ĐẠI THỪA
KHỞI TÍN LUẬN
BỒ
TÁT MÃ MINH tạo luận
TAM
TẠNG CHÂN ĐẾ dịch từ Phạn sang Hán
Phần
II
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN LUẬN
Lại
nữa, nghĩa huân tập có 4 pháp nên nhiễm pháp và tịnh pháp
khởi chẳng dứt. Thế nào là 4?
1.
Tịnh pháp, gọi là chân như.
2.
Nhân của tất cả nhiễm ô, gọi là vô minh.
3.
Vọng tâm, gọi là nghiệp thức.
4.
Cảnh giới hư vọng, đó là 6 trần.
HUÂN
là xông ướp. TẬP là lặp đi lặp lại, ta hay dùng từ
thói quen để chỉ cho việc này. Như vậy HUÂN TẬP là chỉ
cho tính xông ướp do việc lặp lui lặp tới mà thành. Những
gì được lặp lui lặp tới mãi mới thành huân tập. Như
ngày nào cũng ngồi thiền là mình đang huân tập việc ngồi
thiền vào thức tạng. Ngày nào cũng học Hán văn là mình
đang huân tập Hán văn vào thức tạng. Ngày nào cũng nổi
sân là đang huân cái sân vào thức tạng. Ngày nào cũng hét
là đang huân cái hét vào thức tạng.
Đặc
tính của huân tập là thứ gì được huân tập nhiều thì
thứ đó trở nên bền bĩ và có sức mạnh vượt trội. Như
áo quần đem ướp hương càng lâu thì mùi thơm càng nhiều.
Thần đồng về âm nhạc, toán học v.v… là do âm nhạc hay
toán học được huân tập sâu xa trong thức tạng. Bảy tám
tuổi đã muốn xuất gia vì chủng tu hành được huân tập
sâu dày.
NGHĨA
HUÂN TẬP CÓ 4 PHÁP là việc huân tập đây dựa vào 4 pháp
mà phát khởi. Đó là chân như, vô minh, nghiệp thức và cảnh
giới 6 trần. 4 thứ này huân tập qua lại mà có nhiễm pháp
và tịnh pháp. NHIỄM PHÁP là chỉ cho pháp thuận dòng với
bất giác. TỊNH PHÁP thì thuộc thủy giác ngược dòng hoàn
tịnh.
TỊNH
PHÁP mà đây chỉ nói CHÂN NHƯ vì chân như là nền tảng
của tịnh pháp. Ngài Hiền Thủ nói “Tịnh pháp, gọi là
chân như’ là chân như trong môn sanh diệt. Vì có 3 nghĩa nên
nói là tịnh pháp. 1/ Ước về thể mà nói, từ xưa đến
nay nó vốn thanh tịnh. 2/ Ước về tướng của thể mà nói,
vì nó làm nội huân lật nhiễm thành tịnh. 3/ Ước về dụng
huân biến mà nói, là ứng cơ thì thành tịnh duyên”.
NHIỄM
Ô là chỉ cho 6 nhiễm, 3 tế và 6 thô. Tất cả đều do
vô minh mà có. Vô minh là nhân sanh ra các thứ đó nên nói
“NHÂN nhiễm ô gọi là vô minh”.
VỌNG
TÂM là chỉ cho tâm vọng tưởng của chúng sanh. Bất giác
tâm động sanh cái năng thấy cùng cảnh giới bị thấy. Trên
những thứ hư vọng ấy lại sanh phân biệt, chấp thủ v.v…
Tất cả đều thuộc vọng tâm. Nghiệp thức là nhân nên nói
“VỌNG TÂM gọi là nghiệp thức”.
Chân
như, vô minh, nghiệp thức và 6 trần huân tập qua lại ra sao
khiến tịnh pháp và nhiễm pháp khởi chẳng dứt sẽ được
làm rõ ở các phần sau. Đầu tiên là nêu ví dụ để người
có thể hình dung về nghĩa HUÂN TẬP. Sau là đi vào chi tiết.
Nghĩa
HUÂN TẬP là, như ở thế gian áo quần thật không hương,
nếu người dùng hương xông ướp thì tất có mùi hương.
Đây cũng vậy, chân như tịnh pháp thật không ô nhiễm, chỉ
do vô minh mà huân tập nên có tướng nhiễm. Vô minh nhiễm
pháp thật không có nghiệp thanh tịnh, chỉ do chân như mà
huân tập nên có dụng thanh tịnh.
Nghĩa
HUÂN TẬP, đây dùng ví dụ áo quần vốn không có mùi hương,
nhưng do dùng hương xông ướp mà thành có mùi hương để
hình dung về nghĩa của huân tập. XÔNG ƯỚP là chỉ cho việc
huân tập.
ĐÂY
CŨNG VẬY là, nhiễm pháp và tịnh pháp cũng như áo quần bị
đem ủ hương mà có mùi thơm : Nhiễm pháp là do vô minh xông
ướp chân như mà thành. Tịnh pháp là do chân như xông
ướp lại vô minh mà có dụng thanh tịnh. Việc huân tập đã
như dùng hương xông ướp thì khi không xông ướp mùi hương
sẽ hết. Không để vô minh huân mà chỉ lấy chân như huân
thì nhiễm pháp hết, tịnh pháp sẽ hiển lộ hoàn toàn.
Sau
là đi vào chi tiết.
Thế
nào là HUÂN TẬP KHỞI NHIỄM PHÁP CHẲNG DỨT?
Đây
hỏi để giải thích quá trình chân như bị vô minh huân mà
có nhiễm pháp. Chính là quá trình bất giác. Nói CHẲNG DỨT
vì một khi sự huân tập thành hình thì nó có lực khiến
sự huân tập càng nối tiếp. Như trạng thái nghiện thuốc
hoặc nghiện rượu. Do đã tập quen với thuốc lá và rượu
nên thói quen ấy tạo ra một lực khiến việc uống và hút
ấy tiếp diễn không ngừng. Vì thế một khi thứ gì đã thành
thói quen thì bỏ rất cực.
Đó
là do nương pháp chân như mà có vô minh. Vì có vô minh nhiễm
pháp làm nhân liền huân tập chân như. Do huân tập nên có
vọng tâm. Vì có vọng tâm liền huân tập vô minh.
Đây
là nói sơ qua quá trình huân tập khởi nhiễm pháp. Đầu tiên
là giới thiệu vô minh từ đâu mà có. Trong Như Lai Tạng có
2 nghĩa minh và vô minh. Minh, là giác thể vốn minh. Vô minh,
là giác thể vốn không tánh, vì cực chân nên không phân biệt,
trong cái không phân biệt mà trạm nhiên thường trụ gọi
là diệu, trong cái không phân biệt mà mờ mịt chẳng tỉnh
gọi là vô minh. Vì vậy nói “NƯƠNG PHÁP chân như mà có
vô minh”.
“Vì
có vô minh nhiễm pháp làm nhân liền HUÂN TẬP CHÂN NHƯ”
là, vô minh nương chân như mà khởi, rồi lại lấy chân như
làm chỗ huân, huân chân như thành nghiệp thức. Nghiệp thức
xuất hiện lại huân tập vô minh mà thành các tướng bất
giác kế tiếp nên nói “Vì có vọng tâm liền HUÂN TẬP VÔ
MINH”. Theo đây thì thấy, năng huân có 2 thứ là VÔ MINH và
VỌNG TÂM. Phần dưới phân thành 2 là vọng tâm huân tập
và vô minh huân tập là vì vậy.
Kế
là trình bày quá trình trên một cách chi tiết.
Chẳng
rõ được pháp chân như, bất giác niệm khởi hiện cảnh
giới hư vọng. Do có cảnh giới hư vọng và nhiễm pháp làm
duyên liền huân tập vọng tâm khiến tâm ấy niệm trước
tạo mọi thứ nghiệp, thọ tất cả khổ của thân lẫn tâm.
“CHẲNG
RÕ ĐƯỢC pháp chân như” là nói vô minh nương chân mà khởi.
BẤT GIÁC NIỆM KHỞI là chỉ cho quá trình vô minh nhiễm pháp
huân chân như thành vọng tâm. Vọng tâm đây chỉ cho phần
tế là nghiệp thức. Nghiệp thức lại huân tập vô minh làm
phát sanh 2 tướng Năng Kiến và Cảnh Giới Tướng nên nói
HIỆN CẢNH GIỚI HƯ VỌNG. Trên cảnh hư vọng ấy lại sanh
phân biệt và chấp thủ nên nói “Do có cảnh giới … làm
duyên liền huân tập vọng tâm, khiến tâm ấy NIỆM TRƯỚC”.
NIỆM là chỉ cho Trí Tướng và Tương Tục Tướng. TRƯỚC
là chỉ cho Chấp Thủ Tướng và Kế Danh Tự Tướng. Đã chấp
thủ dính mắc thì TẠO MỌI THỨ NGHIỆP, chỉ cho Khởi Nghiệp
Tướng. Tạo nghiệp rồi thì phải THỌ TẤT CẢ KHỔ của
thân lẫn tâm, chỉ cho Nghiệp Hệ Khổ Tướng.
Nghĩa
huân tập cảnh giới hư vọng có 2 thứ. Thế nào là 2?
1.
Huân tập tăng trưởng niệm.
2.
Huân tập tăng trưởng thủ.
Đây
là nói rõ lại quá trình “Cảnh giới hư vọng và nhiễm
pháp làm duyên liền huân tập vọng tâm khiến tâm ấy niệm
trước” trên. Cảnh giới làm duyên huân tập vọng tâm là
vọng tâm nương nơi cảnh giới hư vọng mà xông ướp thêm
vô minh nên nói HUÂN TẬP CẢNH GIỚI. Tức lấy nghiệp thức
làm nhân, cảnh giới hư vọng làm duyên, sanh 4 tướng đầu
của 6 thô. Trí Tướng và Tương Tục Tướng thuộc về NIỆM.
Chấp Thủ và Kế Danh Tự thuộc về THỦ.
Bởi
quá trình trên được lặp lui lặp tới với tất cả pháp
ở thế gian khiến người đời CÀNG THÊM phân biệt, so đo,
dính mắc đối với ngoại cảnh, dòng vọng niệm ngày một
tương tục bền chắc, nên nói HUÂN TẬP TĂNG TRƯỞNG NIỆM
và HUÂN TẬP TĂNG TRƯỞNG THỦ.
Dưới
là nói rõ về sự huân tập của vô minh và vọng tâm. Vô
minh và vọng tâm làm năng huân, huân tập chân như và nghiệp
thức.
A.
Nghĩa VỌNG TÂM HUÂN TẬP có 2. Thế nào là 2?
Vô
minh nương chân mà khởi, rồi huân lại chân như mà có nghiệp
thức. Đây thuộc vô minh huân tập. Còn nghiệp thức huân
vô minh làm phát sanh cảnh giới hư vọng, rồi nương nơi cảnh
giới hư vọng ấy mà khởi 4 thô … thì thuộc VỌNG TÂM HUÂN
TẬP. Vọng tâm huân tập này có 2 thứ :
1.
Căn bản nghiệp thức huân tập : Làm cho A La Hán, Bích Chi
Phật và tất cả Bồ tát phải chịu cái khổ sanh tử.
CÁI
KHỔ SANH TỬ là lấy theo bản trực giải của ngài Hám Sơn,
còn bản sớ giải của ngài Hiền Thủ thì ghi là “Cái khổ
sanh diệt”. Song khổ của sanh diệt hay sanh tử cũng đều
chỉ cho cái khổ của ‘biến dịch sanh tử’.
Đây
là nghiệp thức làm năng huân, huân tập vô minh làm phát sanh
Năng Kiến và Cảnh Giới Tướng. A LA HÁN và BÍCH CHI PHẬT
là quả tối cùng của Thanh văn và Duyên giác. Trụ trong định
này thì chư vị không còn bị sanh tử trong 3 cõi, lìa được
cái khổ của phần đoạn thô, nhưng vẫn bị sự sanh diệt
của phần chuyển thức chi phối, nên nói “PHẢI CHỊU cái
khổ của sanh diệt”. TẤT CẢ BỒ TÁT là chỉ cho Bồ tát
từ Tín Tương Ưng Địa trở đi, là các vị Bồ tát đối
với nhân không đã được tự tại (đã nói trong phần 6 nhiễm
trên). Các vị đã lìa được cái khổ thô nhưng còn cái khổ
tế nên nói “CHỊU CÁI KHỔ của sanh diệt”.
2.
Tăng trưởng phân biệt sự thức huân tập : Làm cho phàm phu
phải chịu cái khổ do nghiệp trói buộc.
PHÂN
BIỆT SỰ THỨC là chỉ cho ý thức trên. Đây, ý thức làm
năng huân, huân tập nghiệp thức làm tăng trưởng tướng
Chấp Thủ và Kế Danh, rồi khởi hoặc tạo nghiệp mà chịu
cái khổ của ‘phần đoạn sanh tử’, nên nói “CHỊU CÁI
KHỔ do nghiệp trói buộc”.
B.
Nghĩa VÔ MINH HUÂN TẬP có 2. Thế nào là 2?
Đây,
vô minh làm năng huân. Năng huân đều là vô minh nhưng tùy
thô tế mà có 2 thứ :
1.
Căn bản huân tập : Vì hay thành tựu nghĩa nghiệp thức.
CĂN BẢN là chỉ cho căn bản vô minh. Vô minh này huân tâm
thể thành nghiệp thức v.v... nên gọi là CĂN BẢN HUÂN TẬP.
2.
Sở khởi kiến và ái huân tập : Vì hay thành tựu nghĩa
phân biệt sự thức.
SỞ
KHỞI là được sanh khởi từ … Dùng bổ nghĩa cho từ kiến
và ái. Kiến và ái là 2 thứ được sanh ra từ căn bản vô
minh nên gọi là SỞ KHỞI KIẾN VÀ ÁI. Tên khác của chúng
là tứ trụ địa vô minh hay chi mạt vô minh. Được 2 thứ
này xông ướp mà ý thức tăng trưởng nên nói “Vì THÀNH
TỰU nghĩa phân biệt sự thức”.
Trên
là nhiễm huân, dưới là tịnh huân.
Thế
nào là HUÂN TẬP KHỞI TỊNH PHÁP CHẲNG DỨT?
Đây
hỏi để giải thích quá trình chân như huân vọng tâm mà
có tịnh pháp. Đó là quá trình ngược dòng hoàn tịnh, nói
về trí thủy giác.
Là,
vì có pháp chân như nên hay huân tập vô minh. Do lực nhân
duyên huân tập, khiến vọng tâm chán sanh tử khổ, thích cầu
niết bàn. Vì vọng tâm ấy có nhân duyên chán và cầu nên
liền huân tập chân như.
LÀ,
tức trình bày quá trình huân tập khởi tịnh pháp. Chân như
tuy bị vô minh huân thành 6 nhiễm, nhưng bản thân nó vẫn
có lực huân lại vô minh. Tâm chán cái khổ ở thế gian muốn
cầu sự yên tịnh thánh lạc của niết bàn là biểu hiện
cho lực tác dụng ấy. Ngay đời sống đây, đang quây cuồng
trong tình cảm, vật chất hay gia đình mà bỗng khởi niệm
ngao ngán và muốn sống một đời sống bình lặng, không đấu
tranh v.v… dù chỉ một thoáng, cũng là biểu hiện của lực
chân như. Hình tướng biểu hiện này bao gồm nhiều dạng,
tùy thô tế mà thấy khác nhau. Song chúng có cùng một điểm
chung là không muốn dính mắc vào danh lợi thế gian và mang
khuynh hướng vị tha.
Tâm
chán thế gian và cầu niết bàn xuất hiện thì quá trình vọng
tâm huân tập chân như bắt đầu. Nói vọng huân vì cái chán
và cầu ấy thuộc vọng tâm sanh diệt, song nó chịu sự chi
phối của chân như nên tuy là vọng huân mà lại thành tịnh
hạnh. Đây là phần thô của trí thủy giác.
Tự
tin tánh mình, biết tâm vọng động, không có cảnh giới trước
mắt, tu pháp xa lìa. Vì như thật biết không có cảnh giới
trước mắt nên mỗi mỗi phương tiện khởi hạnh tùy thuận,
không thủ không niệm, cho đến lâu xa ...
Tin
‘Tức tâm tức Phật’, tin ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp
duy thức’, tin mình có khả năng làm Phật v.v… đều gọi
là TỰ TIN TÁNH MÌNH. Song cái TIN nói đây chỉ mới là tin
vào kinh luận hay thiện hữu tri thức giảng dạy mà tu tập,
chưa phải là niềm tin bắt nguồn từ việc trực chứng của
bản thân. Vì thế, BIẾT đây cũng là do tin mà biết, vẫn
còn nằm trong sự hiểu biết thuộc ý thức nhưng là phần
ý thức hoàn tịnh.
BIẾT
TÂM VỌNG ĐỘNG là biết những thứ mình vẫn cho là tâm mình
như suy nghĩ, phân biệt, nhớ thương, vui buồn … chỉ là
tâm hư vọng không có thật thể. KHÔNG CÓ CẢNH GIỚI TRƯỚC
MẮT vì vạn pháp chỉ do thức biến. Do có niềm tin như thế
nên bắt đầu tu tập.
TU
PHÁP XA LÌA là dùng những phương tiện giúp trừ bỏ những
thứ làm tâm mình vọng động. Quán những suy nghĩ, vui buồn
khởi lên trong tâm là vọng rồi buông, không để chúng nối
tiếp là đang thực hiện tu pháp xa lìa. Miên mật niệm Phật
để nhiếp dòng vọng niệm là đang tu pháp xa lìa v.v… Tùy
căn cơ của chúng sanh ở mỗi thời mà pháp tu để xa lìa
này nhiều vô số. Song nhiều thế nào thì điểm chung của
chúng vẫn là đưa tâm trở về trạng thái vốn trong lặng,
không dính mắc mà thôi.
NHƯ
THẬT BIẾT là biết không do học hỏi mà là qua sự trực
nghiệm của bản thân. Đây là chỉ cho cảnh giới trực chứng
của Bồ tát Sơ Địa. “MỖI MỖI PHƯƠNG TIỆN, khởi hạnh
tùy thuận, không thủ không niệm, cho đến lâu xa …” là
nói về quá trình tu hành của hàng Thập Địa. HẠNH TÙY THUẬN
là tu hạnh tùy thuận với chân như pháp tánh. Sơ địa chứng
được nhất niệm vô sanh, y cứ nhất niệm ấy mà tu chân
như tam muội nên nói là TÙY THUẬN. Bồ tát Sơ Địa trở
đi tập trung phá trừ phần Trí Tướng là nhân của 3 tướng
Tương Tục, Chấp Thủ và Kế Danh nên nói KHÔNG THỦ KHÔNG
NIỆM, chính là tu chân như tam muội nói trên. Song chỉ ở
Bát địa, trí phân biệt mới thật sự dứt, nên từ Sơ Địa
đến mãn tâm Thất Địa cái ‘không thủ không niệm’ này
vẫn còn trong vòng dụng công. Đến Bát Địa mới thật là
hoàn toàn ‘không thủ không niệm’.
CHO
ĐẾN LÂU XA là trải qua quá trình tu hành lâu xa[36] …
đến địa vị cuối cùng của Bồ tát, thì có kết quả như
sau :
Bởi
lực huân tập nên vô minh diệt. Do vô minh diệt nên tâm không
khởi. Do không có khởi, cảnh giới diệt theo. Do nhân duyên
đều diệt nên tướng của tâm đều hết, gọi là đắc niết
bàn thành nghiệp tự nhiên.
Do
lực huân tập của trí thủy giác, ngược dòng 4 tướng là
diệt, dị, trụ và sanh mà diệt được căn bản vô minh. Tuy
quá trình diệt là diệt từ thô đi lần về tế - phải là
tâm không khởi thì mới thấy được phần căn bản vô minh
mà diệt - nhưng chỉ khi cái tế dứt rồi thì cái thô mới
thật sự hết, vì nhân diệt thì quả mới thật sự diệt,
nên nói “DO VÔ MINH diệt nên tâm không khởi”, là từ tế
thuận lại thô. KHÔNG KHỞI này là chỉ cho Nghiệp Tướng
và Năng Kiến Tướng. Vô minh hết thì tâm không còn bị lực
ấy làm động mà có Nghiệp và Năng Kiến. Năng Kiến không
thì Cảnh Giới Tướng cũng không, nên nói “Do KHÔNG CÓ khởi,
cảnh giới diệt theo”. Cảnh giới diệt rồi thì tâm không
nương đâu mà khởi phân biệt, tạo nghiệp, chịu khổ ...
Tức căn bản vô minh hết thì 9 tướng trong phần Bất Giác
cũng hết. Căn bản vô minh là NHÂN, Cảnh Giới Tướng là
DUYÊN làm sanh khởi 6 thô, nên nói “Do nhân duyên đều diệt
nên tướng của tâm đều hết”. TƯỚNG CỦA TÂM là chỉ
cho 9 tướng bất giác hay 6 nhiễm.
ĐẮC
NIẾT BÀN là chỉ cho quả vị Phật. Đây là chỉ cho tâm thể
đã sạch hết vọng nhiễm, thuần thanh tịnh và sáng suốt.
Thành Phật thì có được tất cả mọi loại trí thông hết
tất cả cảnh giới của chư Phật cũng như chúng sanh mà khởi
nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn, nên nói THÀNH NGHIỆP TỰ
NHIÊN. Loại nghiệp dụng này chẳng do tác ý mà thành, chỉ
tùy sự cảm ứng với chúng sanh mà hiện nên nói TỰ NHIÊN.
Phần
‘Huân tập khởi tịnh pháp chẳng dứt này’ cũng có 2 phần
là vọng tâm huân và chân như huân. Huân tập khởi tịnh pháp
mà nói VỌNG TÂM HUÂN, vì phần tu tập này vẫn còn y cứ
trên tâm sanh diệt mà tu. Song phần vọng tâm này không phải
là thứ vọng tâm gây nghiệp để thọ khổ trong 6 đường
mà là phần vọng tâm chịu sự chi phối của chân như. Luận
đây gọi là trí thủy giác.
A.
Nghĩa VỌNG TÂM HUÂN TẬP có 2. Thế nào là 2?
VỌNG
TÂM HUÂN TẬP tức vọng tâm làm năng huân. Vọng tâm huân
này có 2 thứ. Một là Ý THỨC huân tập. Hai là Ý huân tập.
1.
Phân biệt sự thức huân tập : Phàm phu và Nhị thừa
chán cái khổ sanh tử, tùy sức mình mà tu tập, từ từ hướng
về đạo vô thượng.
PHÂN
BIỆT SỰ THỨC chính là ý thức trên. CHÁN CÁI KHỔ SANH TỬ
vì còn chấp ngoài tâm có cảnh giới. ĐẠO VÔ THƯỢNG là
chỉ cho quả vị Phật. Phàm phu và Nhị thừa thấy cái khổ
vô thường ở thế gian mà tu quả giải thoát, không hề biết
có thức Alaida. Đó là lý do hướng về đạo vô thượng chậm
nên nói TỪ TỪ. Ngài Hiền Thủ nói “Thức này chẳng biết
các trần chỉ do thức biến hiện nên chấp ngoài tâm thật
có cảnh giới. Phàm phu và Nhị thừa tuy có phát tâm hướng
đến giải thoát, mà còn tính có sanh tử đáng chán, niết
bàn đáng vui, chẳng rõ đạo lý duy tâm, vẫn còn lực tác
ý, phải lâu xa về sau mới hoàn đắc được bồ đề, nên
nói ‘Tùy sức tu tập, từ từ hướng về đạo vô thượng’”.
2.
Ý huân tập : Chư vị Bồ tát phát tâm dũng mãnh, chóng
đạt niết bàn.
Ý
đây bao gồm 5 thứ là nghiệp thức, chuyển thức, hiện thức,
trí thức và tương tục thức. Vì chư Bồ tát biết thân,
tâm và cảnh giới chung quanh đều là duy tâm sở hiện. Sanh
tử hay niết bàn chỉ do phân biệt mà ra : Vì có ta có người,
có thân có sơ, có yêu có ghét v.v… mà khổ đau và hạnh
phúc tràn đầy, 6 đường trói buộc, thế gian mới thành sanh
tử đáng chán, rồi tìm cầu niết bàn để ra. Một khi phân
biệt đã buông thì thân sơ không khác, yêu ghét không còn,
sanh tử không khác niết bàn ... Vì thế, chư vị tập trung
xả bỏ sự phân biệt đối với ngoại cảnh. Căn cứ theo
9 tướng bất giác thì chỗ hành ở địa vị này là phá thẳng
vào phần Trí Tướng, là tướng đầu trong 6 thô. Trí tướng
đã phá thì sự tương tục của dòng vọng niệm cũng hết,
tâm chấp thủ ngoại cảnh chẳng còn.
Chỉ
cần một động tác BUÔNG mà ngay sanh tử là niết bàn, nên
nói CHÓNG ĐẠT NIẾT BÀN. Xét về quá trình ngược dòng của
9 tướng bất giác thì chỗ hành của chư vị cũng gần với
quả vị Phật hơn phàm phu và Nhị thừa, nên nói là CHÓNG.
Tu thẳng pháp môn bất nhị đây, nếu không phải là người
đầy đủ thiện căn đời trước, niềm tin và ý chí không
vững thì không dám hành, nên nói PHÁT TÂM DŨNG MÃNH.
Theo
cách phân đây thì thấy, gọi phàm phu, Nhị thừa hay Bồ tát
là căn cứ vào hướng phát tâm, chỗ hành trì cũng như phần
lý mà hành giả nhận được. Ngược lại, muốn biết chỗ
hành trì của mình thuộc Ý HUÂN TẬP hay Ý THỨC HUÂN TẬP
cũng căn cứ vào hướng phát tâm, chỗ hành trì và phần lý
nhận được mà biết. Nếu phát tâm tu Phật, tin vào lý duy
tâm, tất cả mọi phân biệt, niệm thiện, niệm ác gì cũng
buông thì công phu của mình thuộc phần Ý HUÂN TẬP. Còn tu
hành chỉ để có một cuộc sống ở tương lai sung sướng
hơn, hoặc tu để nhập niết bàn mà thoát cái khổ ở thế
gian … Nói chung, chưa thấu đượïc lý duy tâm hoặc có hiểu
mà việc tu hành còn đặt nặng trong sự phân biệt thiện
ác mang tính đối trị thì công phu ấy thuộc Ý THỨC HUÂN
TẬP.
B.
Nghĩa CHÂN NHƯ HUÂN TẬP có 2. Thế nào là 2?
Đây
là chân như làm năng huân. Chân như huân có 2 loại. Một là
tự thể huân tập. Hai là dụng huân tập. TỰ THỂ HUÂN TẬP
là nói về cái dụng của tự tánh. Dụng này mọi loài hữu
tình đều sẵn đủ. DỤNG HUÂN TẬP là nói về cái dụng
của chân như. Không phải tự tánh khác chân như mà lập ra
2 cái dụng khác nhau. Tự tánh không khác chân như nhưng phân
dụng tự tánh hay dụng chân như vì dụng chân như này chỉ
có khi hành giả đã trực chứng lại được pháp thân, tức
đã qua quá trình sàng lọc ô nhiễm. Nó thuộc về dụng làm
lợi ích cho tha nhân. Tùy mức độ địa mà dụng này nhiều
hay ít. Địa càng cao thì dụng càng khắp.
1.
Tướng tự thể huân tập : Từ vô thủy đến nay, đầy
đủ pháp vô lậu, có đủ nghiệp chẳng thể nghĩ bàn làm
tánh cảnh giới. Y nơi 2 nghĩa ấy thường hằng huân tập.
Bởi có lực này nên hay khiến chúng sanh chán cái khổ sanh
tử, thích cầu niết bàn, tự tin thân mình có pháp chân như,
phát tâm tu hành.
Đầy
đủ PHÁP VÔ LẬU và NGHIỆP DỤNG chẳng thể nghĩ bàn là
2 thứ mà tự thể sẵn đủ từ xưa đến nay, mê hay ngộ
thì vẫn đó, chẳng qua là ẩn hay hiện mà thôi nên nói LÀM
TÁNH CẢNH GIỚI. Việc này không phải là chỗ thức tâm đến
đuợc nên nói CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN.
VÔ
THỦY là không có mờ mé ban đầu. Do 2 thứ này làm nhân ngầm
huân tập bên trong mà chúng sanh mới có thể chán sanh tử
khổ thích tìm cái vui niết bàn. Tin tâm mình là Phật, tin
có pháp chân như và phát tâm tu hành đều do dụng của phần
tự thể huân tập này. Đặc tính của dụng này là dù còn
trong địa vị mê, nó vẫn có tác dụng đối với chúng sanh.
Hỏi
: Nếu nghĩa đúng như vậy thì tất cả chúng sanh đều có
chân như, đều cùng huân tập, vì sao “có tin và không tin”
trước sau vô lượng sai biệt? Đều nên đồng thời tự biết
có pháp chân như, siêng tu phương tiện, cùng nhập niết bàn.
Đây
là nêu thắc mắc khi nghe sự phát biểu trên : Nếu mọi người
đều có sự huân tập thường hằng của tự thể mà hay phát
tâm tu hành vì sao hiện nay có người tin, có người không
tin? TIN là chỉ cho những người tin tâm mình là Phật rồi
phát tâm tu hành. KHÔNG TIN là chỉ cho những người có khi
nhân quả cũng không biết, thấy người ăn chay thì nói ngu,
thấy người giữ giới tu hành thì bữu môi khinh bỉ, thấy
người ngồi xếp bằng quán tâm cho là làm chuyện ruồi bu
… Đây đều thuộc dạng không tin.
Đó
là về mặt tin và không tin. Còn về mặt tu hành thì vì sao
cũng đồng có sự huân tập của tự thể vô lậu mà việc
thành Phật lại không đồng, người trước kẻ sau đều sai
khác?
Đáp
: Chân như vốn một mà có vô lượng vô biên vô minh – từ
xưa đến nay – tự tánh sai biệt dày mỏng chẳng đồng.
Vô lượng loại thượng phiền não nương vô minh khởi sai
biệt. Phiền não ngã kiến và ái nhiễm nương vô minh khởi
sai biệt. Như vậy tất cả phiền não đều nương nơi vô
minh mà khởi, trước sau vô lượng sai biệt. Duy chỉ có Như
Lai hay biết mà thôi.
Đây
là lời giải thích : Tuy chân như là đồng nhưng có sự sai
khác là do mức độ vô minh trong mỗi người có khác nhau.
“TỰ TÁNH sai biệt dày mỏng chẳng đồng” là muốn nói
về tính chất của vô minh sai biệt chẳng đồng. Gồm 2 loại
: THƯỢNG PHIỀN NÃO là chỉ cho sở tri chướng. PHIỀN NÃO
ngã kiến và ái là chỉ cho phiền não chướng. Tính theo 6
nhiễm thì cái nhiễm tương ưng đầu thuộc phiền não, 5 cái
nhiễm kế thuộc thượng phiền não. 2 thứ này gốc đều
từ vô minh mà có nên nói NƯƠNG VÔ MINH MÀ KHỞI.
Tất
cả những thứ này chỉ có một mình Như Lai hay biết nên
nói là DUY. HAY BIẾT là thấu được chỗ vô minh sản sanh
ra vô lượng thượng phiền não và phiền não ở chúng sanh.
Phần
vô minh nói đây là yếu tố căn bản để hiểu vì sao cùng
được sự huân ngầm của tự thể chân như bên trong mà chúng
sanh lại có sự sai khác trong việc phát tâm cũng như tu hành.
Yếu tố căn bản này kết hợp với nhân duyên của mỗi người
mà càng có nhiều cái khác trên cái đồng đó. Phần sau sẽ
nói rõ về nhân duyên ấy.
Lại,
pháp của chư Phật có nhân có duyên. Nhân duyên đầy đủ
thì pháp mới được thành. Như tánh lửa trong cây là nhân
chánh của lửa, nếu người không biết, chẳng mượn phương
tiện mà cho là cây tự cháy thì không có chuyện này. Chúng
sanh cũng vậy. Tuy có lực huân tập của chánh nhân, nếu chẳng
gặp chư Phật, Bồ tát và các bậc thiện tri thức lấy đó
làm duyên, mà có thể tự đoạn phiền não, nhập niết bàn
thì không có việc ấy. Nếu, tuy có lực của ngoại duyên
mà trong chưa có lực huân tập của tịnh pháp thì cũng chẳng
đến mức có thể chán cái khổ sanh tử thích cầu niết bàn.
Nếu nhân duyên đầy đủ. Nghĩa là, tự có cái lực huân
tập, lại được cái nguyện từ bi của chư Phật và các
vị Bồ tát hộ trì thì hay khởi cái tâm chán khổ, tin có
niết bàn, tu tập thiện căn. Bởi tu thiện căn thành thục
nên được gặp chư Phật và Bồ tát chỉ dạy mà lợi hỉ,
mới có thể tiến thẳng đến đạo niết bàn.
Duyên
Khởi là thật lý chi phối thế gian. Vì thế, việc tu hành
cũng không thể thoát khỏi cái lý ấy. DUYÊN KHỞI là, bất
cứ pháp nào ở thế gian cũng phải đủ 2 phần là nhân và
duyên mới thành tựu được. NHÂN là yếu tố chính, DUYÊN
là các yếu tố phụ. Phụ và chính phải đủ, pháp mới thành
hình. Như lửa muốn có thì yếu tố chính là nằm ở chất
dễ cháy. Đây lấy chất dễ cháy là cây. Song chỉ có cây
không thì không thể tìm thấy lửa, mà phải có các điều
kiện khác như nhiệt độ cực nóng v.v… thì cây mới có
thể tạo ra lửa. Các điều kiện ấy gọi là duyên.
Tương
tự, dù mỗi người có đủ cái nhân huân tập bên trong là
tự thể chân như, nhưng nếu không có cái duyên bên ngoài
là thiện tri thức chỉ dạy. Hoặc có thiện tri thức bên
ngoài, nhưng bên trong việc huân tập tịnh pháp chưa đủ …
thì đều rơi vào trường hợp nhân duyên không đủ. Nhân
duyên không đủ thì việc tu hành không thể thành tựu. Như
Hòa thượng Trúc Lâm dạy thiền, thành lập các Chiếu từ
năm 1975. Không phải mình không biết, nhưng bận làm ăn và
nhiều thứ khác nữa nên biết thì biết mà tu thì không tu.
Mười mấy năm sau hoặc đến bây giờ, gần hết một quãng
đời lên voi xuống chó, cộng thêm kinh sách và băng giảng
của Hòa thượng, mình mới nhận ra được sự bấp bênh giả
tạo của danh lợi mà chịu phát tâm tu hành. Nhận ra được
sự vô thường của danh lợi, biểu hiện cho sự huân tập
của chánh nhân chân như. Song phải nhờ lực ngoại duyên là
sự bấp bênh về tiền tài và danh lợi, cùng với duyên thiện
tri thức là khơi lại tâm Bát Nhã sẵn đủ trong mỗi chúng
sanh, mình mới có thể phát tâm chán thế gian cầu Phật đạo.
Không có cái duyên bấp bênh về danh lợi thì chánh nhân dù
có cũng không đủ mức làm mình chán và cầu. Chưa chán thì
thiện tri thức có đó mà cũng như không. Chán rồi mà không
gặp được thiện tri thức dạy cầu Phật đạo lại gặp
các vị tu tiên, xuất hồn thì mình lại thành tiên ông hay
xuất hồn tản mạn đâu đó, còn không thì nhảy cầu Bình
Lợi chẳng hạn … Đó là nói về chủng nhân bên trong chưa
được vững nên cần nhiều duyên bên ngoài. Còn người mà
chủng nhân bên trong đã vững, như Lục Tổ chẳng hạn, thì
không cần đến cái duyên bấp bênh như trên, nhưng cũng phải
có cái duyên là nghe được kinh Kim Cang, gặp được Tổ Hoằng
Nhẫn v.v… mới tu hành thành đạo được.
Bậc
tri thức của người dù thuộc Phật giáo chăng nữa, cũng
hằng hà sa số dạng : Vị có công phu chứng ngộ, vị thì
chỉ toàn tri thức, vị thì danh lợi không thiếu chút gì,
rồi Đại thừa và Tiểu thừa v.v... Gặp thiện tri thức rồi,
việc huân tập tịnh pháp ở mỗi người cũng không giống
nhau. Người khoẻ tu hành tốt hơn người ốm yếu thì lực
huân tập tịnh pháp mạnh hơn. Song có khi người khỏe gặp
duyên thuận lại không muốn thành Phật, chỉ tu tà tà cho
qua ngày qua tháng, nên việc huân tập tịnh pháp trở thành
yếu. Cứ vậy mà sự sai khác ngày càng nhiều ... Nên tuy cùng
được chân như nội huân mà lòng tin, sự tu hành và kết
quả làm Tổ thành Phật có sai khác. “Tu THIỆN CĂN thành
thục được gặp chư Phật ...” là chỉ cho nhân duyên đầy
đủ. LỢI HỈ là lợi ích và hoan hỉ.
Sau
nói về dụng của chân như.
2.
Dụng huân tập : Chính là lực ngoại duyên của chúng sanh.
Như vậy, ngoại duyên có vô lượng nghĩa. Lược nói có 2
thứ. Thế nào là 2? Một là duyên sai biệt. Hai là duyên bình
đẳng.
Loại
dụng này phải chứng pháp thân rồi mới có, dùng làm ngoại
duyên giúp chúng sanh tu hành. Dụng này tùy vào căn nghiệp
của chúng sanh hữu duyên mà ứng hiện. Bởi tâm chúng sanh
có vô lượng sai biệt nên ngoại duyên cảm ứng cũng có vô
lượng nghĩa. VÔ LƯỢNG NGHĨA là nhiều hình thái khác nhau
đến nỗi không đếm xuể. Song sai biệt thế nào cũng không
ngoài 2 thứ là bình đẳng và sai biệt. Vì sao gọi là bình
đẳng và sai biệt, phần sau sẽ giải thích.
2a.
Duyên sai biệt : Người ấy, trong khoảng thời gian từ
khi mới phát tâm cầu đạo cho đến khi thành Phật, đều
nương nơi chư Phật và các vị Bồ tát. Trong đó, hoặc thấy,
hoặc niệm, hoặc làm quyến thuộc, cha mẹ, người thân, hoặc
làm người giúp việc, hoặc làm bạn hữu, hoặc làm oan gia,
hoặc khởi tứ nhiếp ... cho đến tất cả việc làm với
vô lượng duyên hạnh. Bởi do lực huân tập đại bi phát
khởi nên hay khiến chúng sanh tăng trưởng thiện căn, nếu
thấy nếu nghe đều được lợi ích.
Khi
một người phát tâm cầu Phật đạo là có sự hộ trì của
chư Phật và chư vị Bồ tát. Việc hộ trì này được thể
hiện bằng nhiều cách. HOAËC THẤY là thấy thân tướng của
các ngài. HOAËC NIỆM là nhớ nghĩ đến công đức của các
ngài. Nhờ cái thấy và nghĩ ấy mà tinh tấn tu hành. HOAËC
LÀM quyến thuộc, cha mẹ, người thân v.v... là những cách
khác mà chư vị Bồ tát dùng để trợ giúp người cầu đạo.
Thuận hạnh như làm những người thương yêu, nghịch hạnh
như làm kẻ oan gia … đều là tùy căn nghiệp của chúng sanh
mà ứng hiện. Như người phải dùng biện pháp cứng rắn
là la rầy hay gặp khổ nạn mới chịu tu thì chiêu sách oan
gia và la mắng được lập bày. Người mà sự la mắng chỉ
khiến họ điên tiết, chỉ có sự chịu đựng và tha thứ
mới khiến họ hồi tâm thì hình ảnh nhân đức luôn tha thứ
xuất hiện ... Tùy căn nghiệp của người tu mà ứng hiện
thành đủ loại duyên với nhiều hình thức khác nhau, nên
nói VÔ LƯỢNG DUYÊN HẠNH.
Theo
đây thì thấy, tu hành không phải chỉ có thầy mới là bậc
thiện tri thức của mình. Chồng, vợ, con cái, cha mẹ, người
thân hay những chuyên gia chuyên làm mình điêu đứng khổ sở
đều có thể là ứng thân của chư vị Bồ tát giúp mình
phá trừ bản ngã, chóng được bất động. Hướng ra mà than
thở, phiền trách ... là bé cái lầm! Đây mới thấy giá trị
của câu nói ‘Phản quan tự kỷ bổn phận sự’ trong nhà
thiền. Nghịch hay thuận chỉ nên quay về quán ở tâm mình.
TỨ
NHIẾP gồm 4 pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng
sự. Dùng 4 pháp này cũng với mục đích là tạo mọi thứ
duyên hạnh để dẫn dắt chúng sanh về đạo vô thượng.
Duyên
ấy có 2 loại. Một là duyên gần nên chóng được độ. Hai
là duyên xa nên lâu xa mới được độ. 2 duyên xa và gần
này, phân biệt có 2 loại. Thế nào là 2? Một là duyên tăng
trưởng hạnh, hai là duyên thọ đạo.
Duyên
sai biệt này có 2 loại là xa và gần. Nói xa và gần là căn
cứ vào thời gian được độ mà nói. Duyên xa và gần này
lại có 2 loại là tăng trưởng hạnh và thọ đạo.
DUYÊN
TĂNG TRƯỞNG HẠNH là nói về những duyên giúp người tu tăng
trưởng thiện hạnh. DUYÊN THỌ ĐẠO là duyên giúp người
tu thọ nhận hay nhập đạo.
2b.
Duyên bình đẳng : Tất cả chư Phật và Bồ tát đều
nguyện độ thoát hết thảy chúng sanh, tự nhiên huân tập
thường hằng chẳng bỏ. Bởi cùng lực trí thể nên tùy theo
thấy nghe cảm ứng mà hiện làm các nghiệp. Nghĩa là, chúng
sanh nương nơi tam muội đều bình đẳng được thấy chư
Phật.
BÌNH
ĐẲNG là như nhau, không có sai khác. Chư Phật và Bồ tát
đều có tâm bình đẳng độ thoát chúng sanh. Chư vị không
có ý độ người này bỏ người kia như người đời khi làm
việc thiện : Nghèo thì cho, giàu thì không, thương thì cho,
ghét thì không. Tâm bình đẳng ấy được huân tập một cách
thường hằng chẳng bỏ. Vì cái bình đẳng ấy mà tất cả
chúng sanh bất kể là giàu hay nghèo, già hay trẻ, nam hay nữ
v.v... một khi có được tam muội thì đều sẽ thấy được
chư Phật. ĐƯỢC TAM MUỘI là muốn nói đến tâm thức đã
được lóng lặng các loại phiền não kể trên. Như chỗ nào
nước trong thì trăng liền hiện không có chọn lựa phân biệt.
THẤY nói đây là muốn nói đến việc thể nhập cảnh giới
Phật.
Thể
dụng huân tập ấy, phân biệt lại có 2.
THỂ
DỤNG HUÂN TẬP là nói về tướng thể huân tập và dụng
huân tập. Đây đều thuộc về chân như huân. Thể dụng huân
tập này phân làm 2 thứ là huân chưa tương ưng và huân đã
tương ưng.
Thế
nào là 2?
(1+2)
a. Huân chưa tương ưng : Phàm phu, Nhị thừa và các vị Bồ
tát sơ phát tâm do ý, ý thức huân tập, nương nơi tín lực
mà tu hành, nên chưa được tâm vô phân biệt cùng thể tương
ưng, chưa được nghiệp tu hành tự tại cùng dụng tương
ưng.
HUÂN
CHƯA TƯƠNG ƯNG là, tuy là huân tập tịnh pháp nhưng sự
huân tập này chưa tương ưng được với chân như. Nói CHƯA
TƯƠNG ƯNG vì sự huân tập này do ý và ý thức huân tập.
Đây là phần thủy giác thô, tương đương với 2 tướng giác
đầu là bất giác và tương tợ giác của phàm phu, Nhị thừa
và Bồ tát mới phát tâm. Chưa chứng được nhân Phật tánh
nên nói “Nương nơi TÍN LỰC mà tu hành”. Lúc này chưa phá
được trí phân biệt khiến tâm chưa tương ưng được với
trạng thái bình đẳng của chân như, nên nói “Chưa được
TÂM VÔ PHÂN BIỆT cùng với thể tương ưng”. Mọi thứ vẫn
còn trong vòng tác ý dụng công, nên nói “Chưa được nghiệp
TU HÀNH TỰ TẠI cùng dụng tương ưng”.
Ngài
Hám Sơn nói “Đây làm rõ, năng huân là chân như thì thể
và dụng bình đẳng mà sở huân là căn cơ thì có sai biệt.
Phàm phu, Nhị thừa, Bồ tát sơ phát tâm chỉ y nơi ý thức
huân tập, chỗ phát tâm cạn, chỉ nhờ tín lực mà tu hành,
chưa thể thâm nhập chân như tam muội nên chưa được tâm
vô phân biệt cùng thể tương ưng, chưa được trí nghiệp
tự tại cùng dụng tương ưng. Sự sai biệt này có là tại
căn cơ”.
(1+2)
b. Huân đã tương ưng : Pháp thân Bồ tát được tâm vô phân
biệt cùng với trí dụng của chư Phật tương ưng, chỉ nương
nơi pháp lực, tự nhiên tu hành, huân tập chân như, diệt
trừ vô minh.
HUÂN
ĐÃ TƯƠNG ƯNG là sự huân tập tịnh pháp lúc này đã
tương ưng được với chân như. Đây thuộc phần thủy giác
tế, tương đương với 2 tướng giác sau là tùy phần giác
và cứu cánh giác. PHÁP THÂN BỒ TÁT là chỉ cho Bồ tát thuộc
hàng Thập Địa. Sơ Địa chứng được căn bản trí chân
như nên bắt đầu tương ưng với chân thể chân như. Đến
Bát Địa về sau được tương ưng luôn với dụng, nên nói
“Được tâm vô phân biệt cùng với trí dụng của Phật
tương ưng”. PHÁP LỰC là chỉ cho phần lực có được khi
chứng nhân Phật tánh. Y cứ nhất niệm ấy mà tu nên nói
“CHỈ NƯƠNG nơi pháp lực”. Từ Bát Địa trở đi, mọi
hành tác đều thuộc vô công dụng hạnh nên nói TỰ NHIÊN
TU HÀNH.
Như
vậy, TỰ THỂ chân như tuy vẫn âm thầm huân tập bên trong
một cách thường hằng nhưng với phàm phu, Nhị thừa và Bồ
tát sơ phát tâm thì cái huân ấy chưa tương ưng, bởi tác
dụng của nó còn bị vô minh che phủ. Phải đến Sơ Địa
trở đi, tuy chưa hoàn toàn nhưng tự thể chân như đã thật
sự hiển lộ, nên từ đó trở đi mới gọi là tương ưng.
Còn DỤNG HUÂN TẬP của chân như thì trong khoảng từ Sơ Địa
đến Thất Địa không phải không có, nhưng phải đến Bát
Địa mới gọi là tương ưng vì lúc ấy dụng này mới thật
sự có tác dụng đúng mức của nó.
Đến
đây là xong phần nhiễm tịnh huân tập qua lại. Dưới là
làm rõ nghĩa tận và bất tận của việc huân tập giữa nhiễm
và tịnh.
Lại
nữa, nhiễm pháp từ vô thủy đến nay huân tập chẳng dứt,
đến khi thành Phật sau mới đoạn dứt. Tịnh pháp huân tập
thì không có đoạn, tận đến vị lai. Nghĩa ấy thế nào?
Vì pháp chân như thường hằng huân tập. Vọng tâm tất diệt,
pháp thân hiển hiện, khởi dụng huân tập nên không có đoạn.
Lại, tướng tự thể chân như của tất cả phàm phu, Thanh
văn, Duyên giác, Bồ tát, chư Phật không có tăng giảm, chẳng
phải mé trước sanh chẳng phải mé sau diệt mà rốt ráo thường
hằng. Từ xưa đến nay, tự tánh đầy đủ tất cả công
đức.
Nhiễm
pháp thì có đoạn dứt mà tịnh pháp thì không bao giờ đoạn
vì chân như vốn không có bờ mé, thường hằng bất biến,
nên sự huân tập của nó cũng không có bờ mé. Thấy đầu,
thấy cuối, thấy sanh, thấy diệt là do vô minh mà thấy. Đến
quả vị Phật thì vô minh diệt nên sanh diệt cũng diệt. Nói
vô minh diệt là không còn lầm. Phân thành phàm phu, Thanh văn,
Duyên giác, Bồ tát hay Phật là theo phần nhiễm vô minh mà
phân, không phải vì ở phàm phu chân như giảm còn ở Phật
chân như tăng. Chân như tùy duyên mà có thân Phật, thân chúng
sanh còn bản thân nó thì chưa từng tăng chưa từng giảm.
TỪ
XƯA ĐẾN NAY là khi nào cũng vậy, tự tánh chân như luôn đầy
đủ các công đức, chỉ vì vô minh che lấp mà phàm phu, Nhị
thừa và Bồ tát không sử dụng được các công đức ấy.
Sau là kể về nghĩa của công đức.
Đó
là :
Đại
trí tuệ quang minh
Chiếu
khắp pháp giới
Chân
thật hiểu biết
Tự
tánh thanh tịnh tâm
Thường,
lạc, ngã, tịnh
Thanh
lương, bất biến, tự tại
Đây
là nêu các công đức mà tự tánh chân như vốn đầy đủ.
ĐẠI TRÍ TUỆ QUANG MINH là chỉ cho trí tuệ của Phật, nó
thường được biểu trưng bằng con mắt thứ ba phát sáng
giữa 2 chặng mày của đức Như Lai. Vì là quang minh nên nó
CHIẾU KHẮP PHÁP GIỚI. Trí tuệ ấy thấu đạt được tất
cả mọi cảnh giới đúng như chính chúng, nên nói CHÂN THẬT
HIỂU BIẾT. Vì đã lìa hết hoặc nhiễm nên tâm được TỰ
TÁNH THANH TỊNH. Vì tánh đức tròn đầy nên được THƯỜNG,
LẠC, NGÃ, TỊNH. Vì tánh đức không biến đổi nên THANH LƯƠNG,
BẤT BIẾN, TỰ TẠI.
Như
vậy có đầy đủ vô lượng Phật pháp chẳng lìa, chẳng
đoạn, chẳng khác, chẳng thể nghĩ bàn, cho đến đầy đủ
không thiếu một nghĩa nào, gọi là Như Lai Tạng, cũng gọi
là pháp thân Như Lai.
Đây
là phần tổng kết về công đức của pháp thân. Đầy đủ
VÔ LƯỢNG PHẬT PHÁP là chỉ cho mọi loại công đức. Các
thứ này không ngoài chân như mà có nên nói CHẲNG LÌA. Vô
thủy tương tục nên nói CHẲNG ĐOẠN. Đồng vị với chân
thể nên nói CHẲNG KHÁC. Chẳng thể dùng tri thức đây mà
lường định nên nói CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN.
Ngài
Hiền Thủ nói “Nếu chân thể này không có tánh đức thì
Như Lai chứng rồi, chẳng nên đầy đủ công đức. Còn chứng
tánh rồi mà vạn đức tròn đủ thì biết chân như vốn đầy
đủ vô lượng công đức. Nên nói ‘Đầy đủ không thiếu
một nghĩa nào’. Khi ẩn thời có thể sản sanh ra Như Lai
nên gọi là Như Lai Tạng. Khi hiển thời làm chỗ y chỉ cho
vạn đức nên gọi là pháp thân”.
Hỏi
: Trên nói thể chân như bình đẳng, ly tất cả tướng, vì
sao đây lại nói thể ấy có mọi thứ công đức? Đã nói
chân như lìa ngôn không tướng vì sao đây lại nói có đầy
đủ vô lượng Phật pháp chẳng lìa, chẳng đoạn, chẳng
khác, chẳng thể nghĩ bàn, cho đến đầy đủ không thiếu
một nghĩa nào?
Đáp
: Tuy thật có các nghĩa công đức ấy nhưng không có tướng
sai biệt, cùng đồng một vị chân như duy nhất. Nghĩa ấy
thế nào? Bởi do không phân biệt, lìa tướng phân biệt, cho
nên không hai. Lại do nghĩa gì mà nói sai biệt? Bởi y nơi
tướng nghiệp thức sanh diệt mà nói.
Tuy
có các nghĩa công đức ấy nhưng chúng đều đồng một vị
chân như, không có tướng sai biệt. KHÔNG TƯỚNG SAI BIỆT
vì không có năng phân biệt cùng sở phân biệt. Nói sai biệt
đây là y nơi nghiệp thức sanh diệt mà nói, cũng như thấy
sai biệt là y nơi nghiệp thức mà thấy sai biệt. Dưới là
giải thích.
Vì
sao nói vậy? Bởi tất cả pháp vốn chỉ là tâm, thật không
có niệm. Mà có vọng tâm, bất giác niệm khởi, thấy các
cảnh giới, nên nói vô minh. Tâm tánh chẳng khởi tức là
nghĩa đại trí tuệ quang minh. Nếu tâm khởi thấy thì có
tướng chẳng thấy. Tâm tánh lìa thấy tức là nghĩa chiếu
khắp pháp giới. Nếu tâm có động thì chẳng phải là sự
hiểu biết chân thật, không có tự tánh, chẳng phải thường,
chẳng phải lạc, chẳng phải ngã, chẳng phải tịnh, nhiệt
não suy biến thì chẳng tự tại, cho đến có đủ vô lượng
nghĩa vọng nhiễm. Đối lại với nghĩa ấy là tâm tánh bất
động, thì có vô lượng các tướng công đức thanh tịnh
thị hiện. Nếu tâm khởi, lại thấy các pháp được niệm
hiện trước thì có chỗ “thiếu”. Như vậy vô lượng công
đức tịnh pháp tức là nhất tâm, lại không có chỗ niệm,
cho nên đầy đủ, gọi là pháp thân Như Lai Tạng.
VÌ
SAO NÓI VẬY là để giải thích vì sao nói y nơi nghiệp thức
mà nói sai biệt. Vì tâm vốn không niệm chỉ do bất giác
vọng động mà sanh cái thấy cùng cảnh giới bị thấy, rồi
y nơi trí phân biệt mà pháp pháp thành sai biệt. Nếu tâm
tánh không khởi, tức không bị vô minh làm động chuyển thành
nghiệp thức, thì chỉ là đại trí tuệ quang minh chiếu khắp,
không có tướng sai biệt. Nói vô lượng các tướng là do
đối lại với vô lượng vọng nhiễm mà nói. Nghĩa là, tâm
không vọng động thì pháp pháp đều chân, không có tướng
sai biệt, mọi thứ trí tuệ công đức đều hiển bày nên
nói ĐẦY ĐỦ. Vô lượng tướng công đức ấy không lìa
nhất tâm mà có, nên nói là TỨC. Nếu tâm vọng động thì
tất cả công đức trí tuệ kia đều ẩn, mọi thứ trở thành
hạn cuộc, có cái thấy được có cái không thấy được.
Như cái thấy hiện nay của mình, bị ràng buộc trong các căn
nên không thể thấu hết mọi thứ. Đó là nghĩa THIẾU.
Pháp
thân với đầy đủ công đức thanh tịnh gọi là pháp thân
Như Lai Tạng.
Lại
nữa, dụng chân như là chư Phật Như Lai khi còn ở tại nhân
địa, phát đại từ bi, tu các ba la mật nhiếp hóa chúng sanh,
lập đại thệ nguyện muốn độ hết thảy chúng sanh trong
các cõi, chẳng giới hạn kiếp số, đến cùng tận vị lai.
Bởi vì coi hết thảy chúng sanh như thân mình mà chẳng nắm
giữ tướng chúng sanh. Nghĩa ấy thế nào? Vì là, thật biết
tất cả chúng sanh cùng với thân mình, chân như bình đẳng
không có sai khác.
Đây
nói về dụng của chân như. NHÂN ĐỊA là chỉ cho địa vị
khi mới tu, là cái nhân để có cái quả là Phật quả nên
gọi là nhân địa. Dụng này có là do khi mới phát tâm tu
Bồ tát đạo - địa vị Tín Thành Tựu Phát Tâm dưới - đã
phát 3 thứ tâm, trong đó có tâm muốn bạt tất cả khổ cho
chúng sanh. Phát tâm xong, tu 4 thứ hạnh và chuyển sang giai
đoạn Giải Hạnh Phát Tâm. Từ đó trở đi, tùy thuận tu
6 độ ba la mật mới đủ năng lực thực hành hạnh nguyện
đã phát này, nên nói “TU CÁC BA LA MẬT nhiếp hóa chúng sanh”.
Vì sao phải tu các ba la mật? Vì không tu 6 ba la mật thì ngã
tướng không hết. Không hàng phục được ngã thì nhiếp chính
thân mình còn khó, huống là nhiếp người khác với thời
gian vô tận.
Lập
đại thệ nguyện muốn độ hết chúng sanh trong các cõi, chẳng
giới hạn kiếp số, cùng tận đến vị lai là nhờ TRÍ và
BI đã hiển, nên nói “Vì coi hết thảy chúng sanh như thân
mình mà chẳng nắm giữ tướng chúng sanh”. “CHẲNG NẮM
GIỮ tướng chúng sanh” là không dính mắc vào tướng thân
tâm của chúng sanh mà mình đang nhiếp hóa. Không dính mắc
vì nhận ra được mặt huyễn tướng của vạn pháp. Tuy mọi
thứ là như huyễn nhưng khi đang mê thì khổ đau không như
huyễn, nên vì chúng sanh đang mê mà phát bi nguyện độ hết
tất cả. COI CHÚNG SANH NHƯ THÂN MÌNH vì như thật biết “Chúng
sanh cùng với thân mình, chân như bình đẳng không có sai khác”.
Vì
có trí đại phương tiện như vậy, trừ diệt vô minh, thấy
pháp thân mình, tự nhiên có mọi thứ dụng của Bất tư nghì
nghiệp, liền cùng chân như đồng khắp tất cả chỗ. Lại
cũng không có tướng dụng có thể được.
TRÍ
ĐẠI PHƯƠNG TIỆN, là những gì đã thực hành khi còn ở
nhân địa. Do những phương tiện ấy mà trừ diệt được
vô minh. Vô minh hết thì pháp thân hiển bày. Đây là cái quả
tự lợi. Pháp thân hiển bày thì đối cơ ứng duyên hiện
mọi thứ báo hóa thân, lợi ích khắp tất cả, nên nói “Tự
nhiên có mọi thứ dụng của Bất tư nghì nghiệp”. BẤT
TƯ NGHÌ NGHIỆP nói đây là chỉ cho ‘Bất tư nghì nghiệp
tướng’ ở phần Tâm Chân Như. Dụng này do vô tâm mà ra,
không do tác ý mà thành, nên nói “Không có tướng dụng có
thể được”. Đây là nói về cái quả của lợi tha.
Vì
sao? Vì chư Phật Như Lai chỉ là thân trí tướng pháp thân
đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới thế đế, lìa hành
tác, chỉ tùy theo sự thấy nghe của chúng sanh khiến họ được
lợi ích, nên nói là dụng.
VÌ
SAO là để giải thích câu “Không có tướng dụng có thể
được”. Vì thật tướng của chư Như Lai chỉ là chân trí
quang minh, chiếu khắp v.v… không có tướng thân tâm như ta
thấy thân tướng Phật Thích Ca Mâu Ni. Thân đó chỉ là hóa
thân cảm ứng theo tâm chúng sanh mà hiện. Thân Như Lai thật
sự thì không có hình tướng, nên nói “THÂN TRÍ TƯỚNG pháp
thân đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới thế đế”.
THẾ ĐẾ còn gọi là tục đế, là chỉ cho những gì thuộc
về thế gian. ĐỆ NHẤT NGHĨA ĐẾ còn gọi là chân đế,
là chỉ cho chân lý thâm diệu như thật tướng, chân như v.v...
Không
tướng, không thân, song có cảm liền ứng, khiến chúng sanh
được muôn vàn lợi ích nên gọi là DỤNG. Dụng này không
do tác ý mà thành nên nói LÌA HÀNH TÁC.
Dụng
ấy như thế nào sẽ được làm rõ ở phần sau.
Dụng
ấy có 2, thế nào là 2?
Dụng
này có 2. Một là cảnh giới do tâm phàm phu và Nhị thừa
cảm mà ứng ra. Hai là cảnh giới do hàng Bồ tát cảm mà
ứng ra. SỞ KIẾN là chỉ cho cảnh giới ấy. Nó là đối
tượng của tâm Năng Kiến. Để nguyên từ sở kiến không
dịch là để nhớ, cảnh giới ấy không lìa tâm mà có. Tuy
nói dụng của chư Phật, song chân tâm của chúng ta cùng với
thể tánh của chư Phật bình đẳng không hai. Cho nên, Phật
thân là ứng hóa thân hay báo thân đều không lìa tâm này
mà có, chỉ tùy sự huân tập của ý thức hay nghiệp thức
mà trên dụng thấy có sai biệt.
1.
Sở kiến của tâm phàm phu và Nhị thừa, là y nơi phân biệt
sự thức, gọi là ứng thân. Vì chẳng biết là chuyển thức
hiện, thấy từ ngoài đến, nhận lấy phần tề của sắc,
nên chẳng thể biết hết.
“SỞ
KIẾN của phàm phu và Nhị thừa” là chỉ cho phần Phật
thân mà phàm phu và Nhị thừa thấy được. PHÂN BIỆT SỰ
THỨC là chỉ cho ý thức. Song phần ý thức này là phần ý
thức ngược dòng hoàn tịnh, là phần thô của trí thủy giác.
Nhị thừa không biết có thức Alaida, chưa thấu đạt lý duy
tâm, thấy ngoài tâm có pháp là nghĩa của ‘phân biệt sự
thức’, nên nói “Y NƠI phân biệt sự thức”. Cảnh giới
Phật thân chỉ là sở kiến của tướng Năng Kiến, tùy nhiễm
tịnh mà có sai biệt. Song phàm phu và Nhị thừa chỉ mới
biết có ý thức, nên nói “VÌ CHẲNG BIẾT là chuyển thức
hiện, thấy từ ngoài đến”. THẤY TỪ NGOÀI ĐẾN như thấy
thân Phật với 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp mà không biết
là duy tâm sở hiện.
PHẦN
TỀ CỦA SẮC là chỉ cho sắc với từng phần, từng đoạn,
có giới hạn và phân chia rõ ràng như hiện trạng ta đang
thấy hiện nay. “NHẬN LẤY phần tề của sắc” tức chấp
những sắc chất ấy là thật. Thấy vạn pháp thật là cái
thấy bị vô minh chi phối, không phải là đại trí tuệ quang
minh chiếu khắp pháp giới nên KHÔNG THỂ BIẾT HẾT.
2.
Sở kiến của tâm Bồ tát từ sơ phát tâm đến cứu cánh
địa, y nơi nghiệp thức, gọi là báo thân. Thân có vô lượng
sắc, sắc có vô lượng tướng, tướng có vô lượng tướng
tốt. Chỗ trụ y nơi quả cũng có vô lượng. Mọi thứ trang
nghiêm, tùy chỗ mà thị hiện, không có bờ mé, chẳng thể
cùng tận, lìa tướng phần tề, tùy chỗ cảm ứng, thường
hay trụ trì, chẳng hủy, chẳng mất. Các công đức như thế,
đều nhơn nơi các hạnh vô lậu ba la mật huân tập và sự
huân tập chẳng thể nghĩ bàn mà được thành tựu, đầy
đủ vô lượng tướng lạc nên nói là báo thân.
Vì
chịu sự huân của nghiệp thức nên sở kiến của tâm Bồ
tát từ khi mới phát tâm cho đến địa vị tận cùng không
gọi là ứng thân mà gọi là báo thân. Bồ tát từ địa vị
Tín Thành Tựu Phát Tâm đã được học hiểu về nghĩa duy
tâm sở hiện, nên nói Y NGHIỆP THỨC. Dưới là nói về báo
thân.
“THÂN
CÓ VÔ LƯỢNG SẮC, sắc có vô lượng …” ngài Hám Sơn nói
“Đây là Hoa Nghiêm Lô Xá Na Phật, thân tự độ tha không
chướng không ngại, đẳng đồng pháp giới nên lìa phân ranh,
chỉ là một báo cảnh chân thật”. CHỖ TRỤ Y NƠI QUẢ là
chỉ cho phần y báo. Chánh báo là nhân để có cái quả là
y báo nên nói chỗ trụ y nơi quả. Chánh và y báo đó là do
tu tập các ba la mật như bố thí, trì giới v.v… mà có, nên
nói “NHƠN NƠI CÁC HẠNH vô lậu ba la mật huân tập”. Khi
thực hành sự tu tập thường hằng không bỏ ấy là ta đang
nương lực chân như huân tập lại vọng tâm, khiến vô minh
diệt, pháp thân hiển bày, nên nói “Nhơn NƠI SỰ HUÂN TẬP
chẳng thể nghĩ bàn mà được thành tựu”.
Dưới
là nói về sở kiến Phật thân của mỗi hạng vị.
Lại
sở kiến của phàm phu là sắc thô, tùy theo 6 đường mà có
cái thấy chẳng đồng, mọi loài khác nhau, chẳng phải là
tướng thọ lạc nên nói là ứng thân.
Sắc
thô là chỉ cho sắc có phần đoạn như hiện nay. “TÙY THEO
6 ĐƯỜNG mà có cái thấy chẳng đồng, mọi loài đều khác”
là tùy theo tập nghiệp của từng loài mà thấy thân Phật
có khác nhau. Ngài Hiền Thủ nói chúng sanh ở 3 cõi địa ngục,
ngạ quỉ, súc sanh thấy thân Phật là thân đen dài 3 thước
to như chân voi, cõi Trời thì thấy Phật là thần cây hay thiên
thần … Tất cả đều chẳng phải là tướng xuất thế nên
CHẲNG PHẢI LÀ TƯỚNG THỌ LẠC. Còn Nhị thừa thì thấy
Phật là bậc thánh A La Hán xuất thế.
Lại
nữa, sở kiến của các bậc Bồ tát sơ phát tâm là do tin
sâu pháp chân như nên hiểu được ít phần. Biết sắc tướng
và các sự trang nghiêm này không đến không đi, lìa hẳn phần
tề, chỉ y tâm hiện, chẳng lìa chân như, nhưng các vị Bồ
tát ấy còn tự phân biệt, bởi chưa nhập được vị pháp
thân.
Sở
kiến của Bồ tát thì khác với phàm phu và Nhị thừa. Phàm
phu và Nhị thừa vẫn cho thân tâm và cảnh giới quanh mình
là thật. Bồ tát dù là sơ phát tâm, tuy chưa thấu đạt vạn
pháp vô ngã nhưng đã BIẾT vạn pháp duy thức nên nói “BIẾT
SẮC TƯỚNG và các sự trang nghiêm …”. Cái BIẾT này tuy
còn trong giới hạn của sự học hỏi và lòng tin, nhưng nó
là kim chỉ nam cho việc tu tập cũng như cách hành xử của
hàng Bồ tát này.
BỒ
TÁT SƠ PHÁT TÂM nói đây là chỉ cho những vị chưa chứng
được chân như. Tức bao gồm 2 hạng Tín Thành Tựu và Giải
Hạnh nói trong phần Tướng Đạo Phát Tâm sau. Song nói TIN
SÂU, thì biết đây đặt nặng ở hạng Giải Hạnh. Hạng
này, về LÝ thì đã được thâm hiểu rõ ràng lý chân như,
về SỰ thì đã giác vào tướng dị, đã được ‘tương
tợ giác’.
CÒN
TỰ PHÂN BIỆT là muốn nói : LÝ thì biết như vậy nhưng trên
SỰ thì chưa được hoàn toàn như LÝ, phải dụng công tu tập
và dùng pháp đối trị nhiều. Theo kinh và luận đây thì phải
đến địa vị Bát Địa trở về sau SỰ và LÝ mới viên
dung. Đây là chỗ tâm chứng của chư Tổ.
Nếu
đạt được tâm thanh tịnh thì sở kiến vi diệu, dụng của
nó trở nên thù thắng, cho đến Bồ tát địa tận thấy được
cứu cánh. Nếu lìa nghiệp thức thì không Kiến Tướng. Vì
pháp thân của chư Phật không có sắc tướng đây kia đắp
đổi qua lại cùng thấy.
Đây
là nói về phần sở kiến tế của hàng Bồ tát Thập Địa.
Không phải là ứng hóa thân với sắc thô như của phàm phu
và Nhị thừa, nên nói “Dụng của nó TRỞ NÊN THÙ THẮNG”.
Tâm càng thanh tịnh thì sở kiến càng vi diệu, tức không
cần đến sự dụng công mà tâm càng KHÔNG bao nhiêu thì báo
thân càng vi diệu bấy nhiêu. THẤY ĐƯỢC CỨU CÁNH là thấy
được chỗ rốt ráo sanh ra thức tâm. KIẾN TƯỚNG, để nguyên
âm Hán như vậy vì có nhiều nghĩa : Người cho nó là Năng
Kiến Tướng. Người cho nó là KIẾN và TƯỚNG. Kiến là chỉ
cho cái thấy. Tướng là chỉ cho cái bị thấy. Nếu Việt
dịch thì thành TƯỚNG THẤY. Do trong bộ luận, không thấy
dùng từ TƯỚNG để chỉ cho cái bị thấy mà chỉ thấy dùng
từ Cảnh Giới Tướng. Nếu Việt dịch thì nó cũng chỉ cho
tướng Năng Kiến. Nên đây chọn nghĩa của kiến tướng là
NĂNG KIẾN TƯỚNG. Song dù dùng theo cách nào thì ý cũng như
nhau. Vì một khi năng kiến xuất hiện thì sở kiến cũng xuất
hiện, chỉ là thô hay tế mà thôi.
LÌA
NGHIỆP THỨC là chỉ cho cảnh giới của người tu khi đạt
được cội nguồn chân thật, là thể nhập thể tánh của
vạn pháp. Lúc ấy không có năng thấy sở thấy, nói chính
xác là không còn năng biết sở biết. Không năng biết nhưng
không gì chẳng biết. Vì không năng biết mà không biết gì
hết là đang ngủ gục hay rơi vào hang ổ của vô minh.
“Pháp
thân của chư Phật KHÔNG CÓ SẮC TƯỚNG đây kia đắp đổi
qua lại cùng thấy” là muốn hiển bày, pháp thân không phải
là đối tượng của cái thấy cũng như sự nhận biết. Đó
là do đã lìa nghiệp thức nên không có Kiến Tướng cùng
Cảnh Giới Tướng. Vì thế kinh Lăng Nghiêm nói “Kiến kiến
chi thời, kiến phi thị kiến”. Khi thấy tánh thì cái thấy
ấy không có thấy. Ngài Hám Sơn nói “Chân thể pháp thân
là nhất tâm chân nguyên, chẳng thuộc mê ngộ, chẳng mượn
duyên sanh. Chính cái thiên chân này là chánh nhân Phật tánh,
nên ý tóm kết đây là chuẩn mực để hiểu về chỗ rốt
ráo vậy”. Nghĩa là, muốn biết mình đã thấy được chỗ
rốt ráo chưa thì cứ lấy đoạn kết này làm tiêu chuẩn.
Nếu chưa thì tiếp tục công phu đến khi nào thâm nhập được
những điều luận đã nói đây mà tâm không còn chút nghi
ngờ.
SƠ
ĐỊA tuy cũng chứng pháp thân nhưng chỉ mới chứng được
cái thể, gọi là nhân Phật tánh. Luận đây gọi là ‘không’,
chỗ khác nói ‘tánh không’. Còn ở quả vị Phật thì nhân
đã tròn đầy nên thể, tướng và dụng đầy đủ. Luận
đây gọi là ‘không, bất không’, chỗ khác nói ‘Chơn không
diệu hữu’. Đây là cảnh giới sự sự vô ngại của thế
giới Hoa Nghiêm. Trên mặt lý thì TÁNH KHÔNG hay CHÂN KHÔNG
DIỆU HỮU không khác, song khác tên là do một bên chỉ nói
đến thể, một bên đã đủ thể - tướng - dụng. Cái khác
này là do sự gọt giũa vô minh có cạn sâu, không phải tự
chân như có sai khác. Như phần trên nói về dụng của tự
tánh và dụng của chân như vậy. Song dù chỉ mới là thể
hay đầy đủ cả thể - tướng - dụng thì tất cả đều
không thuộc cái thấy năng sở của ta hiện nay.
Cho
nên, ngồi thiền mà còn thấy đủ thứ thì chưa dính gì đến
việc thấy tánh, huống chỉ mới tin tâm là Phật. Song thấy
tánh rồi thì sao? Cũng phải tu 2 a tăng kỳ nữa mới thành
Chánh đẳng chánh giác. Cũng phải giác 5 tướng Tương Tục,
Trí Tướng, Cảnh Giới, Năng Kiến và Nghiệp Tướng mòn con
mắt đến khi chúng hiện nguyên hình là vọng mới thôi. Không
phải kiến tánh là xong. Hòa thượng Trúc Lâm nói KIẾN TÁNH
KHỞI TU. Nó có thể áp dụng cho người mới tin mà tu, lúc
ấy tu là có tu. Cũng có thể áp dụng cho người đã thật
kiến tánh mà tu, thì tu mà không tu, nhưng không hẳn là không
tu. Đến khi vọng tưởng đều dứt, huyễn cảnh thật sự
hiển bày, lúc ấy mới thật là tu mà không tu.
Hỏi
: Nếu pháp thân của chư Phật lìa sắc tướng, vì sao hay
hiện sắc tướng? Hỏi để hiểu vì sao pháp thân lìa sắc
tướng mà có thể hiện sắc tướng?
Đáp
: Pháp thân ấy chính là thể của sắc nên hay hiện sắc.
Nghĩa là, từ xưa đến nay, sắc và tâm chẳng phải hai. Bởi
sắc tánh chính là trí nên thể của sắc không hình, gọi
là trí thân. Bởi trí tánh tức là sắc nên gọi là pháp thân
khắp giáp tất cả chỗ. Sắc sở hiện ấy không có phần
tề, tùy tâm hay hiện mười phương thế giới, vô lượng
Bồ tát, vô lượng báo thân, vô lượng trang nghiêm, mỗi mỗi
sai biệt, đều không có phần tề mà chẳng ngăn ngại lẫn
nhau. Đó chẳng phải là chỗ thức tâm phân biệt có thể
biết, vì nó là dụng của chân như tự tại.
Pháp
thân Như Lai có 2 thứ : LÝ PHÁP THÂN là chỉ cho tánh thể
tịnh sáng mà chúng sanh và Phật đồng, xưa nay ly niệm, khắp
giáp tất cả chỗ. TRÍ PHÁP THÂN là trí rốt ráo của thủy
giác khế hợp hoàn toàn với lý bản giác. Ngài Hàm Thị nói
“Mê lý pháp thì thành vọng giác, theo nhân duyên vọng giác
ấy mà có 12 loại thân trong 3 cõi. Ngộ lý pháp thì chuyển
vọng giác làm thủy giác. Thủy giác hợp nhất với bản giác
thành căn bản trí. Do sức căn bản trí vô tác này cảm phát
bi nguyện mà báo và hóa thân thành tựu”. Đây là LÝ và
TRÍ dung nhau. Sắc và tâm chẳng phải hai. SẮC nói đây là
chỉ cho sắc thân Phật, tức là báo và hóa thân.
BÁO
THÂN có 2 thứ : TỰ THỌ DỤNG THÂN là viên mãn báo thân,
do chư Phật trải qua vô số kiếp tu tập thiện căn mà cảm
nên, khắp giáp cả pháp giới, thân và cõi chẳng lìa nhau,
gọi là thật báo trang nghiêm độ. Thân này chư vị Bồ tát
chỉ được nghe tên chứ không thể thấy. THA THỌ DỤNG THÂN
là thân do cảm với từng căn cơ của chúng sanh mà ứng hiện.
Đây là do chư Phật muốn chư vị Bồ tát thọ đại pháp
lạc, tiến tu thắng hạnh mà tùy nghi ứng hiện.
Các
thứ sai biệt của báo thân gọi là hóa thân. HÓA THÂN có
3 thứ : ĐẠI HÓA là chỉ cho thân Lô Xá Na ngàn trượng, hoặc
hiện vi trần vô số tướng tốt... gia bị cho Bồ tát Đại
thừa. TIỂU HÓA là chỉ cho thân vàng một trượng sáu với
32 tướng tốt... ứng cho Tiểu thừa, trời và người. TÙY
LOẠI HÓA là tùy loài mà hóa hiện như voi lớn, anh võ, vượn,
nai, Chuyển luân thánh vương... Báo và hóa này đều nhiếp
thuộc sắc thân, từ trí pháp thân mà được. Trí pháp thân,
luận đây gọi là TRÍ THÂN.
SẮC
là từ TRÍ THÂN mà hiện. Song TRÍ THÂN tức là PHÁP THÂN.
Vậy PHÁP THÂN chính là tánh thể của SẮC, nên nói “Pháp
thân ấy chính là thể của sắc nên hay hiện sắc. Bởi sắc
tánh chính là trí nên thể của sắc không hình, gọi là trí
thân”.
SẮC
và TRÍ vốn không hai, nên nói “Bởi SẮC TÁNH chính là TRÍ
nên thể của sắc không hình. Bởi TRÍ TÁNH tức là SẮC nên
gọi là pháp thân khắp giáp tất cả chỗ”. SẮC là thứ
được hiện từ TRÍ nên gọi là SẮC SỞ HIỆN.
PHẦN
TỀ là có hạn định, phân ranh, không toàn nhất. Chúng là
những thứ được thấy bởi nghiệp thức phân biệt. Pháp
thân thì lìa nghiệp thức, chỉ là một thể toàn nhất, không
có bờ mé, nên sắc sở hiện của nó không có bờ mé cũng
không phân ranh. Vì vậy nói “Sắc sở hiện ấy không có
phần tề”. TÙY TÂM là tùy theo căn cơ của chúng sanh mà
ứng hiện. Có cảm liền ứng không chướng ngại, khắp giáp
tất cả chỗ nên nói HIỆN MƯỜI PHƯƠNG THẾ GIỚI.
“VÔ
LƯỢNG BỒ TÁT ... mà chẳng ngăn ngại lẫn nhau” là nói
về cảnh giới sự sự vô ngại của thế giới Hoa Nghiêm.
Ngài Hám Sơn nói “Sở dĩ trong biển Hoa Nghiêm, các độ duyên
khởi trùng trùng vô tận, mỗi mỗi giao kết với nhau là do
lý sự vô ngại nên được sự sự vô ngại. Đây chẳng phải
là chỗ biết của thức tâm. Đều là đại dụng của chân
như tự tại”. THỨC TÂM là chỉ cho tâm thức hiện tại
mình đang dùng nó để quan sát mọi sự mọi vật đây. Bởi
nó bị chi phối bởi thức phân biệt nên mọi thứ trở thành
có phân ranh, ngăn ngại. DỤNG CỦA CHÂN NHƯ là chỉ cho báo
hóa thân Phật.
Phần
Hiển Thị Chánh Nghĩa được phân làm 2 là Tâm Chân Như và
Tâm Sanh Diệt, là muốn hiển bày từ nhất tâm chân như khởi
thành 2 môn phân biệt, động và tịnh chẳng phải một. Sau
là hiển động và tịnh chẳng phải hai. Nhờ cái không hai
này mà chúng sanh mới có thể thành Phật.
Lại
nữa, hiển thị từ môn sanh diệt ngay đó mà nhập môn chân
như. Nghĩa là, truy tìm 5 ấm, sắc và tâm cùng cảnh giới
6 trần rốt ráo đều vô niệm. Vì tâm không hình tướng,
tìm khắp mười phương chẳng thể được. Như người mê
nên lầm đông là tây mà phương hướng thật chẳng dời đổi.
Chúng sanh cũng vậy. Bởi vô minh mà lầm nên cho tâm là niệm.
Tâm thật chẳng động. Nếu hay quán xét biết tâm vô niệm
thì được tùy thuận vào môn chân như.
HIỂN
THỊ là nêu bày. “Từ môn sanh diệt NGAY ĐÓ MÀ NHẬP môn
chân như” là ngay nơi tâm sanh diệt đây mà về lại cái
không sanh diệt. Về bằng cách nào? Nhận ra đúng bản chất
của tâm sanh diệt tức là đang tùy thuận với tâm không sanh
diệt.
SẮC
là chỉ cho sắc ấm. TÂM chỉ cho thọ, tưởng, hành. thức
ấm. “TRUY TÌM 5 ấm, sắc và tâm cùng cảnh giới 6 trần
rốt ráo đều vô niệm” là quán tận đến cội nguồn của
sắc tâm cùng cảnh giới 6 trần thì thấy tất cả đều vô
niệm. Vốn vô niệm nhưng do bất giác vọng động mà thành
sắc tâm cùng cảnh giới 6 trần, niệm niệm tương tục. Lại
nhận cái sắc ấy làm thân, nhận cái tâm niệm niệm tương
tục ấy làm tâm mà quên mất cội nguồn vô niệm. Luận đây
dùng ví dụ “NHƯ NGƯỜI MÊ lầm đông là tây mà phương
hướng thật chẳng đổi” để ta hình dung về cái lầm đó
của mình. NHƯ NGƯỜI MÊ là chỉ cho người không tỉnh, hay
lầm lẫn. Do lầm lẫn nên dù đang đứng ở phương đông
nhưng vẫn cho là phương tây. Nói tây là do lầm mà nói chứ
phương đông vẫn là phương đông chẳng hề thay đổi. Đang
trong tâm vô niệm nhưng do lầm nên không nhận tâm vô niệm
ấy mà chỉ nhận những tơ tưởng, suy nghĩ, vui, buồn là
tâm mình, rồi nhận cảnh giới hư vọng bên ngoài là thế
giới của mình. Song nhận đó là tự mình nhận chứ không
phải tâm và cảnh vốn như vậy. Tâm và cảnh vốn vô niệm.
Chỉ vì nhận những thứ hư vọng là mình nên sự hư vọng
mới nối tiếp mà che mờ cái không hư vọng. Ý là, dù trong
cảnh giới nào, chúng ta vẫn không hề rời cái chân thật,
chỉ cần ngay nơi cảnh giới ấy mà quán thấy tướng hư
vọng của nó là mình đang trở về cái chân thật của mình.
Do
vô minh mới lầm niệm là tâm, nên nói “BỞI VÔ MINH mà lầm,
nên cho tâm là niệm”. TÂM THẬT CHẲNG ĐỘNG là nói về
thực chất cái gọi là tâm. Nếu thật là tâm mình thì nó
không động, không có tướng sanh diệt. Thứ gì là sanh diệt
vọng động thì thứ ấy không phải tâm chân thật của mình.
“NẾU
HAY QUÁN XÉT biết tâm vô niệm” là phương cách tu tập để
nhập môn chân như. HAY là thường hằng. QUÁN XÉT biết tâm
vô niệm là quán tất cả những niệm tưởng hiện lên trong
tâm đều không có thật thể. Như Hòa thượng Trúc Lâm dạy
“Biết tất cả là vọng”. Biết là vọng thì không để
những thứ ấy dẫn thành hành động mà tạo nghiệp thọ
khổ, nên nói BIẾT VỌNG KHÔNG THEO. Biết được vậy là mình
đang tùy thuận để nhập môn chân như. Được vô niệm là
nhập môn chân như.
Ngài
Hám Sơn nói “5 ấm của chúng sanh đều nhơn nơi nhất
niệm mà có. Nay bất tất phải so đo chúng sanh là chân hay
là giả? Chỉ cần quán chỗ khởi của nhất niệm vốn tự
vô niệm. Vô niệm tức vô sanh. Vô sanh thì chúng sanh vốn
không, lại hỏi có sắc tâm cùng các pháp ư? Sở dĩ dạy
quán thẳng vô niệm là vì quán vô niệm là đốn ngộ ngay
môn chân như vậy. Một cái thuật quán vô niệm này là yếu
chỉ tu hành bí truyền của Phật Tổ. Nên Tổ Đạt Ma từ
Tây sang dạy Nhị Tổ ‘Đem tâm ra ta an cho!’. Nhị Tổ trả
lời ‘Con tìm tâm chẳng thể được”. Lục Tổ cũng nói
“Xưa nay không một vật’. Các Tổ về sau không gì là không
chỉ rõ cảnh giới ly niệm. Nên nay tham thiền, chẳng biết
ý chỉ vô niệm, lại khởi mọi thứ tư lương huyền diệu,
há là ý của Tổ sư từ Tây sang ư? Chẳng phải chỉ có một
luận này mà ngay cả toàn bộ Đại Tạng 1700 tắc cũng đều
qui về một câu vô niệm. Học giả nên ghi nhớ điều này”.
Phần
Hiển Thị Chánh Nghĩa đã xong. Sau là phần Đối Trị Tà Chấp,
là phần thứ 2 của chương Giải Thích.
II. ĐỐI TRỊ
TÀ CHẤP
Tất
cả tà chấp đều nương nơi ngã kiến. Nếu lìa ngã thì không
có tà chấp. Ngã kiến này có 2 loại. Thế nào là 2? Một
là nhân ngã kiến, hai là pháp ngã kiến.
Những
gì không phù hợp với Lý Duyên Khởi gọi là TÀ. Ôm chặt
những thứ ấy làm của riêng gọi là CHẤP.
NGÃ
KIẾN là chỉ cho những quan niệm cho rằng vạn sự vạn
vật ở đời này đều có chủ tể hoặc tự tánh của riêng
nó. Nói cách khác, ngã kiến là cái kiến cho rằng các pháp
ở thế gian là thật có hay thật không. Vì quan niệm vạn
pháp đều có chất thật mà sanh ra vô số những quan niệm
sai lệch khác, nên nói “Tất cả tà chấp đều NƯƠNG NƠI
NGÃ KIẾN”.
Tà
chấp nương vào ngã mà có thì lìa ngã đương nhiên chẳng
còn tà chấp, nên nói “Nếu LÌA NGÃ thì không có tà chấp”.
Cái
thấy vạn pháp là thật này bao gồm 2 thứ là nhân ngã kiến
và pháp ngã kiến. Nghĩa của nhân ngã kiến và pháp ngã kiến
sẽ được giải thích rõ ở những phần sau.
A.
Nhân ngã kiến
Y nơi
phàm phu mà nói thì có 5 loại. Thế nào là 5? NHÂN NGÃ KIẾN
này, phàm phu hay vướng phải nên nói “Y phàm phu mà nói”.
Theo cách phá của 5 loại nhân ngã kiến dưới thì hạng phàm
phu nói đây không phải là hạng phàm phu bình thường mà là
những người đã có sự hiểu biết đối với Phật pháp,
song chưa được sâu xa. Ngài Hiền Thủ nói “Đây là sự
vọng khởi của những người mới học Đại thừa trong Phật
pháp do lầm giáo mà ra, chẳng phải là chỗ khởi của ngoại
đạo”.
1.
Nghe Tudala nói “Pháp thân Như Lai rốt ráo vắng lặng giống
như hư không”. Bởi chẳng biết chỉ là phá sự dính mắc,
lại cho hư không là tánh Như Lai.
Pháp
thân Như Lai không sắc tướng lại trùm khắp nên mượn hình
ảnh hư không để người đời tạm hình dung về pháp thân
Như Lai, cũng là để người hiểu Như Lai không phải là thân
tướng với 32 vẻ đẹp v.v… Song nghe nói như hư không lại
chấp ngôn làm nghĩa, cho hư không chính là pháp thân Như Lai.
Đây là điều sai lầm. Phần dưới giải thích nhằm phá bỏ
tư tưởng cho pháp thân Như Lai là hư không.
Làm
sao đối trị? Phải rõ tướng hư không là pháp hư vọng,
không có thật thể, vì đối với sắc mà có, là tướng bị
thấy, khiến tâm sanh diệt. Bởi tất cả sắc pháp vốn là
tâm, thật không có sắc bên ngoài. Nếu không có sắc thì
không có tướng hư không. Nghĩa là, tất cả cảnh giới chỉ
từ nhất tâm vọng khởi mà có. Nếu tâm lìa vọng động
thì tất cả cảnh giới đều diệt, chỉ là nhất chân tâm,
không chỗ nào là chẳng khắp. Đây là nghĩa rốt ráo về
tánh trí quảng đại của Như Lai, chẳng phải như tướng
hư không.
Có
2 điểm để thấy hư không không phải là pháp thân Như Lai.
a.
Hư không là pháp duyên khởi với sắc. Duyên khởi thì không
có thật thể. Sắc và hư không là do tự tâm bất giác mà
hiện.[37] Không bất giác thì sắc và hư không đều không.
Vì thế, hư không không phải là pháp thân Như Lai. Vì pháp
thân Như Lai thì rốt ráo vắng lặng, không phải là pháp nhờ
duyên mới có.
b.
Hư không là pháp bị thấy, trong khi pháp thân Như Lai thì lìa
năng sở đối đãi, không năng kiến, sở kiến.
Phẩm
‘Phá Lục Chủng’ của Trung Luận cũng là để phá vào phần
chấp hư không này. Đây cũng phá luôn cái thấy của những
hành giả khi tu thiền định, thân mất và tâm trải đồng
với hư không, lại chấp cái hư không được thấy ấy là
pháp thân.
2.
Nghe Tudala nói “Các pháp thế gian, thể rốt ráo thì không”
cho đến “Pháp niết bàn chân như cũng rốt ráo không, xưa
nay tự không, lìa tất cả tướng”. Bởi chẳng biết là
do phá sự dính mắc, lại cho tánh của niết bàn chân như
chỉ toàn là không.
Vì
người đời chấp TƯỚNG hiện thấy đây có thật tánh nên
nói tất cả đều không, là muốn nói những tướng đó chỉ
như mộng huyễn bào ảnh không có tánh thật. Do nghe ‘không’
lại tưởng tất cả đều thành không ngơ, nên cho niết bàn
chân như cũng không. Đây là cái thấy rơi vào đoạn diệt.
Làm
sao đối trị? Phải rõ pháp thân chân như, tự thể chẳng
không vì đầy đủ vô lượng tánh công đức.
LÀM
SAO ĐỐI TRỊ là làm sao trị được bịnh chấp đó? Giải
thích : Pháp thân chân như tuy không, nhưng cái không này cũng
không, nên đầy đủ vô lượng tướng công đức chẳng thể
nghĩ bàn, không phải là không ngơ vô tri vô giác như thuyết
đoạn diệt của ngoại đạo.
3.
Nghe Tudala nói “Như Lai Tạng không có tăng giảm, thể của
nó sẵn đủ tất cả pháp công đức”. Vì chẳng hiểu, liền
cho Như Lai Tạng có pháp sắc tâm, tự tướng sai biệt.
SẮC
TÂM nói đây là sắc tâm nói ở phần “Vì sao pháp thân lìa
sắc mà hay hiện sắc”, là chỉ cho Như Lai Tạng đầy đủ
các công đức. SẮC là chỉ cho sắc báo hóa thân của Phật.
Do quen sử dụng cái ‘một, khác, ít, nhiều’ của tâm phân
biệt, nên khi nghe nói TẤT CẢ TƯỚNG CÔNG ĐỨC, liền chấp
rằng các sắc công đức ấy có tự tướng sai biệt. tức
cho sắc và tâm đều có tự thể sai biệt riêng lẻ của nó.
Vì có riêng lẻ mới nói TẤT CẢ. Đây là chấp tánh đức
đồng với pháp hư vọng.
Làm
sao đối trị? Đó chỉ là y nơi nghĩa chân như mà nói. Nói
sai biệt là nhơn nơi sự thị hiện của nghĩa nhiễm ô sanh
diệt mà nói.
SẮC
báo hóa thân của Phật là dụng của chân như nên chỉ khi
lìa nghiệp thức phân biệt thì sắc báo hóa thân ấy mới
đầy đủ. Đã không phân biệt thì “Sắc và tâm chẳng phải
hai” mà “Sắc sở hiện ấy cũng không có phần tề”. Không
hai không phân ranh thì không có tự tướng sai biệt. Nói TẤT
CẢ là do đối với các tướng nhiễm ô sanh diệt sai biệt
khi tâm động mà nói, không phải vì bản thân nó có nhiều
thứ sai biệt mà nói ‘tất cả’.
4.
Nghe Tudala nói “Tất cả pháp nhiễm ô sanh tử ở thế gian
đều y nơi Như Lai Tạng mà có. Tất cả pháp chẳng lìa chân
như”. Vì chẳng hiểu, lại cho tự thể Như Lai Tạng
có đủ tất cả pháp thế gian sanh tử ...
Nói
“Tất cả pháp nhiễm ô sanh tử ở thế gian đều y nơi Như
Lai Tạng mà có. Tất cả pháp CHẲNG LÌA CHÂN NHƯ” là muốn
nói pháp thế gian không ngoài tâm mà có, chúng không có thật
thể. Do không hiểu lại chấp vào chữ LÌA, cho tất cả pháp
thế gian sanh tử không bao giờ lìa được Như Lai Tạng. Có
Như Lai Tạng là có pháp nhiễm ô sanh tử. Đây là chấp vọng
làm chân.
Làm
sao đối trị? Bởi Như Lai Tạng, từ xưa đến nay, chỉ có
vô lượng các công đức thanh tịnh, chẳng lìa, chẳng đoạn,
chẳng khác nghĩa chân như. Còn vô lượng pháp nhiễm ô phiền
não chỉ là vọng có, tánh vốn tự không, từ vô thủy đến
nay chưa từng cùng Như Lai Tạng tương ưng. Nếu thể của
Như Lai Tạng có pháp hư vọng mà cho rằng chứng đắc có
thể dừng hẳn được vọng, ắt không có việc này.
Pháp
nhiễm ô sanh tử là do vô minh bất giác tâm động mà sanh
cái thấy cùng cảnh giới bị thấy, từ đó có nhiễm ô sanh
tử. Vô minh hết thì những thứ ấy cũng không, chỉ còn lại
vô lượng tướng công đức mà thôi. Như do mắt bịnh mà
thấy trong hư không có hoa đốm. Một khi mắt hết bịnh thì
hoa đốm cũng không.
“Nếu
thể của Như Lai Tạng CÓ pháp hư vọng mà CÓ THỂ CHỨNG
ĐẮC dừng hẳn được vọng …” là, nghĩa của câu này
đặt nặng ở chữ CÓ. Nghĩa là, nếu pháp hư vọng ấy là
thứ thật có trong Như Lai Tạng, tức chúng không phải là
vọng thì khi chứng được quả vị Phật rồi, cái thật có
ấy không thể hết. Trên thực tế, những thứ ấy không còn
khi Như Lai Tạng hiển lộ hoàn toàn. Thì biết, những thứ
ấy không có chất thật, không phải là thứ có sẵn trong
Như Lai Tạng. Câu kết này chủ yếu cho thấy, nói Y hay nói
KHÔNG LÌA là muốn hiển bày pháp sanh tử thế gian chỉ là
một loại vọng pháp, chỉ do tự tâm bất giác vọng hiện.
Không bất giác thì không. Chấp CÓ là rơi vào tà kiến.
5.
Nghe Tudala nói “Y Như Lai Tạng nên có sanh tử. Y Như Lai Tạng
nên đắc niết bàn”. Do chẳng hiểu nên nói chúng sanh có
chỗ khởi đầu. Do thấy có khởi đầu nên nói niết bàn
Như Lai đạt được có tận chung, trở lại làm chúng sanh.
Đây
là chấp sanh diệt có thật tánh. Y NHƯ LAI TẠNG nên có sanh
tử là muốn nói sanh tử không có chất thật, không có nơi
chốn, chỉ do bất giác mà có. Do không hiểu, nghe “Y NHƯ
LAI TẠNG nên có sanh tử” lại tưởng chân có trước, vọng
có sau nên chấp chúng sanh có chỗ khởi đầu. Một khi đã
cho có chỗ khởi đầu thì chấp niết bàn là chỗ tận chung,
trở lại làm chúng sanh.
Cái
chấp này tương tự như cái chấp của các vị ngoại đạo
cho cái mờ mờ mịt mịt là ban sơ (minh sơ) và từ cái ban
sơ ấy sanh ra sự hiểu biết (giác) v.v... Với họ, đắc niết
bàn chính là lúc chúng sanh tận chung hoàn trở về chỗ mờ
mờ mịt mịt ấy. Vì cái mờ mờ mịt mịt ấy không phải
là cội nguồn chân thật, nên thấy nhập niết bàn rồi lại
thấy xuất niết bàn sanh ra sự hiểu biết, liền cho chúng
sanh đắc niết bàn xong trở lại làm chúng sanh. Đây là chỗ
ngoại đạo chứng thực qua quá trình thiền định, không phải
là những suy luận suông trên sách vở. Vì thế những kiến
giải này có khi trở thành những kiến chấp rất kiên cố.
Làm
sao đối trị? Bởi Như Lai Tạng không có mé trước nên tướng
vô minh cũng không có khởi đầu. Nếu nói ngoài tam giới lại
có chỗ khởi đầu của chúng sanh là kinh của ngoại đạo
nói. Như Lai Tạng không có mé sau, niết bàn mà chư Phật đạt
được tương ưng nên cũng không có mé sau.
Thấy
các pháp có trước sau hạn định là do mê Như Lai Tạng mà
thấy như vậy. Như Lai Tạng vốn không có bờ mé nên không
có chỗ khởi đầu cũng không có chỗ chấm dứt. Vọng pháp
là do Như Lai Tạng bất giác mà khởi, làm sao có chỗ khởi
đầu và chấm dứt? Chẳng qua do mê mà thấy như vậy. Hết
mê thì chỉ là một thể thường nhất không có bờ mé.
“NGOÀI
TAM GIỚI lại có chỗ khởi đầu” là cho niết bàn chính
là chỗ khởi đầu sanh ra tam giới như trường hợp minh sơ
sanh ra sự hiểu biết trên. Cái chấp này tương tự cái chấp
có bổn tế từ đó phát sanh vạn vật trong Trung Luận. Đây
là chấp niết bàn có chỗ nơi.
B.
Pháp ngã kiến
Do
Nhị thừa độn căn nên Như Lai vì họ mà nói nhân vô ngã.
Vì chỗ nói chẳng phải là cứu cánh, thấy có pháp ngũ ấm
sanh diệt, sợ hãi sanh tử, vọng thủ niết bàn.
Pháp
ngã kiến là chỉ cho chỗ chấp của Nhị thừa. Nhị thừa
gồm 2 hạng là Thanh văn và Duyên giác. PHÁP NGÃ KIẾN là cái
thấy cho rằng vạn pháp là có thật : Tuy thấy ngũ ấm vô
ngã nhưng vẫn cho sanh tử và niết bàn là thật nên thấy
ngũ ấm diệt mà hiện niết bàn.
ĐỘN
CĂN là căn tánh không được sáng. Không sáng đây là so với
trí tuệ của chư vị Bồ tát đăng địa và các Như Lai, không
phải so với phàm phu mà nói là độn căn. Chỉ mới giác ngộ
được nhân vô ngã mà chưa thấy được pháp vô ngã, chưa
thấy được “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, nên
chư vị bỏ cái này nắm cái kia, sợ sanh tử mà níu niết
bàn. Đây cũng giống như bỏ trăng trong lạch mà bắt trăng
trên sông, cũng chỉ là bóng mặt trăng không phải mặt trăng
thật, nên nói VỌNG THỦ. Bởi còn vọng thủ mà nói ĐỘN
CĂN.
Làm
sao đối trị? Vì pháp ngũ ấm, tự tánh chẳng sanh thời không
có diệt, vốn vẫn là niết bàn. Lại nữa, chỗ cứu cánh
thì lìa vọng chấp. Phải biết nhiễm pháp tịnh pháp đều
là tương đãi, không có tự tướng có thể nói. Cho nên tất
cả pháp từ xưa đến nay, chẳng phải sắc chẳng phải tâm,
chẳng phải trí chẳng phải thức, chẳng phải có chẳng phải
không. Rốt ráo thì chẳng có tướng có thể nói. Mà có ngôn
thuyết, phải biết đó là phương tiện thiện xảo của Như
Lai, mượn lấy ngôn thuyết để dẫn đạo chúng sanh, còn
chỉ thú của ngài đều là ly niệm qui về chân như. Vì niệm
tất cả pháp khiến tâm sanh diệt, chẳng nhập được thật
trí.
Cách
đ