CHƯƠNG
HAI
NHẬN
XÉT TỔNG QUÁT VỀ SỰ LIÊN HỆ
GIỮa
TIỂU THỪA VÀ ĐẠI THỪA
Trong
suốt trường sử Phật giáo, đồng nhất trong khác biệt là
một đặc tính nổi bật. Mỗi học giả hay tín đồ Phật
giáo, bất cứ thời nào hay chỗ nào, đều công nhận đức
Phật dạy một con đường Trung đạo (Madhyamà pratipad), gồm
có một giáo lý tránh xa hai cực đoan: Sự hiện hữu và không
hiện hữu, (1) thường còn và không thường còn của thế
giới và vạn hữu, một kỷ luật tránh xa khổ hạnh và một
đời sống dục lạc. Không nghi ngờ giá trị giáo lý của
vị Ðạo sư về hai cực đoan, các triết gia Phật giáo tìm
thấy đầy đủ tự do để biện luận về con đường Trung
đạo, nhưng các vị này không đồng chung quan điểm về một
đời sống mà đức Phật muốn hướng dẫn mọi người theo.
Một số người cho rằng đời sống ấy là đời sống của
vị tu sĩ nhận thức được tánh vô thường của sự vật
gồm cả tự ngã; một số người khác lại cho rằng chính
là một đời sống ở trongvà ngang qua đời sống hiện tại
và nhận thức được rằng hoàn toàn không có sai khác gì
giữa mình và mọi vật trên thế giới, hay trong danh từ các
tác phẩm Ðại thừa, giữa Samsàra (Luân hồi) và Nirvàna (Niết
bàn). Cho đến các công thức Sarvam duhkam, Sarvam anityam và Sarvam
anàtmam (tất cả là khổ đau, tất cả là vô thường, tất
cả là vô ngã), ba Pháp Ấn của đạo Phật cũng mất giá
trị trong con mắt các Phật tử hậu thế, các vị Ðại thừa.
Tuy nhiên, Nirvànam Sàntam (Niết bàn tịnh lạc) (2) trái lại
không bao giờ mất sự hấp dẫn với các nhà tư tưởng đạo
Phật. Hầu hết các vị này đều xem Niết bàn là Sànta (Tịnh
lạc) (nghĩa là không bị sanh tử chi phối) vượt ngoài ngôn
ngữ văn tự và không sanh không diệt. Niết bàn thường được
diễn tả bằng những câu quen thuộc như sau:
- Màdhyamika
Vrtti (3): Aniruddham anutpannam etan nìrvànam ucyate. (Niết bàn là
bất diệt bất sanh), và
- Itivuttaka
(4): Atthi, bhikkhave, abhùtamakatam asankhatam (Này các Tỷ kheo,
có cái bất sanh, bất tác, vô vi).
Mức
độ đồng ý về quan niệm Sunayatà
Mọi
vật là vô thường, mọi vật là vô ngã, thường được diễn
tả với danh từ Sarvam sùnyam(mọi vật đều không) và vấn
đề này trở thành đề tài cho những tranh luận sôi nổi
giữa các học phái. Những quan niệm bất đồng qui tụ vào
vấn đề mức độ cần phải áp dụng lý thuyết thế giới
là vô thường. Các nhà Tiểu thừa tự bằng lòng với định
nghĩa giản dị về Sùnya, tuyên bố "vì thế giới không có
tự ngã và những sở thuộc của ngã, nên được gọi là
Sùnya (yasmà ca sunnamattena va attaniyena va tasmà sunno loko ti vuccati
ti). Nói một cách khác, các nhà Tiểu thừa nói rằng vì không
có gì thường còn và cá biệt trên đời này, nên đời không
có gì chắc thật cả. Các nhà Ðại thừa, đặc biệt là
các nhà Màdhyamikas, không dừng ở nơi đây. Các vị này áp
dụng quan niệm Sùnya đến triệt để, và đạt đến một
quan niệm Sùnyatà không những về những đời sống giả tạm,
mà cả về Như Lai (5), Niết bàn, hay Hư không (Àkàsa). Các
vị này nói thêm, các đức Như Lai không nhọc lòng để ý
những danh từ này. Ðối với các vị ấy, chúng cũng vô nghĩa
như lối diễn tả tự mâu thuẫn sau đây: "Ðứa con của một
người đàn bà không thể sinh sản" (6). Nói đến sự không
hiện hữu của mọi vật, các nhà Ðại thừa thường viết:
"Na Sùnyatayà rùpam sùnyam, nànyatrà rùpàt sùnyatà, rùpam eva
sùnyatà, sùnyataiva rùpam" (Sắc không phải không có không,
không không phải khác sắc, sắc tức là không, không tức
là sắc) (7).
Ðiều
đáng chú ý là hình thức phổ biến về Sùnyatà được đề
cập đến, không những bởi các nhà Ðại thừa đầu tiên
trong tập Prajnàpàramità, mà còn bởi các nhà Màdhyamika (Trung
quán) (8) và các nhà Yogàcàras (Duy thức học) (9). Có sự cố
gắng, với sự giúp đỡ của định nghĩa trên, để giải
thích rằng du Sùnyatà hình như được xem là sự trừu tượng
tuyệt đối của tất cả Dharma (Pháp), chữ ấy chính là danh
từ để gọi Svabhàva (tự tánh chân thật) của các pháp (Dharmas
hay dravyas). Sùnyatà được gọi là Dharmat (Pháp nhĩ như thị)
với ý nghĩa là Sùyat không phải ra ngoài các pháp hay tức
là các pháp. Nếu chúng ta nói Dharmatà ra ngoài các pháp, như
thế có nghĩa là các pháp sẽ trống không; và nếu chúng ta
nói Dharmata tức là các pháp, các pháp trở thành nitya (thường
còn). Quan niệm này về Sùnyatà chỉ mới manh nha chứ không
xuất hiện, dưới một hình thức triển khai rõ ràng trong
văn học Pàli, trong các đoạn như:
"Avyàkatam
mayà tam jìvam tam sarìram", hay
"Annam
jìvam annam sarìram. Hoti Tathàgato param maranà; na hoti Tathàgato
param maranà; hoti ca na hoti ca Tathàgato param maranà; n eva hoti
na na hoti Tathàgato param marana" (10)
(Ta
không giải thích mạng sống và thân thể là một hay sai khác;
Ta cũng không giải thích sau khi chết, đức Như Lai có tồn
tại hay không tồn tại, hoặc sau khi chết, đức Như Lai có
tồn tại và không tồn tại hay đức Như Lai không tồn tại
và không không tồn tại).
Những
từ ngữ này, chỉ được đề cập một cách sơ lược trong
văn học Pàli với hàm ý chỉ những bậc chứng quả mới
hiểu được ý nghĩa đích thực của những danh từ này. Tuy
vậy, các Phật tử về sau dựa trên những từ ngữ này, đưa
ra rất nhiều giả thuyết. Các nhà Duy thức học xác nhận
rằng sự thật vượt ngoài từ cú, nghĩa là giống nhau hay
khác hay cả hai hay không cả hai, tức là phái này khôg công
nhận những câu hỏi về hiện hữu hay không hiện hữu. (11).
Nhưng sự xác nhận này không ngăn cản các vị này quan niệm
một Tathàgatagarbha (Như lai tạng) hay linh hồn siêu thoát của
con người vừa chịu sự trói buộc của nghiệp báo. Các nhà
Màdhyamikà quá nghiêm khắc trong những kết luận luận lý
của mình, xem bốn cú là những sự kiện không thể có được
và mọi thảo luận về những vấn đề này giống như sự
thảo luận về "màu da đứa con trai của một người đàn
bà không thể sinh sản"; và vì lý do này, đức Phật không
có cách nào khác hơn là nói rằng những vấn đề ấy là
Avyàkrtà (bất khả thuyết) (12). Tuy vậy, tứ cú này giúp
các nhà Màdhyamika xây dựng lý thuyết Sùnyatà như là một
nguyên tắc tuyệt đối vô ngã, và như vậy vượt ngoài giới
hạn của bốn cú nói trên.
Sự
tương đồng về giáo lý Tứ Ðế và lý Duyên khởi
Dù
cho các nhà Tiểu thừa và Ðại thừa không đồng ý nhau về
quan niệm Sùnyatà, nhưng cả hai đều chấp nhận đức Phật
có giảng về Tứ Ðế (Àryasatyas) và lý Duyên khởi (Pratìtyasamutpàta)
(13). Bốn sự thật, Dukkha, Samudaga, Nirodha, Màrga (Khổ, Tập,
Diệt, Ðạo) và Pratìtyasamutpàda (Duyên khởi) đã trở thành
những danh từ lý tưởng cho các nhà Tiểu thừa và không cần
phải giải thích địa vị quan trọng của chúng trong văn học
Tiểu thừa. Nhưng đối với những người xem đời hiện tại
là huyễn hóa hay do thức biến, thời cần phải giải thích
lý do tại sao nhưng sự thật và lý Duyên khởi lại chiếm
một địa vị trong giáo lý của chúng.
Nàgàrjuna
dành hai chương (14) cho hai vấn đề này, và bắt đầu chương
về Tứ Ðế, Ngài đã đoán trước sự chỉ trích này và
trả lời rằng, nếu không có Tứ Ðế, và lý Duyên khởi,
thời không có Phật, Pháp và Tăng, vì chính nhờ hai giáo lý
này mà sự thật tuyệt đối mới chứng đạt và vì vậy
được chấp nhận trong giáo lý của các nhà Ðại thừa. Theo
Ngài, Sùnyatà không phải là hư vô luận nhưng là nguyên tắc
tuyệt đối tiềm tàng trong tất cả, và vì vậy, không có
liên lạc với thế pháp và dụng pháp; Tứ đế và định
lý Duyên khởi thuộc về thế tục và nằm trong phạm vi tục
đế. Các nhà Duy thức học có một quan niệm tương tự. Có
ba hình thức của sự thật gọi là Parikalpita (Biến kế sở
chấp), Paratantrà (tha khởi) và Parinispanna (Viên thành thực)
(15). Quan niệm về Sùnyatà của các nhà Duy thức học là thế
giới do Thức biến và đây thuộc Parinispanna (Viên thành thực),
còn Tứ đế và lý Duyên khởi thuộc Y tha khởi và Biến kế
sở chấp.
Tóm
lại, các nhà Ðại thừa xem Tứ Ðế và lý Duyên khởi là
những giai đoạn dự bị để chứng ngộ sự thật tuyệt
đối. Giáo lý Ðại thừa ra đời để hướng dẫn chúng sanh
mê muội từ vô minh đến trí tuệ, từ âm u đến ánh sáng,
là chính nhờ giáo lý Tứ đế và lý Duyên khởi này.
Dù
cho lý Duyên khởi bị các nhà Ðại thừa liệt vào hàng Tục
đế, chúng ta sẽ thấy giáo lý này rất được các vị này
đặc biệt chú ý. Nàgàrjuna bắt đầu tác phẩm của mình
với một luận tác khá dài về lý Duyên khởi để chứng
minh rằng sự sự vật vật mà chúng ta nhận thức, toàn có
giá trị tương đối, sanh và diệt do các nhân duyên và xác
nhận rằng khi một người chứng ngộ nguyên lý này, người
ấy biết được sự thật Sùnyatà (16). Các nhà Tiểu thừa
và các nhà Ðại thừa không đồng ý nhau về sự thật nhưng
đồng ý rằng sự thật như các vị ấy quan niệm, có thể
giác ngộ nhờ sự hiểu biết giáo lý Duyên khởi, và vì vậy
các tác phẩm đạo Phật, Tiểu thừa hay Ðại thừa (17) đều
đồng ý rằng:
Yah
pratìtyasamutpàdam pasyati so dharmam pasyati, yo dharmam pasyati so
buddham pasyati.
(Ai
thấy lý Duyên khởi, người ấy thấy Pháp. Ai thấy Pháp,
người ấy thấy Phật).
Ðịnh
lý Duyên khởi quá hấp dẫn đối với Phật tử, tất cả
thời và tất cả chỗ, đến nỗi không những Tam Tạng kinh
điển của Tiểu thừa và Ðại thừa mà cả đến những bia
ký cũng ghi chép:
"Yo
dharmà hetuprabhavà hetum tesam Tathàgàtam hyavadat. Tesàm ca yo nirodha
evam vàdimahàsramanah".
(Ðức
Như Lai giải thích nguyên nhân của sự vật, sự vật phát
sanh từ một nguyên nhân. Ngài cũng giải thích sự diệt trừ
của chúng. Ðó là lời dạy của vị Ðại sa môn.)
Như
vậy chứng tỏ có sự đồng ý hoàn toàn qua các học phái
về vấn đề đức Phật giảng lý Tứ đế và lý Duyên khởi.
Nhưng chúng ta phải công nhận rằng tuy lý Tứ đế, lý Duyên
khởi và Vô vi Niết bàn đều được tất cả các học phái
công nhận, nhưng vị trí của chúng, theo quan điểm của từng
học phái, lại sai khác nhau như trời vực. Sự thật, xung
quanh ba nguyên lý này, đã phát triển rất nhiều ý kiến mâu
thuẫn, nhiều học phái phát sanh, mỗi học phái cố gắng
nêu rõ quan niệm của mình về ba nguyên tắc này là đúng,
còn quan niệm của các học phái khác là sai lầm.
Ekayànatà
(Nhất thừa)
Vì
các nhà Tiểu thừa tự tin mình đã gìn giữ lời dạy nguyên
thủy của bậc Ðạo sư và ra đời trước các nhà Ðại thừa,
nên các nhà Tiểu thừa nghĩ không cần thiết phải nêu rõ
những điểm tương đồng và bất đồng giữa giáo lý của
mình và giáo lý Ðại thừa. Nhưng các nhà Ðại thừa nhận
thấy sự sanh sau đẻ muộn của mình và sự xa cách của mình
đối với vị giáo chủ, nên phải chú tâm xác định vị
trí của mình là đại diện chân chính cho Phật giáo. Các
nhà Ðại thừa cố gắng chứng minh rằng quan điểm chính
xác của vị giáo chủ đã bị các nhà Tiểu thừa bỏ qua,
và các vị này được các nhà Ðại thừa gọi là hàng Thanh
văn (Sràvaka) và hàng Ðộc giác (Pratyekabuddha). Các nhà Ðại
thừa không phủ nhận giá trị chính xác của nền văn học
và giáo lý Tiểu thừa. Nhưng các vị này muốn chứng minh
là đức Phật hiểu hết trí óc thấp kém của phần lớn
đệ tử của mình nên giảng giải một đạo Phật biến thể
hợp với trình độ hầu hết của những đệ tử này và
riêng một số ít đệ tử chọn lọc, đức Phật mới giảng
dạy giáo lý chân thực của mình, và giáo lý ấy tức là
giáo lý Ðại thừa. Các nhà Ðại thừa không nói rằng đức
Phật có nhiều sự thực khác nhau.
Theo
các nhà Ðại thừa, đức Phật chỉ dạy một và chỉ một
sự thật và một con đường; nhưng các hàng Thanh văn và Ðộc
giác chỉ thấy và thực hành một phần mà thôi. Những vị
này không bị ngăn cản không thấy sự thật toàn diện và
con đường chơn chánh, vì nhiều vị này đã được như vậy,
nhờ trở thành Ðại thừa, sau khi chứng quả A-la-hán hay Ðộc
giác. Các nhà Ðại thừa không tuyên bố có hai loại trí tuệ
(Prajnà), một dành cho Tiểu thừa và một trí tuệ khác dành
cho Ðại thừa để chứng ngộ sự thật, cho nên tập Prajnàpàramità,
trong những bài kệ mở đầu, nói với Prajnà (Trí tuệ) như
sau:
"Buddhaih
pratyekabuddbais ca sràvakais nisevità, Màrgastvam ekà moksasya nàsty
anyati niscayah - Người là con đường độc nhất đi đến giải
thoát, không có con đường nào khác. Ðó là con đường của
chư Phật, chư vị Ðộc giác và các hàng Thanh văn theo giống
nhau".(18).
Các
tập Prajnàpàramità đặt nặng về sự thực hành Bát nhã
Ba-la-mật, và nhiều khi xem Bát nhã Ba-la-mật là sự thật
tuyệt đối. Các tác phẩm lưu ý trong nhiều chỗ rằng cả
ba Thừa đều được bao hàm trong Prajnàpàramità, và sự thành
tựu của các vị Bồ-tát, Thanh văn hay Ðộc giác đều tùy
thuộc Prajnàpàramità. Cho nên, theo những tác phẩm này Prajnàpàramità
là Thừa độc nhất đưa đến sự thật (19), và Thừa này
gồm cả ba Thừa.
Tập
Saddharmapundarìkasùtra (kinh Pháp hoa) với dụng ý chứng minh
Tiểu thừa chỉ là những bước đầu tiên tiến đến Ðại
thừa ủng hộ tư tưởng này trong những câu văn như sau:
Ekam
hi yànam dvitiyam na vidyate,
Trtiyam
hi naivàsti kadàci loke.
Yad
yàna-nànàtyupàdarsayanti.
Anyatrupàyà
purusottamanàm
Bauddhasya
jnànasya prakàsanàrtham,
Loke
samutpadyati lokanàthah
Na
hìnayàneda nayanti Buddhàh.
(Chỉ
có một con đường, không có con đường thứ hai, không bao
giờ có con đường thứ ba ở trong đời. Sự trình bày nhiều
Thừa khác nhau chỉ là một phương tiện được các vị Thánh
nhân áp dụng. Vị Ðạo sư ra đời chỉ để dạy Phật trí.
Ngài chỉ có một đối tượng, một mục đích, không có gì
khác. Các đức Phật không dùng hạ thừa để hướng dẫn
chúng sanh).
Và
ở chỗ khác, kinh ấy lại nêu thêm: (21)
Sa
pasyati mahàprajno dharmakàyam asesatàh Nàsti yànatrayam kincid ekayànam
ihàsti tu.
Ðối
với Ngài, bậc Ðại trí, đã thấy được Pháp thân toàn
diện, chỉ có một Thừa mà thôi, không có ba Thừa).
Nhưng
vì mục đích công khai của tập Saddharmapundarìkà là để
nêu rõ Thanh văn thừa chỉ là một phương tiện (upàya) của
bậc Ðạo sư bày ra để hướng thượng tín đồ, tập này
nhắc đi nhắc lại chủ đề:
Ekam
eva yànam àrabhya sattvànam dharmam desitavanto yad idam Buddhàyanam
sarvajnatàparyavasànam v.v... (22)
(Chỉ
vì một Thừa mà dharma được giảng dạy. Ðó là Phật thừa
đưa đến toàn giác v.v).
Mục
đích của những câu kệ này là để nêu rõ rằng sự thật
và con đường chân chính chỉ là một, và phương pháp các
đức Phật và các vị Bồ-tát thực hành cuối cùng sẽ được
các vị Thanh văn và Ðộc giác tuân theo. Như vậy, thật sự
không phải có ba thừa được gọi là Thanh văn, Ðộc giác
và Phật thừa, mà chỉ có một thừa mà thôi và đó tức
là Phật thừa hay Ðại thừa.