Pramudita
(Hoan hỷ địa)
Người
tu hành, khi tâm trí đạt được những đức tánh nói trên,
đã vượt khỏi địa vị phàm phu và chắc chắn trở thành
một vị Bồ-tát. Nay vị ấy được xem là thuộc gia đình
của Như Lai, trở thành Anavadya (không còn bị chỉ trích) về
tàn tích trong sự thọ sanh (sarva jàtivàdena), chấm dứt các
đời sống thế tình, hướng đến các đời sống xuất thế,
an trú vào bình đẳng tánh của vị Bồ-tát (Bodhisattvadharmatà),
thiện trú trong vị trí của vị Bồ-tát, hiểu được tánh
bình đẳng, sẽ được nhận vào gia đình Như Lai trong tất
cả thời, và cuối cùng sẽ thành Phật. Vị Bồ-tát như vậy,
khi còn trong địa này có pràmodya (hân hoan), pra-sàda (tín),
prìti (hỷ), utplàvanà (thượng hỷ), udagrì (cực hỷ), usi
(hương thơm), utsàha (tinh tấn), và trở thành asamrambha (không
có mạn), avihimsà (bất hại) và akrodhà (vô hận). Các vị
jinapùtras (Phật tử) trở thành hoan hỷ khi nghĩ đến các
đức Phật, giáo pháp, những Bồ-tát hạnh và các hạnh Pàramità
(Ba-la-mật). Các vị này hoan hỷ cũng vì tự biết mình ra
ngoài các thế tình, gần Phật địa, Jnànabhùmi (Trí địa)
và đoạn trừ những đời sống ở địa ngục và ác thú.
Các vị này trở thành những ý chỉ cho mọi loài chúng sanh,
luôn luôn ở trong tầm nhãn quan của Như Lai và loại trừ
mọi sự sợ hãi vì không có tham ái cho mình và đối với
sự vật. Các vị này không mong một ai giúp đỡ mình, trái
lại sẵn sàng giúp đỡ tất cả chúng sanh. Vì không có quan
niệm về ngã, nên không sợ chết, vì biết rằng mình có
chết cũng luôn luôn hầu cận chư Phật và chư vị Bồ-tát.
Rồi
các vị Bồ-tát, với chí nguyện cao thượng và với tâm niệm
Ðại bi lên hàng đầu, cố gắng tinh tấn làm thêm các thiện
sự. Vì các vị này có nhiều Sraddhà (tín), prasàda (tịnh),
adhimukti (thắng giải), avakalpanà (thực giải), krpàkarunà (từ
bi), mahàmaitri (Ðại từ), và với một tâm trí kiên trì với
hrì (tàm), apatràpya (quý), qsànti (nhẫn), sàvraty (trọng hậu),
thán phục giáo lý và nhờ thiện trí thức ủng hộ, các vị
này được an trú trong Ðịa thứ nhất. Rồi các vị này có
những đại nguyện như sau:
1)
Kính lễ chư Phật dưới mọi hình thức và hết sức trang
trọng;
2)
Bảo trì và gìn giữ giáo lý đức Như Lai;
3)
Chứng kiến Phật xuất hiện trong mọi thế giới và theo hầu
chư vị Bồ-tát trong đời sống sau cùng của những vị này,
từ khi xuống cung trời Ðâu suất cho đến khi nhập Niết
bàn.
4)
Thực hành tất cả Bhùmi (Ðịa) với các hạnh Ba-la-mật;
5)
Giúp chúng sanh được thuần thục và chứng toàn giác;
6)
Làm cho thanh tịnh mọi Phật sát bằng cách viếng thăm các
chỗ ấy;
7)
Hiểu hết sự sai biệt vô lượng giữa sự vật trong mọi
thế giới;
8)
Khuyến khích các vị Bồ-tát phát triển mọi đại nguyện
và góp nhặt công đức từ đại nguyện ấy, chứng một căn
bản duy nh?t và đồng nhất cho tất cả Bồ-tát, hầu hạ
tất cả đức Phật, chứng kiến Phật xuất thế khi nào cần
thiết, trải qua mọi hình thức của sự sống với tự thân
của mình, thâm hiểu và truyền bá giáo lý Ðại thừa.
9)
Làm phận sự của một vị Bồ-tát, làm các hạnh lành về
thân, khẩu và ý, chứng ngộ Phật pháp một lần và tất
cả, đoạn trừ các đau khổ với lòng tin, được một thân
như Ðại y vương (Mahà bhaisa-jyaràjà) hay giống như viên ngọc
như ý và nói được những lời nói không bao giờ vô ích;
và
10)
Chứng được chánh đẳng giác trong mọi thế giới, sanh ra
như một người thường nhưng không bước xa chánh đạo một
sợi tóc, xuất gia bỏ thế tục, làm các thần thông, chứng
Bồ đề dưới cây Bồ đề, chuyển Pháp luân và cuối cùng
chứng Ðại bát Niết bàn.
Trong
khi còn ở trong HOAN HỶ ÐỊA, các vị Bồ-tát phát vô lượng
đại nguyện, trong đó có 10 đại nguyện chính. Các vị này
thương xót vô lượng chúng sanh bị tà kiến dắt dẫn sai
lạc, bị vô minh dục vọng v.v... làm mờ ám, tiếp tục tái
sanh trong ba giới, và theo luật nhân quả, tăng trưởng sự
đau khổ cho chính mình. Các vị Bồ-tát cố gắng an trú trong
Niết bàn, hạnh phúc tối thượng.
Khi
ở trong địa thứ nhất, các vị này tăng tấn lòng từ bi
và thực hành hạnh Mahàtyàga (Ðại xả), từ bỏ của cải,
con, vợ v.v... tìm sự vật thế gian và xuất thế gian và như
vậy trở thành tinh thông các bộ Sàstra (luận) và do vậy
có thể phân biệt cái gì thiện và bất thiện cho chúng sanh.
Các vị này trở thành Lokajnà (thế gian trí giả). Nhờ luôn
luôn cúng dường và tôn trọng sàsana (giáo pháp), các vị
này thành tựu được 10 thiện tánh cần thiết để thanh tịnh
10 Ðịa: Sraddhà (Tín), Karunà (Bi), Maitri (Từ), Tyàga (Xả),
Khedasahisnutà (Nhẫn chịu khổ cực), Sàstrajnatà (Tinh thông
luận bộ), Lokajnatà (Thế gian trí), khiêm nhường, tàm quý,
kiên trì, và khả năng đảnh lễ Như Lai. Các vị này thấy
rất nhiều đức Phật, cúng dường với những lễ vật cần
thiết, đảnh lễ chư vị tăng già và hồi hướng các công
đức để chứng vô thượng giác, có khả năng nhiếp hóa
chúng sanh nhờ bố thí và ái ngữ (priyavadya) và adhimukti (đại
nguyện). Ngoài ra còn kể hai nhiếp pháp khác (samgrahavastu)
cũng được thành tựu nhưng chưa chứng Nhất thế trí. Trong
10 Ba-la-mật, bố thí Ba-la-mật là đệ nhất. Một vị Bồ-tát
chứng Ðịa thứ nhất có khả năng làm vua xứ Diêm phù đề
(Sambudvìpa), trở thành vị lãnh đạo lấy chánh pháp trị
nước, luôn luôn hướng về Tam bảo, Bồ-tát hạnh và vô
thượng trí. Muốn trở thành vị lãnh đạo chúng sanh, vị
Bồ-tát xuất gia thọ giới, và trong một sát-na nhập 100 thiền
định, diện kiến 100 đức Phật và thực hành những hành
vi kỳ diệu khác.
Tương
đương giữa Bhùmi (Ðịa) với Magga (Ðạo) và Phala (Quả)
Hệ
thống Tiểu thừa không có gì tương đương với địa thứ
nhất của Ðại thừa, vì không dính với Bồ đề tâm, Nguyện,
Từ, Bi và 10 đức tánh cần cho một vị Bồ-tát để mạnh
tiến trên 10 Ðịa.
Chính
từ Ðịa thứ hai, hệ thống Tiểu thừa mới có những giai
đoạn tương đương với hệ thống Ðại thừa. Tập Bodhisattvabhùmi
và Madhyamkàvatàra chú ý đến điểm này trong khi đề cập
đến các Bhùmi.
Trong
hệ thống Tiểu thừa, về các vị thứ tu hành, thường nói
rằng một vị tu hành sẽ trở thành một Dự lưu và Nhất
lai nhờ theo giới Adhisìla (thắng giới), một vị Bất lai
nhờ theo định Adhicitta (thắng định) và một vị Bồ-tát
nhờ theo huệ Adhipannà (thắng tuệ). Nếu nay chúng ta so sánh
với các Ðại thừa Ðịa như đã được gọi trong Bodhisattvabhùmi,
sự liên hệ giữa các Ðịa tiểu thừa với các Ðịa đại
thừa trở thành rõ ràng. Như vậy chúng ta cũng có thể đặt
tên cho các vị thứ tu hành Tiểu thừa như (1) Puthujjana trừ
Gotrabhù (Phàm phu trừ Chuyển tánh), (2) Adhisìla (Thắng giới),
(3) Adhicitta (Thắng định), và (4) Adhipannà (Thắng tuệ). Nay
nếu chúng ta đem so sánh với những vị thứ tu hành Ðại
thừa như đã ghi trong tập Bodhisattvabhùmi, thời sự liên lạc
giữa các Ðịa tiểu thừa và đại thừa trở thành rõ ràng.
Các Ðịa ấy như sau:
1)
Gotravihàra (Tánh trú)
2)
Adhimukticaryà vihàra (Niệm hành trú)
3)
Pramudità vihàra (Hoan hỷ trú)
4)
Adhisìlavihàra (Thắng giới trú)
5)
Adhicittavihàra (Thắng định trú)
6),
(7) và (8) Adhiprajnàvihàra (Thắng tuệ trú)
9)
Sàbhisamskàra-sàbhoga-nirnimitta-vihàra (Hữu hành hữu lực vô
tướng trú)
10)
Anàbhoga-nirnimitta-vihàra (Vô lực vô tướng trú)
11)
Pratisamvid-vihàra (Vô ngại biện trú), và
12)
Parama-vihàra (Vô thượng trú)
Trong
12 vihàras này, chúng ta đã nói đến 2 vihàras đầu, các Ðịa
dự bị, thường không được ghi trong danh sách các Ðịa thông
thường và tương đương với Tiểu thừa phàm phu Ðịa, hay
Tiền dự lưu Ðịa. Do vậy, nếu để ngoài hai Ðịa này,
chúng ta có danh sách 10 Ðịa. Rõ ràng 5 Ðịa (4-8 của tập
Bodhisattvabhùmi và 2-6 của tập Dasabhùmikasàstra) tương đương
với 4 vị thứ Tiểu thừa. Các tuệ và quả vị cao hơn mà
các vị Bồ-tát tự xem chỉ mình có, và theo các nhà Ðại
thừa là vượt ngoài khả năng của các nhà Tiểu thừa, chỉ
được chứng ngộ trong bốn Ðịa sau cùng.
Vimàla
hay Adhisìla (Vô cấu hay Thắng giới)
Một
vị Bồ-tát đã thực hành Ðịa thứ nhất một cách chính
xác và muốn chứng Ðịa thứ hai, cần phải tu tập thêm 10
Cittàsayas (Tâm hướng): Rju (chánh trực), Mrdu (nhu nhuyến, mềm),
karmanya (kham năng), Dama (điều phục), sama (tịch tịnh), kalyàna
(thuần thiện), asamsrsta (bất tập), anapeksa (vô cố luyến),
udàra (quảng quyết) và mahàtmya (đại tâm).
Khi
mười àsayas này được thành tựu, vị Bồ-tát chứng được
Ðịa thứ hai, Vimalà (Vô cấu địa). Vị này tự nhiên không
còn pranàtipàta (sát sanh), adattàdàna (thâu đạo), kàmamithyàcàra
(tà dâm), anrtava=cana (vọng ngữ), pisunavacana (lưỡng thiệt),
arusavacana (ác khẩu), sambhinnapralàpa (ỷ ngữ) và trở thành
anbhidyà (không hà tiện), avyàpannacitta (không sân hận) và
thành tựu được samyagdrsti (chánh tri kiến). Vị Bồ-tát liền
nghĩ rằng mọi chúng sanh khổ đau chỉ vì không tránh 10 nghiệp
bất thiện (akusalakarmapathas). Do đó, vị Bồ-tát phải khuyên
chúng sanh theo chánh hạnh, và với mục đích ấy, vị Bồ-tát
trước hết phải tự mình thực hành chánh hạnh.
Vị
Bồ-tát suy nghĩ rằng loài người được phân loại theo thiện
nghiệp của mình và các hành động khác, do vậy trở thành
loài người, chư thiên, Thanh văn, Ðộc giác, Bồ-tát và đức
Phật. Vị này cũng suy nghĩ rằng do làm các hành bất thiện
mà loài người sanh trong địa ngục, súc sanh, dạ xoa, hay loài
người với đời sống chết yểu và nhiều bệnh tật. Do
vậy, vị Bồ-tát quyết định làm 10 điều thiện và khuyến
khích các người khác làm. Vị này khởi lòng từ bi thương
xót mọi loài chúng sanh, tự xem mình có bổn phận làm một
bậc thầy, một vị hướng dẫn, chuyển tà kiến của chúng
sanh thành chánh kiến. Vị Bồ-tát nhận thấy chúng sanh vì
phẫn nộ, hà tiện, tham ái, hận thù, si mê, ám chướng, không
tinh tấn v.v... nên phải trôi lăn trong làn sóng dục ái, hữu
ái, vô minh, bị trói buộc trong tham sân, ưa ghét và bị chi
phối bởi ảo tưởng có Ta và cái của Ta. Do lòng từ bi,
vị Bồ-tát phát tâm cứu độ chúng sanh ấy và hướng chúng
đến cõi thanh bình tịnh lạc.
Khi
ở trong Ðịa này, vị Bồ-tát có thể thấy nhiều đức Phật,
kính lễ Ngài và hồi hướng công đức ấy đến chứng quả
Bồ đề. Vị Bồ-tát đón nhận các thiện nghiệp từ những
đức Phật ấy, trải nhiều kiếp cố gắng tu hành, diệt
trừ màtsarya (xan tham) và thực hành hạnh bố thí. Trong 4 nhiếp
pháp, vị Bồ-tát tăng cường priyavadya (ái ngữ), và trong
10 Ba-la-mật, thực hành nhiều nhất giới Ba-la-mật, chứ không
phải các Ba-la-mật khác. Nếu một vị Bồ-tát, sau khi chứng
Ðịa thứ hai, muốn được giàu sang phú quý, có thể trở
thành một vị Chuyển luân thánh vương với bảy món châu
báu v.v...
Chúng
ta thấy rõ, với bản tường thuật trên, Ðịa thứ hai rất
giống với Adhisìla (Thắng giới) của Tiểu thừa, lẽ dĩ
nhiên phải bỏ ngoài các adhyàsayas của các vị Bồ-tát. Trong
tập Visuddhimagga, có tuyên bố rằng sự thực hành các giới
hạnh đưa đến thanh tịnh giới phẩm và làm căn bản chứng
quả Dự lưu và Nhất lai. Trong chương đầu tập Visuddhimagga,
Ngài Buddhaghosa nói nhiều về các hạnh tu hành của các vị
tại gia, cư sĩ, nam tu sĩ, nữ tu sĩ, và thêm vào chương thứ
hai về 13 hạnh Ðầu đà (Dhutanga) mà Ngài xem là rất cần
thiết để thành tựu các giới hạnh một cách viên mãn. Các
tập Nikàyas nói đến Sìla (giới) tức nói đến 10 giới và
250 căn bản giới. Do thành tựu viên mãn các Sìlas và một
ít Samàdhi (Ðịnh) và Pannà (Tuệ), người tu hành trở thành
một bậc Dự lưu và Nhất lai. Chúng ta biết một vị Dự
lưu giải thoát khỏi ba Samyojanas (kiết sử) và hai Anusaya (tùy
miên), tà kiến và nghi. Nhờ làm cho nhẹ bớt (tanutta) ba kiết
sử ràga (tham), dosa (sân) và moha (si), nhờ đoạn sạch các
anusayas (tùy miên), kàmaràga (dục ái) và patigha (sân) và nhờ
tu hành thêm một ít Ðịnh và Tuệ, người tu hành trở thành
một vị Nhất lai. Trong tập Patisambhidàmagga (tr.96), có nói
rằng một người tu hành trong Dự lưu quả, Nhất lai hướng
v.v... chứng được Annindriya (Tuệ căn) và các pháp đã sẵn
có được biểu lộ, và những tư tưởng mới khởi lên trong
tâm được trong sạch, siêu thế và hướng đến Niết bàn.
Một vị Dự lưu cũng trừ diệt hoàn toàn ditthàsava (kiến
lậu) và cả ba lậu khác đưa đến địa ngục, còn một vị
Nhất lai diệt trừ dục lậu thô tháo và một phần hữu lậu
và vô minh lậu. Ngoài những quả vị phải đạt được trong
Dự lưu hướng, vị tu hành phải nghĩ đến sự vô thường
và vô ngã của năm thủ uẩn.
Có
hai giai đoạn giữa Dự lưu và Nhất lai được gọi là kolamkola
(kulankula=gia gia) và ekabìjì (ekavìcika=Ðoạn nhất gian). Ai
diệt trừ ba kiết sử (samyojàna), thành tựu các giới hạnh
(sìla) và thực hành một ít Ðịnh và Tuệ thường được
gọi là một vị Dự lưu. Vị ấy cũng được gọi là sattakhattuparama
(tối đa bảy lần) vì phải sanh bảy lần làm người hay chư
Thiên trước khi chứng Niết bàn. Vị này không bao giờ phải
rơi vào địa ngục và thế nào cũng chứng được Niết bàn
sau khi đoạn trừ thêm hai avarabhàgiya (orambhàgiya=hạ phần
kiết sử), tức là kàmacchanda (Dục ái) và Vyàpàda (Sân) và
năm urdhvabhàgiya (uddhambhàgiya: cao hơn) Thượng phần kiết
sử, tức là rùparàga (sắc tham), arùparàga (vố sắc tham),
auddhatya (trạo cử), màna (mạn) và moha (si).
Một
vị Dự lưu trở thành một kulankula sau khi đoạn trừ phiền
não thứ ba và thứ tư ở Dục giới và chứng được các
căn thanh tịnh hơn so sánh với các phiền não. Vị này sẽ
sanh lại hai hay ba lần giữa các chư Thiên, khi ấy được
gọi là Devakulankula, hay giữa các loài người, khi ấy được
gọi là manusyakulankula (Kosa, II, 34). Các tập Nikàyas không có
phân biệt rõ ràng Dự lưu và Kolamkola. Tập Visuddhimagga có
sự phân biệt giữa hai quả vị này, nói rằng các vị Kolamkolas
có vipassanà (quán) và indriya (căn) thuộc loại trung phẩm,
còn các vị Dự lưu thuộc loại hạ phẩm.
Giai
đoạn kế tiếp Ekabìjì (Ekavìcika) được các tập Pàli đặt
sau Kolamkola và trước Nhất lai (VI, 35-36). Theo các tập Pàli,
các vị Ekabìjì hơn các vị trước vì có phát triển Ðịnh
và Tuệ nhiều hơn, nhưng không thể thành tựu một cách hoàn
toàn. Tập Visuddhimagga thêm rằng các vị này có lợi căn (tikkhìndriya),
nhờ vậy những vị này chỉ phải sanh có một lần giữa
loài người (mànusakam bhamam) trước khi chứng Niết bàn. Một
vị Nhất lai được diễn tả tương tự, chỉ có không nói
rõ là phải tái sanh giữa loài người hay chư Thiên, các tập
chỉ nói imam lokam àgantvà, nghĩa là phải tái sanh ở Dục
giới và Dục giới gồm cả chư Thiên và loài người. Dù
thế nào đi nữa, các vị Nhất lai giảm trừ đến mức tối
đa các phiền não ràga, dosa và moha.
Tập
Kosa nói rằng một vị Nhất lai đoạn trừ các phiền não
(klesa) đến phiền não thứ sáu. Sau khi đã sanh giữa các chư
Thiên, vị này sẽ được tái sanh giữa loài người, giảm
trừ ràga, dvesa và moha đến mức tối đa và chỉ còn ba phiền
não thấp nhất cuối cùng là mrdvadhimàtra (cực độn), mrdumadhya
(trung độn) và mrdumrdu (độn độn). Các vị Ekavìcika được
phân biệt khác các loại khác vì đã diệt trừ phiền não
thứ bảy hay thứ tám và chứng được các indriyas (căn) đối
lập các phiền não ấy. (Kosa, VI, 36 nói rằng vìci nghĩa là
gián cách, các vị này gián cách Niết bàn chỉ còn một lần
tái sanh mà thôi. Theo Pàli, bìja có nghĩa là hột giống, khác
hẳn với nghĩa của Câu xá).
Sự
phân biệt Dự lưu thành ba loại cũng được tập Lankàvatàna
(Lăng già) nói đến. Theo tập này, các vị Dự lưu có ba hạng:
hìna (hạ), madhya (trung) và visìsta (thượng). Các vị ở hạ
phần phải tái sanh bảy lần, các vị trung phần ba hay năm
lần và các vị thượng phần (ekavìcika) chỉ có một lần
thôi. Các kiết sử thân kiến, nghi và giới cấm thủ thuộc
về độn, trung hay lợi tùy theo các hạng Dự lưu. Một vị
Dự lưu, sau khi trừ diệt ba kiết sử, không còn có tham, sân,
si. Ở đây tập Lankà (tr.119) khác với các tập Tiểu thừa,
các tập này xem Nhất lai làm giảm thiểu tham, sân, si đến
mức tối đa. Khi nói đến các vị Nhất lai, tập Lankàvatàra
chỉ nói đến các vị này cần phải tái sanh một lần nữa
để diệt trừ khổ đau. Giai đoạn tiếp theo Nhất lai là
Anàgàmi (Bất lai), tương đương với Ðịa thứ ba của các
nhà Ðại thừa.
Prabhàkarì
(Phát quang) hay Adhicitavihàra (Thắng tâm trí)
Một
vị Bồ-tát sau khi thành tựu Ðịa thứ hai và muốn bước
lên Ðịa thứ ba cần phải biết 10 cittàsayas như sau: suddha
(thanh tịnh), sthira (kiên trì), nirvid (nhàm chán), aviràga (bất
tham), anivrta (bất thối), drdha (mạnh mẽ), uttapta (tinh tấn),
atrpta (không bao giờ thỏa mản), udàra (cao thượng), và màhàtmya
(đại, lớn).
Trong
khi ở Ðịa thứ ba, vị Bồ-tát chứng được sự vật là
vô thường, đầy đau khổ, sanh diệt trong từng sát-na, vô
thủy vô chung và bị lý nhân duyên chi phối. Vị Bồ-tát hiểu
sự đau khổ và chán chường phát sanh từ tham đắm sự vật
hữu vi, do vậy chú tâm chứng ngộ cho được Như lai trí (Tathàgatajnàna)
(B.Bh. tr. 12-13), trí này không thể nghĩ nghì, vô lượng, vượt
ngoài mọi khổ đau, sợ hãi, và chỉ chứng Như lai trí mới
cứu độ được các chúng sanh. Rồi vị Bồ-tát lại tu tập
thêm 10 cittàsayas (10 tâm y).
Chứng
hiểu tình trạng này, vị Bồ-tát lại phát tâm tinh tấn cứu
độ mọi chúng sanh. Ngài nghĩ đến mọi phương tiện để
cứu độ chúng và thấy rằng chỉ có Anavaranavimoksajnàna (Bất
chướng giải thoát trí), và trí này chỉ chứng được nhờ
nghe và thực hành Dharma (Pháp). Do vậy, vị Bồ-tát hướng
tâm tự mình tu hành trong chánh pháp, cương quyết hy sinh mọi
tài sản thế gian và mọi sự thọ hưởng và đương chịu
mọi sự khổ cực. (Mtu I. 91-95, vị Bồ-tát sẵn sàng hy sinh
tất cả, cho đến sinh mạng, để nghe một câu kệ). Nay Ngài
thấy ngữ nghiệp và thân nghiệp thanh tịnh chưa đủ, và
cần phải thực hành các Dharmas (pháp) và Anudharmas (Tùy pháp).
Với mục đích ấy, vị Bồ-tát tu hành các dhyànas (Thiền
định, thiền-na), bốn Brahmavihàras (Vô lượng tâm tức là
từ, bi, hỷ, xả) và chứng các Abhijnàs (Thắng trí) tức là
rddhividha (Thần túc thông), divyasrota (Thiên nhĩ thông), paracittajnàna
(Tha tâm thông), pùrvanivàsànusmarana (Túc mạng thông), và divyacaksu
(Thiên nhãn thông).
Vị
Bồ-tát thấy nhiều đức Phật, nghe thuyết pháp và vâng theo
lời chỉ giáo của chư Phật. Vị ấy biết mọi pháp là không
sanh, không diệt, chỉ chịu sự chi phối của lý nhân duyên.
Các kiết sử của Kàma (dục), Rùpa (sắc), Bhava (hữu) và
Avidya (vô minh) trở thành yếu ớt, những kiết sử do tà kiến
đã được đoạn trừ. Vị này đoạn trừ tham, sân, si, và
những àsayas sau này được thanh tịnh: ksàntisauratya (nhẫn
nhục thuần hậu), akhilyamàdhurya (ngọt ngào không chướng
ngại), akopya (không sân hận), aksubhita (không trạo cử), alubhita
(không tham), anunnàmàvanàma (không thích thú, không chán nản),
sarvakrtapratikrtànamniskànksà (không tham lợi tức những công
việc mình làm), asàthyamàyàvità (không lừa dối), và agahanatà
(không bí mật che dấu). Trong 4 nhiếp pháp, vị này hết sức
thực hành arthacaryà (lợi hành) và trong mười hạnh Ba-la-mật,
tu hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật, chứ không tu các hạnh khác.
Trong
sự diễn tả Ðịa thứ ba này, chúng ta nhận thấy các vị
Bồ-tát, ngoài những đặc tánh hy hữu riêng biệt của mình,
bắt đầu thực hành tám Dhyànas (Thiền-na), 4 vô lượng tâm
và sáu thắng trí. Các kiết sử liên hệ đến Kàma (Dục),
Rùpa (Sắc), Bhava (Hữu) và Avidyà (Vô minh) trở thành yếu
ớt và kiết sử liên hệ đến tà kiến đã được đoạn
trừ. Tham, sân và si hoàn toàn được trừ diệt.
Trong
hệ thống Tiểu thừa cũng vậy, một nhà tu hành, sau khi thành
tựu các Sìla (giới), cố gắng tiến lên các cấp bậc cao
hơn bằng cách tu hành thiền định để phát triển tâm trí.
Tập Visuddhimagga (chương II) nói đầy đủ các chi tiết những
phương pháp tu hành được phân loại vào Samàdhi (Thiền định).
Ðó là 4 Thiền sắc giới (rupajhàna), 4 vô sắc thiền (arupajhàna),
10 Anussatis (tùy niệm), và 6 abhinnàs (Thắng trí). Tất cả
như chúng ta sẽ thấy, đều được nằm vào trong Ðịa thứ
ba. Tập Visuddhimagga cũng nói cho chúng ta được biết, một
người tu hành, sau khi tu các thiền định, sẽ trở thành một
vị Bất lai, nghĩa là một vị không còn sanh vào Dục giới.
Vị này đoạn trừ 5 orambhàgiyas: Thân kiến, nghi, giới cấm
thủ, ái và sân, đoạn trừ hoàn toàn tham, sân, si, dứt hẳn
Dục lậu và một phần Hữu lậu và Vô minh lậu (Patis. M,
tr.118). Vị này sẽ được hóa sanh và chứng Niết bàn.
Các
vị A na hàm (Bất lai) được phân loại thành năm hạng như
sau:
1 -
Antaràparinibbàyi (Trung bát Niết bàn) = Những vị tu hành để
diệt trừ 5 thượng phần kiết sử liền khi mới sanh và trước
khi đến nửa tuổi đời.
2 -
Upahacca (Sanh bát Niết bàn hay Tổn hại bát Niết bàn hay Upapadya
của Kosa) = Những vị tu hành để diệt trừ 5 thượng phần
kiết sử sau khi nửa tuổi đời cho đến trước khi gần chết.
3 -
Asankhàraparinibbàyì (Vô hành bát Niết bàn) là những vị chứng
Niết bàn bằng cách diệt trừ các phiền não không nhiều
khó khăn và không nhiều cố gắng. Tập Kosa giải thích là
những vị chứng Niết bàn không nhiều cố gắng vì những
vị này không tinh tấn (VI, tr.211). Tập Anguttaranikàya (Tăng
nhất bộ kinh) giải thích khác hơn. Tập này xem rằng những
ai thành tựu Thiền thứ tư, tu hành 5 lực và 5 căn, và chứng
Niết bàn trong đời này gọi là asankhàraparinibhàyì. (II, tr.156).
4 -
Sasankhàraparinibbàyì (Hữu hành bát Niết bàn) là những vị
chứng Niết bàn bằng cách diệt trừ các phiền não một cách
nhiều khó khăn và nhiều nỗ lực (Vis. M. tr. 453). Tập Kosa
giải thích là những vị chứng Niết bàn không bao giờ sao
nhãng sự thực hành vì những vị này rất tinh tấn. Tập
Anguttaranikàya giải thích là những vị xem thân thể là asubha
(bất tịnh), đồ ăn là gớm ghiếc và mọi pháp hữu vi là
ghê tởm. Các vị này suy tư trên tánh vô thường của sự
vật và của sự chết và khiến tâm trí được kiên trì.
Các vị này tu tập 5 lực và 5 căn (Anguttara, II, tr.156. Kosa
VI, tr. 212). Các vị A na hàm (bất lai) hạng 1 và 4 có căn,
hạng 2 và 3 có độn căn, hạng 3 và 4 tu Thiền định, còn
hạng 1 và 2 thời không nói đến tu Thiền định.
5 -
Uddhamsota Akanitthagàmì (Thượng lưu sắc cứu cánh thiên hành)
là những vị A la hàm chưa chứng Niết bàn khi còn ở trong
Aviha (Vô phiền thiên), tu dần lên cao cho đến khi chứng sắc
cứu cánh thiên và từ đấy nhập Niết bàn (xem Kosa - VI, 37,
tr. 213 về hai hạng Thượng lưu Ùrdhvassotas: Akanisthagà và
Naivasamjnànàsamjnàyatanagà).
Như
vậy chúng ta thấy A na hàm Tiểu thừa tương đương với Ðại
thừa Ðịa thứ ba.
Sự
thực hành các Ðịa thứ tư, thứ năm và thứ sáu tương đương
với sự tu hành Adhipannà (Thắng tuệ) của Tiểu thừa. Trong
tập Bodhisattvabhùmi, ba Ðịa đặt trong Adhipannàvihàra (Thắng
tuệ trú), lý do vì vị Bồ-tát chứng Prajnà (Tuệ) bằng ba
phương tiện khác nhau: các pháp Bồ đề phận, Tứ đế và
lý Duyên khởi. Cho nên vihàra này được chia làm ba:
1-
Bodhipaksyapratisamyuktàdhiprajnàvihàra: Bồ đề phận tương ứng
thắng tuệ trú. Sự tu hành trí tuệ theo các pháp Bồ đề
phận.
2-
Satyapratisamyuktàdhiprajnàvihàra: Ðế tương ứng Thắng tuệ
trú. Sự tu hành trí tuệ theo các pháp Tứ đế.
3-
Pratityasamutpàdapratisamyukàdhiprajnà: Duyên khởi tương ưng Thắng
tuệ trú. Sự tu hành trí tuệ theo Duyên khởi.
Arsismatì
(Diệm huệ) hay Bodhipaksyapratisamyuktàdhiprajnàvihàra (Bồ đề
phận tương ứng Thắng tuệ trú)
Một
vị Bồ-tát đi từ Ðịa thứ ba qua Ðịa thứ tư sau khi chứng
10 Dharmàlokàs (Pháp quang), nghĩa là sau khi chứng hiểu sattvadhàtu
(chúng sanh giới), lokadhàtu (thế giới), dharmadhàtu (pháp giới),
àkàsadhàtu (không giới), vijnànadhàtu (thức giới), kàmadhàtu
(dục giới), rùpadhàtu (sắc giới), àrùpyadhàtu (vô sắc giới),
udàràdhyàsa-yàdhimuktidhàtu (cao thượng ý nguyện giới) và
màhàtmyàdhyàsayàdhimuktidhàtu (đại ý nguyện giới).
Vị
này trở thành một phần tử thuần túy trong đại gia đình
Như Lai, nhờ thành tựu những đặc tánh sau này: tám nguyện
bất khuất, tín tưởng chân thành vào Tam bảo, nhận thức
rõ ràng tánh sanh diệt của các pháp hữu vi, thực hành bất
sanh của sự vật, khứ lai của thế giới, của luân hồi
và Niết bàn, hành động của các chúng sanh trong mọi giới.
Vị
Bồ-tát thực hành 4 Nhiếp pháp, cố gắng tạo nhiều công
đức hơn nữa, gìn giữ các công đức đã tạo tác và không
làm các ác hạnh, thực hành các thần túc, 5 căn, 5 lực, 7
giác chi và 8 đạo. Ở địa này, vị Bồ-tát từ bỏ thân
kiến và các tâm sở tương ứng và chỉ làm những hạnh đưa
tới chánh giác.
Khi
vị Bồ-tát chứng được các đặc tánh của Ðịa này, tâm
trí trở thành uyển chuyển hơn, các nguyện mạnh mẽ hơn,
lòng từ đối với chúng sanh lớn hơn và kết quả là vị
Bồ-tát càng ngày càng tinh tấn. Các nghi vấn được tiêu
trừ và các cittàsayas trở thành vô lượng.
Nay
vị Bồ-tát thọ giới, các Kusalamùlas (căn bản thiện) càng
ngày càng trong sạch. Trong 4 Nhiếp pháp, vị này phát triển
Samànàthatà (Ðồng sự), và thực hành Vìryapàranimità (tinh
tấn Ba-la-mật) của 10 Ba-la-mật.
Sudubjàya
hay Satyapratisamyuktàdhiprajnàvihàra (Nan thắng địa hay đế
tương ứng thắng tuệ trú)
Vị
Bồ-tát đi từ Ðịa thứ tư đến Ðịa thứ năm bằng cách
tu tập cittàsayavisuddhisamatà (thanh tịnh bình đẳng tâm nguyện),
liên hệ đến 10 vấn đề như sau: giáo lý của chư Phật
quá khứ, hiện tại và tương lai, giới, định, đoạn trừ
tà kiến và nghi, hiểu hết chánh đạo và tà đạo, thực
hành các phẩm Bồ đ? giác chi và bổn phận nâng cao đời
sống giới hạnh của chúng sanh.
Trong
Ðịa này, do sự thực hành liên tục các pháp trợ đạo khác,
sự chứng đắc một tâm ý còn thanh tịnh hơn sự giác ngộ
chơn như tánh (tathàtva) của mọi pháp vàsự tăng trưởng
nguyện lực của mình, lòng từ bi v.v..., vị Bồ-tát hiểu
lý Tứ đế và trở thành tinh luyện trong sự hiểu biết về:
- Samvrti
(Tục đế), nhờ lo lắng đến sự ao ước mong mỏi của các
chúng sanh khác;
- Paramàrtha
(Chơn đế), nhờ chỉ thực hiện một con đường (Màrga=Ðạo);
- Sự
thật về tướng (laksana), nhờ chứng được những đặc tánh
di động và đặc biệt của sự vật (svasàmànyalaksana);
- Sự
thật về phân tích (vibhàya), nhờ biết sự chia chẻ các pháp;
- Sự
thật về đoạn trừ (nistìrana), nhờ biết điều kiện các
uẩn, xứ, v.v...
- Sự
thật về sự vật (vastu), nhờ để thân tâm chịu đựng mọi
phiền não;
- Sự
thật về sanh khởi (prabhava), nhờ các thọ sanh;
- Sự
thật về diệt và bất sanh (ksayànutpàda), do sự đoạn diệt
hoàn toàn mọi sự đau khổ;
- Sự
thật về hiểu biết con đường (màrgajnànàvatàra= Ðạo trí
nhập); và
- Sự
thật về sự tập khởi Như lai trí (Tathàgatajnànasamudaya),
nhờ giác ngộ thực trí trong mọi chi tiết và nhờ theo Bồ-tát
địa (bodhisattvabhù mis).
Nhờ
biết sự thật, vị Bồ-tát giác ngộ được mọi pháp hữu
vi là vô ngã, không thật có, thương xót chúng sanh ngu xuẩn,
phải chịu luân hồi sanh tử và khổ đau vì không biết sự
thật. Vị Bồ-tát phát nguyện hồi hướng tất cả công đức
của mình cho hạnh phúc, sự tu tập và sự giải thoát cuối
cùng cho mọi loài chúng sanh.
Trong
Ðịa này, vị Bồ-tát trở thành smrtimàn, nghĩa là không bị
hoang mang; matimàn, vì có thanh tịnh trí; gatimàn, vì hiểu một
bản kinh được thuyết vị mục đích gì, hrìmàn, tự bảo
trì cho mình và cho người khác; dhrtimàn, vì thực hành các
giới luật, và buddhimàn, vì tinh luyện trong việc xác chứng
cái gì thích hợp hay không thích hợp và nhiều sự việc khác
nữa. Lòng ao ước và chí nhiệt thành muốn được thêm công
đức càng ngày càng mãnh liệt hơn. Vị Bồ-tát làm mọi người
hoan hỷ bằng cách thực hành 4 nhiếp pháp, hiện diện bằng
sắc thân, bằng thuyết pháp về các hạnh Ba-la-mật, về Ðại
tánh của Như Lai, về các ác hạnh của thế giới, về công
đức thành tựu Phật trí và về làm các thần thông. Muốn
tuyên dương Phật pháp, vị Bồ-tát cũng học các thế pháp
như toán học, y học, thi văn, kịch nghệ, kỹ thuật làm sắt,
thiên văn học v.v...
Vị
Bồ-tát diện kiến các đức Phật, nghe các Ngài thuyết pháp,
từ bỏ thế tục và trở thành một vị Dharmabhànaka (thuyết
pháp). Trong 10 Ba-la-mật vị Bồ-tát ưa nhất Thiền Ba-la-mật.
Abhimukhì
(Hiện tiền địa) hay Pratiyasamutpàdapratisamyuktàdhiprajnàvihàra
(Duyên khởi tương ưng thượng trí trú)
Vị
Bồ-tát, sau khi thành tựu các Màrgas (Ðạo), bước qua Ðịa
thứ sáu và chứng 10 bình đẳng tánh, nghĩa là các pháp đều
bình đẳng vì các pháp là:
1)
animitta (vô tướng),
2)
alaksana (vô tánh),
3)
anutpàda (vô khởi),
4)
ajàta (vô sanh),
5)
vivikta (thoát lý),
6)
àdivisuddha (thanh tịnh từ ban đầu),
7)
nisprapanca (vô hý luận),
8)
ànyùha-niryùha (bất thủ, bất xả),
9)
màyàsvapnapratibhasapratisrutkopamrà (giống như huyễn mộng,
vọng thanh),
10)
bhàvàbhàvàdvaya (phi hữu phi vô).
Nhờ
quán sát sự vật như vậy, vì Bồ-tát, nhờ thâm tín, lên
được Ðịa thứ sáu, nhưng chưa chứng anutpattikadharmaksànti
(vô sanh pháp nhẫn=tin sự vật tự tánh là bất sanh). Vì nặng
lòng Ðại từ, vị Bồ-tát thương xót các chúng sanh, vì vô
minh che lấp, xem sự vật ở đời là có sanh, có diệt và
có ngã. Vì không hiểu sự thật, chúng theo tà đạo, bị thiện
và bất thiện chi phối, và do vậy có những abhisamskàras (hành).
Tâm chủng tử (cittabìja) do hành tạo ra trở thành lậu nhiễm
(sàsrava), đầy những chấp thủ (upàdàna), và tạo ra sanh,
lão tử và tái sanh. Rồi do thức thuộc về karmaksetra (Nghiệp
điền), tức là vô minh và ái, một lưới tà kiến được
dệt vào, và từ đó sinh ra nàmarùpa (danh sắc); từ danh sắc,
tiếp tục khởi lên 5 giác quan, xúc, thọ, thụ hưởng (abhinandana),
tương ưng với trsna (ái), upàdàna (thủ) bhava (hữu), và 5
uẩn phân chia theo 5 loại chúng sanh (gatipancaka). Các chúng sanh
này rồi rơi vào lão, ưu bi khổ não v.v... Vị Bồ-tát hiểu
rằng không có người tạo ra những điều trên, vì mọi sự
vật tự tánh không được tạo sanh bởi sức mạnh nào hết
(anàbhoga, sàntilaksana), rồi diệt mất và không có ai diệt
chúng. Vị Bồ-tát lại chứng ngộ, không hiểu sự thật tối
thượng là vô minh và vô minh là nhân phát sinh hành (samkàra),
hành phát sinh tâm thức (citta-vijnàna), đầu tiên câu hữu
với 4 thủ uẩn (upàdàna- skandha), từ đấy sanh ra danh sắc
(nàma-rùpa) và dắt dẫn đến khổ uẩn. Cây đau khổ khởi
lên, không có người tạo tác hay thọ hưởng (kàrakavedakasahita).
Cho nên vị Bồ-tát chứng ngộ ba giới là duy thức (cittamàtram
yad idam tràidhàtu kam).
Do
hiểu lý nhân duyên từ mười vị trí, và vì tin tưởng không
có người làm hay người thọ hưởng, không có vị tạo chủ
(asvàmika), và mọi sự vật đều bị lý nhân duyên chi phối,
không có thực chất, xa lìa tất cả và tự tánh không hiện
hữu, vị Bồ-tát chứng được sùnyatà-vimoksamukha (thoát lý
khỏikhông tánh). Do hiểu được các bhavangas (những móc nối
trong dây chuyền nhân duyên) tự tánh là đoạn diệt (svabhàva-nirodha),
vị Bồ-tát không phân biệt dharmanimitta (pháp tướng) nào
và như vậy chứng được animitta-vimoksamukha (vô tướng giải
thoát). Cuối cùng, nhờ hiểu được sùnyatà (không tướng)
và animittatà (vô tướng) của tất cả bhavangas, vị Bồ-tát
thật tình không thấy sự giải thoát gì (vimoksa), dù hình
như tỏ ra đang làm như vậy vì lòng thương xót vô lượng
chúng sanh; nhờ vậy, vị này chứng được apranihita-vimoksamukha
(vô nguyện giải thoát). Luôn luôn đề cao lòng đại từ,
vị Bồ-tát thành tựu viên mãn các phẩm trợ đạo còn lại,
và tin tưởng các samskàras được tác thành bởi những phần
tử mà tự tánh là bất sanh bất diệt, vị Bồ-tát hướng
tâm về Asangajnàna (vô tham diệu trí), gọi là Prajnàpàramitavihàra
(Bát nhã Ba-la-mật trú) và tu tập phát triển trí ấy một
cách mạnh mẽ. Nay vị Bồ-tát tu hành mọi loại thiền định
về sùnyatà (hư không), animitta (vô tướng) và apranihita (vô
nguyện) và tu tập 10 àsayas để tiến dần lên các quả vị
cao hơn và khỏi có thể rơi vào Thanh văn hay Ðộc giác. Trong
10 Ba-la-mật, vị Bồ-tát tu tập Bát nhã Ba-la-mật.
Một
vị Bồ-tát nhờ đi ngang qua các Ðịa này, chứng được mọi
đặc tánh của vị A-la-hán, ngoài những đặc tánh cần thiết
cho một vị Bồ-tát. Nay vị Bồ-tát trở thành một vị A-la-hán,
vì như tập Lankàvatàra (nhập Lăng già) đã nói, vị Bồ-tát
đã thoát khỏi mọi vọng tưởng (vikalpa) về dhyàna (thiền),
dheya (đối tượng của thiền), samàdhi (định), vimoksa (giải
thoát), bala (lực), abhijnà (thắng trí), klesa (phiền não) và
Dukkha (khổ).
Theo
các nhà Tiểu thừa, người tu hành khi thành tựu các hạnh
Bát nhã, trở thành một vị A-la-hán. Ngài Buddhaghosa dành 20
chương cuối của tập Visuddhimagga để giải thích mọi vấn
đề liên quan đến Pannàbhùmi (Bát nhã địa). Trong Ðịa này
(Vis, tr.443-587) người tu hành được xem là phải nghiên cứu,
phân tích 5 uẩn, 12 xứ, 20 căn, 4 đế và 12 nhân duyên. Ðây
chỉ là bước đầu của sự tu tập về Pannàbhùmi. Nhờ các
pháp môn này, người tu hành thành tựu viên mãn Bhàvanàmàrga
(Tu đạo vị). Chúng ta đã thấy, tu đạo vị bắt đầu từ
sát-na thứ 16, nghĩa là sát-na cuối cùng của Darsana-màrga
(Kiến đạo vị) khi người tu hành trở thành bậc Dự lưu
(srotàpanna). Như vậy người tu hành, trong khi tiến dần qua
các vị trí giải thoát, thành tựu viên mãn giới thanh tịnh
và định thanh tịnh và một phần tuệ thanh tịnh. Các Visuddhis
(thanh tịnh vị) này như được phân loại trong tập Visuddhimagga
(tr. 443, 587 v.v...) và tập Abhidhammatthasangaha (Comp. Of Phil. Tr.65
v.v...) gồm có Ditthivisuddhi (Kiến thanh tịnh), Kankhàvitaranavimsudhi
(Ðoạn nghi thanh tịnh: 16 loại nghi thuộc quá khứ, hiện tại,
vị lai đều được diệt trừ), Maggàmagganànadassanavisudbhi
(Ðạo phi đạo tu kiến thanh tịnh: Thanh tịnh do tri kiến phân
biệt rõ ràng chánh đạo và phi đạo), Patipadànàna dassanavisuddhi
(Hành đạo tri kiến thanh tịnh = Tri kiến thanh tịnh trong khi
hành đạo) và nànadassanavisuddhi (Tri kiến thanh tịnh) (Ngài
Buddhaghosa gọi 5 visuddhi này là sarìra (thân) và sìla và cittavisuddhi
là mùla (căn bản), Vis. M. tr.443).
Trong
giai đoạn A-la-hán, vị tu hành đoạn trừ 5 thượng phần
kiết sử còn lại, mọi phiền não (kilesas), lậu hoặc (àsavas)
và cuối cùng hiểu rõ chân ý nghĩa của 4 Ðế, nghĩa là được
giác ngộ, tâm trí hoàn toàn giải thoát. Vị Bồ-tát không
còn phải tái sanh và sẽ chứng Niết bàn. Sự giải thoát
này của các vị A-la-hán cũng được các tác phẩm Prajnàpàramità
và các phẩm Ðại thừa khác xác nhận. Ðoạn văn được
tả đại khái như sau: một vị A-la-hán là ksìnàsrava (lậu
hoặc trừ), Nisklesa (phiền não đoạn), Vasìbhùta (tự điều
tự phục), Suvimuktacitta (tâm trí giải thoát), Suvimuktaprajnà
(trí tuệ giải thoát), àjàneya (khó được tác thành), Kstakrtya
(đã làm những việc đáng làm) Apahrtabhàra (đã hạ xuống
gánh nặng 5 uẩn), Anupràptasvakàrtha (thành tựu viên mãn mục
đích đời sống) và Pariksìnabhavasamyojana (giải thoát mọi
kiết sử tái sanh).
Tương
đương với hai hạng Dự lưu gọi là Saddhànusàrì (Tín hành)
và Dhammànusàrì (Pháp hành), các vị A-la-hán cũng được chia
thành hai hạng: Ubhatobhàgavimukta (Song phần nhập tâm giải
thoát) và Pannàvimutta (Huệ giải thoát). Hạng đầu là những
vị đã thành tựu 8 giải thoát và diệt trừ các lậu hoặc
nhờ trí tuệ (Pannà). Hạng thứ hai là những vị chưa thành
tựu 8 giải thoát nhưng đã đoạn trừ các lậu hoặc nhờ
trí tuệ.
Hình
như tất cả các vị A-la-hán không chứng được Patisambhidàs
(Vô ngại giải), còn vị Bồ-tát thành tựu pháp này cùng
với các pháp khác, vào địa thứ chín. Chúng ta cũng thường
tìm thấy một vị A-la-hán chứng được Patisambhidàs thường
được đặc biệt diễn tả là Sahapatisambhidà arahattampàpuni
(thành tựu A-la-hán quả với vô ngại giải).
Với
địa thứ sáu, sự so sánh giữa các vị thứ Tiểu thừa và
Ðại thừa của chúng ta được chấm dứt. 4 Ðịa còn lại
không liên hệ gì với phương pháp tu hành Tiểu thừa và các
quả vị mà một vị Bồ-tát cố gắng thực hành các công
hạnh thuộc 4 Ðịa này không được các nhà Tiểu thừa biết
đến. Từ Ðịa thứ bảy trở đi, thật sự bắt đầu sự
cố gắng của vị Bồ-tát để chứng Dharmasùnyatà (Pháp không).
Nirnimittatà (Vô tướng) của sự vật do chúng ta nhận thức.
Và bốn địa sau cùng chỉ nêu rõ sự phát triển tuần tự
trí tuệ của vị Bồ-tát cho đến khi chứng được Tathàgatabhùmi
(Như lai Ðịa). Ở Ðịa này, vị Bồ-tát trở thành đức
Như Lai viên mãn và đồng nhất với các đức Như Lai khác.
Các vị Tiểu thừa lẽ dĩ nhiên đặt đức Phật lên địa
vị tối cao với những thần lực và siêu tánh đặc biệt,
một số thần lực và siêu tánh này được tìm thấy trong
4 Ðịa cuối cùng.
Dùrangamà
(viễn hành địa) hay Sàbhisamskàrasàbhoganirnimitavihàra
Một
vị Bồ-tát, sau khi thành tựu Bồ-tát đạo, bước vào Ðịa
thứ bảy. Vị này bắt đầu bước vào một con đường khác
biệt, cao thượng hơn và được 10 loại Upayaprajnàjnàna (Phương
tiện Bát nhã trí) (B. Bh, tr.19) như sau: Vị Bồ-tát:
I-
(a) Chứng được một tâm trí thành thực tự quán chơn không,
vô tướng, vô nguyện; (b) tỏ ra như đã thành tựu vô lượng
công đức và trí tuệ.
II-
(a) Hiểu vô ngã tánh của mọi pháp; (b) không từ bỏ 4 vô
lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả.
III-
(a) Lựa chọn những công đức thù thắng nhất; (b) không bám
vào bất cứ pháp nào.
IV-
(a) an trú thoát ly khỏi ba giới; (b) nêu rõ những việc mình
làm trong ba giới.
V-
(a) Tự giải thoát hoàn toàn mọi phiền não; (b) làm mọi hạnh
nghiệp cần thiết để loại trừ tham sân của mọi chúng
sanh.
VI-
(a) Chứng được tánh bất nhị (advaya) của mọi sự vật
như là bào ảnh, tiếng vọng; (b) nêu rõ những hoạt động
sai khác, những phân biệt và vô lượng đại nguyện của
mình.
VII-
Phát triển một tâm trí ý thức được bình đẳng tánh của
mọi Phật sát.
VIII-
(a) Thể nhập vào pháp thân của mọi đức Phật; (b) cũng
hiện sắc thân với các tướng sai biệt.
IX-
Chứng được tiếng nói của Như Lai; và
X-
(a) Trong một sát-na, phân biệt được quá khứ, hiện tại,
vị lai (ekaksanatryadhvànubodham); (b) hiện thân trải qua nhiều
kiếp để cứu độ mọi loài.
Cho
đến một sát-na, không bao giờ rời khỏi màrgaabhinirhàra
(hành động hệ thuộc về con đường) và jnànàbhinirrhàra
(hành động hệ thuộc về trí). Vị Bồ-tát thành tựu mọi
Ba-la-mật và 4 nhiếp pháp, bốn adhisthànas (Tứ đức xứ)
và 37 Bồ đề phận: Vị Bồ-tát thành tựu thân nghiệp, khẩu
nghiệp thanh tịnh, liên hệ với Bồ-tát nguyện, 10 thiện
hạnh các đức Phật và làm mọi thế sự liên quan đến nghệ
thuật và công nghệ (silpasthàna-karmasthàna) đã được thành
tựu trong Ðịa thứ năm. Nay vị Bồ-tát trở thành Ðạo sư
cho ba giới, và không ai có thể sánh bằng về àsaya (hướng),
prayoga (tinh tấn), lẽ dĩ nhiên trừ các vị Bồ-tát ở các
Ðịa cao hơn. Vị Bồ-tát này có trước mặt mình tất cả
dhyànas (thiền), samàdhis (định), samàpattis (thành tựu pháp),
abhijnàs (thắng trí), và vimoksas (giải thoát), các pháp này
sẽ được vị Bồ-tát thành tựu trong các Ðịa kế tiếp.
Nay vị Bồ-tát tu hành nhiều thiền định (samàdhi), vượt
khỏi các Thanh văn Ðịa và Ðộc giác Ðịa, và tiến gần
đến Prajnàjnànavicàranabhùmi (Bát nhã trí biện sát địa)
(Dasa; tr. 60)
Vị
Bồ-tát chứng Nirodha (Diệt) trong Ðịa thứ sáu, và trong Ðịa
thứ bảy, vị này nhập vào và xuất ra Nirodha, nhưng đừng
tưởng lầm vị ấy bị Nirodha chi phối, vì đã vượt lên
trên Vitarkadosa (Tầm quá = suy tầm sai lạc) của vị Thanh văn
nghĩa là xem Nirodha (Diệt) như là samskrtàtyantà vyupasama (sự
đoạn diệt rốt ráo các pháp hữu vi). Ðây là một ưu điểm
của các vị Bồ-tát là những vị này đạt tới và an trú
trong Bhutàkotivihàra (Trú ư chân tế: trạng thái cuối cùng
cóthể có được của loài hữu tình), nhưng không bao giờ
bị Nirodha chi phối.
Ðầy
đủ với Ðại lực, thiền định và phương tiện trí, vị
Bồ-tát hiện ra ở đời, nêu rõ đại nguyện của mình hướng
đến Niết bàn, và luôn luôn có một số lớn đệ tử bao
vây, nhưng vị Bồ-tát thoát ly tất cả, không bị chi phối
ảnh hưởng gì. Do nguyện lực (pranidhàna) của mình, vị Bồ-tát
hiện ra trong ba giới (tri-dhàtu) để cứu khổ chúng sanh, nhưng
không bị nhiễm ô bởi thế tình. Dù có Phật trí, vị Bồ-tát
tự tỏ như mình thuộc Thanh văn thừa hay Ðộc giác thừa
cho đến như bị lưới màra bao vây và bị ngoại đạo chi
phối, hoặc tự ly khai chánh pháp, theo lễ nghi thế tục hay
hưởng những lạc thú nhân thiên.
Vị
Bồ-tát diện kiến nhiều đức Phật, nghe pháp và vâng theo
lời chỉ dạy của các Ngài. Lòng tin của vị Bồ-tát vào
Gambhìradharmaksànti (thâm pháp nhẫn) được thanh tịnh. Vị
này thực hành hạnh Upàyakausalya pàramità (Phương tiện thiện
xảo Ba-la-mật).
Acalà
(Bất động Ðịa) hay Anàbhoganirnimitta-vihàra (Vô quán vô tướng
trú)
Một
vị Bồ-tát, sau khi thành tựu bảy Ðịa, làm cho Màrga (Ðạo)
thanh tịnh nhờ trí và phương tiện chất chứa công đức,
phát đại nguyện, an trú vào bốn adhisthàna: Tứ đức xứ
(satya, tyàga, upasama và prajnà= chân, thí, tịch và trí) v.v...,
vị Bồ-tát hiểu mọi pháp là bất sanh, bất diệt, bất tăng,
bất giảm, tự tánh không thật có, chủng thỉ bổn mạt đều
giống nhau. Tóm lại, vị Bồ-tát hiểu được Tathatà (như
thực tánh) của mọi vật. Vị này vượt qua mọi biến kế
sở chấp do tâm và thức cấu tạo, biết được mọi pháp
giống như hư không và nhờ vậy an trú vào Anutpattikadharmaksànti
(Vô sanh pháp nhẫn) (B. Bh. Tr.21. Mtu; tr.136); khi chứng được
Ksànti (nhẫn), vị ấy an trú vào Ðịa thứ tám (Acalà) và
vượt ngoài mọi thọ hưởng. Vị Bồ-tát chứng các pháp
là Anàbhoga (Bất tư duy, vô quán niệm), do vậy không có âu
lo, vì sự vật liên hệ đến thân, khẩu, ý đều giải thoát
khỏi mọi biến kế sở chấp và an trú trong Vipàka-dharma (Dị
thục pháp). Sự thật, vị Bồ-tát không thực hành giới pháp
của chư Phật, chư vị Bồ-tát và Thanh văn.
Nay
chư Phật bảo vị Bồ-tát phải thành tựu 10 lực, 4 vô sở
úy từ trước chưa chứng đắc và để ý đến trạng thái
bất an, si mê, phiền não về tâm trí của chúng sanh. Rồi
vị Bồ-tát được nhắc lại một trong những đại nguyện
xưa của mình là Pháp tánh (Dharmatà, tánh bất sanh, bất trú,
bất diệt của các pháp), không phải chỉ riêng cho đức Như
Lai, mà các vị Thanh văn, Ðộc giác đều phải chứng ngộ.
Chư Phật lại khuyên vị Bồ-tát cố gắng để được như
các Ngài vô lượng thân, trí, thế giới, hào quang, âm thanh
và tứ chi thanh tịnh, pháp giới, Phật sát, chúng sanh và vô
lượng vô số pháp khắp mười phương thế giới. Sự chứng
đắc những pháp "vô lượng" như vậy, rất có giá trị, thắng
xa mọi công đức và trí đức chứng được trong 7 Ðịa trước,
vì mọi công đức và trí đức từ trước chứng được là
do sự tinh tấn dụng công (sàbhoga-karmanà), còn trong Ðịa
này, các công đức và trí đức tự nhiên chứng được.
Vì
chứng được một cách tự nhiên thiện xảo phương tiện
trí (upàyakausalyajnàna) và tùy thuộc kết quả sự cố gắng
để chứng nhất thế trí, vị Bồ-tát biết được như thế
nào và khi nào một thế giới được tác thành, tiếp tục
tồn tại rồi hoại diệt và nghiệp nào chịu trách nhiệm
kết quả ấy. Vị Bồ-tát biết được như thế nào và khi
nào một thế giới được tác thành, tiếp tục tồn tại
rồi hoại diệt và nghiệp nào chịu trách nhiệm kết quả
ấy. Vị Bồ-tát biết được mọi chi tiết lớn nhỏ của
4 Ðại: địa thủy hỏa phong, các loại chúng sanh và nghiệp
quả của chúng. Sự hiểu hết chi ly như vậy rất cần cho
vị Bồ-tát, vì vị này phải hiện ra giữa các chúng sanh,
thật giống một loại chúng sanh để cho các chúng sanh cảm
thấy vị ấy là một loại với chúng và mỗi chúng sanh đều
cảm thấy có thể thành Phật.
Vị
Bồ-tát phát triển 10 vasitàs (tự tại) đối với àyu (tuổi
thọ), cetas (tâm trí), pariskàra (tài vật), karma (nghiệp), upapatti
(sanh), adhimukti (giải thoát), pranidhànà (nguyện), rddhi (thần
thông), dharma (pháp) và jnàna (trí).
Vị
Bồ-tát trong giai đoạn này được xem như chứng được vô
lượng, vô biên, vô tỷ trí tuệ và hạnh nghiệp bao giờ
cũng trong sạch. Nay vị Bồ-tát thành tựu được các pranidhànas
(nguyện), adhisthànas (đức trú), pàramitas (Ba-la-mật), mahàmaitri
(Ðại từ), mahà karunà (Ðại bi), dhàranà (tổng trì), pratibhàna
(biện tài) v.v...Tóm lại, tất cả các pháp thành tựu một
đức Phật. Do vậy, địa này được gọi là Acalà (Bất động)
và vị Bồ-tát không thể thối lui địa này (avivartyabhùmi).
Nay vị Bồ-tát trở thành một đơn vị trong gia đình Như
Lai, và có thể được xem thuộc gia tộc đức Phật. Từ nay,
vị Bồ-tát luôn luôn được chư thiên và thần kim cang hầu
cận.
Sàdhumatì
(Thiện tuệ) hay Pratisamvidvihàra (Vô ngại biện trú)
Vị
Bồ-tát sau khi thành tựu và phát triển vô lượng trí, các
tổng trí, thiền định, thượng trí, hiểu biết chi ly các
thế giới, lực, và các vô sở úy của đức Như Lai đã nói
trong
Ðịa trước, nay bước vào Ðịa thứ chín. Trong giai đoạn
này, vị Bồ-tát biết đúng đắn các pháp là thiện, bất
thiện hay vô ký, thanh tịnh hay không thanh tịnh, thế tục
hay siêu việt, tưởng tượng hay không thể tưởng tượng,
định pháp hay bất định pháp, hữu vi hay vô vi. Vị Bồ-tát
biết những bổn phận của Thanh văn, Ðộc giác, Bồ-tát và
Như Lai Ðịa. Nhờ thông minh như vậy, vị Bồ-tát biết một
cách đúng đắn những tập tục hay đặc tánh tư tưởng của
chúng sanh, những phiền não, hạnh nghiệp, căn, nguyện, giới
(dhàtu), ao ước và ý định (àsayànusaya), tái sanh tùy theo
ước muốn (vàsanànusandhi) và những ràsis (gotra=chủng tộc)
của những chúng sanh này. Vị Bồ-tát biết tánh sai biệt
của các tâm trí, phiền não và nghiệp v.v...
Vị
Bồ-tát trong Ðịa này đã có thể biết một cách tỷ mỉ
mục đích và những đức tánh của mỗi một chúng sanh và
có thể quyết định phương pháp hướng dẫn một chúng sanh
đến đích. Do vậy, vị Bồ-tát thay đổi phương pháp giáo
huấn của mình tùy theo sự nhận xét của mình.
Vị
Bồ-tát cũng đóng vai một vị Dharmabhànaka (giảng pháp sư)
để gìn giữ lời dạy của bậc Ðạo sư. Vì vô lượng trí
tuệ của mình, vị Bồ-tát giảng pháp theo nhiều phương pháp
và áp dụng 4 pháp vô ngại biện. Nhờ dùng 4 pháp biện tài
này và hoạt động như một Pháp sư, vị Bồ-tát trở thành
một kho tàng gìn giữ lời dạy chánh pháp. Ðầy đủ những
dhàranis (tổng trí) và pratibhànas (thuyết pháp), vị Bồ-tát
thuyết pháp cho chúng sanh trong mọi thế giới và phương pháp
giảng dạy rất linh động và khác biệt.
Cũng
trong Ðịa này, vị Bồ-tát vẫn tu tập trên con đường tiến
triển tâm linh và không bao giờ ra khỏi tầm mắt của chư
Phật. Vị Bồ-tát tu tập hạnh balapàramità (lực Ba-la-mật).
Nếu muốn, vị Bồ-tát này có thể trở thành Mahà-Brahmà
(Ðại phạm thiên).
Dharmamehgà
(Pháp vân địa) hay Parama-vihàra (Tối thượng trú)
Vị
Bồ-tát, khi thành tựu các bổn phận trong Ðịa thứ chín,
bước vào Ðịa thứ mười. Nay vị Bồ-tát điêu luyện trong
vô số thiền định, và nhờ vậy, một hoa sen huy hoàng và
to lớn hiện ra, và vị Bồ-tát tự thấy mình ngồi trên đài
sen ấy, với thân hào quang sáng chói và nhập định Sarvajnàjnàna
Visesàbhiseka (Nhất thể trí tri), xung quanh có vô số Bồ-tát
còn ở trong chín Ðịa trước bao vây và hướng nhìn đến
mình. Hào quang tự thân chiếu sáng và khiến mọi chúng sanh
hoan hỷ. Khi vị Bồ-tát ngồi trên tòa sen, hào quang từ các
đức Như Lai chiếu đến và tấn phong vị Bồ-tát thành Samyasambuddha
(chánh đẳng giác), đầy đủ nhất thế trí và do vậy, Ðịa
này được gọi là Abhisekabhùmi (Quán đảnh địa).
Nay
vị này biết rõ ràng thế giới các pháp thế gian sanh diệt
như thế nào, vô lượng hạnh của một đức Phật, vô lượng
giải thoát môn của vị Bồ-tát (Bodhisattva-vimoksa mukha), các
thiền định và các chú thuật dharani v.v... Nay vị ấy được
cụ túc Smrti-kausalya (Niệm thiện xảo) nên có thể thâu nhận
tất cả mây pháp (Dharmamegha) do vô lượng Phật thấm nhuần.
Vị này có thể vận dụng mọi loại thần thông. Ở trong
Ðịa này, vị Bồ-tát phát huy jnâna-pàramita (Trí Ba-la-mật).
Chính
sau Ðịa thứ mười mà một vị Bồ-tát trở thành đức Như
Lai (Tathàgata), và do vậy tập Lankàvatàra (Nhập lăng già)
gọi Ðịa này là Tathàgatabhùmi (Như lai Ðịa). Tập Satasàhasrikà
(Bách thiên tụng tạng 1472) cũng ghi nhận một vị Bồ-tát
ở địa thứ 10 được gọi là Tathàgata (Như lai).
Ở
văn học Tiểu thừa, không có đề cập đến 4 địa sau cùng.
Quan niệm một đức Phật đến với các nhà Tiểu thừa còn
rất mơ hồ, vì quan niệm vị Bồ-tát chỉ được văn học
Tiểu thừa chấp nhận một cách rất chậm trễ, và rất có
thể là bị ảnh hưởng của các tư tưởng Ðại thừa. Các
nhà Tiểu thừa cẩn thận tránh xa tất cả quan điểm hình
nhi thượng học của các nhà Ðại thừa về các vị Bồ-tát
và chư Phật. Tuy vậy các nhà Tiểu thừa không giữ được
cùng một thái độ đối với các mẩu chuyện thần thoại,
thuần tín ngưỡng cùng tin về các đời sống củachư vị
Bồ-tát. Các nhà Tiểu thừa, trung thành với triết thuyết
của mình, chỉ chấp nhận vào trong văn học các vị này,
một đời sống đức Phật, bắt đầu bằng một mẩu chuyện
ngắn của đời sống tiền thân của vị Bồ-tát, dươi nhan
đề Dùrenidàna và Avidurenidàna (Viễn nhân duyên và cực Viễn
nhân Duyên), hay Nidàna này chỉ là tóm lược các mẩu chuyện
rất phổ thông trong hàng Ðại thừa. Và có những bằng chứng
vay mượn mô phỏng, dù rất thô sơ. Ngoài những danh từ như
Buddhabija (Phật chủng tử) và Abhinirhàna (Thành tựu, viên
mãn), có đoạn Bà-la-môn Sumedha (Thiện tuệ) nói rằng "tôi
không cần đến Niết bàn do diệt trừ các phiền não. Như
đức Phật Dipankara (Nhiên Ðăng), tôi sẽ chứng vô thượng
chánh đẳng giác, và nhờ Pháp thuyền làm phương tiện, tôi
sẽ hướng dẫn chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử và chứng
Niết bàn". Câu này có vẻ rất Ðại thừa hay ít nhất cũng
là bán Ðại thừa. Nhưng các nhà Tiểu thừa không những bác
bỏ những phiếm luận siêu hình mà cũng bác bỏ luôn những
danh sách quen thuộc các hạnh Ba-la-mật của Ðại thừa. Tập
Jàtaka (Tiền thân) và tập Mahàbodhivàmsa (Trang 25 và 9) tuyên
bố các pháp tác thành Phật (Buddhakàraka) chỉ có 10 Ba-la-mật;
dàna (thí), sila (giới), nekkhamma (ly dục), pannà (tuệ), viriya
(tinh tấn), khanti (nhẫn nhục), sacca (chân đế), adhitthana (thọ
trì), mettà (từ) và upekkhà (xả).
Về
những thần thông đặc biệt của một đức Phật, các nhà
Tiểu thừa nói đến rất ít. Các tập Nikàya có chép các
đức Phật (kể cả các vị Bích chi) tự mình chứng vô thượng
giác, nhờ theo những pháp môn chưa từng được nghe. Một
vị vô thượng giác diễn giảng chánh pháp, trở thành vị
sáng lập một tôn giáo, một bậc thiên nhân sư. Ngài là bậc
toàn tri (Sabbannu) và tri giác của Ngài về bất cứ vấn đề
gì không cần Ngài phải chú tâm đến (àvajjanà). Ngài có
đủ 10 lực và 4 Vesàrajja (Vô sở úy). Trong tập Kathàvatthu
(III, 1, 2) có một cuộc thảo luận về vấn đề này. Vấn
đề một Như lai có những năng lực tương tự như vị Thanh
văn hay không, một điểm được học phái Andhaka đặt thành
vấn đề, dựa theo đoạn văn của tập Anuruddha samyutta (V.
tr. 304). Trong những thần thông của đức Phật đã được
đề cập đến, thật không có gì rất đặc biệt, trừ một
vài thần thông đã nói đến, và câu hỏi của học phái Andhaka
đã làm cho các nhà Thượng tọa bộ khó chịu. Trong văn học
của các nhà Tiểu thừa, các vị này cố gắng chứng minh
đức Phật là một nhân vật hy hữu, siêu việt các loài người
và chư thiên, nhưng các vị này cũng nêu rõ không có sự khác
biệt gì giữa một vị A-la-hán và một đức Phật, ngoại
trừ đức tánh đức Phật là vị sáng lập và một bậc đạo
sư của một tôn giáo (Xem chương II và bản dịch Dìgha Nikàya,
II, 1-3, III, 6).