Phần
TU HÀNH TÍN TÂM
Phần
này là y nơi chúng sanh chưa vào chánh định tụ mà nói, nên
nói tu hành tín tâm.
TU
HÀNH TÍN TÂM là vì lòng tin chưa đủ, nên nói “Y NƠI chúng
sanh chưa nhập chánh định tụ”. CHƯA NHẬP CHÁNH ĐỊNH TỤ
là chỉ cho những vị thuộc hàng bất định.
Thế
nào là tín tâm? Làm sao tu hành? Lược nói tín tâm có 4 thứ.
Nói
tu hành tín tâm thì trước tiên phải biết tín tâm là gì
rồi mới tu. Biết rồi thì tu như thế nào để có được
tín tâm ấy. Nên đây nêu “THẾ NÀO là tín tâm, làm sao tu
hành?”. Tín tâm có 4 thứ, còn tu hành thì có 5 môn. Đầu
tiên, nói rõ về tín tâm là tin những gì?
Thế
nào là 4?
1.
TIN BẢN CĂN, đó là thích niệm pháp chân như.
2.
TIN PHẬT có vô lượng công đức, thường nhớ nghĩ, thân
cận, cúng dường, cung kính hầu phát khởi thiện căn và nguyện
cầu tất cả trí.
3.
TIN PHÁP có lợi ích lớn, thường nghĩ tu hành các ba la mật.
4.
TIN TĂNG tu hành chân chánh, tự lợi lợi tha. Thường thích
thân cận chúng Bồ tát, cầu học hạnh như thật.
Tín
tâm gồm có 4 thứ tin là tin tự tánh chân như của chính mình
và tin vào Tam bảo.
CĂN,
nghĩa của nó là cội rễ, nguồn gốc. BẢN là ‘của mình’.
BẢN CĂN đây là chỉ cho pháp tánh chân như. TIN BẢN CĂN là
tự tin tánh mình, tin mình có pháp chân như. Vì việc tu hành
đây là để tạo niềm tin, nên nói “THÍCH NIỆM pháp chân
như”. Tức luôn luôn nhớ nghĩ mình có pháp tánh chân như
rỗng rang sáng suốt với vô lượng công đức thanh tịnh.
Nhớ vậy để làm gì? Để huân tập lòng tin đối với pháp
tánh chân như. Có lòng tin thì mới chịu khó chịu khổ tu
tập để trực chứng lấy pháp chân như ấy.
Chỉ
tin vào bản tánh của mình mà không tu tập thì cũng chẳng
tới đâu, nên phải đặt lòng tin vào Tam bảo. Có lòng tin
thì mới học hạnh của Phật, học lời Phật nói và thân
cận với các bậc tôn túc mà nhận lời chỉ dạy cho việc
tu hành.
Đến
đây là xong phần nói về tín tâm. Sau là phần tu hành để
có được tín tâm ấy.
Tu
hành có 5 môn có thể thành tựu lòng tin ấy. Thế nào
là 5? Một là môn Thí, hai là môn Giới, ba là môn Nhẫn, bốn
là môn Tấn, năm là môn Chỉ Quán.
5 môn
này giúp thành tựu tín tâm, vì nó giúp ta xả đi tâm vị
kỷ, bỏ bớt những nhiễm ô mà mình đã huân tập trong nhiều
đời nhiều kiếp khiến sự thật bị che mờ, lòng tin đối
với sự thật ấy mới bị phai lạt. Như áo trắng bị nhuộm
đen. Cái hiện tại mình nhận được là cái áo đen, vì thế
nếu người nói nó màu trắng, mình cũng khó tin được
nó màu trắng. Song nếu cái đen ấy bỗng nhiên mờ dần thì
niềm tin chiếc áo không phải màu đen ấy sẽ phai lạt. Một
khi áo hở được một chỗ trắng thì niềm tin áo trắng càng
chắc thật. 5 môn này giống như thuốc rửa giúp cái áo phai
bớt màu đen để hiển ra khoảng trắng thật của áo.
1.
Thế nào là tu hành môn THÍ? Nếu gặp những ai đến cầu
xin, mình có tài vật gì đều tùy lực giúp họ để tự xả
xan tham mà cũng khiến người kia hoan hỉ. Nếu gặp người
bị ách nạn, khủng bố, nguy bức thì tùy sức mình mà giúp
họ hết sợ. Nếu có chúng sanh đến cầu pháp thì tùy sự
thông hiểu của mình mà phương tiện giảng nói, chẳng nên
tham cầu danh lợi và sự cung kính mà chỉ nghĩ đến việc
tự lợi, lợi tha, hồi hướng bồ đề.
THÍ
nói đủ là bố thí. Thứ gì có tính cách không ôm vào mà
chỉ xả ra gọi là bố thí. Thế nào là TU HÀNH MÔN THÍ,
tức hành bố thí là hành như thế nào? Bố thí đây có 3
thứ :
1.
Đem của cải ra cho. Tức tùy theo tài lực của mình mà giúp
được ai thì giúp. GẶP AI ĐẾN CẦU XIN, cũng chỉ luôn cho
kẻ không cầu xin mà đang gặp khó khăn túng thiếu, mình cũng
sẵn lòng chia phần. Giúp ra sao mà người giúp và kẻ được
giúp đều có lợi. Người giúp thì xả được lòng xan tham,
còn kẻ được giúp thì vui vẻ hoan hỉ. Nếu giúp mà khiến
kẻ được giúp càng đau khổ, người giúp thêm cao ngạo thì
việc làm tuy như nhau nhưng tinh thần đã đi ngược. Ngược
thì lòng tin khó thành tựu.
Việc
bố thí tiền của nói đây là bước đầu nuôi dưỡng tín
tâm. Ý nghĩa chính của việc làm này là giúp mình xả bỏ
lần lòng vị kỷ của cái tôi hẹp hòi, hướng lần về lòng
vị tha của chân ngã. Vì thế dù kiến thức học Phật của
mình rộng bao nhiêu mà đối với vấn đề xả bỏ ngoài da
này mình chưa thực hiện được thì cần phải coi lại vốn
kiến thức học Phật ấy. Tu hành mà ngày càng chắc bóp,
so đo thiệt hơn giữa người với mình quá kỹ thì việc tu
hành của mình có vấn đề.
2.
Giúp người khác bằng công sức và tấm lòng của mình. Thấy
người gặp bức bách lo âu thì giúp họ bớt lo âu. Thấy
người sợ hãi thì làm cho họ bớt sợ hãi … Không hẳn
chỉ đối với người đồng loại mà với tất cả muôn loài
đều vậy. Tùy sức mình mà giúp.
3.
Bố thí Pháp. Pháp đây không phải chỉ là pháp tu hành trong
đạo Phật, mà những lời lẽ đạo đức khiến người sống
đúng với nhân quả, với đạo đức gia đình xã hội, khiến
cuộc sống của người được vui vẻ ... đều gọi là pháp.
Giải thích nghĩa lý của kinh, giải nghi những thắc mắc của
người đối với vấn đề Phật pháp, hay khuyên người làm
lành tránh ác, chỉ cho người những gì cần thiết cho đạo
đức của người v.v… đều thuộc về loại bố thí pháp
này. Đó là tùy cơ của chúng sanh mà pháp có cạn sâu.
“CHẲNG
NÊN tham cầu danh lợi…” chủ yếu là nói về vấn đề
bố thí pháp, nhưng phần giải thích đây lại nói chung cho
cả 3 loại bố thí, vì 3 cách bố thí trên chỉ giúp ta đạt
được tín tâm khi các việc làm ấy không vì danh, vì lợi
hay sự cung kính ở thế gian mà chỉ với tâm niệm là phá
trừ bản ngã, nguyện mang lợi ích cho muôn loài và cuối cùng
là hồi hướng về Phật đạo. Vì thế, đây giải thích chung
cho cả 3.
2.
Thế nào là tu hành môn GIỚI? Là chẳng giết hại, chẳng
trộm cướp, chẳng dâm dật, chẳng nói hai lưỡi, chẳng nói
lời ác, chẳng nói điều hư dối, xa lìa xan tham, tật đố,
giả dối, nịnh nọt, quanh co, sân nhuế và tà kiến. Nếu
là người xuất gia thì vì phải chiết phục phiền não nên
cũng cần xa lìa chỗ rối ren ồn náo, thường ở chỗ tịch
tĩnh, tu tập hạnh ít muốn biết đủ, hạnh đầu đà v.v...
cho đến một tội nhỏ, tâm cũng sanh sợ hãi, hổ thẹn mà
hối cải. Chẳng được khinh thường những giới cấm Như
Lai đã đặt ra. Phải giữ gìn sự tỵ hiềm và chê bai, chẳng
để chúng sanh vọng khởi tội lỗi.
GIỚI
hiểu nôm na là giới luật, là những hình tướng đặt ra
để ngăn ngừa bớt những ách nạn cho người đời. Giữ
được những tướng này thì tâm đỡ ô nhiễm, đạo dễ
gần, niềm tin dễ phát triển. Khi Phật sắp nhập diệt, ngài
A Nan hỏi “Không có Phật thì đời sau nương vào đâu mà
tu hành?”. Phật trả lời 3 thứ, trong đó có vấn đề giới
luật. Cho thấy giới luật rất quan trọng trong đời mạt
pháp này.
Những
thứ như giết hại, trộm cắp … một người dân bình thường
còn không được làm, huống là người tu hành nuôi dưỡng
tín tâm làm Phật? Song với người đời thì việc giết hại
những con vật nhỏ là chuyện bình thường. Với người tu,
cố gắng giữ gìn được chừng nào hay chừng đó. Không sát
hại vừa tránh được nghiệp quả không hay, vừa nuôi dưỡng
được lòng bi. Tín tâm mới vững mạnh.
Với
người xuất gia thì ngoài những giới tướng đã thọ, các
vị còn phải chiết phục phiền não. PHIỀN NÃO là chỉ cho
những thứ làm tâm không yên, bắt nguồn từ định kiến
và ái dục. Muốn chiết phục những thứ này thì phải có
thiền định. Thiền định thì lúc đầu phải xa lìa chỗ
ồn náo, thường ở chỗ tịch tịnh … Nói chung, không nên
để tâm loạn động theo cảnh giới bên ngoài, mà cần phải
làm chủ những máy động trong tâm. Đó là nói về tâm. Còn
về thân thì tu tập hạnh ít muốn biết đủ, hạnh đầu
đà.
Đây
nói về tu hành tín tâm, vì sao lại có các vị xuất gia? Vì
tuy xuất gia nhưng tín tâm tu Phật không phải ai cũng có. Có
vị thì vấn đề thiền định tu Phật được đặt song song
với việc làm lợi ích chúng sanh. Song có vị chỉ lấy bằng
cấp, học vị hay chữ nghĩa làm sự nghiệp tối cùng mà coi
thường việc thiền định, nhiếp tâm. Xuất gia với tâm như
vậy là do tín tâm tu Phật chưa phát. Chưa phát chứ không
phải không có. Nên đây lập bày giúp cho phát.
Vì
sao CHẲNG ĐƯỢC KHINH THƯỜNG những giới cấm Như Lai đã
đặt ra? Vì đó là nền tảng cơ bản cần có của người
con Phật. Ngoài những lợi ích thiết thực cho bản thân, nó
còn góp phần để đạo pháp được trường tồn ở thế
gian. Người tại gia giữ gìn giới luật đã đành. Với các
vị xuất gia, vấn đề này càng nghiêm trọng. Vì Tăng Ni là
bộ phận chính đại diện cho Phật pháp. Muốn biết Phật
giáo thế nào, người ta căn cứ vào bộ phận lớn ấy mà
đánh giá trước tiên. Tâm thanh tịnh là quan trọng. Song hình
tướng là thứ người đời căn cứ vào đó để đánh giá
người tu. Vì thế, oai nghi và giới luật là những thứ mà
người tu phải gìn giữ để người đời luôn có tâm kính
trọng đối với Phật pháp. Khoác áo tu mà miệng phì phèo
thuốc lá, nghe nhạc, xem phim, nhịp chân ... rồi nói cười
ồ ạt trong quán ăn thì không khỏi khiến người đời khó
chịu và khởi tâm khinh mạn. Những hành động ấy, ngoài
việc làm giảm đi giá trị của đạo pháp, còn khiến chúng
sanh khởi tâm khinh thường, chê bai, xa rời đạo Phật. Đó
là khiến cho chúng sanh VỌNG KHỞI TỘI LỖI. Nên nói “PHẢI
GIỮ GÌN sự tỵ hiềm và chê bai”. Cho nên, là xuất gia hay
tại gia đều không nên coi thường giới luật mà Như Lai đã
đặt ra.
3.
Thế nào là tu hành môn NHẪN? Là phải nhẫn chịu những não
hại người khác đem lại mà chẳng ôm lòng trả báo, cũng
phải nhẫn chịu đối với lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ,
khổ, lạc.
NHẪN
là nhẫn nhịn. NÃO HẠI là những thứ làm mình phiền lòng,
khó chịu, buồn bực. Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ,
lạc nhà thiền gọi là bát phong. Gọi bát phong vì nó là 8
thứ gió có thể làm các thức nổi sóng, lòng người phải
lay động. LỢI là lợi lộc. XƯNG là tán thán ca ngợi. DỰ
cũng là ca ngợi nhưng có tính cách gián tiếp. LẠC là sự
sung sướng. 4 thứ này là gió thuận. SUY là hao tổn, xuống
dốc. HỦY là chê bai chỉ trích. CƠ là chế giễu. KHỔ là
những bức bách, không thuận lòng. 4 thứ này là gió nghịch.
Thuận hay nghịch gì, nếu không nhẫn thì thân tâm đều động.
Động thì tín tâm sẽ không phát nên đây dạy phải
nhẫn. NHẪN nghĩa là cố gắng đừng để những thứ đó
dẫn dắt. Tâm khởi thích thú hay khó chịu với các thứ đó
thì cần tỉnh, biết mà đừng chấp vào đó, gọi là NHẪN.
NHẪN
đây khác với nhẫn của người đời. Người đời nhẫn
lúc này để hơn lúc khác, thua keo này bày keo khác. Vì thế
cái nhẫn của người đời thường là nhẫn để trả thù,
hả dạ. Người tu Phật, nhẫn là để trở về với bản
tâm vốn thanh tịnh của mình. Cái nhẫn ấy là nhẫn trong
sự vị tha, buông bỏ ... nên nói KHÔNG ÔM LÒNG TRẢ BÁO.
4.
Thế nào là tu hành môn TẤN? Là đối với các việc thiện,
tâm chẳng giải đãi, thối chuyển, lập chí kiên cường xa
lìa sự khiếp nhược. Phải nhớ từ quá khứ lâu xa đến
nay, ta đã hư vọng thọ nhận tất cả đại khổ của thân
và tâm, không có lợi ích. Cho nên, cần phải siêng tu mọi
công đức lợi mình, lợi người, chóng lìa các khổ.
TẤN
tức là tinh tấn. Làm bất cứ việc gì mà thiếu sự tinh
tấn thì không xong. Huống hồ tu hành, là việc đi ngược
lại với thói quen thế gian của mình.
Tinh
tấn như thế nào? Với các việc thiện thì không được giải
đãi. GIẢI ĐÃI là làm biếng, ương ương dỡ dỡ, không thiết
tha. Việc gì lợi người mà xả được cái tôi đố kỵ,
kiêu mạn, ít kỷ, xan tham của mình thì đều phải cố gắng
quyết tâm làm bằng được, không nên thoái thác hay né tránh.
Làm vậy là mình đang “LẬP CHÍ kiên cường, xa lìa sự khiếp
nhược”. KHIẾP NHƯỢC vì bản ngã còn mạnh. Xả được
bản ngã thì khiếp nhược chẳng còn.
PHẢI
NHỚ … là lời nhắc nhở mỗi khi mình giải đãi đối với
việc tu hành. Đời này khổ nhiều hơn vui, lo nhiều hơn an.
Vui không bao nhiêu mà khổ thì đứt gan đứt ruột, nên nói
ĐẠI KHỔ. Thương thì không được gần, ghét lại cứ chung
chạ, không thứ gì vừa lòng … là những cái khổ về tâm.
Nóng, lạnh, bịnh hoạn, tai nạn, đói khát … là những cái
khổ về thân. CHO NÊN … là kết luận cho cái PHẢI NHỚ vừa
nói : Đời không có gì vui, vì thế cần tinh tấn tu hành để
thoát khổ.
Phải
là việc làm mang lợi ích thiết thực lâu dài cho người mới
gọi là công đức. Có công đức tức cũng lợi mình. Lợi
mình lợi người thì niềm vui tràn ngập, sanh tử tức niết
bàn. Nên nói “SIÊNG TU các công đức, lợi mình lợi người,
chóng lìa các khổ”.
Đây
là cái tinh tấn thứ nhất cần phải thực hành. Kế là những
việc cần tinh tấn khác.
Lại
nữa, nếu có người tuy tu hành tín tâm nhưng do từ trước
đến nay, tạo nhiều ác nghiệp trọng tội, bị tà ma chư
quỉ làm não loạn, hoặc là bị các sự việc ở thế gian
mỗi mỗi kéo lôi trói buộc, hoặc bị bịnh khổ làm bực
phiền … Có rất nhiều sự chướng ngại như thế thì cần
phải dũng mãnh tinh cần, ngày đêm sáu thời lễ bái chư Phật,
thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng bồ
đề thường chẳng bỏ phế, để trừ các chướng, thiện
căn tăng trưởng.
Ngoài
sự tinh tấn đối với việc thiện, ta còn phải tinh tấn
thường hằng lễ Phật, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ và
hồi hướng bồ đề. HỒI HƯỚNG BỒ ĐỀ là để tránh cái
nạn đi lạc. Đi lạc là thay vì tu để thành Phật, mình lại
tắp qua Nhị thừa hay ngoại đạo tà giáo. Nếu hồi hướng
thì sẽ được sự hộ trì của chư Phật. Chư vị Bồ tát
sẽ tạo ra nhiều hạnh duyên giúp mình không rẻ bên này,
không đáp bên kia ... Mình lọt qua Nhị thừa thì chư vị lôi
mình ra. Mình tắp qua ngoại đạo thì chư vị lôi mình về.
Chỉ một Đại thừa không có lối rẽ nào khác.
Các
việc như lễ Phật, sám hối v.v... thì giúp tiêu trừ bớt
những chướng nghiệp của thân và tâm mà mình đã gây tạo
trong quá khứ. CHƯỚNG NGHIỆP là những duyên bên ngoài làm
cản trở việc tu hành của mình. Như bình thường thì không
sao, nhưng cứ tréo chân lên ngồi thiền thì nhức đầu sổ
mũi, còn không thì ngủ gà ngủ gật … Bình thường thì không
có gì xảy ra, nhưng đến ngày giảng pháp thì người thân
bị thế này thế kia, không thể bỏ mặc để đến chùa nghe
pháp v.v... Đều là hình thức của chướng nghiệp. Chướng
thấy thì ngoài tâm nhưng đều do tâm mà ra. Nên cách duy nhất
để trị là ngay tâm mà SÁM HỐI. Sám lỗi trước chừa lỗi
sau thì chướng nghiệp mau tiêu, tín tâm mau phát.
5.
Thế nào là tu hành môn CHỈ - QUÁN? Chỉ là dừng tất
cả tướng cảnh giới, tùy thuận nghĩa quán Samatha. Quán là
phân biệt tướng nhân duyên sanh diệt, tùy thuận nghĩa quán
Tỳbátxána. Thế nào là tùy thuận? Dùng 2 nghĩa ấy dần dần
tu tập chẳng tách lìa nhau nên cả 2 đều hiện tiền.
Đây
là món cuối cùng trong 5 món tu hành. Không có thiền định
thì tâm không thể lóng lặng mà phát niềm tin bất thối đối
với Đại thừa, nên môn CHỈ - QUÁN này là môn quan trọng
nhất trong 5 món.
SAMATHA
là tên khác của CHỈ. Theo định nghĩa đây thì CHỈ là dừng
tất cả cảnh giới. Nghĩa của nó nằm ở chữ DỪNG này.
Dừng nghĩa là không cho nối tiếp. Những gì khởi lên trong
tâm, mình đều dừng và đưa tâm trở về trạng thái KHÔNG
vốn sẵn của nó, gọi là CHỈ. Cảnh giới có thể là cảnh
giới ngoại trần, một trạng thái sân, một trạng thái vui,
một dòng vọng niệm ... Nếu là tu CHỈ thì tất cả những
thứ đó đều không phải là cảnh giới mà mình hướng đến,
nên tất cả đều buông. Tu CHỈ giúp hành giả có định tâm.
Môn QUÁN KHÔNG này thành căn bản trí.
TỲBÁTXANA
là tên khác của quán. QUÁN là quán xét tướng nhân duyên
sanh diệt của vạn pháp, nên nói là PHÂN BIỆT. Pháp tu quán
này giúp hành giả phát tuệ. Môn QUÁN SANH DIỆT này thành
hậu đắc trí.
CHỈ
và QUÁN tuy hành tướng thấy trái nhau nhưng thật là đang
bổ xung cho nhau, giúp hành giả lóng lặng tâm thức mà không
rơi vào chỗ trầm tịch thiếu trí tuệ, nên nói “Dùng 2
nghĩa ấy dần dần tu tập chẳng tách lìa nhau, nên cả 2 đều
hiện tiền”. Đây là lúc định tuệ hiện tiền.
Sau
là nói về pháp tu CHỈ một cách chi tiết.
a.
TU
TẬP CHỈ là, ở chỗ yên tịnh, ngồi ngay thẳng, chánh
ý, chẳng nương hơi thở, chẳng nương hình sắc, chẳng nương
nơi không, chẳng nương đất nước gió lửa … Cho đến,
chẳng nương nơi thấy, nghe, hiểu biết. Tất cả các tưởng
thuộc niệm đều trừ. Cũng bỏ luôn tưởng trừ. Vì tất
cả pháp vốn không có tưởng. Niệm niệm chẳng sanh. Niệm
niệm chẳng diệt. Cũng chẳng được ngoài tâm niệm cảnh
giới, sau lấy tâm trừ tâm. Tâm nếu tán loạn dong duổi thì
phải nhiếp lại, trụ ở chánh niệm. Chánh niệm ấy là,
phải biết chỉ là tâm, không có cảnh giới bên ngoài. Ngay
tâm ấy cũng không có tự tướng, niệm niệm bất khả đắc.
Ở
CHỖ YÊN TịNH là, vì CHỈ là dừng tất cả tướng cảnh
giới, nên việc dứt duyên bên ngoài là cần thiết. Lại,
người mới ngồi thiền, chỗ yên lặng dễ điều tâm. Ngài
Hiền Thủ nói “Ở chỗ yên tịnh là duyên của tu chỉ. Duyên
này nói đầy đủ có 5 thứ. 1/ Ở trong rừng vắng hay những
nơi yên tịnh. 2/ Trì giới thanh tịnh. 3/ Y thực đầy đủ.
4/ Được thiện tri thức dẫn dắt. 5/ Bỏ hết các duyên sự.
Đây chỉ nêu sơ lược nên chỉ nói chỗ yên tịnh”. Căn
cứ đây thì thấy, việc nhập thất của hành giả tu thiền
thuận cho việc tu CHỈ rất nhiều. Muốn thấy tánh không của
vạn pháp thì phải đặt nặng vấn đề tu CHỈ này.
NGỒI
NGAY THẲNG … là nói đến việc điều thân. Thiền sư Đại
Giác nói “Ngồi ngay thẳng chính là kiết già phu tọa của
đức Như Lai thể nhập thật tướng, cũng gọi là ngồi thiền”.
Toàn già là tư thế tốt nhất để điều thân điều tâm,
song cũng có thể là bán già, ngồi xếp chân theo kiểu Nhật,
hay ngồi thẳng trên ghế v.v… Tùy căn nghiệp của mỗi người,
thuận với tư thế nào khiến dễ điều thân, điều hơi thở
thì ngồi. Còn tốt mà không hợp với căn nghiệp của mình
thì thêm chướng thân tâm, cũng thành vô ích. Song với tư
thế nào thì chủ yếu vẫn là ngồi ngay thẳng. NGAY THẲNG
là không được nghiêng bên trái hay bên phải, không được
để lưng cong hay ểnh lưng lên. Cong thì sanh hôn trầm, ểnh
thì sanh bịnh tật. NGỒI thì ít động hơn đi mà tỉnh táo
sáng suốt hơn nằm, nên ngồi. Tư thế thì nhiều nhưng điểm
chủ yếu vẫn là ngồi ngay thẳng, nên đây chỉ nói NGỒI
NGAY THẲNG.
CHÁNH
Ý, đây là phần tu tập để tăng trưởng tín căn Đại thừa,
tức để thấy được nhân Phật tánh, nên những gì hướng
về đó gọi là chánh, những gì ngoài mục đích ấy gọi
là tà. Ngồi thiền với chủ ý lóng tâm để thể nhập lại
Phật tánh của mình, gọi là chánh. Ngồi thiền chỉ với
chủ ý bồi dưỡng cho thân tâm được an lạc, trị bịnh,
xuất hồn du phương v.v… gọi là tà. Ngài Hiền Thủ nói
“Hành giả đời mạt pháp, người có nguyện chánh thì ít,
người cầu tà thì nhiều, phong thái cứ như là tịch diệt
mà thật là cầu danh lợi thế gian. Tâm đã chẳng chánh mà
được định thì không thể có. Lìa cái cầu tà này nên gọi
là chánh ý. Ý MUỐN để việc quán tâm này cùng với LÝ tương
ưng, độ mình và độ người đến đạo vô thượng, gọi
là chánh ý”.
NƯƠNG
HƠI THỞ là chú tâm vào hơi thở, hơi thở đi đến đâu biết
đến đó. Đây là do khi mới tập thiền, vọng tưởng quá
nhiều, cái biết bị lu mờ nên không đủ lực để buông,
thành phải nương theo hơi thở ra vô để bạt đi vọng tưởng.
Đây đã qua giai đoạn này, nên nói KHÔNG NƯƠNG HƠI THỞ.
HÌNH
SẮC là gân, xương v.v… và 4 tướng xanh, vàng, đỏ, trắng.
KHÔNG là hư không, cùng với ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA ... NƯƠNG
là đặt tâm vào những thứ đó. Song tất cả đều là những
thứ có hình tướng và cảnh giới rõ ràng mà CHỈ thì dừng
hết tất cả tướng cảnh giới, nên đây cũng “Không nương
hình sắc, hư không v.v...”
“Không
nương vào THẤY, NGHE, HIỂU BIẾT” không phải là bít hết
các căn, mà thấy nghe vẫn bình thường nhưng không đặt tâm
vào những thứ ấy. Như những điều dạy về tu CHỈ trên,
nếu ngồi thiền mà tâm cứ nhớ nghĩ đến nó rồi suy diễn
tới lui là đang nương vào sự hiểu biết. Nếu đặt tâm
vào thấy nghe hiểu biết như vậy thì chẳng khác việc mình
để tâm duyên theo trần cảnh bên ngoài, tâm không thể định.
Nên cũng không được nương vào những thứ ấy.
“Tất
cả những tưởng thuộc niệm đều trừ, cũng bỏ luôn tưởng
trừ”. TƯỞNG THUỘC NIỆM là chỉ cho tâm vọng tưởng. Ngài
Hám Sơn nói,[38] khi mới dụng tâm thì đề khởi nhất
niệm làm chủ. Do lực quán chiếu của nhất niệm, chỉ cần
thấy được chỗ vọng tưởng sanh thì nhất niệm này chiếu
phá lập tức không để vọng tưởng tương tục. Song vọng
tưởng đã diệt thì nhất niệm này cũng phải bỏ. Vì sao
phải bỏ? Vì tự thể chân như xưa nay ly tướng. Nhất niệm
ấy chẳng qua là thứ đối đãi với vọng tưởng, vì vọng
tưởng mà lập. Duyên khởi với vọng tưởng nên vọng đã
trừ mà cái nhất niệm ấy không bỏ thì nó lại là cái gốc
để trợ cho vọng tưởng sanh khởi. Sở đã hết thì năng
cũng phải trừ, nên nói BỎ LUÔN TƯỞNG TRỪ.
Phân
từng chi tiết như vậy là để hiểu tu CHỈ đúng pháp là
thế nào. Còn khi thực hành, chỉ một việc đơn giản là
: Sau khi đã ổn định tư thế ngồi xong, tất cả những gì
hiện ra trong tâm, là một dòng suy nghĩ hay một hình ảnh nào
đó, là một cơn sân hay một kiến giải hay ho v.v… một khi
BIẾT được sự có mặt của chúng thì không để chúng nối
tiếp. Không có vọng tưởng thì cũng không cần chống cái
biết lên làm gì. Tức có niệm thì có biết, không niệm thì
buông cái biết đi, nhưng đừng để rơi vào hôn trầm. Ngài
Vĩnh Gia nói “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải”. Cái BIẾT ấy
là chỉ cho cái nhất niệm trừ tưởng mà ngài Hám Sơn đã
nói. Thực hành như thế thì vẫn thấy nghe rõ ràng nhưng không
nương vào bất cứ gì như trên đã nói.
“TẤT
CẢ pháp vốn không có tưởng” là nêu lý do vì sao phải
trừ tất cả tưởng. “NIỆM NIỆM chẳng sanh, niệm niệm
chẳng diệt …” vì niệm vốn không thật có, chỉ do bất
giác mà thấy có niệm, tánh của chúng là không. Niệm niệm
chẳng sanh vì sanh mà không có tánh sanh. Niệm niệm chẳng
diệt vì diệt mà không có tánh diệt. Kinh nói “Sanh mà vô
sanh, niệm và vô niệm”.
“
… NGOÀI TÂM niệm cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm” là
một cách dụng công khác. Dùng cái biết để buông vọng tưởng
rồi buông luôn cái biết ấy là do thể tánh chân như vốn
“vô nhất vật”. Vô nhất vật nên phải buông tất cả
để thể nhập lại cái tánh ấy, chứ cái biết ấy không
phải là vọng tưởng. Ngài Hám Sơn nói “Lực quán chiếu
của nhất niệm chẳng thuộc vọng tưởng chuyển”. Nó chính
là dụng Bát Nhã. Còn trường hợp NGOÀI TÂM NIỆM CẢNH GIỚI
đây thì cái niệm cảnh giới ấy lại thuộc vọng tưởng
chuyển (vì duyên với cảnh giới bên ngoài). Dụng tâm như
thế thì chẳng lìa được sanh diệt. Qua nhiều giai đoạn
chỉ thêm nhọc công, nên nói “CHẲNG ĐƯỢC NGOÀI TÂM niệm
cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm”.
“Nếu
tâm tán loạn dong duổi thì phải nhiếp lại trụ ở chánh
niệm”. Ngồi thiền mà suy nghĩ hết chuyện này lại thấy
hình bóng kia, gọi là TÁN LOẠN. Không làm chủ được dòng
vọng niệm mà niệm này cứ nối tiếp niệm kia liên tu bất
tận, gọi là DONG DUỔI. NHIẾP là thâu lại. CHÁNH NIỆM là
“Phải biết chỉ là nhất tâm, không có cảnh giới bên ngoài”.
Như vậy, NHIẾP lại TRỤ Ở CHÁNH NIỆM là buông đi những
gì hiện lên trong tâm để tâm trở về trạng thái vốn không
của nó. Tự thể không của tâm không phải là tướng bị
thấy, nên nói “Ngay tâm ấy cũng không có tự tướng, niệm
niệm bất khả đắc”. BẤT KHẢ ĐẮC là không thể nắm
bắt.
Phần
tu CHỈ trên chủ yếu là cho lúc ngồi. Tuy là nói trong lúc
ngồi nhưng ngồi chỉ là phương tiện trợ giúp, còn tâm được
yên tịnh mới là chính. Nên mọi lời dạy đều đặt nặng
ở tâm, giúp tâm được yên mà không dạy chi tiết các
tư thế ngồi. Phần chánh văn sau là nói về tu CHỈ ngoài
những lúc ngồi. Trong giai đoạn chuyển tiếp này có phần
XẢ THIỀN. Luận đây không nêu. Song đối với người tu,
phần xả thiền này không kém quan trọng, nhưng đa số lại
hay coi thường. Đây nêu thêm để chúng ta nắm vấn đề được
rõ ràng.
Cuốn
Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán của ngài Trí Khải
ghi “Hành giả nếu tọa thiền sắp xong, khi muốn xuất định,
trước nên phóng tâm duyên cảnh khác, kế hả miệng thở
ra. Nhiên hậu nhè nhè động thân, động vai … tất cả đều
phải êm ái, rốt sau lấy tay xoa khắp tất cả lỗ chân lông,
rồi lấy hai tay xoa với nhau cho nóng áp lên hai mắt, sau mới
mở mắt. Đợi sức nóng trong người ra hết mới tùy ý ra
đi. Nếu không như vậy, khi ngồi trụ tâm mà khi xuất buông
xả mau quá thì phần vi tế chưa tan, trụ lại trong thân khiến
người nhức đầu, trăm lóng xương cứng đờ như mắc chứng
phong lao. Về sau trong khi tọa thiền bức rức không yên. Thế
nên muốn xuất định cần phải lưu ý”.
Phần
trên đã nêu bày khá rõ ràng. Đây chỉ nhấn mạnh lại vài
chi tiết quan trọng :
1.
Muốn xả thiền, trước phải ‘Phóng tâm duyên cảnh khác’.
Trước khi xả thiền, mình có phần hồi hướng và tụng Bát
Nhã là chỉ cho phần này.
2.
Khi xả thiền mọi thứ cần phải nhẹ nhàng. Thường khi chúng
ta học tọa thiền, quí Thầy Cô đã chỉ bày thứ lớp cách
xoa xát từ trên xuống dưới. Đây chỉ nói ‘Xoa khắp tất
cả lỗ chân lông’ vì đây chỉ chú trọng đến ý nghĩa
của việc xoa bóp. Xoa bóp là để giúp máu huyết lưu thông
lại bình thường sau khi ngồi yên 1 hay 2 tiếng. Việc xoa bóp
cần sâu vào da thịt nhưng phải chậm rãi nhẹ nhàng, không
nên để người dao động mạnh theo việc xoa bóp. Thường
khi ngồi thiền mà tâm định thì khi xả thiền, mọi động
tác của mình tự nhiên trở nên nhẹ nhàng thong thả. Gấp
gáp náo động là biểu lộ cho một tâm loạn động.
Đối
với người mới tập thiền, chúng ta hay có quan niệm ‘Mới
ngồi chưa có định, cần gì phải kỹ càng’. Song thứ gì
cũng thành thói quen và thành chủng tử trong thức tạng. Chúng
sẽ để lại dấu ấn cho những kiếp sau. Vì thế, dù mới
tập hay chưa được định thì mình cũng cần nắm vững kiến
thức về tọa thiền, cần có một tư thế đúng và xả thiền
trong tư thế xoa bóp nhẹ nhàng. Điều thân có ổn định rồi
thì việc điều tâm mới tốt đẹp.
3.
Xả thiền xong không nên đứng dậy đi liền. Không phải chỉ
sau khi xả thiền, mà ngay cả trước khi ngồi thiền, mọi
thứ cũng cần chậm rãi để hơi thở sâu và điều hòa. Đây
nói nếu đi vội, sức nóng trong người chưa tan thì về sau
ngồi thiền, người sẽ bức rức không yên. Thân không yên
tâm khó định. Cho nên, cẩn thận đối với việc tọa thiền
thì làm ít mà kết quả nhiều. Không cẩn thận thì ngồi
nhiều mà kết quả không có. Ngồi nhiều, ngồi lâu mà tâm
không an định được, có khi vì mình coi thường việc xả
thiền đây.
Sau
là nói về tu CHỈ ngoài những lúc ngồi.
Nếu
khi rời chỗ ngồi, đi đứng tới lui với mọi hành tác, trong
tất cả thời, thường nhớ nghĩ phương tiện, tùy thuận
quan
sát. Tập lâu thành thục thì tâm ấy được trụ. Do được
trụ nên tâm dần dần sắêc bén mà tùy thuận nhập được
chân như tam muội, dẹp sâu phiền não, tín tâm tăng trưởng,
chóng được bất thối. Chỉ trừ người nghi hoặc, không
tin, phỉ báng, bị chướng nghiệp của trọng tội, ngã mạn,
giải đãi. Những hạng người như thế là chẳng thể nhập.
Ngồi
là tư thế thù thắng khiến định tâm dễ đạt, nhưng không
phải vì vậy mà nói đến CHỈ là phải ngồi. Nếu chỉ có
ngồi, thì đối với người tâm chưa vào định không thể
ngồi lâu. Ngồi mà ngủ hay nghĩ hết chuyện này đến chuyện
kia thì dễ, còn ngồi mà dụng công buông bỏ đàng hoàng thì
2 tiếng là nhức mình nhức mẩy khó mà ngồi hoài. Trong khi
quán tâm thì cần miên mật, vì miên mật mới hàng phục được
vọng tâm. Cho nên, chỉ ở tư thế ngồi mới tu thì khó mà
tâm được sáng và thấy được tánh. Nên tu CHỈ không thể
chỉ có trong khi tọa thiền mà phải được áp dụng mọi
lúc mọi nơi. Mọi lúc là TRONG TẤT CẢ THỜI, mọi nơi là
“ĐI, ĐỨNG, TỚI, LUI với mọi hành tác”.
THƯỜNG
NHỚ NGHĨ PHƯƠNG TIỆN, là áp dụng công phu khi tọa thiền
thế nào thì khi đi, đứng, nằm, ngồi cũng áp dụng như thế.
TÙY THUẬN QUÁN SÁT là tùy sự tùy việc mà tu CHỈ kết hợp
với tu QUÁN để cả 2 cùng hiện tiền.
TẬP
LÂU THÀNH THỤC là việc làm này không thể trong một ngày
một bữa mà xong, cũng không thể nay làm, mai nghỉ, mốt làm,
kia nghỉ. Nó đòi hỏi sự kiên trì liên tục. LÂU thì phải
kiên trì. TẬP thì phải mỗi ngày, mỗi buổi … từ ngày
này qua ngày khác như các vận động viên luyện tập thi đấu.
Có vậy thì công phu mới thành thục. THÀNH THỤC, là việc
làm ấy đối với mình bây giờ tựa như việc ăn cơm, uống
nước.
TÂM
ẤY ĐƯỢC TRỤ tức là lúc pháp tu CHỈ đã có tác dụng.
Tâm không còn rong ruổi tán loạn nên nói là TRỤ. Trụ được
thì tâm trở nên sắc bén. SẮC BÉN, là tâm đã có chánh niệm
không để vọng tưởng làm chủ. Như pháp môn BIẾT VỌNG
KHÔNG THEO ta đang áp dụng đây. Thời gian đầu, BIẾT có vọng
để buông rất khó. Biết rồi chưa đủ thời gian để thở
là vọng đã dẫn tới đâu đâu. Phải thực hành một thời
gian dài, cái BIẾT mới có mặt được nhiều. Đến khi dòng
tương tục bị cắt đoạn mới có thể biết được niệm
khi niệm vừa khởi. BIẾT được như vậy gọi là sắc bén.
Niệm
vừa khởi mà giác được thì không có phiền não nên nói
DẸP SÂU. Phiền não là chỉ cho những thứ như lo âu, không
yên, buồn phiền v.v… Nói chung, những thứ gì làm phiền
cái não của mình thì gọi là phiền não. Chẳng hạn, đến
ngày đi chùa người ta mời mọi người, còn mình thì không
thấy nhắc đến. Nếu trong đầu mình khởi lên ý niệm ‘Mình
nghèo nên nó loại mình ra’ rồi buồn phiền nối tiếp nhau
… gọi là phiền não phát sanh. Còn vừa định khởi niệm
mà giác liền không cho khởi nghĩ, hoặc khởi nghĩ rồi mà
biết đó là vọng buông đi, thì buồn phiền không xuất hiện
… gọi là dẹp sâu phiền não.
Ngoài
ra phiền não còn chỉ chung cho kiến và ái. Một khi nhập được
chân như tam muội thì kiến và ái cũng không, nên nói DẸP
SÂU.
Tu
mà phiền não giảm hẳn thì niềm tin đối với chính mình,
với pháp môn, với Thầy Tổ tăng trưởng, nên nói TÍN TÂM
TĂNG TRƯỞNG. Tín tâm tăng trưởng thì việc tu hành không
thể lui sụt nên nói CHÓNG ĐƯỢC BẤT THỐI.[39] Pháp
tu CHỈ này đưa tâm về tình trạng ‘không’ nguyên thủy
của nó, nên nói “TÙY THUẬN nhập được chân như tam muội”.
Bất
cứ ai thực hành đúng pháp tu CHỈ đã nêu đây đều tùy
thuận nhập được chân như tam muội. Chỉ trừ 6 hạng sau
: KHÔNG TIN và PHỈ BÁNG thì không bao giờ áp dụng pháp tu
nên không thể tùy thuận mà nhập được chân như tam muội.
NGÃ MẠN và bị CHƯỚNG NGHIỆP của trọng tội thì không
thể áp dụng pháp tu. GIẢI ĐÃI, NGHI HOAËC thì dù có áp dụng
pháp tu, cũng không tới đâu. Tuy 6 tướng này khác nhau nhưng
cùng được chung một thứ là CHẲNG THỂ NHẬP, là chẳng
thể nhập chân như tam muội.
Lại
nữa, nương nơi tam muội này thì biết pháp giới nhất tướng
- là pháp thân của tất cả chư Phật cùng vớiø thân chúng
sanh bình đẳng không hai - gọi là nhất hạnh tam muội. Phải
biết, chân như là nền tảng của tam muội. Nếu người chịu
tu hành thì dần dần hay sanh vô lượng tam muội.
Đây
là kết quả của pháp tu CHỈ trên. Nhập được chân như
tam muội thì biết được pháp giới nhất tướng nên nói
NƯƠNG NƠI TAM MUỘI NÀY. Nương tam muội này thì thấy pháp
thân chư Phật cùng thân chúng sanh bình đẳng không hai nên
tam muội này còn có tên là NHẤT HẠNH TAM MUỘI.
“PHÁP
THÂN của tất cả chư Phật cùng với thân chúng sanh bình
đẳng không hai” là giải thích PHÁP GIỚI NHẤT TƯỚNG. Ngài
Hiền Thủ nói “Nhập nhất hạnh tam muội thì biết hết
pháp giới nhiều như các sông hằng của chư Phật không có
tướng sai biệt”. Chân như tam muội hay sanh ra vô lượng
tam muội khác nên nói “Chân như là NỀN TẢNG của tam muội”.
Dưới
là nói về ma sự trong khi tu tập CHỈ.
Với
chúng sanh không đủ lực thiện căn thì bị các ma, ngoại
đạo, quỉ thần hoặc loạn. Trong khi ngồi thiền, hoặc hiện
hình làm cho hoảng sợ, hoặc hiện tướng nam nữ đoan chánh
v.v… Phải niệm duy tâm, cảnh giới tự diệt, chẳng thể
làm não loạn.
Đây
là nêu ra những hình thức của ma sự và cách đối trị.
Gọi là ma sự vì những thứ này làm tổn hại đến việc
tu hành thành Phật của người tu.
KHÔNG
ĐỦ LỰC THIỆN CĂN là nguyên do của loại ma sự này. Đây
là trường hợp của người tu còn khí phần ác tập bên trong,
cộng với khí phần thiền định đang huân tập phát ra mà
có những sự này. Nên nói “không đủ lực thiện căn”.
Không
phải người và vật thì gọi là ma, quỉ, thần. Vì những
thứ này hiện ra nhằm phá hoại công phu khiến người tu không
vào được chánh định nên chung nhóm với NGOẠI ĐẠO. Làm
cho tâm không thể an định gọi là HOAËC LOẠN. Có 2 trường
hợp, hoặc là hiện ra những hình thức dễ sợ khiến người
sợ hãi, hoặc là hiện ra những thân tướng đẹp đẽ để
người mê mẫn. Đây là nêu ra ma sự trong khi tọa thiền.
Ngoài lúc tọa thiền mà bị những đối tượng khác làm cho
hoảng sợ hay mê mẫn rồi bỏ công phu tu tập thì với mình,
những đối tượng ấy cũng gọi là ma, quỉ, thần, ngoại
đạo. Nói ma là để mình ý thức mà quay về với sự tu tập
của mình, không phải để mình chưởi người ta là quỉ.
Lại gây thêm khẩu nghiệp.
Cách
đối trị những thứ ấy là phải niệm duy tâm. NIỆM DUY
TÂM là nhớ không có thứ gì ngoài tâm mà có. Vì sao lại
niệm duy tâm? Vì niệm duy tâm để nhớ các hiện tướng ấy
không thật có, chỉ do ảo giác mà ra. Vậy mới không sợ
hãi cũng không đắm trước. Bình thản, giữ vững công phu
thì ma sự mới hết.
Xưa
có vị thiền sư ngồi thiền. Ngồi được một lúc thì thấy
nơi rốn mình có con nhện đen cứ lớn dần và choáng hết
cả người. Ông rất bực mình về con nhện ấy. Một hôm,
ông trình với thầy về việc con nhện rồi thưa với thầy,
đợt ngồi thiền này, ông sẽ thịt con nhện nếu nó xuất
hiện. Thầy khuyên nên lấy bút đánh dấu lên mình nhện,
rồi lần sau hãy giết. Vâng lời, khi nhện xuất hiện ông
đánh dấu lên mình nó. Sau khi xả thiền, thầy trò cùng xem
thì thấy dấu mực ấy nằm nơi rốn ông. Nếu không có thầy
thì vị thiền sư đã tự hại mình. Cho nên, ma cảnh xuất
hiện, nếu không biết duy tâm sở hiện, lại có tâm thủ
xả với nó thì dễ sanh chuyện đáng tiếc.
Hoặc
hiện hình chư thiên, hình Bồ tát, cũng tạo ra hình Như Lai
với đầy đủ tướng tốt ; hoặc thuyết Đà la ni, hoặc
thuyết bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ
; hoặc thuyết bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, không
oán, không thân, không nhân, không quả, rốt ráo không tịch
là chân như niết bàn ; hoặc khiến người biết túc mạng
và những việc đã qua, cũng biết được những việc chưa
đến ; được tha tâm thông, biện tài vô ngại, hay khiến
chúng sanh tham trước danh lợi thế gian.
Những
tướng này rất dễ khiến người đắm trước, vì nó mang
những hình thức Phật pháp. BIẾT TÚC MẠNG là biết về những
việc ở tiền kiếp của mình và người, như đức Phật biết
về vô số kiếp làm Bồ tát của ngài trước kia. ĐƯỢC
THA TÂM THÔNG là có tâm biết được ý nghĩ và tâm trạng
của người khác. BIỆN TÀI VÔ NGẠI là thuyết pháp thì không
chướng ngại, đối đáp nghị luận thì không ai bằng. Được
những thứ này, không ai có thể nghĩ là ma sự. Song thứ gì
cũng thành ma một khi ta thích thú và khởi tâm ngã mạn về
những thứ đó. Chấp thì Phật cũng thành ma. Nên đây nêu
ra để nhắc nhở người tu.
Ngài
Hiền Thủ nói những tướng trên có khi là ma sự nhưng có
khi là do thiện căn khai phát. Ma sự là chỉ cho những tướng
do tưởng mà có hoặc do lòng mong cầu quá mạnh như đi trong
sa mạc mà thấy nước v.v... Thiện căn khai phát là do định
lực, tâm lóng lặng hay hoặc nhiễm mòn mỏng mà có. Song dù
đúng là thiện căn khai phát mà chấp trước thì cũng thành
ma sự. Cái khó là làm sao biết được là do ma làm hay do thiện
căn phát ra. Giản trạch ma hay thiện như vậy vì ngài cho rằng,
nếu do ma làm mà cho là tướng thiện rồi đem tâm thủ trước
thì đọa vào lưới tà. Còn thật là cảnh do thiện căn khai
phát mà cho là ma sự rồi tâm sanh nghi hãi và xả bỏ công
phu thì thối thất thiện căn, việc tu hành thành dang dỡ.
Vì thế, ngài đã nêu ra 3 cách để nghiệm lấy chánh tà như
sau :
1.
Dùng định lực để kiểm nghiệm : Khi đang trong định nếu
những tướng ấy xuất hiện thì không thủ cũng không xả
mà giữ lấy định tâm bình đẳng. Nếu đúng là do thiện
căn khai phát thì định lực càng sâu, tướng thiện ấy càng
phát. Nếu là ma sự thì chẳng bao lâu sau, nó sẽ tự hoại.
2.
Dựa vào pháp tu chính của mình mà trị : Như pháp tu chính
của mình là quán bất tịnh thì cứ y nơi pháp quán bất tịnh
ấy mà nghiệm. Nếu quán như vậy mà cảnh giới kia càng rõ
ràng thì biết là do thiện căn khai phát, còn nếu nó mờ dần
thì biết là ma sự.
3.
Dùng trí tuệ quán sát : Quán cái tướng phát ra ấy và truy
nghiệm căn nguyên của nó. Chẳng thấy chỗ sanh, thấu rõ
không tịch thì tâm chẳng trụ trước. Tà phải tự diệt,
chánh sẽ tự hiển.
Phương
cách được áp dụng trong 3 cách thử trên cũng giống với
cách đối trị được nói ở phần sau, chủ yếu đều là
giữ tâm bất động, không thủ cũng không xả đối với cảnh
giới dù đó là ma sự hay do thiện căn phát ra. Trong kinh Lăng
Nghiêm, cảnh giới của A La Hán và Bích Chi Phật cũng bị
liệt vào ma sự thuộc thức ấm. Liệt vào ma là để hiểu,
cảnh giới ấy chưa phải là cội nguồn chân thật mà chấp
làm chỗ tận cùng thì gọi là ma. Không phải vì chứng được
cảnh giới ấy mà gọi là ma.
“Hay
khiến chúng sanh THAM TRƯỚC DANH LỢI thế gian” cũng là thứ
để phân định các tướng trên thuộc ma sự hay do thiện
căn. Nếu do thiện căn tức thuận với chân như, tướng vô
ngã phải hiển lộ. Còn tham trước danh lợi thế gian là tướng
thuộc vọng tưởng do vô minh làm chủ.
Lại
khiến người chợt giận chợt mừng, tánh tình bất thường
; hoặc nhiều thương yêu, ngủ nhiều, bịnh nhiều, tâm sanh
giải đãi ; hoặc chợt khởi tinh tấn, sau lại bỏ phế, sanh
lòng chẳng tin, nhiều nghi ngờ, nghĩ ngợi, lo toan ; hoặc bỏ
thắng hạnh mà tu các nghiệp tạp nhạp ; hoặc bị pháp thế
gian ràng buộc lôi kéo ; cũng hay khiến người được vài
phần tương tự như tam muội ... đều là sở đắc của ngoại
đạo, chẳng phải là tam muội chân thật. Cũng có khi khiến
người, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày … cho đến bảy
ngày trụ ở trong định, tự nhiên được ăn uống các thứ
thơm ngon, thân tâm vui thích, chẳng đói, chẳng khát, khiến
người ái trước. Hoặc khiến người ăn không có hạn định,
lúc nhiều lúc ít, nhan sắc đổi khác…
“CHỢT
GIẬN, CHỢT MỪNG, tánh tình bất thường” là biểu hiện
cho nội tâm không ổn định. Nước không lặng thì trăng không
hiện. Tâm không ổn định thì trí không phát, tánh không thấy.
“SANH LÒNG CHẲNG TIN, nhiều nghi ngờ, nghĩ ngợi, lo toan”
cũng là những tướng phá hoại định tâm nên đều gọi chung
là ma sự.
NHIỀU
THƯƠNG YÊU, là chỉ cho sự thương yêu mang tính ái dục dính
mắc. Tu là để bớt sự dính mắc mà nay lại sanh nhiều thương
yêu tức đã đi ngược với việc tu hành. “NGỦ NHIỀU, bịnh
nhiều, tâm sanh giãi đãi” là những tướng làm cho sự tu
tập bị đình trệ, nên gọi là ma sự.
“BỎ
THẮNG HẠNH tu các nghiệp tạp nhạp” là, như việc tu hành
của mình là tu để thành Phật, tức lấy việc buông vọng
sáng tâm làm chính, còn việc thiện là phụ để trợ giúp
cho việc tu hành. Với tinh thần đó, việc buông vọng và làm
các việc thiện đều gọi là thắng hạnh. Nếu bỏ việc
buông vọng mà chỉ lấy việc thiện làm sự nghiệp cho qua
một đời tu, thì việc thiện lúc đó gọi là NGHIỆP TẠP
NHẠP, không buông vọng gọi là BỎ THẮNG HẠNH.
“CHỢT
KHỞI TINH TẤN sau lại bỏ phế” là lúc thì tu, lúc thì không.
Hứng chí thì tập trung biết vọng liền một tháng sống dỡ
chết dỡ, rồi sau bỏ mặc mọi thứ, giới cũng chẳng giữ.
Tu kiểu sớm nắng chiều mưa như vậy là việc tối kỵ trong
công phu tu hành, vì tu hành đòi hỏi sự kiên trì, bền bĩ
và thường hằng. Thà chậm mà đi hoài, đi tới đâu chắc
tới đó hơn là làm cái ào rồi bỏ. Thất thường như thế
thì hết 3 a tăng kỳ cũng chưa thành Phật, nên gọi là ma
sự.
“BỊ
PHÁP THẾ GIAN ràng buộc lôi kéo” là, những thứ không cần
thiết cho việc tu hành mà vẫn chui đầu vào đó, gọi là
bị LÔI KÉO. Những thứ không lợi ích cho việc tu hành mà
gở không ra, gọi là bị RÀNG BUỘC. Không bỏ được xem tivi,
không thể thiếu cờ tướng, mê mẫn với những sách báo
của thế gian, vướng vào những việc lặt vặt không cần
thiết trong gia đình … đều là những dạng thuộc “Bị
pháp thế gian ràng buộc kéo lôi”.
“KHIẾN
NGƯỜI ĐƯỢC vài phần tương tự như tam muội” là, tu hành
một thời gian, bỗng nhiên mọi thứ chung quanh đều trở nên
thuận lợi với mình. Vì gặp thuận duyên nên mình đâm ra
an lạc và tự tại với mọi thứ ở thế gian. Sự an lạc
tự tại ấy có là do thuận duyên mà ra, không phải do công
phu thiền định mà được. Đây là ví dụ để tạm hiểu
cái gọi là “tương tự như tam muội”. Thứ gì tương tự
thì không bền vững. An lạc và sự tự tại ấy sẽ mất
khi nghịch duyên xuất hiện. Nó là thứ để đánh giá loại
tam muội mình đạt được đó đúng là tam muội hay chỉ là
tương tự như tam muội. Giống thì giống mà phải thì không
phải nên gọi là ma sự.
ĂN
UỐNG KHÔNG HẠN ĐỊNH là ăn uống không điều độ hoặc
là ăn quá nhiều. NHAN SẮC ĐỔI KHÁC là mặt lúc vui, lúc
buồn, lúc hồng hào, lúc tím ngắt. TRỤ TRONG ĐỊNH có khi
đến 7 ngày, được ăn uống các thứ thơm ngon, không đói
không khát, ngài Hám Sơn gọi đây là tướng của ma dục.
Vì chúng sanh bao đời lấy thực làm mạng, nên sanh nhiều
tham trước đối với thói quen sâu đậm này. Nay tập tu thiền
định, tuy ở trong định mà dục tập đã huân tập trước
đây phát ra khiến người dính mắc. ÁI TRƯỚC là thích thú
tham đắm. Làm bất cứ gì mà tâm dính mắc đều gọi là
ma sự.
Bởi
các nghĩa ấy, hành giả thường nên dùng trí tuệ quán sát,
chớ khiến tâm này rơi vào lưới tà. Phải chuyên cần chánh
niệm, chẳng nắm giữ, chẳng dính mắc thì hay xa lìa các
nghiệp chướng.
Đây
là chỉ bày cách đối trị của tất cả các tướng trên.
“BỞI CÁC NGHĨA ẤY, hành giả …” là vì ma sự đưa đến
việc ái trước và tham danh lợi thế gian, lọt vào lưới
tà, nên hành giả phải dùng trí tuệ quán sát để đừng
rơi vào những chỗ đó. HÀNH GIẢ là chỉ cho người đang
tu thiền định. DÙNG TRÍ TUỆ QUÁN SÁT là phải biết vạn
pháp không ngoài tâm mà có. Nói chung, quán làm sao để tâm
không dính mắc vào những cảnh giới ấy thì gọi là dùng
trí tuệ quán sát. KHÔNG DÍNH MẮC là không thủ cũng không
xả, không ái trước cũng không sợ hãi. Nó có là chuyện
của nó, mình tu là chuyện của mình, bình thản một khi những
tướng ấy xuất hiện. PHẢI CHUYỀN CẦN chánh niệm v.v…
là một cách giúp tâm không dính mắc.
Đây
là kể ra một số ma sự để người tu biết mà tránh. Phần
ngũ ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm nói chi tiết hơn. Song dù là
cảnh giới nào thì người tu chỉ cần nhớ một điều : Bản
tâm vốn thanh tịnh không có cảnh giới có thể thấy. Những
thứ có thể thấy đều do huyễn nhiễm tạo ra nên chúng không
có thật thể, Phật gọi là vọng. Cảnh giới sờ sờ như
thật trước mắt đây còn là vọng, huống là một vài cảnh
giới thoáng qua. Những cảnh giới ấy có khi do tưởng mà
ra nhưng có khi là do định lực mà có. Thấy được những
cảnh giới ấy không lỗi. Lỗi là ở chỗ dính mắc. Dính
mắc theo chiều vơ vào hay đẩy ra cũng đều thể hiện cho
việc coi chúng là thật. Cái không thật mà cho là thật, chưa
phải chỗ cần đến mà đã trụ lại, lỗi là ở chỗ đó.
Vì thế thái độ hợp lý nhất khi cảnh giới lạ xuất hiện
là bình thản. Nó là nó, mình là mình, không có tâm lưu giữ
cũng không có tâm tránh né sợ hãi.
Nên
biết TAM MUỘI CỦA NGOẠI ĐẠO đều chẳng lìa tâm kiến,
ái, ngã mạn nên tham trước danh lợi và sự cung kính ở thế
gian. CHÂN NHƯ TAM MUỘI thì, chẳng trụ Kiến Tướng, chẳng
trụ tướng đắc, cho đến xuất định cũng không giải đãi,
kiêu mạn, phiền não đã có dần dần nhạt mỏng. Nếu các
phàm phu chẳng tập pháp tam muội ấy mà tự cho là nhập chủng
tánh Như Lai thì không có việc này. Vì tu các thiền tam muội
của thế gian thì khởi nhiều tham trước, nương nơi ngã kiến,
ràng buộc trong tam giới, chung cùng với ngoại đạo. Nếu
không có sự giúp đỡ của thiện tri thức thì khởi cái kiến
của ngoại đạo vậy.
Đây
là để phân định giữa chánh định và tà định.
Ngã
ái, ngã kiến, ngã mạn là những thứ thuộc vô minh do vô
minh huân tập mà có, nên thiền định mà những thứ đó phát
triển thì biết loại định mình đang tu đó chẳng chân chánh.
Ngài Hiền Thủ nói “Trong mà dính tà định thì ngoài tham
danh lợi”. Nghĩa là, tu mà thấy lòng tham danh lợi không bớt
thì biết pháp mình đang tu ấy là tà. Vì thế, tập thiền
một thời gian mà sanh ra mê xe hơi, nhà lầu, chùa chiền, tiền
bạc, lại thích mọi người cung kính lạy lễ mình như một
vị Bồ tát, hoặc thích nổi danh v.v… là biết mình đã thành
bà con cháu chít của ngoại đạo. Còn tu một thời gian mà
phiền não dần dần nhạt mỏng, giảm kiêu mạn, không ham
danh, không cầu lợi, cũng không làm biếng v.v… là mình đang
tu đúng, vì những tướng ấy cho thấy mình đang tùy thuận
được với chân như tam muội.
“CHẲNG
TRỤ Kiến Tướng, chẳng trụ tướng đắc” là nói về chân
như tam muội. Ngài Hiền Thủ nói “Ở trong định mà không
đắm trước mùi vị của thiền định. Vì không tâm nên chẳng
trụ tướng thấy. Vì không cảnh nên chẳng trụ tướng đắc”.
CHỦNG TÁNH NHƯ LAI là chỉ cho Phật tánh. Bởi chân như tam
muội thuận với pháp tánh nên muốn thể nhập pháp tánh phải
tu định này.
THIỀN
TAM MUỘI THẾ GIAN là chỉ cho những loại thiền không đặt
mục tiêu đưa con người về vô ngã. Tứ thiền, tứ không,
xuất hồn v.v… đều thuộc loại tam muội này.
THIỆN
TRI THỨC là những vị giúp mình trên con đường tu hành, thường
là chỉ cho vị thầy hướng dẫn pháp tu cho mình. Gọi là
THIỆN vì chư vị dẫn mình đi theo con đường thiện. Theo
đây thì thấy, vị thầy và pháp tu nào giúp mình dừng đi
tham, sân, si, phiền não, ngã mạn thì pháp tu đó thuận với
chân như tam muội, vị thầy ấy là bậc thiện tri thức mà
mình phải thân cận, cung kính, cúng dường, học hỏi và tu
tập. Vì thân cận cúng dường thiện tri thức là nhân duyên
trước tiên để được đầy đủ tất cả trí. [40] Tất
cả trí là chỉ cho trí Nhất thiết chủng của Phật. Học
hỏi và tu tập là nhân duyên kế tiếp để mình có được
cái trí ấy.
“KHÔNG
CÓ SỰ GIÚP ĐỠ của thiện tri thức thì khởi cái kiến của
ngoại đạo” là, vì tinh thần chính của đạo Phật là phá
ngã, nên sự giúp đỡ của một vị thầy trong công phu tu
tập quan trọng không kém so với việc giúp mình có được
kiến thức, pháp tu và hướng đi cho việc tu hành. Muốn phá
ngã thì phải gọt dũa lần cái ngã ấy. Muốn gọt dũa cái
ngã ấy thì phải có duyên, ngã mới có cơ lòi ra để gọt
dũa. Thiện tri thức có thể là người làm cho cái ngã của
mình ló đầu, cũng có thể là người nhắc nhở khuyên răn
mình trong những lúc như thế. Ngã ló đầu, gọi là khởi
cái kiến của ngoại đạo. Không có thiện tri thức thì mình
sẽ để cho cái ló đầu ấy tiếp tục, nên nói “Không có
sự giúp đỡ của thiện tri thức thì khởi cái kiến của
ngoại đạo”.
Người
tu mà tâm càng có nhiều sở đắc thì thiện tri thức lại
càng cần thiết. Sở đắc là chỉ cho những kết quả tốt
trong vấn đề tu hành. Bởi kiêu mạn là thói quen muôn thuở
của chúng sanh, nên sở đắc được chút gì thì lập tức
kiêu mạn ló đầu thông hết các căn. Thiện tri thức sẽ
là người giúp mình lột hết cái kiêu mạn ấy. Kiêu mạn,
gọi là khởi cái kiến của ngoại đạo. Không có thiện tri
thức thì cái kiêu mạn ấy sẽ phát triển, nên nói “Không
có thiện tri thức thì khởi cái kiến của ngoại đạo vậy”.
Ngoài
ra, kinh nghiệm trong vấn đề tu hành là rất cần thiết, nhất
là lãnh vực thiền định. Như trường hợp vị thiền sư
gặp con nhện trên. Không có thầy hay giấu thầy những điều
mình thấy trong quá trình tập thiền ... rất dễ xảy ra chuyện
đáng tiếc. Tu thiền mà điên hay gặp nhiều điều quái lạ
một phần là do thiếu thiện tri thức. Có thiện tri thức
mà không thật tình trình bày hết những khó khăn cũng như
thuận lợi trong việc tu hành cũng coi như thiếu thiện tri
thức. Thiện tri thức tối quan trọng như thế, nên kinh Hoa
Nghiêm nói “Phải cầu cho được chân thiện tri thức. Cầu
thiện tri thức chớ có lười mỏi, thấy thiện tri thức chớ
có nhàm chán. Thiện tri thức có dạy bảo điều gì phải
đều tùy thuận, không có lòng chống trái. Nơi phương tiện
thiện xảo của thiện tri thức chớ thấy lỗi lầm”.
Vì
những yếu tố như tùy thuận, chớ thấy lỗi lầm nơi phương
tiện thiện xảo của thiện tri thức mà cần phải cầu cho
được CHÂN THIỆN TRI THỨC. Ai dạy mình làm lành tránh ác,
biết nhân quả ở thế gian ... nói chung là những việc hướng
thiện, đều gọi là thiện tri thức. Song muốn gọi là CHÂN
THIỆN TRI THỨC thì phải là người giúp mình phá đi ngã tướng,
hướng mình về đạo vô thượng. Vì hạnh nguyện của chư
Phật và chư vị Bồ tát sâu dày trùm khắp nên nếu là người
thật tâm tu hành thì chắc chắn sẽ gặp được chân thiện
tri thức.
Thấy
thiện tri thức CHỚ CÓ NHÀM CHÁN, vì chân thiện tri thức
chỉ có đè bẹp cái tôi của mình chứ không có việc gì
khác, nên gặp hoài mà chưa đủ năng lực buông bỏ cũng ngán
tận cổ, nên khuyên chớ nhàm chán. Không nhàm chán mà tùy
thuận được thì ngã tướng của mình mới được bào mòn.
TÙY THUẬN là ngoài vâng trong thuận. Không phải ngoài thì
gật mà trong cất đó chống đối. Ngoài gật trong chống thì
khó mà gần gũi thiện tri thức lâu dài. Tu tập là nhận ra
điều ấy và quyết tâm tùy thuận để phá ngã.
PHƯƠNG
TIỆN THIỆN XẢO là chỉ cho những pháp mà vị thiện tri thức
áp dụng để phá trừ bản ngã cho mình. Gọi là thiện xảo
vì nó không nhất định ở một tướng nào, nhưng luôn mang
lại lợi ích cho người tu hành. Tùy căn cơ, đối tượng,
tùy lúc, tùy nơi … mà có khi là một lời khuyên nhẹ nhàng,
có khi là một câu nói cộc lốc hay một cơn thịnh nộ, cũng
có khi là một sự im lặng … Lời khuyên nhẹ nhàng là cho
những lúc mà sự nhẹ nhàng có tác dụng mạnh với vấn đề
tu hành của chúng sanh. Song cũng có những đối tượng phải
trợn ngược mắt lên, họ mới chịu dừng chân, bớt tới
bớt lui mà tập trung cho việc tu hành … Tuy 2 hình thức trái
nhau nhưng đều xuất phát từ một lòng bi rộng lớn, giúp
người tinh tấn tu hành. Phương tiện thiện xảo là như thế!
Thấy lời nhẹ nhàng thì chịu mà thấy trợn ngược mắt
lên liền cho ‘Sân quá!’ là mình đã vướng cái lỗi “THẤY
LỖI LẦM nơi phương tiện thiện xảo của thiện tri thức”.
Có cái thấy như vậy vì mình đã bỏ quên phần việc PHẢN
QUAN TỰ KỶ mà nhà thiền đã dạy mình.
Loại
phương tiện thiện xảo này nhiều hình nhiều dạng, cũng
chỉ luôn cho pháp tu mà chư thiện tri thức đã dạy mình.
Lại
nữa, tinh cần chuyên tâm tu học tam muội ấy thì hiện đời
được 10 thứ lợi ích. Thế nào là 10?
1.
Thường được sự hộ niệm của mười phương chư Phật
và Bồ tát.
2.
Chẳng bị các ma ác quỉ làm cho hoảng sợ.
3.
Chẳng bị 95 thứ ngoại đạo quỉ thần hoặc loạn.
NGOẠI
ĐẠO là chỉ cho những tôn giáo không phải là đạo Phật.
Nói cách khác, tôn giáo nào lập giáo không đúng với thật
lý chi phối ở thế gian là Duyên Khởi - mà mặt triển khai
của nó là Nhân Duyên và Nhân Quả - đều coi là ngoại đạo.
95 loại là nói theo kinh Hoa Nghiêm và luận Đại Trí Độ,
chỉ cho ngoại đạo ở Tây Vức. Như ngoại đạo Khổ Hạnh
Luận Sư, đạo này cho rằng chỉ cần tu khổ hạnh thì sẽ
đạt được niết bàn. Ngoại đạo Ma Hê Thủ La Thiên thì
coi Thủ La Thiên là đấng sáng tạo ra muôn loài. Ngoại đạo
Ni Kiền Tử thì cho rằng lúc đầu tiên sanh ra một đôi nam
nữ, rồi đôi nam nữ ấy hòa hợp với nhau mà sanh ra muôn
loài ...
KHÔNG
LÀM HOAC LOẠN vì tu CHỈ thì tâm bớt vọng động, trí tuệ
sáng tỏ, thông tỏ lý Nhân Duyên và Nhân Quả, nên không tin
theo những điều mê tín bất hợp lý. Không tin thì không theo.
Không tin không theo tức không bị những thứ đó làm hoặc
loạn.
4.
Xa lìa sự phỉ báng pháp thậm thâm. Trọng tội và nghiệp
chướng dần dần nhạt mỏng.
5.
Diệt hết nghi ngờ và các giác quán xấu ác. GIÁC, chỉ cho
sự hiểu biết. QUÁN, đồng nghĩa với quan niệm.
6.
Đối với cảnh giới của chư Như Lai, lòng tin được tăng
trưởng.
7.
Xa lìa buồn rầu hối hận, ở trong sanh tử mà dũng mãnh,
chẳng khiếp sợ.
8.
Tâm được nhu hòa, xả bỏ kiêu mạn, chẳng bị người khác
làm cho phiền não.
9.
Tuy chưa được định, nhưng trong tất cả thời, tất cả
chỗ cũng giảm bớt được phiền não, chẳng còn ưa thích
thế gian.
10.
Nếu được tam muội thì chẳng bị ngoại duyên và tất cả
âm thanh làm cho kinh động.
Đây
là 10 thứ lợi ích mà người tu có được khi học pháp tam
muội này, mà bước đầu là pháp tu CHỈ trên.
Sợ
hãi, lo âu, nghiệp chướng, trọng tội, phiền não, kiêu mạn
v.v… chẳng qua đều từ thức phân biệt mà ra. Do phân biệt
mà có thân có sơ, có ta có người … từ đó mà sanh kiến
ái. Có ái nên sanh sợ sanh lo. Ái thân thì sợ bất cứ thứ
gì làm hại đến thân. Ái người thì lo mất người … Vì
ái mà tạo nghiệp chịu khổ trong 3 đường dữ. Nay tu CHỈ,
tùy thuận với chân như tam muội thì phân biệt mòn dần,
vô phân biệt dần dần hiện tiền nên các thứ trên cũng
giảm dần. Được tam muội thì không bị ngoại duyên và âm
thanh làm động cũng là thứ để mình đánh giá về công phu
tu tập của mình.
Sau
là phần tu tập QUÁN.
b.
TU TẬP QUÁN
Lại
nữa, nếu người chỉ tu CHỈ thì tâm bị chìm lặng, hoặc
khởi giải đãi chẳng thích các việc thiện, xa lìa đại
bi, nên cần tu QUÁN.
Đây
là lý do vì sao cần phải tu QUÁN. Người nào có kinh nghiệm
về việc này sẽ thấy cái đúng của lời dạy đây. Tu CHỈ
là nhiếp tâm không cho sanh khởi nên tu một thời gian thì
hay bị tình trạng CHÌM LAËNG này. Cái dỡ thứ hai của việc
chỉ tu CHỈ là đối với việc thiện hay sanh tâm biếng nhát.
Đó là do tu CHỈ thì thâu nhiếp thân tâm vào chỗ tịnh. Tịnh
thì khiến thân tâm được yên ổn, an lạc. Làm thiện thì
phải tiếp duyên, thân tâm động trở lại nên thấy ngán.
Thứ gì ngán thì đâm nhát. Việc THIỆN là việc làm lợí
ích cho tha nhân, nên nói XA LÌA ĐẠI BI.
Tu
tập QUÁN là, nên quán tất cả pháp hữu vi ở thế gian không
có gì lâu bền, biến hoại trong giây lát, tất cả tâm hành,
niệm niệm sanh diệt, vì vậy nên khổ. Nên quán các pháp
niệm được ở quá khứ chợt thoáng như giấc mộng. Nên
quán các pháp niệm được ở hiện tại giống như ánh chớp.
Nên quán các pháp niệm được ở vị lai giống như mây bất
chợt mà khởi. Nên quán ở thế gian, thứ gì có thân thảy
đều bất tịnh, mọi thứ đều ô uế, không một thứ gì
đáng ưa thích.
Như
vậy, phải nhớ tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay đều
nhơn nơi sự huân tập vô minh khiến tâm sanh diệt, đã thọ
tất cả vạn khổ của thân tâm. Hiện tại thì có vô lượng
bức bách. Vị lai, cái khổ cũng không hạn định. Khó xả
khó lìa mà chẳng giác biết. Chúng sanh như thế rất đáng
thương xót!
Đây
là cách chỉ bày tu QUÁN. Tu tập CHỈ thì niệm thiện niệm
ác gì, trồi đầu lên đều buông. Tu tập QUÁN thì vẫn cho
khởi niệm, nhưng là cái niệm đúng với sự thật ở thế
gian, giúp người tu buông được sự dính mắc. Phương thức
thấy như trái nhau nhưng lại làm thành cho nhau. Nhờ QUÁN mà
CHỈ thành. Nhờ CHỈ mà QUÁN thành.
Pháp
QUÁN này có nhiều thứ : QUÁN VÔ THƯỜNG, là khởi niệm thấy
các pháp ở thế gian không có gì thường hằng, giây lát đã
biến hoại. QUÁN KHỔ, vì tất cả vô thường sanh diệt sanh
diệt nên khổ. QUÁN VÔ NGÃ là quán các pháp không có tự
tánh, chỉ như giấc mộng, mây trôi, sấm chớp, thoạt có
thoạt không. QUÁN BẤT TỊNH là quán thân này ô uế nhơ nhớp
để khỏi dính mắc vào thân này. QUÁN ĐẠI BI là quán chúng
sanh bị vô minh dẫn chạy trong các đường khổ. Cái bất
tịnh cho là tịnh, cái khổ cho là vui, nên không bao giờ thoát
được khổ. Ngài Hám Sơn nói “Vì chẳng biết khổ nên không
có tâm chán khổ. Bởi cớ sự ấy mà cái khổ không có hạn
định. Đây mới là chỗ đáng thương xót! Nếu chẳng phải
là lòng bi rộng lớn thì chẳng thể cứu được”. Cái QUÁN
này giúp người tu dù được niết bàn của Nhị thừa cũng
không trụ đó mà trải dài sanh tử bạt khổ cho chúng sanh.
Còn
nhiều pháp QUÁN khác như QUÁN HUYỄN, QUÁN VỌNG v.v… Quán
có nhiều thứ như thế là do tùy bịnh, tùy cơ của chúng
sanh mà lập. Song tựu trung đều giúp người tu buông bỏ sự
dính mắc trở về bản tâm thanh tịnh của chính mình.
Suy
nghĩ vậy rồi thì nên dũng mãnh lập đại thệ nguyện : Nguyện
cho tâm tôi lìa phân biệt, trải khắp mười phương tu hành
tất cả các thiện công đức. Tận đến vị lai, dùng vô
lượng phương tiện cứu vớt và làm vơi đi tất cả khổ
não cho chúng sanh, khiến họ được cái lạc bậc nhất của
niết bàn.
SUY
NGHĨ VẬY RỒI, tức khởi những cái niệm đã nói trên. ĐẠI
THỆ NGUYỆN là chỉ cho việc phát tâm bồ đề. Đại nguyện
này có 2 : Một thuộc tự lợi là cầu Phật trí, một thuộc
lợi tha là nguyện độ chúng sanh không nhàm mỏi. “Tâm tôi
LÌA PHÂN BIỆT trải khắp mười phương tu hành tất cả các
thiện công đức” là cầu Phật trí. “Tận đến vị lai,
dùng vô lượng PHƯƠNG TIỆN CỨU VỚT và làm vơi đi mọi
khổ não cho chúng sanh …” là nguyện độ chúng sanh. Phải
đủ 2 nguyện này mới có thể hoàn thành Phật đạo.
Nguyện
tâm tôi LÌA PHÂN BIỆT vì thức phân biệt là đầu mối của
mọi khổ não, phân cách, vô minh … đã giải thích rõ trong
phần Nhân Duyên Sanh Diệt, mục ý thức. Lìa phân biệt thì
người với ta không khác, thân với sơ không khác … việc
lợi ích cho chúng sanh mới được trọn vẹn.
Dùng
vô lượng PHƯƠNG TIỆN cứu vớt … là dùng các pháp bố
thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự, tùy căn nghiệp của
chúng sanh mà ứng hiện để giúp họ thoát khỏi 3 đường
dữ và hướng họ về đạo vô thượng.
Được
CÁI LẠC BẬC NHẤT của niết bàn là nhân duyên thứ nhất
khiến bộ luận xuất hiện. Nó chính là cái lạc rốt ráo,
chỉ cho cái lạc có được ở quả vị Phật.
Do
khởi nguyện như vậy nên trong tất cả thời, tất cả chỗ,
tùy sức kham nhận của mình mà giữ các điều thiện, chẳng
bỏ việc tu học, tâm không giãi đãi.
Phát
nguyện rồi thì phải tinh tấn tu học. Tinh tấn tu học như
thế nào?
Chỉ
trừ thời tọa thiền là chuyên niệm nơi CHỈ, còn tất cả
thời còn lại đều phải QUÁN cái gì nên làm, cái gì không
nên làm. Hoặc đi, hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc dậy đều
nên cùng hành CHỈ - QUÁN. Nghĩa là, tuy niệm các pháp tự
tánh chẳng sanh mà cũng tức là niệm nhân duyên hòa hợp,
nghiệp thiện ác và quả báo khổ vui chẳng mất, chẳng hoại.
Tuy niệm nhân duyên quả báo thiện ác mà cũng tức là niệm
tánh bất khả đắc.
CHỈ
và QUÁN đều tu nhưng đầu tiên có sự phân chia. Chỉ tập
trung tu CHỈ trong khi tọa thiền, còn khi không tọa thiền thì
dùng QUÁN. CHỈ đã nói ở phần trên. QUÁN là dùng trí tuệ
để hiểu thứ gì nên làm, thứ gì không nên làm. THỨ NÊN
LÀM là những việc thuận với tịnh và thiện, THỨ KHÔNG
NÊN LÀM là những thứ thuận với động và bất thiện. Chẳng
hạn, đi đông đi tây lo chuyện tào lao vừa biểu hiện một
cái tâm không yên, vừa làm cho thân tâm càng động thì cố
gắng bớt đi, tập trung cho việc tu hành. Đó là việc nên
làm. Đấu tranh kiện cáo đến nỗi lỗ đầu sức trán vì
tiền bạc hay chùa chiền của mình là biểu hiện cho việc
mình coi những thứ đó không như giấc mộng, ánh chớp, mây
trôi mà đều coi chúng có ngã. Đây là điều trái lại với
lời dạy mà luận vừa nêu trên, nên đều thuộc những việc
không nên làm. Cái nên làm thì làm, cái không nên làm thì
đừng làm. Tu QUÁN là như thế. Không thực hiện được tinh
thần này thì không phải là tu QUÁN. Không CHỈ không QUÁN
vì không có niềm tin chân chánh cũng không thể phát niềm
tin chân chánh.
Sau
là cùng hành CHỈ - QUÁN trong tất cả thời, tất cả chỗ.
Đây là lúc CHỈ - QUÁN đã thuần thục, gọi là định tuệ.
Ngài Hiền Thủ nói “‘Niệm các pháp tự tánh chẳng sanh’
là nói về cái chẳng phải có, để rõ về CHỈ. ‘Nhân duyên
hòa hợp, niệm thiện ác khổ vui chẳng mất, chẳng hoại’
là nói về cái chẳng phải không, để rõ về QUÁN. Hai thứ
này chẳng phải là 2 nên nói là TỨC. Đây là thuận với
cái chân bất động mà kiến lập các pháp. Vì ‘chẳng phải
có’ tức ‘chẳng phải không’ nên có thể không bỏ CHỈ
mà tu cả QUÁN. ‘Tuy niệm nhân duyên quả báo thiện ác mà
cũng tức là niệm tánh bất khả đắc’ là để rõ ngay QUÁN
là CHỈ. Đây là thuận với giả danh chẳng hoại mà nói về
thật tướng vạn pháp. Vì ‘chẳng phải không’ tức ‘chẳng
phải có’ nên có thể không bỏ QUÁN mà tu cả CHỈ. Nói
thì thấy có trước sau như vậy, khi hành thì dung hợp chẳng
phải hai. Tánh của cái không hai này chính là thật tánh”.
Phân
CHỈ phân QUÁN là để nắm vấn đề, còn ngay khi tu CHỈ vẫn
cần đến pháp QUÁN rất nhiều. Đó là những lúc mà niệm
buông hoài không được. Ngồi thiền mà những chuyện đau
lòng cứ hiện hình, hoặc một cơn sân đè hoài không xuống
thì mình phải quán. Quán thế gian này có gì lâu bền mà sân
hận đau lòng, hoặc quán từ bi để giảm cơn sân hận. Cũng
có thể quán tất cả đều từ không biến hiện, rồi cũng
trở về không. Hay quán tất cả chỉ là vọng v.v… Pháp quán
nào khiến mình hạ hỏa, yên tịnh … thì pháp quán ấy đúng
duyên, mình cứ áp dụng. Nhưng phải nhớ, đã nói là đúng
duyên, tức pháp quán là thứ tùy duyên không cố định. Như
quán từ bi có tác dụng làm giảm sân hận nhưng lại có chiều
hướng ngược lại với ái dục. Với ái dục phải quán bất
tịnh. Đó gọi là đúng duyên. Ngoài ra, một khi đã nói đến
2 chữ tùy duyên thì đối với mình nó có tác dụng nhưng
đối với người khác thì chưa chắc, đối với thời trước
có tác dụng nhưng đối với thời này không hẳn. Nói vậy
để đừng dính mắc vào pháp tu, đừng có tâm ôm đồm mọi
thứ và một khi hết bịnh thì pháp cũng phải buông, không
nên thủ chặt mà sanh bịnh.
Pháp
môn BIẾT VỌNG KHÔNG THEO mình đang tu tập đây là một loại
CHỈ - QUÁN song hành. Biết tất cả là vọng chính là QUÁN,
không theo hoặc buông đi chính là CHỈ. Nói đúng hơn, biết
vọng chính là tuệ, không theo tức là định. Nếu không phải
là cái thấy của tuệ, không thể thấy được vạn pháp là
vọng. Không phải là lực của định thì khó mà không theo.
Khi mới tập tu, biết vọng trở thành phép QUÁN các pháp là
vọng. Quán được thì buông được, đó là CHỈ.
Tu
CHỈ là để đối trị tâm trụ trước của phàm phu, xả
bỏ cái thấy khiếp nhược của Nhị thừa. Tu QUÁN là để
đối trị cái tâm hẹp hòi yếu kém chẳng khởi đại bi của
Nhị thừa, xa lìa việc chẳng tu thiện căn của phàm phu. Do
nghĩa như vậy nên 2 môn CHỈ - QUÁN nương cộng nhau mà thành,
chẳng tách lìa nhau. Nếu CHỈ - QUÁN không đủ thì không thể
nhập đạo bồ đề.
Đây
là nêu ra tác dụng của CHỈ và QUÁN. Như có bịnh mà uống
thuốc, thì thuốc phải có tác dụng trị bịnh, bịnh mới
lành. Nêu tác dụng của CHỈ và QUÁN cũng có nghĩa là nêu
lên những thiếu sót khiến phàm phu và Nhị thừa không có
được trí tuệ và lực dụng như Phật.
1.
Với phàm phu
Pháp
tu CHỈ có tác dụng “đối trị tâm trụ trước”, còn tu
QUÁN có tác dụng đối trị “việc chẳng tu thiện căn”.
ĐỐI TRỊ, nghĩa của nó như từ trị bịnh. Có bịnh thì
có thuốc rõ ràng. Không bịnh thì không dùng thuốc. Đối
trị là như vậy. Nó mang tính tạm thời. TRỤ TRƯỚC, là
trụ trước vào các pháp ở thế gian. Đây là âm Hán, còn
nghĩa của nó tương đương với từ dính mắc hay tham đắm
... Những gì khiến mình để tâm không buông ra được gọi
là trụ trước. Gọi là TRỤ vì tâm vốn vô trụ, nay do đắm
trước các tướng mà thành có trụ, nên nói là ‘trụ trước’.
CHỈ là dừng tất cả tướng cảnh giới, tức đưa tâm về
chỗ vô trụ, nên có tác dụng trị bịnh TRỤ. Dừng tất
cả tướng cảnh giới thì không có cảnh giới để tham đắm,
nên trị bịnh TRƯỚC.
QUÁN,
là niệm “Nhân duyên hòa hợp, niệm khổ, vui, thiện, ác
... chẳng hoại, chẳng mất”. Nghĩa là, tuy vạn pháp không
tánh, nhưng tỉnh thì sanh tử tức niết bàn mà mê thì khổ
đau không phải hạnh phúc. Chưa kể nghiệp nhân một khi đã
gây thì nghiệp quả lại phải gặt. Cho nên, tuy thấy các
pháp là không, nhưng không vì thế mà buông xuôi không làm
thiện. Nhờ đó, pháp tu quán này có thể đối trị việc
chẳng tu thiện căn của phàm phu.
2.
Với Nhị thừa
Tu
CHỈ là nhiếp tâm trụ ở chánh niệm. “Chánh niệm là, phải
biết chỉ là nhất tâm không có cảnh giới bên ngoài”. Nghĩa
là, sanh tử đáng sợ hay niết bàn đáng ưa đều không ngoài
tâm mà có, cũng đều là mộng huyễn. Mộng huyễn thì không
có gì để khiếp sợ. Vì thế nói “Tu CHỈ để xả bỏ
cái thấy khiếp nhược của Nhị thừa”.
Tu
QUÁN là quán chúng sanh từ xưa đến nay thọ tất cả vạn
khổ của thân tâm ... khó xả, khó lìa mà chẳng giác biết.
Thật là đáng thương xót! Nên khởi tâm đại bi, trải dài
sanh tử giúp họ vơi đi khổ nạn ở thế gian. Cái quán này
giúp Nhị thừa dù đủ khả năng trụ niết bàn vẫn trải
dài sanh tử không nhàm mỏi, nên nói “Đối trị tâm hẹp
hòi yếu kém chẳng khởi đại bi của Nhị thừa”. Chỉ nghĩ
đến niết bàn cho riêng mình nên nói HẸP HÒI. Vì sợ hãi
sanh tử nên nói là YẾU KÉM.
CHỈ
- QUÁN nói đây giúp người tu không rơi vào phàm phu cũng không
rơi vào Nhị thừa mà tiến đến giác ngộ viên mãn, nên chúng
không thể tách lìa nhau. Nếu chỉ thực hành CHỈ hay QUÁN
đều không thể thành Phật.
Phần
sau là nói về pháp môn niệm Phật.
Lại
nữa, chúng sanh mới học pháp này muốn cầu chánh tín, song
tâm còn khiếp nhược - do sợ trú ở thế giới Ta Bà này,
chẳng gặp được Phật thường xuyên để thân cận cúng
dường, sợ tín tâm khó mà thành tựu, nên ý muốn thối lui
- thì phải biết, Như Lai có nhiều phương tiện thù thắng
nhiếp hộ tín tâm. Đó là dùng nhân duyên Ý CHUYÊN NIỆM PHẬT,
tùy nguyện được sanh về cõi Phật ở phương kia, thường
thấy chư Phật, lìa hẳn ác đạo. Như trong Tudala nói “Nếu
người chuyên niệm đức A Di Đà ở thế giới Tây phương
cực lạc, thiện căn tu được đều hồi hướng nguyện cầu
sanh về thế giới ấy thì liền được vãng sanh, thường
thấy được Phật, rốt cuộc chẳng còn thối lui. Nếu quán
pháp thân chân như của Phật kia, thường chuyên cần tu tập,
cuối cùng sẽ được sanh ra trụ ở chánh định.
Ngoài
pháp tu CHỈ - QUÁN trên, còn một pháp có thể giúp chúng ta
phát khởi niềm tin chân chánh đối với Đại thừa, đó là
Ý CHUYÊN NIỆM PHẬT. Môn này dành cho những vị sợ tín tâm
của mình khó có thể thành tựu ở thế gian này, muốn về
cõi cực lạc của đức A Di Đà. Đây là mượn duyên bên
ngoài để được bất thối. Như ngoài thế gian thì duyên
nhiều khó làm chủ bản thân, nên mượn duyên trong chùa để
có thể ổn định thân tâm tu hành.
Ngao
ngán với những mất mát, nạn tai, đau khổ ở thế gian, nhưng
chưa đủ niềm tin đối với tự tánh chân như của mình mà
chỉ một lòng muốn về nương đức Di Đà là điều kiện
để biết mình có duyên với pháp môn niệm Phật đây. Khế
cơ mà khế lý thì việc tu tập mới thành công.
Ý
CHUYÊN NIỆM PHẬT thì việc niệm Phật này phải được thực
hiện bằng Ý chứ không phải chỉ bằng miệng, bằng mắt
hay bằng mũi. Cảnh giới ngạ quỉ, súc sanh hay địa ngục
đều do ý khởi tham hay sân mà ra. Vì thế muốn là cảnh giới
Phật thì ý cũng phải là Phật. CHUYÊN nghĩa là không gián
đoạn. Niệm này nối tiếp niệm kia sao cho niệm trước là
Phật thì niệm sau cũng là Phật. Cứ vậy mà liên tục từ
giây này qua giây kia, từ lúc này đến lúc khác, bất cứ
khi nào và bất cứ ở đâu. NIỆM PHẬT, Tổ thứ 13 của Liên
Tông là Đại sư Ấn Quang đã phân thành 3 pháp là chuyên niệm
tự lực, chuyên niệm tha lực và tự tha đều niệm (tức
thiền tịnh song tu). Phần này sẽ trích dẫn đầy đủ sau
khi giải thích hết ý nghĩa của phân đoạn này.
“QUÁN
PHÁP THÂN CHÂN NHƯ của Phật kia … cuối cùng sẽ sanh ra trụ
ở bất thối” là muốn nói đến sự bất thối ở tự thân
không nhờ duyên bên ngoài. Như điều kiện sống ở tùng lâm
khiến con người không thể bị ô nhiễm gọi là nhờ duyên
bất thối. Sống ngay trong trần gian với đầy đủ các pháp
ô nhiễm nhưng mình không bị ô nhiễm, gọi là bất thối
ở tự thân. Bất thối ở tự thân có 2 hạng. Hạng thứ
nhất là chỉ cho những vị đã thấu hiểu về pháp thân,
tuy chưa chứng thực nhưng đủ niềm tin tin tâm mình là Phật,
ngoài tâm không có pháp. Hạng thứ hai là chỉ cho các vị
đã chứng thực được pháp thân, tức từ Sơ Địa trở đi.
CHÁNH ĐỊNH, đối với hạng thứ nhất là chỉ cho chánh định
tụ, đối với hạng thứ hai là chỉ cho chân như tam muội.
Theo
Tổ Ấn Quang, NIỆM PHẬT có 3 pháp :
1.
Chuyên niệm Phật tự lực là, cùng tột thật tướng, lấy
việc chứng ngộ làm gốc. Đối với các pháp như 5 ấm, 6
nhập, 12 xứ, 7 đại v.v… dùng trí tuệ Bát Nhã chiếu soi,
thấu rõ tất cả pháp xưa nay đương thể toàn không, thấy
được tánh chân như vi diệu tròn đầy … Đây gọi là thật
tướng niệm Phật. Thật tướng niệm Phật này tuy là thật
lý tối thâm song lại chẳng dễ tu, vì chỉ nương nhờ vào
giới định tuệ của chính mình, không có sự trợ giúp của
tha lực. Nếu chẳng phải là người có sẵn căn duyên đời
trước thì hội nó còn chẳng dễ huống là thực chứng. Xem
nội dung lời dạy đây thì phần này tương đương với Thiền
tông.
2.
Chuyên niệm Phật tha lực, có 3 thứ :
a.
QUÁN TƯỞNG, là nương theo kinh Thập Lục Quán mà quán : Hoặc
chuyên quán tướng lông trắng, hoặc quán pháp thân rộng lớn
v.v... Quán đến đầy đủ 16 thứ quán.
b.
QUÁN TƯỢNG, là đối trước hình tượng Phật mà tưởng
về tướng hảo quang minh của Phật v.v...
c.
TRÌ DANH, là nhất tâm xưng niệm hiệu A Di Đà.
3 pháp
này tuy hình thức thực hành không giống nhau nhưng đều có
chung một điểm là phải đầy đủ lòng tin chân thành và
ước nguyện thiết tha mới có thể cùng Phật cảm ứng đạo
giao, mới có thể quyết định được hiện đời ra khỏi
Ta Bà mà sanh về Cực Lạc.
3.
Pháp tự tha đều niệm, còn gọi là thiền tịnh song tu, đặt
nền tảng trên việc chuyên khán “Niệm Phật đó là ai?”
cốt để minh tâm kiến tánh, chẳng dùng tín nguyện cầu sanh
Tây phương làm sự nghiệp. Đã không có tín nguyện thì không
thể nương vào tha lực mà vãng sanh Tây phương. Chưa đến
được chỗ nghiệp hết tình không thì cũng không thể nương
vào tự lực mà liễu thoát sanh tử. Vì thế, với pháp thiền
tịnh song tu này, chỉ có người tín nguyện đã đầy đủ
mới có lợi ích. Còn không thì chẳng bằng hết lòng với
một môn trì niệm danh hiệu Phật.
Trong
3 pháp niệm Phật trên thì Ý CHUYÊN NIỆM PHẬT chính là pháp
chuyên niệm Phật tha lực, là nương vào sự chuyên cần niệm
Phật và ý nguyện thiết tha gặp Phật. Nhờ tha lực ấy vãng
sanh Tịnh độ Tây phương.
Ngài
Ấn Quang nói : Pháp TRÌ DANH hạ thủ công phu dễ nhất mà
thành công mau nhất. Nếu thâu nhiếp 6 căn, tịnh niệm được
liên tục thì ngay đời này sẽ chứng được niệm Phật tam
muội. Khi lâm chung nhất định vãng sanh thượng phẩm. Dù
căn cơ có hạ liệt, chưa chứng được tam muội mà dùng tín
nguyện trì danh hiệu Phật như con nhớ mẹ không gián đoạn,
thì đến khi lâm chung, cảm ứng đạo giao, nương nhờ từ
lực của Phật theo nghiệp vãng sanh. Nếu chí tâm trì niệm,
niệm đến toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, ngoài tâm
không có Phật, ngoài Phật không có tâm, không niệm mà niệm,
niệm mà không niệm, tâm Phật cả hai cùng rõ rệt, rồi cả
2 cùng mất, thì diệu lý thật tướng chân thể hiển lộ.
Ngay đó Tây phương hoàn toàn tròn sáng. Đây là trì danh mà
thâm đạt thật tướng, chẳng phải dùng quán mà tự thấy
Tây phương. Nhiếp cơ rất rộng, lợi ích rất nhiều, rất
hợp với kẻ độn căn thời mạt pháp.
Về
cách hành trì, ngài dạy : Mỗi người tùy vào thân phận của
mình mà lập, chẳng thể cố chấp cố định vào một pháp
nào. Từ sáng đến chiều, đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín,
động, tịnh, mặc áo, ăn cơm, đi tiêu, đi tiểu … chỉ một
thánh hiệu ấy không cho lìa tâm và miệng. Nếu như ở chỗ
thanh khiết thì niệm ra tiếng hay niệm thầm thầm đều được.
Còn khi ngủ, nghỉ, tắm, rửa, đi tiêu, đi tiểu cho đến
những nơi không được sạch sẽ thì chỉ nên niệm thầm
thầm, vì niệm thầm thì công đức cũng vậy. Niệm ra tiếng
thì không được cung kính nên không niệm ra tiếng, chứ không
phải ở những nơi đó không được niệm Phật. Lại, khi
ngủ mà niệm ra tiếng ngoài việc không cung kính còn bị tổn
khí.
Phương
pháp hay nhất của việc trì danh là thâu nhiếp toàn bộ 6
căn, tịnh niệm liên tục. Thâu nhiếp toàn bộ 6 căn là tâm
niệm Phật. Chuyên chú nơi danh hiệu Phật tức nhiếp được
ý căn. Miệng phải niệm rõ ràng mạch lạc là nhiếp được
thiệt căn. Tai cần nghe rõ ràng rành mạch là nhiếp được
nhĩ căn. Ba căn này đã bị nhiếp bởi danh hiệu Phật thì
nhãn căn quyết chẳng thể có cái nhìn tạp loạn, tức mắt
cũng được nhiếp. Tỷ căn chẳng thể có cái ngửi tạp loạn,
tức mũi cũng được nhiếp. Khi niệm Phật, thân phải đoan
nghiêm nên thân cũng được nhiếp. 6 căn đã nhiếp thì tâm
không có vọng niệm, chỉ lấy Phật làm niệm, nên là tịnh
niệm. 6 căn nếu chẳng nhiếp thì tuy là niệm Phật mà trong
tâm vẫn đầy dẫy vọng tưởng, khó mà được lợi ích thiết
thực.
Một
câu A Di Đà Phật miên miên mật mật luôn thường nhớ niệm.
Phàm có những niệm như háo thắng, giận dỗi … bất ngờ
manh động thì phải suy nghĩ “Ta là người niệm Phật, sao
có thể khởi các niệm này?” Niệm khởi liền ngừng, lâu
ngày thì tất cả những thứ niệm khiến ta lao thần tổn
thân ấy đều không thể khởi. Do công đức bất khả tư
nghì của Phật gia trì, chưa quá 10 ngày sẽ thấy rất hiệu
nghiệm. Nếu thỉnh thoảng niệm một câu, hai câu mà muốn
hiệu nghiệm ngay là tự dối mình dối người. Tuy vẫn có
công đức nhưng khỏi bịnh thì chẳng thể được.
Khi
niệm Phật cần chí thành. Niệm Phật mà tâm chẳng thể qui
nhất là do đối với sanh tử tâm chẳng thiết tha. Nếu có
ý tưởng sắp bị dầu sôi lửa bỏng chẳng thể cứu viện
thì tâm tự qui nhất. Khi trong tâm bỗng khởi lòng thương
xót thì phải biết đó là do thiện căn khai phát nhưng không
nên nuôi dưỡng tình trạng ấy, nếu không sẽ vướng vào
ma bi. Phàm có việc gì thích ý cũng chẳng nên vui lòng, không
sẽ vướng vào ma vui.
Khi
niệm Phật, hai mắt cần buông xuống, không nên đề thần
quá sức đến nỗi tâm bốc hỏa sanh nóng nảy. Nếu đỉnh
đầu phát ngứa, đau nhức hay có các thứ bịnh khác thì cần
điều hòa bên trong sao cho thích hợp để không bịnh hoạn.
Khi niệm ra tiếng cũng không nên niệm quá sức.
Bịnh
cùng ma đều do nghiệp đời trước gây nên, chỉ cần chí
thành khẩn thiết niệm Phật thì bịnh tự khỏi, ma sự tự
lìa. Nếu chẳng chí thành hoặc khởi tà niệm thì tâm đọa
trong sự u tối, ma quỉ ắt quấy nhiễu. Vào lúc niệm Phật
xong, khi hồi hướng thì nên vì tất cả những oan gia trong
quá khứ mà hồi hướng, khiến mọi loài đều nhờ vào sự
lợi ích niệm Phật của mình mà siêu sanh vào đường lành.
Niệm
Phật LẦN HẠT thì có thể ngừa giải đãi, song khi tịnh
tọa niệm Phật thì chẳng nên lần hạt. Vì lần hạt thì
hướng động nên tâm chẳng thể định. Về lâu về dài tất
sẽ sanh bịnh.
Nếu
chưa được nhất tâm thì tuyệt đối không nên nảy sanh ý
tưởng muốn thấy Phật. Nếu nóng nảy muốn thấy thì tâm
niệm rối rắm, cái niệm muốn thấy ấy sẽ động kết trong
lòng thành đại bịnh. Oan gia lâu đời nương cái niệm tình
tưởng vọng động ấy hiện làm thân Phật để báo cái oán
xưa. Đó là do tâm mình không chánh kiến. Chưa kể một khi
thấy ma mà sanh hoan hỉ thì ma nhập vào tạng phủ sẽ phát
cuồng. Dù gặp được Phật sống cũng chẳng thể cứu. Cho
nên, chỉ cần niệm Phật cho được nhất tâm, chẳng cần
thấy Phật hay không. Nhất tâm rồi thì tự có sự cảm ứng
không thể nghĩ bàn. Nếu niệm Phật mà bị khí muộn [41]
là do nghiệp chướng khiến ra như vậy. Chỉ cần chí thành
khẩn thiết niệm Phật thì từ từ sẽ yên.
Pháp
QUÁN TƯỞNG tuy hay nhưng phải nhớ hình tượng Phật thấy
đó chỉ là sở hiện của tự tâm. Nếu nhận nó là cảnh
thật ngoài tâm thì vướng vào ma sự, sẽ sanh cuồng.
Người
tu hành thời nay, phần lớn vướng vào ma sự đều do lấy
tâm vọng động mong cầu cảnh giới tốt. Một khi cảnh giới
tốt xuất hiện, nếu cho cảnh giới ấy là ma thì cảnh giới
ấy là cảnh giới tốt, hễ sanh cái tâm th