâm giác ngộ đều gồm chứa trong chữ của dakini. Chữ viết
này chính nó là hóa thân, thân thể của sự sáng tạo huyễn
hóa. Đối với một vị thầy, ban cho một sự trao truyền
bằng cách đọc dầu chỉ một bài tán ngắn thì chữ viết
là luôn luôn cần thiết – không thể lập lại theo trí nhớ.
Tương tự, có một sự khác biệt sâu xa giữa sự việc có
hay không có mảnh giấy da màu vàng với chữ của dakini.
Các
lời dạy của Padmasambhava thường kết thúc với mệnh lệnh
của ngài với các đệ tử chớ truyền bá chúng ngay mà cất
dấu chúng cho lợi lạc của các tín đồ tương lai. Lý do
là để giữ gìn sự liên tục của các lời dạy cốt tủy.
Không cất dấu sự chỉ dạy trực tiếp như các kho tàng terma,
dòng của chúng sẽ chết qua nhiều thế kỷ. Lấy một ví
dụ là nhà siddha vĩ đại Karma Pakski ; trước tác của ngài
khoảng gần một trăm bộ, nhưng hôm nay chúng ta chỉ có ba
bộ còn lại. Sự việc diễn ra như vậy. Các giáo huấn về
thực hành pháp Choš của nữ đạo sư Machig Labdron, cắt đứt
chấp ngã, khoảng 80 hay 90 bộ, nhưng ngày nay bạn tìm đâu
ra toàn bộ lời dạy quý báu ấy ?
Trong
dòng Nyingma, không có đạo sư vĩ đại nào được biết tiếng
do học rộng hơn Rongzompa và Longchenpa. Ngay dù Rongzompa thường
được xem là bác học hơn, nhưng Long-chenpa thì vượt trội
trong các lời chỉ dạy về cái thấy. Mỗi vị đều có một
toàn tập trước tác hơn 60 hay 70 bộ ; nhưng ngày nay chúng
không tìm thấy được ở bất kỳ đâu. Các lời dạy biến
mất !
Sự
chỉ dạy của terma, ngược lại, thì vô tận. Khi một terton
đích thực có một linh kiến chữ viết tượng trưng, mỗi
một chữ trở thành một toàn thể đô thị huyễn hóa. Hơn
nữa, các chữ của lời dạy để được viết lại tồn tại
giữa không trung cho đến khi chúng được chép đúng ; nếu
một câu còn sống chập chờn, đó là vì vị terton có một
lỗi đánh vần sai. Như thế sự chính xác khi giải mã được
bảo đảm.
Chúng
ta có thể dễ dàng đồng ý về sự quý giá của Padma-sambhava
và Yeshe Tsogyal. Những lời dạy các ngài cất dấu trong hồ
và núi không bị uổng phí. Ngay khi đúng thời, bản viết
xuất hiện sống động và rõ ràng trong trường kinh nghiệm
của vị terton. Trước khi có sự khám phá thực sự một terma,
vị terton sẽ nhận một bản văn hướng dẫn, một bản văn
ngắn giải thích chỗ của terma, bảng liệt kê các lời dạy,
và thời điểm đúng cho cuộc khám phá. Khi đến chỗ ấy,
bà tôi nói : “Chokgyur Lingpa đã được hướng dẫn bởi một
tia sáng từ trung tâm của terma, dẫn ngài thẳng đến chỗ
cất dấu.”
Padmasambhava
có thể thấy thông suốt ba thời quá khứ, hiện tại và vị
lai cũng rõ ràng như một vật đặt trên bàn tay chúng ta, bởi
thế chắc chắn ngài cũng thấy loại giáo lý nào thích hợp
cho các thế hệ tương lai. Khi ngài quở trách đệ tử chính
Yeshe Tsogyal hay người Tây Tạng nói chung, bất kể bạn sanh
ở xứ sở nào, bạn cũng được tự do nhận lãnh sự phê
bình ấy để dẹp trừ những lầm lỗi ẩn tàng. Sự nghi
ngờ ngăn che lợi lạc ; chớ giống như một cái hang quay mặt
về phương nam nơi mà mặt trời không bao giờ tới. Khi Padmasambhava
chỉ thẳng cái gì tạo ra một lỗi lầm và cái gì ngăn bít
con đường giác ngộ, các chân lý như thế thật là vững
chắc, không chỉ cho người Tây Tạng, mà cho bất cứ ai thành
thật muốn theo một thực hành tâm linh. Vì chúng ta đang sống
trong một thời đại khác với thế kỷ thứ tám, bạn có
thể tự do đổi danh từ “dân Tây Tạng” thành “người
của thế giới này.”
Yeshe
Tsogyal là người sưu tập chính các lời dạy của Padmasambhava,
và không có bà chúng ta sẽ không có nhiều các lời chỉ dạy
của ngài đến thế. Ananda đã là người sưu tập chính những
lời của Phật Thích Ca về kinh, trong khi Vajra-pani sưu tập
lời dạy Mật thừa của Ngài ; trong tinh túy chúng đồng nhất
với nhau. Yeshe Tsogyal có cái được gọi là “trí nhớ không
quên sót” ; bà không bỏ quên một câu nào đã được nghe.
Có phải là hoàn toàn vô ích khi nghe được điều gì mà lại
quên mất ?
Người
sưu tập những lời chỉ dạy của Padmasambhava này chính là
một hóa thân của các Phật Mẫu Bát Nhã ba la mật, Vajra Varahi,
và Thánh Tara. Bà xuất hiện trong thế giới chúng ta cho mục
tiêu đặc biệt này ; nó là nhiệm vụ của bà. Ananda, Vajrapani
và Yeshe Tsogyal đều được diễn tả là có trí nhớ siêu
phàm, năng lực ghi nhớ không quên sót. Sự nhớ không quên
sót này là giống với điều mà chúng ta gọi là không phóng
tâm, bởi vì quên và phóng tâm là cùng một bản chất. Trong
cuốn sách này chúng ta có những lời chỉ dạy bà đã nghe,
không quên sót, hệ thống hóa, và cuối cùng cất dấu như
là kho tàng terma cho chúng ta. Yeshe Tsogyal là một phụ nữ :
có thể một số người tin rằng chỉ có nam giới mới có
thể đạt giác ngộ, nhưng cuộc đời của bà là bằng chứng
ngược lại. Trong thực tế, trạng thái giác ngộ của tâm
thì không là đàn ông hay đàn bà.
Lối
văn xuôi trong Những khai thị từ đức Liên Hoa Sanh, hình thức
hỏi và đáp giữa Padmasambhava và Yeshe Tsogyal và các đệ tử
thân thiết, thì đồng nhất với điều được tìm thấy trong
các kinh và các tantra, đặc biệt trong chương mở đầu của
chúng, phần ‘duyên khởi’. Bạn thấy rằng hầu hết Luật
tạng về giới luật ở tu viện có được là do đức Phật
được hỏi làm thế nào để đối xử với sáu tín đồ
họ phạm những tà hạnh. Sau khi trình bày câu chuyện về
việc làm sau chót của họ, đức Phật chế định một giới
luật mới bị cấm đoán đối với một tu sĩ.
Một
điểm khác là bạn rất khó tìm ra một kinh nào mà không được
thuyết để trả lời cho câu hỏi của ai đó. Đầu tiên một
người hỏi đức Phật về vài đề tài, và lời dạy được
ban cho. Tương tự với loại chỉ dạy bằng miệng, nó chỉ
được ban cho để trả lời cho một thỉnh cầu. Các tantra
được trình bày theo cùng một kiểu : nhân vật trung tâm của
mạn đà la lưu xuất ra một chúng bao quanh, các thành viên
của chúng thỉnh cầu lời chỉ dạy Mật thừa. Tóm lại,
hình thức hỏi đáp là cách kiểu truyền thống.
Có
một lời tiên tri rằng “giáo lý của Phật sẽ lan rộng
xa hơn về phía bắc.” Nepal là phía bắc Ấn Độ, và sau
đó, có phải Tây Tạng là xa hơn về phía bắc ? Tôi không
chắc những lời ấy xuất phát từ đâu ; chúng có thể từ
một terma của Padma-sambhava hay có thể được chính đức Phật
nói. Nhưng chắc chắn tiên tri là có ; tôi đã nghe nó từ
Dzongsar Khyentse Rinpoche. “Từ bây giờ Phật pháp sẽ lan rộng
về phương tây,” ngài nói.
Một
ghi nhận khác, vì cả hai đức Phật Thích Ca và Padmasambhava
xuất hiện bằng một tỷ hình tướng trong mỗi một tỷ hệ
thống thế giới, tại sao lại không thể có hóa thân của
các ngài trong mọi nước của thế giới này ? Ai có thể chắc
chắn được có một nơi riêng rẽ nào mà những ban phước
của Phật không thấu đến ? Dĩ nhiên chúng ta y cứ trên sách
lịch sử cho ta biết ở đâu và khi nào Phật giáo lan tỏa,
nhưng tôi cảm thấy rằng hoạt động của Phật thì thấm
nhuần khắp, bao trùm toàn bộ thế giới chúng ta. Ví dụ,
tôi thường được nghe nói rằng Padmasambhava đã viếng thăm
khắp xứ Tây Tạng và Kham, ban phước mỗi ngọn núi, hang
động và hồ, và không bỏ sót chỗ nào, ngay nhỏ như một
dấu chân ngựa. Thế thì tại sao ngài lại bỏ qua các chỗ
khác trong thế giới này ? Tất cả những giáo lý từ đức
Phật dĩ nhiên là chân thật, nhưng chúng khác biệt theo cấp
độ sự nhấn mạnh được đặt vào nghĩa tương đối hay
tuyệt đối. Mỗi cái đều quan trọng, theo nghĩa mức độ
tương đối hướng dẫn qua những chỉ dạy về hạnh đúng,
trong khi mức độ tuyệt đối hoạt động qua những giáo huấn
về cái thấy đúng. Những chỉ dạy này có thể được ban
cho trong hình thức lời khuyên bảo cốt lõi hay các chỉ dạy
bằng miệng súc tích.
Thường
thường, được biết rằng người ta phải ‘đi xuống với
cái thấy’ từ trên, trong khi ‘đi lên với hạnh từ dưới.’
Đi xuống với cái thấy từ ở trên nghĩa là nhận ra quang
cảnh tổng quát, trọn vẹn về Đại Toàn Thiện, trong khi
đi lên với hạnh nghĩa là thực hành theo tám thừa thấp.
Trong bối cảnh Kim Cương thừa, điều này đặc biệt ám chỉ
đến sự tu hành mười chủ đề của tantra.
Để
kết luận, các tuyển tập khác nhau những chỉ dạy của Padmasambhava
gồm các giáo huấn về cả cái thấy và hạnh. Ý kiến của
tôi là người ta phải trình bày chính xác các lời chỉ dạy
trong hình thức nguyên thủy của nó, không thêm điều gì mà
cũng không bớt điều gì. Ví dụ nếu bạn bỏ qua những lời
chỉ dạy về cái thấy và chỉ trình bày các chỉ dạy về
hạnh, lời của Padmasambhava sẽ trở thành bất toàn. Trong
chủ đích rốt ráo của cái thấy, bạn quả đã nghe những
câu nói như “Không có nghiệp, không có thiện ác.” Nhưng
xin hãy hiểu những câu nói ấy trong bối cảnh đúng của
chúng !
Không
có cái thấy, mọi chỉ dạy chỉ là cơ quyền, các giáo huấn
bên ngoài về thái độ ứng xử. Nếu bạn mất cái thấy
trong hạnh, không bao giờ có cơ hội nào cho giải thoát ; nhưng
nếu bạn mất hạnh trong cái thấy, bạn lạc vào sự tin rằng
không có tốt và xấu, cả hai đều trống không. Để hiểu
Kim Cương thừa, chúng ta phải học như thế nào các chỉ dạy
Mật thừa được cất dấu trong sáu giới hạn và bốn cách
thức.
Nghĩa
quyền nhắm vào hạnh, trong khi nghĩa thực bao gồm cái thấy.
Như Milarepa nói : “Tự hành xử một cách ngu dại với cái
thấy quyền cơ, bạn mất cơ hội để chứng ngộ thật nghĩa.”
Tulku
Urgyen Rinpoche nói.
Chùa
Động Asura, tháng mười 1993.